tiêu đề Nhãn
- BIÊN KHẢO
- CÂU ĐỐI
- CỔ THI
- GIA CHÁNH
- GIẢI TRÍ
- HÌNH ẢNH HỘI NGỘ
- HÌNH ẢNH NAY
- HÌNH ẢNH XƯA
- HỘI HỌA
- KHOA HỌC
- LƯU NIỆM
- LỊCH SỬ
- LỜI HAY Ý ĐẸP
- NHẠC
- SƯU TẦM
- SỨC KHOẺ
- THƠ
- THƠ CẢM TÁC
- THƠ DIỄN NGÂM
- THƠ DỊCH
- THƠ NHẠC
- THƠ PHỔ NHẠC
- THƠ SƯU TẦM
- THƠ TRANH
- THƠ TRANH NGHỆ SĨ
- TIN BUỒN
- TIN VUI
- VĂN
- VŨ HỐI THƯ HỌA
- VƯỜN THƠ VIÊN NGOẠI
- XƯỚNG HỌA
- YOUTUBE
Thứ Tư, 6 tháng 10, 2021
Cảm Xúc Ngày Gặp Bạn Thơ
Sông Thu
Buồn ra ngồi ngắm cảnh bờ sông
Nhân ảnh ta nghiêng, ngả bóng lồng
Mặt nước giăng tơ xanh lặng sóng
Chân trời trải lụa xám thinh không
Khiến ai đất khách tình lưu giữ
Cho kẻ quê người nghĩa khắc chồng
Điệp khúc Thu về, sầu viễn xứ
Bùi ngùi tâm sự gã phiêu bồng!
DuyAnh
Autumn in the USA 2021
Mấy Độ Thu Sầu

Hãy Giữ Lấy Thơ Lục Bát

Sau đây là hình thức của thơ Song thất Lục Bát và Thơ Lục Bát, hai thể thơ thuần tuý, dáng gọi là Quốc Phong của Việt Nam:
A - Cấu trúc:
1 - Bài thơ Song Thất Lục Bát không hạn chế số câu, gồm hai câu 7 chữ rồi đến một câu 6 chữ và một câu 8 chữ.
2 - Bài thơ Lục bát cũng không hạn chế số câu, gồm một câu 6 chữ và một câu 8 chữ.
Thí dụ:
Trích tác phẩm "Lục Vân Tiên" Của Nguyễn Đình Chiểu :
Tiếng mưa rơi
Giọt mưa tí tách
Phải chăng than thở tình đời
Mưa rên rỉ
Như cay đắng thầm thì
Sao nghe buồn tê tái
Mưa nức nở
Thương xót cho cuộc tình tan vỡ
Duyên thì không nhưng nợ đã đeo mang
Mưa tuôn tràn
Thay dòng lệ buổi sang ngang
Sẽ nhớ mãi
Em ơi tình tuyệt vọng
Mưa bong bóng
Như mối tình còn lắng động
Trong tim ta
Dẫu năm tháng xa vời
Thôi, mưa đã dừng
Giọt tình đã ngưng
Hãy chôn dấu chuyện yêu đương một thời vụng dại
Phải chua xót đắng cay
Phải miệt mài phải tự tìm hiểu
Mới học được những điều hay trên thực tế
Đời là thế
Chấp nhận
Chớ phân vân
Chớ né tránh
Dũng mãnh
Xuân!..
Đêm...
Nghe tiếng muôn trùng
Khiến lòng ray rức nghĩ mông lung...
Thời xuân hết
Có còn gì để nhớ
Một thuở yêu người tựa giấc mơ...
Đêm
Chiếc áo đen
Che phủ kín bóng ngày
Trong tăm tối dĩ vãng dường như sống lại...
Những hôm
Tay trong tay
Ôi ngọt ngào hò hẹn
Sóng vai nhau nhịp bước gió xôn xao
Lá rung động hay chính lòng rung động...
Đêm
Đã dần tàn
Giấc mộng cũng vừa tan
Tiếc chi
Dĩ vãng đã là dĩ vãng
Sáng mai đây vẫn còn vô vàng bổn phận...
Vầng Ô
dần khất
đàn chim
về tổ
ríu rít
gọi bầy
Nơi những
vườn cây
chim non
trên cành
mừng rở
líu lo
Hớn hở
đón chào
Ba Mẹ
về tới
Từng đôi
chim trẻ
Âu yếm
bên nhau
đổi trao
hẹn ước
Cảnh vật
an bình
không gian
yên tịnh
xúc động
lòng ta
Quên Đi
Lạc Diệp Tri Thu
Lá vàng vài chiếc rớt bên sân,
Nghe tiếng thu đang đến thật gần.
Gió thổi vi vu như sáo nhạc,
Mây trôi bàng bạc tựa sông ngân.
Âm gieo cảm, luyến thương bằng hữu,
Cảnh gợi tình, hoài niệm cố nhân.
Thoáng chốc, hè qua như nước chảy,
Bốn mùa lặng lẽ cứ xoay vần.
Trăng Và Ta

Bao năm vẫn ngước mặt nhìn trăng
Thổ lộ thì thầm suốt tháng năm
Lặng lẽ trăng nghe từng ước nguyện
Chuyện vui, chuyện thảm, chuyện xa xăm
Trăng nằm chếch bóng của riêng ta
Tuế nguyệt phong sương vẫn mặn mà
Bóng ngà cao tít trên trời thẳm
Rọi vào song cửa, viếng hiên nhà
Tuổi thơ tháng tám mãi chờ lâu
Bánh, oản, đèn, hoa đủ thứ mầu
Rộn rịp bên gia đình thưởng nguyệt
Rước đèn quanh xóm hát nghêu ngao
Dậy thì lãng mạn tập ươm mơ
Ngơ ngẩn nhìn trăng viết tứ thơ
Trăng ở khắp nơi, trăng bảo nhé
Tình yêu có đáng để tôn thờ?
Dãi dầu phận gái bến mười hai
Gánh nặng áo cơm trĩu dáng gầy
Trăng sáng, nương trăng tham chút việc
Mong ngày no ấm ở tương lai
Trăng già, ta cũng lão theo trăng
Trăng sáng, còn ta mắt phủ sương
Vẫn ngước nhìn trăng như thuở bé
Theo trăng đi đến cuối con đường
Thúy M.
9/23/21
Chữ Ngũ Trong Văn Hoá Việt
Văn hoá Việt chịu nhiều ảnh hưởng của Tam Giáo: Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo. Tinh thần Tam giáo đồng nguyên trở thành một nét bản sắc văn hóa truyền thống của người Việt trong nhiều thế kỷ. Và trong mỗi loại văn hoá đó thì luôn có chữ Ngũ.
Ví dụ:
-Trong Lão giáo, có Ngũ Đại: trời, đất, nước, gió, lửa
- Trong âm nhạc, có Ngũ Âm như trong câu Kiều:
Cung, thương làu bậc ngũ- âm
Nghề riêng ăn đứt, hồ-cầm một trương
Ngày Tết, thường có mâm ngũ quả trên bàn thờ tổ tiên .
2. Chữ Ngũ trong Phật giáo
Trong Phật giáo, có nhiều khái niệm liên quan đến chữ Ngũ:
- Sắc uẩn là yếu tố vật chất bao gồm vật lý - sinh lý, có bốn yếu tố vật chất căn bản là Địa (chất rắn), Thủy (chất lỏng), Hỏa (nhiệt độ), Phong (chất khí). Các yếu tố do bốn đại tạo ra thuộc về sinh lý như: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân; các đối tượng của giác quan như: hình sắc, âm thanh, mùi vị, vật xúc chạm
-Tưởng uẩn, nói về các tri giác,
-Hành uẩn tức các hành động và trạng thái của tâm
-Thức uẩn tức các sự biết.
Bốn uẩn thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn họp nhau lại thành phần tinh thần, tức là tâm .
- Ngũ cái (ngũ: năm, cái:che đậy) là 5 loại tình cảm phiền não che mờ tâm trí, còn gọi là 5 triền-cái là tham, giận, buồn ngủ, dục, hôn trầm, hối tiếc, nghi ngờ
- Ngũ căn ( căn: gốc) là 5 yếu tố tâm lý căn bản có khả năng kiểm soát tâm, làm chủ tâm, làm nguồn gốc phát sanh ra tình cảm, hành động. .Đó là tín căn (lòng tin, đức tin), tinh tấn căn (sự nỗ lực), niệm căn (sự nhớ nghĩ ), định căn (tâm tập trung lại) và huệ căn (sự sáng suốt).
- Ngũ lực .Khi mà ngũ căn được làm cho sung mãn thì sẽ biến thành ngũ lực, tức là tạo nên 5 sức mạnh, hỗ trợ hữu hiệu cho hành giả thực hành thiền định và thiền tuệ. Đó là: tín lực, tinh tấn lực, niệm lực, định lực và huệ lực
- Ngũ chướng (chướng:trở ngại) nhưng trong kinh sách thường chỉ nói đến tam chướng là: phiền não chướng (nhất là tham, sân, si), nghiệp chướng (trở ngại do nghiệp, tức các hành vi lỗi lầm đã qua, cần sám hối) và sở tri chướng (hiểu biết ôm đồm, tà kiến ).
- Ngũ dục là 5 thứ ham muốn như sắc dục (ham về sắc), thanh dục (âm thanh), hương dục (mùi hương), vị dục (thực phẩm), xúc dục (rờ cọ).
- Ngũ giới: đó là không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu
- Ngũ đại là thủy đại, địa đại, hoả đại, phong đại, không đại , tức liên hệ đến nước, đất, lửa, gió và hư không.
- Ngũ hương: khi thắp hương lạy Phật, ta nguyện giới hương, định hương, huệ hương, giải thoát hương, giải thoát tri kiến hương. Ba phần đầu của pháp thân là giới, định, huệ, hai phần sau là về sự giải thoát: giải thoát tâm khỏi các phiền não và giải thoát huệ khỏi các tri kiến sai lầm.
3. Chữ Ngũ trong Nho giáo
Nho giáo được xem là hệ tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài đến xã hội Việt và trong Nho giáo cũng có chữ Ngũ :
3.1.ngũ thường: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín:
- Nhân là tình thương: tình thương giàu sang, nghèo hèn không phân biệt của người quân tử.
- Nghĩa là hợp tình hợp lý . Khổng Tử nói: "Cách xử sự của người quân tử, không nhất định là phải như vầy mới được, không nhất định như kia là không được, cứ hợp nghĩa thì làm."
-Lễ là qui tắc, nghi thức, kỷ luật tinh thần.
-Trí là sáng suốt . Khổng Tử nói: " Người có đức nhân vui lòng làm điều nhân, người thông minh sáng suốt biết rằng đức nhân có lợi cho mình và cho người nên làm điều nhân."
-Tín: đáng tin. Khổng Tử nói: Người mà không có tín thì không hiểu sao thành người được (hoặc làm nên việc gì được). Đây là lòng tin tưởng giữa người và người, là giữ trọn lời hứa để tạo lòng tin với nhau; không được bội ước, thất tín. Người mà không có chữ tín này sẽ đánh mất nhân phẩm, tư cách của đạo làm người. Khổng Nho nói: "Nhân vô tín, bất lập"; có nghĩa là người không giữ chữ tín thì không đặt để vào đâu được cả; ý nói là không thể đứng được trong thế gian, không thể làm người được nữa.
Tóm lại, theo quan niệm chung của nền minh triết Đông phương thì nhân, nghĩa, lễ, trí, tín là năm yếu tố, điều kiện để hoàn thiện nhân văn, nhân bản: người không có Nhân thì sẽ thành kẻ độc ác; người không có Nghĩa sẽ thành kẻ bội bạc; người không có Lễ thì sẽ thành kẻ vô phép; người không có Trí thì sẽ thành kẻ ngu ngốc; người không có Tín thì sẽ thành kẻ giả dối.
3.2. ngũ phúc. Ngũ phúc gồm có: thọ (sống lâu), phú (giàu có, địa vị tôn quý), khang ninh (thân an và tâm an), hiếu đức (lương thiện, nhân hậu) và cuối cùng là thiện chung ( khi lìa cuộc đời không đau đớn, không vương vấn ) .
3.3. ngũ hành. Đó là 5 yếu tố cơ bản trong vũ trụ: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ ; 5 yếu tố này có nhiều mối tương quan hay tương khắc nhau. Quy luật tương sinh, tương khắc là sự chuyển hóa qua lại giữa Trời và Đất để tạo nên sự sống của vạn vật: . Có thể nói rằng, tương sinh và tương khắc là hai quy luật luôn tồn tại song hành với nhau, có tác dụng duy trì sự cân bằng trong vũ trụ. Nếu chỉ có sinh mà không có khắc thì sự phát triển cực độ sẽ gây ra nhiều tác hại. Ngược lại nếu chỉ có khắc mà không có sinh thì vạn vật sẽ không thể nảy nở, phát triển. Do đó, sinh-khắc tạo ra quy luật chế hóa không thể tách rời.
3.3.1.tương sinh nghĩa là cùng thúc đẩy, hỗ trợ nhau để sinh trưởng, phát triển. Đó là quy luật phát triển của ngũ hành, tuy nhiên sinh nhiều quá đôi khi trở thành tai hại. Cũng giống như cây củi khô là nguyên liệu đốt để tạo ra lửa, thế nhưng nếu quá nhiều cây khô sẽ tạo nên một đám cháy lớn, gây nguy hại đến tài sản và tính mạng của con người. Đó là nguyên do tồn tại quy luật phản sinh trong ngũ hành:
- Kim hình thành trong Thổ, nhưng Thổ quá nhiều sẽ khiến Kim bị vùi lấp.
- Hỏa tạo thành Thổ nhưng Hỏa quá nhiều thì Thổ cũng bị cháy thành than.
- Mộc sinh Hỏa nhưng Mộc nhiều thì Hỏa sẽ gây hại.
- Thủy cung cấp dinh dưỡng để Mộc sinh trưởng, phát triển nhưng Thủy quá nhiều thì Mộc bị cuốn trôi.
- Kim sinh Thủy nhưng Kim nhiều thì Thủy bị đục.
Trong tương sinh luôn có mầm mống của tương khắc, và trong tương khắc luôn tồn tại tương sinh
3.3.2.tương khắc là sự áp chế, sát phạt cản trở sinh trưởng, phát triển của nhau.Tương khắc có tác dụng duy trì sự cân bằng nhưng nếu thái quá sẽ khiến vạn vật bị suy vong, hủy diệt. Vài ví dụ:
Thủy khắc Hỏa: Nước sẽ dập tắt lửa
Hỏa khắc Kim: Lửa mạnh sẽ nung chảy kim loại
Kim khắc Mộc: Kim loại được rèn thành dao, kéo để chặt đổ cây.
Mộc khắc Thổ: Cây hút hết chất dinh dưỡng khiến đất trở nên khô cằn.
Thổ khắc Thủy: Đất hút nước, có thể ngăn chặn được dòng chảy của nước.
Giản đồ sau đây trình bày các mối tương sinh và tương khắc
4. ngũ cung
Truyện Kiều có câu:
Nghề riêng ăn đứt, hồ cầm một trương
5. ngũ quả. Ngày Tết trên bàn thờ tổ tiên thường có mâm ngũ quả gồm 5 trái cây với sắc màu khác nhau, thể hiện nguyện ước của gia chủ qua tên gọi, màu sắc và cách sắp xếp của chúng.
6.ngũ vị hương là một loại gia vị dùng trong ẩm thực của người Trung Hoa hay Việt Nam. Nó bao gồm năm loại vị cơ bản trong ẩm thực là: mặn, ngọt, chua, cay, đắng. Thành phần của ngũ vị hương không giống nhau trong từng loại công thức pha chế. Nó có thể bao gồm bột của các loại thực vật sau:
sơn tiêu (hay hoa tiêu hoặc xuyên tiêu, thuộc chi Zanthoxylum), (peppercorns)
đại hồi (Illicium verum), (star anises)
đinh hương (Syzygium aromaticum), (cloves)
tiểu hồi hương (Pimpinella anisum). ( fennel seed)