Thứ Tư, 6 tháng 10, 2021

Cảm Xúc Ngày Gặp Bạn Thơ

Không có mô tả ảnh. 
Ảnh từ Phải sang Trái:
Đắc Thắng, Hữu Đức, Cảnh, Diễm Thy (con gái của Đắc Thắng), Yên Dạ Thảo, Tuyết Hoa, Thảo, Dung, Phương Hà, Hồng Thủy, Tòng (Cựu Học Sinh Phan Thanh Giản Đoàn Thị Điểm & Tống Phước Hiệp)
.

Nơi Đất Khách Viết
(Dịch Khách Trung Tác của Lý Bạch)
 
Lan Lăng rượu tốt ngạt ngào hương
Chén ngọc đầy men đậm sắc hường
Nếu chủ khéo làm say quý hữu
Thì đâu còn nghĩ cảnh tha hương.

Quên Đi

Cảm Xúc Ngày Gặp Bạn Thơ

Trước Lâm (*) vò Mít Nghệ
Hữu Đức ché Đinh Lăng
Bao nhiêu mỹ tửu khó sánh bằng
Đây hương vị quê ta
Chiêu đãi khách xa nhà
Cùng nâng cốc Bạn ơi vui tình nghĩa
Tửu phùng tri kỷ
Thi ngộ tao nhân
Chúng mình đây dù vạn dậm cũng gần
Ngàn chén uống vẫn chưa say
Bao vần gieo chưa đủ thoả
Cũng đành thôi đã đến lúc chia tay
Mỗi người mỗi nơi
Giây phút đẹp trên đời sao ngắn ngủi...

Quên Đi
(*) Tên của Cố nhà thơ Cao Linh Tử
 

Sông Thu



Buồn ra ngồi ngắm cảnh bờ sông
Nhân ảnh ta nghiêng, ngả bóng lồng
Mặt nước giăng tơ xanh lặng sóng
Chân trời trải lụa xám thinh không
Khiến ai đất khách tình lưu giữ
Cho kẻ quê người nghĩa khắc chồng
Điệp khúc Thu về, sầu viễn xứ
Bùi ngùi tâm sự gã phiêu bồng!

DuyAnh
Autumn in the USA 2021

Mấy Độ Thu Sầu


(Viết cho một người bạn)

Man mác Thu sầu gió hắt hiu
Chiều nay, chiều nữa đã bao chiều...
Thuyền ra cửa biển không quay lại 
Bến vẫn âm thầm... bóng tịch liêu

Đã mấy mùa xuân tuyết trắng rơi
Người đi vời vợi chốn phương trời
Bao năm mòn mỏi trông tin nhạn
Vóc liễu hao mòn...lệ chẳng vơi...

Đếm lá Thu tàn mãi đợi trông
Thời gian lặng lẽ...nước xuôi dòng 
Người vui duyên mới nơi trời lạ
Chốn cũ, quê nhà...có nhớ không?

Rồi lại Đông sang gió lạnh về
Người xưa trở lại bến sông quê
Nhìn nhau muốn nói nhưng lời nghẹn
Cố nén.. sao lòng bỗng tái tê?

Thôi nhé! quay lưng, cuối mặt chào
Còn gì giây phút để cho nhau
Duyên xưa đã lỡ...thôi đành lỡ
Còn chút ân tình...hẹn kiếp sau...!

Bạc Liêu 28/8/2021
Hồng Vân 

Hãy Giữ Lấy Thơ Lục Bát

Nỡ nào chặt khúc câu thơ
Ôi thôi lục bát bây giờ ra sao?
Nguyễn Du trông thấy lệ trào
Thấy thơ tàn phế mà ngao ngán lòng!
huuuuuuuuu
                                Cao Linh Tử

    Đọc mấy câu thơ Lục Bát trên của người bạn, tôi chợt thấy vui vì có người cùng cảm nghĩ như mình. Tôi cũng viết ngay mấy câu: 
Cũng vì tạo dáng bài thơ
Nên hình bóng cũ đến giờ thảm thay
Câu thơ người nỡ bẻ hai 
Khiến tình Lục Bát đêm ngày trở trăn
                                   Quên Đi

Sau đó, tôi vội tìm lại bài viết cách nay khá lâu, về vần đề này, được đăng trên một trang web trước đây tôi đã cộng tác:

Hãy Giữ Lấy Thơ Lục Bát
      Học giả Phạm Quỳnh có một câu nói bất hủ:
" Truyện Kiều còn, tiếng Ta còn. Tiếng Ta còn,  nước Ta còn "       

      Truyện Kiều của Thi Hào Nguyễn Du được viết bằng chữ Nôm, theo thể thơ Lục Bát, một thể thơ thuần tuý của Việt Nam. Đây là một thi phẩm văn học Việt Nam được giới thiệu rộng rãi trên thế giới.
      Chỉ một tác phẩm văn học thôi, sao lại có ảnh hưởng đến sự tồn tại của cả một dân tộc, một quốc gia?
       Một thi phẩm dù là tuyệt tác, cũng chỉ là một thi phẩm, không thể dính liền với cả một dân tộc nếu không còn thêm một lý do khác.
       Lý do khác đó chính là thơ Lục Bát, một thể thơ quốc hồn quốc tuý của Việt Nam.
       Sau đây là hình thức của thơ Song thất Lục Bát và Thơ Lục Bát, hai thể thơ thuần tuý, dáng gọi là Quốc Phong của Việt Nam:

A - Cấu trúc:

     1 - Bài thơ Song Thất Lục Bát không hạn chế số câu, gồm hai câu 7 chữ rồi đến một câu 6 chữ và một câu 8 chữ.
          Thí dụ:
Trích tác phẩm "Cung Oán Ngâm Khúc" của Nguyễn Gia Thiều:
Trải vách quế gió vàng hiu hắt, 
Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng, 
Oán chi những khách tiêu phòng, 
Mà xui phận bạc nằm trong má đào. 
Duyên đã may cớ sao lại rủi, 
Nghĩ nguồn cơn dở dói sao đang, 
Vì đâu nên nỗi dỡ dang, 
Nghĩ mình, mình lại thêm thương nỗi mình.
....
      2 - Bài thơ Lục bát cũng không hạn chế số câu, gồm một câu 6 chữ và một câu 8 chữ.
           Thí dụ:
Trích tác phẩm "Lục Vân Tiên" Của Nguyễn Đình Chiểu :

Trước đèn xem truyện Tây Minh
Gẫm cười hai chữ nhân tình éo le.
Hỡi ai lẳng lặng mà nghe,
Dữ răn việc trước lành dè thân sau.
Trai thời trung hiếu làm đầu
Gái thời tiết hạnh là câu trau mình.
Có người ở quận Đông Thành,
Tu nhân tích đức sớm sinh con hiền.

B - Trình bày: 

     Chúng ta thấy cách sắp xếp các câu không giống với các thể thơ khác. Đó cũng là nét riêng của thơ  Việt Nam, đây chính là cách trình bày  đã có từ trước. Tất cả các câu thơ được chia đều hai bên, tự đối xứng qua tâm điểm, và tâm của các câu nằm trên  đường thẳng, giống hai thí dụ trên       
     Trong thời gian sau này, để tạo phong cách mới, với hình thức bắt mắt hơn, có một số thơ Lục Bát không còn mang dáng dấp trước đây gồm câu 6 và câu 8 mà bị tách ra thành bốn, năm câu mỗi câu chỉ đôi ba chữ. Có nghĩa là thơ Lục Bát vô tình bị chốí bỏ. Một thể thơ đặc thù của dân tộc Việt Nam bị chính người Việt xoá đi do vô tình hoặc cố ý        

      Tuy nhiên, vẫn còn đó những người có tinh thần dân tộc, thành lập những Thi Đàn Thơ Lục Bát, Hội Những Người Yêu Thơ Lục Bát...chủ yếu để gìn giữ bản chất cố hữu của thơ thuần tuý Việt Nam.
        
       Nếu thật sự chỉ vì muốn tạo nên một hình thức mới cho thơ, đâu cần phải xé vụn thơ Lục Bát để cho ra một hình thức mới.. chẳng lẽ chúng ta không đủ khả năng để sáng tác những bài thơ mang hình dáng mình mong muốn bằng các thể thơ khác chăng? Chắc chắn không phải vậy.
       Rất tiếc là chúng tôi không còn lưu giữ những bài thơ Mới, có hình thức mới lạ của các người làm thơ tài tử, nghiệp dư cách nay khoảng 40 năm. Xa hơn nữa, Vào khoảng năm 1935, Nguyễn Vỹ có bài thơ thể Thơ Mới "Sương Rơi", Ông đã sắp xếp thành dáng những giọt sương rơi.
       Dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu vài bài thơ tượng trưng của Quên Đi, mang hình dáng theo sự sắp xếp của tác giả, được sáng tác trong thời gian gần đây,  không hề sử dụng thể thơ Lục Bát hay Song Thất Lục Bát.  

Mưa

Tiếng mưa rơi
Giọt mưa tí tách
Phải chăng than thở tình đời
               Mưa rên rỉ
               Như cay đắng thầm thì
               Sao nghe buồn tê tái
Mưa nức nở
Thương xót cho cuộc tình tan vỡ
Duyên thì không nhưng nợ đã đeo mang
               Mưa tuôn tràn
               Thay dòng lệ buổi sang ngang
               Sẽ nhớ mãi
               Em ơi tình tuyệt vọng
Mưa bong bóng
Như mối tình còn lắng động
Trong tim ta
Dẫu năm tháng xa vời
               Thôi, mưa đã dừng
               Giọt tình đã ngưng
Hãy chôn dấu chuyện yêu đương một thời vụng dại
 --0O0--                                                                                                                  
Dũng Khí

Đời!.. 
Là vô thường
Có trăm đường vạn nẻo
Mỗi chúng ta mỗi lối đi riêng
Ưu phiền
Hay vui thú
Đều có đủ ở tương lai
Không phải tất cả đều trôi chảy
Phải vấp ngã
Phải chua xót đắng cay
Phải miệt mài phải tự tìm hiểu
Mới học được những điều hay trên thực tế
Đời là thế
Chấp nhận
Chớ phân vân
Chớ né tránh
Dũng mãnh
       --0O0--                                          
Xuân Lại Buồn

Xuân!..
Lại về
Mang niềm vui tới
Những gương mặt rạng ngời
Hớn hở đón mừng
Mùa xuân
Mới!..
Vui tươi
Rộn rã tưng bừng
Hoa khoe sắc nơi nơi
Lay động lả lơi
Khêu gợi 
Mời!... 
Ong bướm
Vờn lượn muôn hoa 
Nhưng chỉ một nụ hồng 
Lôi cuốn bướm ong 
Hào hoa Đến!... 
Trong lòng 
Tình yêu sống dậy 
Một lần nữa Bướm đây 
Bị đẩy bên đường 
Đau thương 
                                                         Buồn!...
--0O0--    
Đêm

Đêm...
Nghe tiếng muôn trùng
Khiến lòng ray rức nghĩ mông lung...
Thời xuân hết
Có còn gì để nhớ
Một thuở yêu người tựa giấc mơ...
Đêm
Chiếc áo đen
Che phủ kín bóng ngày
Trong tăm tối dĩ vãng dường như sống lại...


Những hôm
Tay trong tay
Ôi ngọt ngào hò hẹn
Sóng vai nhau nhịp bước gió xôn xao
Lá rung động hay chính lòng rung động...
Đêm
Đã dần tàn
Giấc mộng cũng vừa tan
Tiếc chi
Dĩ vãng đã là dĩ vãng
Sáng mai đây vẫn còn vô vàng bổn phận...


--0O0--                                                   
Chim Chiều   

Vầng Ô
        dần khất
                 đàn chim
                              về tổ
                      ríu rít
            gọi bầy
Nơi những
           vườn cây
                    chim non
                              trên cành
                    mừng rở
             líu lo
Hớn hở
           đón chào
                        Ba Mẹ
                                   về tới
                      Từng đôi
           chim trẻ
Âu yếm
          bên nhau
                       đổi trao
                                 hẹn ước
                       Cảnh vật
              an bình
không gian
              yên tịnh
                       xúc động
                                    lòng ta

                       Quên Đi
 

            Cầu thị, cầu tiến là bản chất của con người. Thơ cũng không ngoài quy luật đó. Những bài thơ mang dáng dấp mới lạ, những sáng tạo tân kỳ làm tăng thêm sức hấp dẫn của một bài thơ, lôi cuốn, thu hút người đọc hơn, rất đáng được trân trọng, rất đáng được khích lệ và khuyến khích nếu đó là những bài thơ Tự do, Thơ mới. Còn riêng thể thơ Lục Bát, chúng ta cần giữ nguyên trạng như từ trước, cũng như ta đang giữ gìn bản chất truyền thống văn hoá của dân tộc.
Quên Đi đâu thể nói càn 
Chẳng qua thổ lộ tâm can cùng người 
Ngàn năm văn vật ai ơi 
Tiền nhân truyền lại bao đời cháu con 
Hậu sinh phải giữ cho tròn 
Để vầng sáu tám mãi còn về sau 
Mỗi loại thơ mỗi sắc màu 
Như đường thi luật của Tàu chẳng sai 
Lục bát chẳng giống thơ Tây 
Nếu đem bẻ vụn sau này mất luôn. 
                             Quên Đi

Huỳnh Hữu Đức

Lạc Diệp Tri Thu



Lá vàng vài chiếc rớt bên sân,
Nghe tiếng thu đang đến thật gần.
Gió thổi vi vu như sáo nhạc,
Mây trôi bàng bạc tựa sông ngân.
Âm gieo cảm, luyến thương bằng hữu,
Cảnh gợi tình, hoài niệm cố nhân.
Thoáng chốc, hè qua như nước chảy,
Bốn mùa lặng lẽ cứ xoay vần.

Nhất Hùng

Trăng Và Ta


Bao năm vẫn ngước mặt nhìn trăng
Thổ lộ thì thầm suốt tháng năm
Lặng lẽ trăng nghe từng ước nguyện
Chuyện vui, chuyện thảm, chuyện xa xăm

Trăng nằm chếch bóng của riêng ta
Tuế nguyệt phong sương vẫn mặn mà
Bóng ngà cao tít trên trời thẳm
Rọi vào song cửa, viếng hiên nhà

Tuổi thơ tháng tám mãi chờ lâu
Bánh, oản, đèn, hoa đủ thứ mầu
Rộn rịp bên gia đình thưởng nguyệt
Rước đèn quanh xóm hát nghêu ngao

Dậy thì lãng mạn tập ươm mơ
Ngơ ngẩn nhìn trăng viết tứ thơ
Trăng ở khắp nơi, trăng bảo nhé
Tình yêu có đáng để tôn thờ?

Dãi dầu phận gái bến mười hai
Gánh nặng áo cơm trĩu dáng gầy
Trăng sáng, nương trăng tham chút việc
Mong ngày no ấm ở tương lai

Trăng già, ta cũng lão theo trăng
Trăng sáng, còn ta mắt phủ sương
Vẫn ngước nhìn trăng như thuở bé
Theo trăng đi đến cuối con đường

Thúy M.

9/23/21

Chữ Ngũ Trong Văn Hoá Việt

1.Dẫn nhập

Văn hoá Việt chịu nhiều ảnh hưởng của Tam Giáo: Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo. Tinh thần Tam giáo đồng nguyên trở thành một nét bản sắc văn hóa truyền thống của người Việt trong nhiều thế kỷ. Và trong mỗi loại văn hoá đó thì luôn có chữ Ngũ.

Ví dụ:

- Trong Phật giáo, có khái niệm Ngũ Uẩn, Ngũ Căn, Ngũ Lực
- Trong Nho Giáo, ta có Ngũ Thường với Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín cũng như Ngũ Phúc. Còn Ngũ Kinh có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu 
-Trong Lão giáo, có Ngũ Đại: trời, đất, nước, gió, lửa 
- Trong âm nhạc, có Ngũ Âm như trong câu Kiều:

Cung, thương làu bậc ngũ- âm
Nghề riêng ăn đứt, hồ-cầm một trương

Ngày Tết, thường có mâm ngũ quả trên bàn thờ tổ tiên .

2. Chữ Ngũ trong Phật giáo

Trong Phật giáo, có nhiều khái niệm liên quan đến chữ Ngũ:

- Ngũ uẩn (ngũ: năm; uẩn: tập hợp, nhóm lại) gồm có sắc, thọ, tưởng, hành, thức với chi tiết như sau:
- Sắc uẩn là yếu tố vật chất bao gồm vật lý - sinh lý, có bốn yếu tố vật chất căn bản là Địa (chất rắn), Thủy (chất lỏng), Hỏa (nhiệt độ), Phong (chất khí). Các yếu tố do bốn đại tạo ra thuộc về sinh lý như: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân; các đối tượng của giác quan như: hình sắc, âm thanh, mùi vị, vật xúc chạm
-Thọ uẩn, nói về tình cảm, cảm giác,
-Tưởng uẩn, nói về các tri giác,
-Hành uẩn tức các hành động và trạng thái của tâm
-Thức uẩn tức các sự biết.

Bốn uẩn thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn họp nhau lại thành phần tinh thần, tức là tâm .

 - Ngũ cái (ngũ: năm, cái:che đậy) là 5 loại tình cảm phiền não che mờ tâm trí, còn gọi là 5 triền-cái là tham, giận, buồn ngủ,  dục,  hôn trầm, hối tiếc, nghi ngờ 

- Ngũ căn ( căn: gốc) là 5 yếu tố tâm lý căn bản có khả năng kiểm soát tâm, làm chủ tâm, làm nguồn gốc phát sanh ra tình cảm, hành động. .Đó là tín căn (lòng tin, đức tin), tinh tấn căn (sự nỗ lực), niệm căn (sự nhớ nghĩ ), định căn (tâm tập trung lại) và huệ căn (sự sáng suốt).

- Ngũ lực .Khi mà ngũ căn được làm cho sung mãn thì sẽ biến thành ngũ lực, tức là tạo nên 5 sức mạnh, hỗ trợ hữu hiệu cho hành giả thực hành thiền định và thiền tuệ. Đó là: tín lực, tinh tấn lực, niệm lực, định lực và huệ lực

- Ngũ chướng (chướng:trở ngại) nhưng trong kinh sách thường chỉ nói đến tam chướng là: phiền não chướng (nhất là tham, sân, si), nghiệp chướng (trở ngại do nghiệp, tức các hành vi lỗi lầm đã qua, cần sám hối) và sở tri chướng (hiểu biết ôm đồm, tà kiến ).

- Ngũ dục là 5 thứ ham muốn như sắc dục (ham về sắc), thanh dục (âm thanh), hương dục (mùi hương), vị dục (thực phẩm), xúc dục (rờ cọ).

- Ngũ giới: đó là không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu

- Ngũ đại là thủy đại, địa đại, hoả đại, phong đại, không đại , tức liên hệ đến nước, đất, lửa, gió và hư không.

- Ngũ hương: khi thắp hương lạy Phật, ta nguyện giới hương, định hương, huệ hương, giải thoát hương, giải thoát tri kiến hương. Ba phần đầu của pháp thân là giới, định, huệ, hai phần sau  là về sự giải thoát: giải thoát tâm khỏi các phiền não và giải thoát huệ khỏi các tri kiến sai lầm.  

3. Chữ Ngũ trong Nho giáo


 Nho giáo  được xem là hệ tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài đến xã hội Việt và trong Nho giáo cũng có chữ Ngũ :

3.1.ngũ thường: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín:

- Nhân là  tình thương: tình thương giàu sang, nghèo hèn không phân biệt của người quân tử.

- Nghĩa là hợp tình hợp lý . Khổng Tử nói: "Cách xử sự của người quân tử, không nhất định là phải như vầy mới được, không nhất định như kia là không được, cứ hợp nghĩa thì làm." 

-Lễ là  qui tắc, nghi thức, kỷ luật tinh thần. 

-Trí là sáng suốt . Khổng Tử nói: " Người có đức nhân vui lòng làm điều nhân, người thông minh sáng suốt biết rằng đức nhân có lợi cho mình và cho người nên làm điều nhân."

-Tín: đáng tin. Khổng Tử nói: Người mà không có tín thì không hiểu sao thành người được (hoặc làm nên việc gì được). Đây là lòng tin tưởng giữa người và người, là giữ trọn lời hứa để tạo lòng tin với nhau; không được bội ước, thất tín. Người mà không có chữ tín này sẽ đánh mất nhân phẩm, tư cách của đạo làm người. Khổng Nho nói: "Nhân vô tín, bất lập"; có nghĩa là người không giữ chữ tín thì không đặt để vào đâu được cả; ý nói là không thể đứng được trong thế gian, không thể làm người được nữa.

Tóm lại, theo quan niệm chung của nền minh triết Đông phương thì nhân, nghĩa, lễ, trí, tín  là năm yếu tố, điều kiện để hoàn thiện nhân văn, nhân bản: người không có Nhân thì sẽ thành kẻ độc ác; người không có Nghĩa sẽ thành kẻ bội bạc; người không có Lễ thì sẽ thành kẻ vô phép; người không có Trí thì sẽ thành kẻ ngu ngốc; người không có Tín thì sẽ thành kẻ giả dối.

3.2. ngũ phúc. Ngũ phúc gồm có:  thọ (sống lâu), phú (giàu có, địa vị tôn quý), khang ninh (thân an và tâm an),  hiếu đức (lương thiện, nhân hậu) và cuối cùng là thiện chung ( khi lìa cuộc đời không đau đớn, không vương vấn )  . 

3.3. ngũ hành. Đó là 5 yếu tố cơ bản trong vũ trụ: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ ; 5 yếu tố này có nhiều mối tương quan hay tương khắc nhau. Quy luật tương sinh, tương khắc là sự chuyển hóa qua lại giữa Trời và Đất để tạo nên sự sống của vạn vật: . Có thể nói rằng, tương sinh và tương khắc là hai quy luật luôn tồn tại song hành với nhau, có tác dụng duy trì sự cân bằng trong vũ trụ. Nếu chỉ có sinh mà không có khắc thì sự phát triển cực độ sẽ gây ra nhiều tác hại. Ngược lại nếu chỉ có khắc mà không có sinh thì vạn vật sẽ không thể nảy nở, phát triển. Do đó, sinh-khắc tạo ra quy luật chế hóa không thể tách rời.

3.3.1.tương sinh nghĩa là cùng thúc đẩy, hỗ trợ nhau để sinh trưởng, phát triển. Đó là quy luật phát triển của ngũ hành, tuy nhiên sinh nhiều quá đôi khi trở thành tai hại. Cũng giống như cây củi khô là nguyên liệu đốt để tạo ra lửa, thế nhưng nếu quá nhiều cây khô sẽ tạo nên một đám cháy lớn, gây nguy hại đến tài sản và tính mạng của con người. Đó là nguyên do tồn tại quy luật phản sinh trong ngũ hành:

- Kim hình thành trong Thổ, nhưng Thổ quá nhiều sẽ khiến Kim bị vùi lấp.
- Hỏa tạo thành Thổ nhưng Hỏa quá nhiều thì Thổ cũng bị cháy thành than.
- Mộc sinh Hỏa nhưng Mộc nhiều thì Hỏa sẽ gây hại.
 
- Thủy cung cấp dinh dưỡng để Mộc sinh trưởng, phát triển nhưng Thủy quá nhiều thì Mộc bị cuốn trôi.
 - Kim sinh Thủy nhưng Kim nhiều thì Thủy bị đục.
Trong tương sinh luôn có mầm mống của tương khắc, và trong tương khắc luôn tồn tại tương sinh

          3.3.2.tương khắc là sự áp chế, sát phạt cản trở sinh trưởng, phát triển của nhau.
Tương khắc có tác dụng duy trì sự cân bằng nhưng nếu thái quá sẽ khiến vạn vật bị suy vong, hủy diệt. Vài ví dụ:

Thủy khắc Hỏa: Nước sẽ dập tắt lửa

 Hỏa khắc Kim: Lửa mạnh sẽ nung chảy kim loại

 Kim khắc Mộc: Kim loại được rèn thành dao, kéo để chặt đổ cây.

 Mộc khắc Thổ: Cây hút hết chất dinh dưỡng khiến đất trở nên khô cằn.

 Thổ khắc Thủy: Đất hút nước, có thể ngăn chặn được dòng chảy của nước.

Giản đồ sau đây trình bày các mối tương sinh  và tương khắc     


4. ngũ cung

Truyện Kiều có câu:

Âm thương lầu bậc ngũ cung
Nghề riêng ăn đứt, hồ cầm một trương

5. ngũ quả. Ngày Tết trên bàn thờ tổ tiên thường có mâm ngũ quả gồm 5 trái cây với sắc màu khác nhau,  thể hiện nguyện ước của gia chủ qua tên gọi, màu sắc và cách sắp xếp của chúng. 

6.ngũ vị hương là một loại gia vị dùng trong ẩm thực của người Trung Hoa hay Việt Nam. Nó bao gồm năm loại vị cơ bản trong ẩm thực là: mặn, ngọt, chua, cay, đắng. Thành phần của ngũ vị hương không giống nhau trong từng loại công thức pha chế. Nó có thể bao gồm bột của các loại thực vật sau: 

Thái Công Tụng