Thứ Ba, 15 tháng 12, 2020

Tình Tôi Lãng Mạn Đến Miên Trường


Đã có lần tôi không còn biếng học
Khi quen Em trong nhộn nhịp giảng đường
Em đâu biết tôi yêu thầm mái tóc
Nhẹ như mây, mềm hơn cả mù sương.

Đã có lần tôi say sưa nhìn, ngắm
Áo Em cài bóng nắng cuối dốc mơ
Đường chung bước mà sao lòng xa thẳm
Tôi và Em như trăng tỏ, sao mờ.

Đã có lần tôi theo Em xuống phố
chỉ để nhìn Em thoải mái đùa vui
Em đâu biết lòng tôi như cổ mộ
Miệng cười tươi mà lòng thấy bùi ngùi!

Đã có lúc gần nhau trong gang tấc
mà xa xăm hơn cả vạn đường mây
Tôi muốn nói những lời tình chất ngất
sao ngại ngần, câm nín đến hôm nay?

Đã có lần chia tay trong dịu vợi
Một lời thôi, cũng giữ tận đáy lòng
Bao năm rồi tình trao cho sương khói
nên tiếng yêu giờ là thoáng hoài mong.

Đã xa rồi một thời Em áo trắng
cuốn hồn tôi vào mộng mị yêu đương
Phố mù sương là chứng nhân thầm lặng
của tình tôi lãng mạn đến miên trường.

Huy Văn
( Để nhớ ngày đầu nhập học
của khóa 8 CTKD,15-11-1971 )
 

Những Thầy Học Cũ...

Lời giới thiệu:

Bài viết được thực hiện bởi Kiến trúc sư Lê Văn Tâm tốt nghiệp trường Đại học Kiến trúc Sài Gòn, nguyên phụ giáo sư trường Đaị học Kiến Trúc, hiện định cư tại Toronto Canada.
KTS Tâm cũng đã thiết lập quyển "Kỷ Yếu Đại Học Kiến Trúc Sài Gòn" với hơn 600 trang ghi lại hình ảnh và thông tin của các cựu sinh viên trường xưa cùng với lịch sử và sinh hoạt của trường trải dài hơn bốn thập niên từ 1930 đến 1975.
Bài được đăng trong group email của anh có tên là "Văn Thơ Nhạc ĐHKT" do một người bạn KTS của tác giả gởi đến trang "Long hồ Vĩnh Long".(Nguyễn Cao Khải)

 
(Giáo Sư Nguyễn Quang Nhạc)          (Giáo Sư Nguyễn Huy)

...Tôi là Sinh Viên cûa Họa thất 4. Hoàn tất cấp 2 với Thầy Nguyễn Huy, tôi lên cấp 1 với Thầy Nguyễn quang Nhạc.

Cũng là một cái duyên nên giáo sư hướng dẫn đồ án tốt nghiệp cũng là Thầy Nhạc. Ra trường tôi được đề nghị của Thầy Nhạc ở lại trường. Ngoài nhiệm vụ sửa bài tôi phụ giúp Thầy Nhạc trong việc cập nhật hóa chương trình giảng dạy cho SV Kiến Trúc từ Bộ Xây Dựng ngoài Hà Nội đưa vào. 

Qua công việc tôi nhìn thấy hoài bảo của Thầy, cố gắng giữ lại những nề nếp, cách học và sinh hoạt của SV giống như ngày xưa hay của trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Paris. Trong khi chương trình đào tạo của bộ Xây Dựng có khuynh hướng nặng về xây dựng. Sự khác biệt nầy đưa đến nhiều tranh luận, tôi chỉ là một gạch nối để dung hòa giữa cũ và mới.

Thời gian nầy ngoài công việc ở trường, thỉnh thoảng buổi tối tôi hay đến thăm thầy ở căn nhà đường Trương Định gần vườn Tao Đàn. Tôi cần ý kiến của Thầy qua một số những vấn đề không tiện bàn cải ở trường, trong đó có việc duy trì và phát triển sinh hoạt họa thất.

Có những lần ngồi nói chuyện với Thầy trước sân nhà đến mấy tiếng đồng hồ. Con đường Trương Định vắng xe, phố đêm yên tỉnh chỉ có tiếng nói của hai Thầy trò....những kỷ niệm đó mãi không quên!

Bây giờ đọc lại bài viết về Thầy của Sơn, trong trí tôi hiện ra cái dáng của Thầy dắt chiếc xe đạp mini ...Thầy ngồi ở cái bàn viết trong bộ môn dân dụng với cái cây viết vàng hiệu Dupont dùng để ký tên....

Hương xưa lồng lộng trở về từ ký ức. Tất cả chỉ còn là dỉ vãng...

CÂU CHUYỆN NGÀY XƯA…

Thầy Thâng đã từng nói : " cốt đột, mấy đứa học kiến trúc là học ở bạn và đàn anh nhiều hơn

là học ở Thầy." Cái hình ảnh người KTS miệng nói, tay vẽ bây giờ không biết có còn thực hiện được không?

Không phải là không có lý do khi SV phải trầy trật với hai bài đồ án Cổ điển trước khi lên cấp 2. Đường nét thể hiện của SV khi bắt đầu một đồ án được thể hiện và trau dồi ở giai đoạn nầy. 

Nhớ lại chuyện cũ khi đến nơi đây, lần đầu tiên khi đi thử việc tại một văn phòng xây cất nhà ở ( subdivision house). Boss đưa một cái sample plan và bắt vẽ lại trong vòng một giờ. Đã quen với lối vẽ họa cảo khi còn học ở trường tôi hoàn thành bản vẽ sớm hơn dự định. Boss xem xong nhận ngay. Sau nầy làm việc ở một vài văn phòng KTS khác, cái vốn liếng về đường nét thể hiện bản vẽ học ngày xưa ở trường vẫn hơn những đồng nghiệp khác.

Lối học ngày nay, SV thực hiện bản vẽ bằng máy vi tính ở nhà rồi in ra và nộp bài. Sinh hoạt họa thất bị giảm đi, SV không còn nhiều cơ hội để học hỏi lẫn nhau. Đường nét thể hiện đặc tính của một KTS rồi sẽ ra sao?

MỘT BỨC HÌNH 60 NĂM


“chúng mình đã ở 2 thế giới khác biệt” [1]
Les Trois Mousquetaires – Ba chàng Hiệp sĩ.

Saigon, tháng Tám năm 1960, một nhóm thân hữu cùng gia đình đang thong dong trên sân thượng lữ quán tân kỳ Caravelle một buổi sum vầy sau tiệc rượu. Thoạt nhìn họ phong lưu, lịch duyệt, trải đời.
Ba người đàn ông trong vest bộ Tây ở bên trái bức hình đã, đang và sẽ tiếp tục định vị tên tuổi của mình dưới bầu trời rộng mở của nền kiến trúc hiện đại Việt Nam một thời. 
Họ là Kiến Trúc Sư  - Kiến Trúc Sư Thâng - Kiến Trúc Sư Nhạc.

KTS Hoa, tức Nguyễn Văn Hoa, sinh năm 1916 tại tỉnh Cần Thơ [2], kiến trúc sư tốt nghiệp trường Mỹ thuật Đông Dương tại Hanoi [3] cùng với những kiến trúc sư người Việt tốt nghiệp cùng trường thuộc thế hệ kiến trúc sư thứ hai làm kiến trúc hiện đại tại Việt Nam sau những nhà tiền phong người Pháp và một phần là người Việt. Một trong số đó là Arthur Kruze, Giáo sư kiến trúc của trường Mỹ thuật Đông Dương và cũng là Thầy học của KTS Hoa, sau trở thành đồng nghiệp. Ông Hoa nồng nhiệt, yêu nghề và say mê kỹ thuật, một người thích hoàn thiện [4].

KTS Thâng, tức Thầy Phạm Văn Thâng, sinh năm 1920 tại làng Vĩnh Lợi, tổng Hòa Đồng Trung, quận Gò Cong, tỉnh Mytho [5]. Năm 1951, Thầy Thâng trở thành kiến trúc sư tốt nghiệp mention très bien trường Quốc gia Mỹ thuật Ba Lê [6] rồi ở lại Pháp làm việc đến năm 1957 thì về nước làm Giáo sư tại trường Cao đẳng Kiến trúc Saigon [7], đồng thời cộng tác với văn phòng kiến trúc sư Nguyễn Văn Hoa. Thầy Thâng chuẩn mực, trầm lặng và vững chãi, một ngọn núi tĩnh. 

KTS Nhạc, tức Thầy Nguyễn Quang Nhạc, sinh năm 1924 tại tỉnh Gocong [8]. Năm 1957, Thầy Nhạc trở thành kiến trúc sư tốt nghiệp mention bien trường Quốc gia Mỹ thuật Ba Lê rồi ở lại Pháp làm việc đến tháng Mười năm 1958 thì về nước làm Giáo sư tại trường Cao đẳng Kiến trúc Saigon, đồng thời cộng tác với văn phòng kiến trúc sư Hoa - Thâng. Thầy Nhạc phong lưu, hào hoa và lãng mạn, một cơn gió động.

SAIGON, THẬP NIÊN 1950-1960

Saigon thập niên 1950 và 1960 là nơi hội tụ hàng loạt những kiến trúc sư người Việt mang tư tưởng hiện đại, từ những kiến trúc sư tốt nghiệp trường Mỹ thuật Đông Dương tại Hanoi và trường Kiến trúc Dalat [9] đến Saigon trước và đặc biệt là ngay sau Hiệp định Genève 1954 cho đến một lực lượng trẻ trung hơn trở về từ Pháp sau khi tốt nghiệp trường Quốc gia Mỹ thuật Ba Lê cùng những kiến trúc sư đầu tiên tốt nghiệp trường Cao đẳng Kiến trúc Saigon, chưa kể những người trở về rất sớm từ thập niên 1930-1940 sau khi tốt nghiệp trường Quốc gia Mỹ thuật Ba Lê hay trường Kiến trúc Lyon [10] ngoài những người quyết định không trở về và trở thành một thế hệ kiến trúc sư người Việt Nam sống và hành nghề tại Pháp, Mỹ, Morocco, Ấn Độ.

Họ hiện diện khắp nơi từ các cơ quan của Bộ Kiến thiết và Thiết kế Đô thị, sau trở thành Nha Tổng Giám đốc Kiến thiết và Thiết kế Đô thị, cho đến Văn phòng Công tác Đặc biệt cùng trực thuộc Tổng thống Phủ, Bộ Công chánh, Nha Công binh, Nha Mỹ thuật Học vụ, Viện Khảo cổ, các cơ quan Bộ thuộc Chánh phủ cùng hàng loạt những văn phòng kiến trúc sư tư vụ hoạt động sôi nổi, tự do. 

SAIGON, KRUZE - HOA - TẢI - THÂNG - NHẠC - MÃNG

Văn phòng kiến trúc sư Hoa - Thâng - Nhạc được đặt tại một biệt thự Pháp ở số 12 đường Duy Tân, gần đối diện cổng trường Luật khoa Saigon ở số 17 và gần Công trường chiến sĩ [11]. Căn biệt thự trở thành văn phòng kiến trúc sư Kruze - Hoa từ năm 1950 sau khi chuyển từ Dalat cùng với sự chuyển dịch lịch sử cùng năm của trường Cao đẳng Kiến trúc với Giáo sư Arthur Kruze tiếp tục làm Giám đốc. Năm 1954, Giáo sư Arthur Kruze trở về Pháp sau trận Điện Biên Phủ và Giáo sư Trần Văn Tải, sinh năm 1923 tại làng Tân Duyệt, tổng Quảng Xuyên, quận Camau, tỉnh Baclieu, một kiến trúc sư tốt nghiệp mention bien trường Quốc gia Mỹ thuật Ba Lê và sớm trở về Việt Nam năm 1950 trở thành vị Giám đốc người Việt đầu tiên của trường Cao đẳng Kiến trúc Saigon từ năm 1955. 

Văn phòng kiến trúc sư Kruze - Hoa có sự tham gia cộng tác một thời gian của kiến trúc sư Trần Văn Tải, trở thành văn phòng kiến trúc sư Kruze - Hoa - Tải cũng như văn phòng kiến trúc sư Hoa - Thâng - Nhạc cuối thập niên 1950 có sự tham gia cộng tác một thời gian của kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng, sinh năm 1920 tại làng Vĩnh Trinh, tổng Định Phước, quận Chauthanh, tỉnh Longxuyen, một kiến trúc sư tốt nghiệp mention très bien trường Quốc gia Mỹ thuật Ba Lê vào năm 1956 kiêm đô thị gia tốt nghiệp Học viện Đô thị Viện Đại học Ba Lê vào mùa Xuân năm 1958 [12] trước khi hai vị kiến trúc sư tài năng này ra riêng và trở nên lừng lẫy.

Từ cuối thập niên 1950 khi đã ổn định về con người, KTS Hoa - Thâng - Nhạc trở thành một hãng kiến trúc sáng danh với hàng loạt những bản thiết kế cao ốc, trụ sở, cư xá, ngân hàng, khách sạn, phi cảng, trường học, nhà máy và biệt thự được xây cất. Đó cũng là thời kỳ làm mưa làm gió của các văn phòng kiến trúc sư tư vụ cùng các cơ quan công vụ nhiều quyền lực trên đường chân trời rộng mở của kiến trúc hiện đại Việt Nam, nhứt là tại đô thành Saigon, nơi không ngừng cổ võ cho việc xây dựng mới.

Mùa Hè năm 1962, KTS Hoa - Thâng - Nhạc nằm trong danh sách mười ba kiến trúc sư nổi tiếng Việt Nam được Văn phòng Tổng thống Phủ mời góp ý kiến về việc vẽ lại mặt tiền Dinh Độc Lập đối với phương án ban đầu của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ của Văn phòng Công tác Đặc biệt và hai kiến trúc sư Huỳnh Thị Kiều Nga, Trần Tiễn Chuân của Nha Tổng Giám đốc Kiến thiết và Thiết kế Đô thị cùng trực thuộc Tổng thống Phủ phụ trách sau sự kiện đánh bom ngày 27 tháng Hai năm 1962 bởi hai phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc.

SAIGON, TRƯỜNG CAO ĐẲNG - ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC 

Saigon, tháng Mười Một năm 1966, những cuộc bãi khóa liên tiếp diễn ra nối liền với những cuộc tuyệt thực đầu năm 1967 trong giới sinh viên kiến trúc về việc biến cải trường Cao đẳng Kiến trúc trở thành Phân khoa Kiến trúc. 

Năm 1967, trường Kiến trúc Saigon chính thức trở thành Phân khoa Đại học thứ tám trực thuộc Viện Đại học Saigon [13] với Khoa Trưởng đầu tiên là Giáo sư Nguyễn Quang Nhạc dù về tuổi đời Ông nhỏ hơn hầu hết những Giáo sư người Việt thế hệ đầu của trường Kiến Trúc Sài Gòn cùng trở về từ Pháp. [14]

Năm 1970, Giáo sư Phạm Văn Thâng làm Khoa trưởng nhiệm kỳ tiếp theo thay Giáo sư Nguyễn Quang Nhạc đến năm 1973 thì được kế nhiệm bởi Giáo sư Tô Công Văn, sinh năm 1921 tại làng Bình Hòa Xã, tỉnh Giadinh, một kiến trúc sư tốt nghiệp mention bien trường Quốc gia Mỹ thuật Ba Lê cùng ngày, cùng tháng, cùng năm với người bạn học Phạm Văn Thâng nhưng đã lựa chọn con đường sớm trở về và cũng sớm khuấy đảo bằng một lượng công trình đồ sộ, rải kín bản đồ kiến trúc hiện đại Việt Nam nhờ văn phòng kiến trúc sư tư vụ nổi danh trước khi trở thành Giáo sư tại trường Cao đẳng Kiến trúc.

VIETNAM, THẬP NIÊN 1960-1970

Thập niên 1960 và đầu 1970 cũng chứng kiến sự sôi động nổi bật của nền kiến trúc hiện đại Việt Nam với sự gia nhập của thế hệ kiến trúc sư mới người Việt tốt nghiệp từ trường Cao đẳng - Đại học Kiến trúc Saigon. Ngoài ra còn có sự trở về sau khi du học của những kiến trúc sư người Việt tại Anh, Pháp, Mỹ cùng sự hiện diện nhiều hơn của một số hãng kiến trúc Mỹ, Nhật bên cạnh một số ít sự ra đi theo chiều ngược lại, đặc biệt là từ năm Mậu Thân 1968 đến mùa Hè đỏ lửa năm 1972, giai đoạn khốc liệt bậc nhất của chiến tranh Việt Nam.

CHUYẾN ĐI LÀ VĨNH VIỄN [15]

Ngày 24 tháng Tư năm 1975, kiến trúc sư Nguyễn Văn Hoa cùng gia quyến lên phi cơ rời Saigon, không kịp mang theo được gì, chỉ có đúng một vali đồ vội vã, đến khi “bừng mắt dậy trên sạp tạm trú ở Guam, nghe đài BBC mới biết chuyến đi là vĩnh viễn, chúng mình đã ở 2 thế giới khác biệt” [16]. Tại Guam, KTS Hoa có viết cho KTS Nhạc một lá thơ về sự ra đi, về những việc còn dang dở trên bàn vẽ của văn phòng hãng kiến trúc trên đường Duy Tân và hẹn cuộc trở về nhưng không thể nào gởi được trong những ngày Saigon rung chuyển. KTS Nhạc và KTS Thâng còn ở lại, trải qua ngày cuối cùng của tháng Tư cùng gần 4 triệu con người.
Họ biệt tin gần 17 năm trời trước khi nhận được tin nhau trở lại qua những lá thơ tay đầu tiên nhiều cảm xúc.

NHỮNG HẠT BỤI CÒN BAY

Kiến Trúc Sư Hoa định cư tại Mỹ kể từ năm định mệnh, “Công suốt đời gầy dựng từ con số 0 nay như dã tràng xe cát! Thứ dang dở xé đi và từ đó xuống thang âm thầm” [17], xót xa nghe chuyện của KTSThâng và KTS Nhạc “bên bờ hố sâu thẳm, vật vã trở lại con số 0” [18]. Ông mất tại Mỹ năm 2005 bên cạnh gia quyến.

Thầy Thâng còn ở lại Việt Nam hơn 13 năm trước khi lặng lẽ sang Pháp định cư vào một ngày mùa Thu tháng Chín năm 1988. 3 năm trước đó, trong một bức hình được ghi lại tại Nhatrang vào mùa Hè tháng Bảy năm 1985 có nhiều vị kiến trúc sư nổi tiếng [19], người đời còn thấy được nỗi buồn lạc lõng và kỳ lạ trong đôi mắt của Ông bên cạnh những gương mặt hầu hết đều tươi cười. Nỗi buồn man mác nhưng thẳm sâu, trĩu nặng, như xé nát trái tim những ai từng yêu mến người Thầy mẫu mực của trường Kiến trúc Saigon và cũng từng là một kiến trúc sư lỗi lạc Việt Nam một thời. Những năm cuối đời, Thầy Thâng dần mất đi trí nhớ, không nhận ra ngay cả những thân hữu cùng trường Kiến trúc Saigon cũ khi họ đến thăm mình ở Ba Lê [20]. Ông mất tại Ba Lê năm 2004 bên cạnh gia quyến.

Thầy Nhạc sống phần còn lại của cuộc đời như một con đò lặng lẽ, như cơn gió đã không còn động, như điệu nhạc đã không còn quang mà phần nhiều là những nốt trầm. Ông cam chịu bệnh tật và những cơn đau đớn của tuổi già vì có lẽ cũng không có nhiều tiền để mà mua thuốc uống; đôi mắt cũng trở nên mờ dần vì cataracte [21]. “Bên nhà chỉ còn tôi và Ngô Viết Thụ” [22]. “Bạn bè thân hữu sang Pháp - Mỹ - Đức hết, lần lượt từ người này đến người kia” [23], chỉ còn lại thế hệ học trò mà Ông coi đó là nguồn vui sống. Tháng Năm năm 1990, Thầy Nhạc “nghỉ mất sức chớ không được gọi là nghỉ hưu” [24] vì chỉ mới làm việc 15 năm trong chế độ mới. Trong lá thơ Thầy Nhạc gửi cho KTS Hoa vào ngày 20 tháng Mười năm 1991 sau gần 17 năm trời cách biệt, người đời còn thấy lại những dòng chữ đượm nỗi buồn bị nhoè trên trang thơ của một người trí thức còn ở lại. Ông mất tại TP.HCM năm 2004 bên cạnh gia quyến. “Những tháng ngày còn lại, Thầy sống như một vị Bồ Tát, vui vẻ, tự tại, không kêu than, oán trách bất cứ điều chi về những buồn vui được mất trong cuộc đời. Tài sản lớn nhất mà Thầy có được có lẽ là tình yêu, một tình yêu đặc biệt từ hàng ngàn học trò bao thế hệ, dù là trong nước hay hải ngoại, dù còn ở lại hay đã ra đi.” [25]

Một bức hình 60 năm và những con người lãng mạn, tài hoa đã làm nên một phần chân trời của kiến trúc hiện đại Việt Nam, một phần khung trời của trường Cao đẳng - Đại học Kiến trúc Saigon vang danh nay đã trôi theo gió cuốn. 

Chỉ còn lại đây là dư ảnh, gió heo may thổi trên những con đường cũ và những hạt bụi còn bay.

Saigon, ngày cuối cùng của tháng Tám năm 2020
Lê Văn Tâm
--------------------
Nguồn KTS Nguyễn Ngọc Sơn – Album ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC TRÊN ĐƯỜNG PASTEUR.
Xin chân thành cảm ơn những nhân viên của Archives Nationales de France, École Nationale Supérieure des Beaux-Arts (ENSBA) tại Paris, National Archives and Records Administration (NARA) và Library of Congress (LC) tại Washington D.C. đã hỗ trợ những dữ liệu đặc biệt và tất cả những quý vị đã sẻ san kỷ niệm trong bài viết này!

- xin vui lòng ghi rõ nguồn nếu trích dẫn bài viết / cảm ơn chân thành -

Hình: Từ album gia đình Ông Thanh Nguyen. Xin chân thành cảm ơn Ông! 

[1] Thơ kiến trúc sư Nguyễn Văn Hoa gởi kiến trúc sư Nguyễn Quang Nhạc ngày 14 tháng Mười Hai năm 1991
[2] Tỉnh Cantho được thành lập theo Nghị định ngày 20 tháng Mười Hai năm 1899 của Toàn quyền Đông Dương trên cơ sở đổi tên gọi tiểu khu hay hạt tham biện (arrondissement) thành tỉnh (province), kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1900.
[3] École Supérieure des Beaux-Arts de l'Indochine
[4] Hồi ức của kiến trúc sư Nguyễn Duy Tâm vào tháng Hai năm 2016
[5] Quận Gocong được thành lập ngày 09 tháng Hai năm 1913 khi giải thể tỉnh Gocong và sáp nhập vào tỉnh Mytho, đến ngày 09 tháng Hai năm 1924 lại tách Gocong ra khỏi tỉnh Mytho, trở thành tỉnh Gocong như cũ.
[6] École Nationale Supérieure des Beaux-Arts de Paris
[7] École Supérieure d'Architecture de Saigon
[8] Quận Gocong được thành lập ngày 09 tháng Hai năm 1913 khi giải thể tỉnh Gocong và sáp nhập vào tỉnh Mytho, đến ngày 09 tháng Hai năm 1924 lại tách Gocong ra khỏi tỉnh Mytho, trở thành tỉnh Gocong như cũ. Giáo sư Nguyễn Quang Nhạc sinh vào tháng Sáu năm 1924, sau thời điểm trên gần 4 tháng.
[9] École Supérieure d'Architecture de Dalat
[10] École Régionale d’Architecture de Lyon
[11] Place du Maréchal Joffre hay Công trường Ba Hình 1921-1956; Công trường Chiến sĩ từ năm 1956; Công trường Chiến sĩ Tự do đầu năm 1970; Công trường Quốc tế từ năm 1972
[12] Institut d'Urbanisme de l'Université de Paris
[13] 07 Phân khoa Đại học còn lại trực thuộc Viện Đại học Saigon trước năm 1975 là:

+ Đại học Khoa học trên đường Cộng Hòa
+ Đại học Luật khoa trên đường Duy Tân
+ Đại học Sư phạm trên đường Thành Thái
+ Đại học Văn khoa trên đường Gia Long – Nguyễn Trung Trực, sau chuyển về Đại lộ Cường Để
+ Đại học Nha khoa trên đường Nguyễn Trãi
+ Đại học Y khoa trên đường Trần Quý Cáp, sau chuyển về Đại lộ Hồng Bàng 
+ Đại học Dược khoa (tách khỏi Đại học Y khoa năm 1961) trên đường Trần Quý Cáp, sau chuyển về đường Công Lý, từ 1964 chuyển về Đại lộ Cường Để

[14] Giáo sư Lê Văn Lắm sinh năm 1925 là người duy nhất nhỏ tuổi hơn Giáo sư Nguyễn Quang Nhạc trong thế hệ này. Năm 1967, Giáo sư Lê Văn Lắm đang kiêm nhiệm Giám đốc của cơ quan đầy quyền lực là Nha Tổng Giám đốc Kiến thiết và Thiết kế Đô thị trực thuộc Tổng thống Phủ
[15], [16], [17], [18] Thơ kiến trúc sư Nguyễn Văn Hoa gởi kiến trúc sư Nguyễn Quang Nhạc ngày 14 tháng Mười Hai năm 1991
[19] Dữ liệu của kiến trúc sư Trần Đình Quyền
[20] Hồi ức của kiến trúc sư Cổ Văn Hậu ngày 02 tháng Bảy năm 2020 
[21], [22] Thơ kiến trúc sư Nguyễn Quang Nhạc gởi kiến trúc sư Lê Văn Lắm ngày 29 tháng Mười năm 1991
[23] Thơ kiến trúc sư Nguyễn Quang Nhạc gởi kiến trúc sư Nguyễn Văn Hoa ngày 20 tháng Mười năm 1991
[24] Thơ kiến trúc sư Nguyễn Quang Nhạc gởi kiến trúc sư Lê Văn Lắm ngày 29 tháng Mười năm 1991
[25] Hồi ức của kiến trúc sư Nguyễn Văn Tất ngày 28 tháng Tám năm 2020

Thứ Hai, 14 tháng 12, 2020

Anh Cần Có Em - Thơ Trần Ngọc - Nhạc Quốc Dũng - Ca Sĩ Quang Minh

 
 
Thơ: Trần Ngọc
Nhạc: Quốc Dũng
Ca Sĩ: Quang Minh

Hương Vị Nồng Nàn...

 

Thoảng hương ngày mới cà phê
Khói thơm từ phía bay về phương đây
Cùng người pha chút bơ Tây
Tí đường ngọt lịm ngất ngây nồng nàn
Giọt đắng nhỏ xuống nhẹ nhàng
Thi vị hạnh phúc ngập tràn đời nhau
Quấn quít tình đượm ngạt ngào
Bóng lung linh bóng đôi đầu mềm môi.

Kim Oanh
11/12/2020

Trở Về



(Cảm tác " Đi Mãi của Cung Lan)  
Link:Đi Mãi - Cung Lan 

Trở về tìm giấc ngủ ban trưa 
Ngọt ngào trong tiếng mẹ hát ru
Hồn tôi là ca dao tục ngữ
Mẹ tặng tôi từ thuở bé thơ.

Tôi thấy lũy tre của quê nhà
Cánh diều ai thả bóng chiều xa
Đi mãi tưởng đã quên nguồn cội
Quên hương linh mồ mả ông bà.

Trở về để thắp một nén hương
Đứa con đã phiêu bạt mấy phương
Một phương này vẫn là duy nhất
Xa cách bao năm chẳng lạc đường.

Trở về tìm giấc mộng thanh xuân
Bài hát xưa nghe đã nhiều lần
Thổn thức: “Ngày em hai mươi tuổi”. *
Vẫn còn khóc được, vẫn bâng khuâng.

Tôi thấy chiếc áo thuở đôi mươi
Nằm ngoan trong ngăn tủ đợi tôi
Rộn ràng tôi mặc vào làm dáng
Áo màu tôi thích vẫn chưa phai.

Tôi thấy con hẻm xưa dại khờ
Xóm tôi ngày nắng hay ngày mưa
Có người đi tìm hoài con hẻm
Có người đứng ngoài ngõ mà mơ.

Đi mãi cũng có lúc mỏi lòng
Sông ơi dù đã chảy mấy dòng
Tủi thân sông muốn về với biển
Sẽ chẳng bao giờ cạn nhớ mong.

Trở về tìm lại tình thân thương
Đây mái nhà xưa đây cố hương
Tìm lại kỷ niệm êm đềm cũ
Xin được gởi anh một cố nhân.

Nguyễn Thị Thanh Dương
( Dec.02, 2020)
*“Ngày em hai mươi tuổi” nhạc Phạm Duy

Trằn Trọc


Xướng:

Trằn Trọc


Vắt tay lên trán suốt đêm qua 
Càng nghĩ lòng càng thấy xót xa
Sáu chục năm dư dời đất tổ
Ba trăm tháng lẻ biệt quê cha
Hương Sơn nghe tích . thêm thương nước
Quán Sứ nhìn tranh lại nhớ nhà
Cha mẹ về trời khôn vuốt mắt
Nước nào rửa sạch hận lòng ta?


LạcThủyÐỗQuýBái
***
Bài Họa:

Ngàn Đời Thương Nhớ

Nương tựa xứ người năm tháng qua,
Hương tàn khói lạnh mả mồ xa 
Ruột tằm đoài đoạn rời quê Mẹ 
Mắt lệ ngậm ngùi bỏ đất Cha 
Bóng xế mỏi mòn về với Tổ 
Chiều tà khắc khoải sống bên Nhà 
Đường đời vạn nẻo thân lưu lạc 
Thương nhớ ngàn đời non nước ta 


Nguyễn Thành Tài

Tặng Phẩm Của Thượng Đế

 

Ta đi vào chặng cuối đời
Nghe thời gian giục cõi trời hư không
Đồi hoang núi xám chập chùng
Biển sâu nước réo, đáy sông cạn nguồn

Ta đi về phía hoàng hôn
Trời chiều nắng quái, chim hồng cánh xuôi
Rừng thu lá rụng tơi bời
Tiếng muông thú gọi sao ngươi chửa về

Hay còn nấn ná đường quê
Hay còn tơ tưởng trăng thề ái ân
Hay còn luyến bút Văn Quân
Hay còn dệt mộng thi nhân với nàng

Ngày xuân oanh hót rộn ràng
Đêm đông bóng nguyệt võ vàng xót xa
Có nàng cúi xuống bên ta
Nhỏ đôi giọt lệ để mà chia tay...

Chung Văn

Tiếng Khóc Đêm Tân Hôn


Lời Gìói Thiệu:

Tác giả mười bài “TIẾNG KHÓC ĐÊM TÂN HÔN” vốn là bạn thơ thân thiết của tôị Nàng đã yêu tôi từ khi nào, tôi không hề hay biết. Mùa thu năm 1943, lúc đó tôi ở Hà Nội và nàng ở Huế, tôi nhận được hồng thiếp báo tin Nàng lấy chồng. Tôi tinh nghịch cắt chữ HỶ trong tấm thiếp gửi vào mừng nàng, không viết thêm một chữ nào. Hơn một tuần lễ sau tôi nhận được 10 bài thơ này. Tôi bàng hoàng sửng sốt. Nàng yêu tôi đến thế này ư? Tại sao tôi không bao giờ để ý đến cả? Tôi hết sức thương nàng, nhưng trước sau Nàng đối với tôi chỉ là một người bạn, một người em gái. Biết làm sao hơn? Lòng tôi như thế tôi không thể dối lòng. Tôi cất 10 bài thơ vào ký ức và đốt nó đi. Nàng đã có chồng. Chồng Nàng là một viên (quan) hậu bổ. Bản thân Nàng cũng là con gái độc nhất của một vị quan đại thần của triều đình Huế. Tôi thành thật cầu mong cuộc sống gia đình sẽ giúp Nàng quên tôi. Nàng sẽ có hạnh phúc. 

Nàng có hạnh phúc không? Tôi không rõ vì kể từ đấy mọi liên lạc giữa chúng tôi không còn nữa. Nàng còn sống hay đã mất rồi? Nếu còn sống chắc con cháu đã đầy nhà. Hỡi ơi! Người đàn bà tài hoa ấy có lẽ cũng đã nhận ra rằng: Tài và sắc vốn là một mối lụy của kiếp nhân sinh. Cho nên mới không làm thơ nữa. Để làm vợ một người vợ bình thường như mọi người vợ khác. 

Tôi giấu tên nàng. Tên nàng không cần thiết nhưng mối tình nàng thật đáng trân trọng. Biết đâu trong pho tình sử của nhân loại tương lai sẽ có 10 bài thơ này? 
(N.T.L.) 

Bài xướng: 

Tiếng Khóc Đêm Tân Hôn

1/ 
Bạn lòng ơi! Hỡi bạn lòng ơi! 
Non nước xa xăm chớ ngại lời 
Trăm nẻo gió mưa, trăm nẻo lạnh 
Vạn trùng sương khói, vạn trùng khơi 
Dòng Hương nghẹn sóng thương run rẩy 
Đỉnh Ngự phai vàng nhớ tả tơi 
Em bước lên thuyền trông trở lại 
Anh đi biền biệt một phương trời 

2/ 
Trời thấu cho chăng? Trời hỡi trời? 
Cắn răng vẫn bật khóc anh ơi! 
Đường đời bỗng rẽ làm hai lối 
Giấy trắng không lưu lại nửa lời! 
Chim cũ sớm hôm còn ríu rít 
Người xưa gang tấc đã xa vời! 
Vô tình giở đọc trang tình sử 
Càng bẽ bàng thêm má với môi! 


3/ 
Môi, má, chao! Son phấn vẽ vời 
Gương treo giờ biết để ai soi? 
Xây bao nhiêu mộng, xây trên cát 
Nói một lời yêu, nói chẳng trôi! 
Đã trót sinh vào hàng ngọc bội 
Đành cam chuốc lấy nợ kim bôi! 
Mừng em mới tủi cho em chứ 
Đang lúc bơ vơ giữa chợ đời! 


4/ 
Đời nếu như là mộng ảo thôi 
Trăm năm đừng có chuyện chung đôi 
Lấy chồng để trở thành sương phụ 
Thà thác mong làm có Mã-Ngôi (1) 
Có hẹn chi mô mà trách ngược ? 
Chẳng giằng lấy được để buông xuôi! 
Đêm nay hoa chúc kinh hoàng quá 
Mắt mở nhìn đâu cũng tưởng Người! 

(1) Có lẽ chỗ này tác giả lầm Mã-Ngôi là nơi Dương Quý Phi phải tự sát để vừa lòng ba quân, với cỏ Ngu Mỹ-Nhân trên bờ sông Ô Giang. 

5/ 
Người ấy là chồng, chồng của tôi ? 
Trớ trêu đến thế đấy trời ơi ! 
Mưa sa, sao lại mưa sa nhỉ ? 
Mực cạn, đành như mực cạn thôi! 
Áo lộng quấn tay: Cầu Bạch Hổ (2) 
Tóc đùa che nắng: Núi Thiên Thai (3) 
Thúy Kiều còn được hầu Kim Trọng 
Em cứ là em, vợ của ai! 


6/ 
Ai đã từng yêu, từng khổ đau 
Đọc nhau ắt hẳn cũng thương nhaụ 
Nếu như diệt được con tim héo 
Thì có phiền chi ngọn bút sầu ? 
Tóc bạc chờ ngày chôn mệnh phụ 
Trăng vàng lọt sổ tủi cô lâu ! 
Ơi trăng! ghen với trăng vàng đó 
Trăng thấy người ta yêu ở đâu ? 

(2) Bấy giờ chúng tôi còn mặc quốc phục. Lúc về chơi Huế đứng trên cầu Bạch Hổ, tà áo dài của hai người thường quấn lấy tay nhau . 
(3) Những lần đi chơi núi Thiên-Thai, nàng thường xõa tóc và nói đùa để che nắng cho tôi. 

7/ 
Đâu biết ngày nay phận bẽ bàng 
Bài Son-Nê cũ lúc thu sang (Sonnet) 
Ngẫm thương cảm lại ngâm thương cảm 
Im dở dang mà nói dở dang! 
Nam nữ mới hay tình một hội 
Đông tây rõ thiệt lụy đôi đàng! 
Ắc-ve! tôi để tang ông đó (Arvers) 
Ai có vì tôi chịu để tang? 


8/ 
Chịu để tang cho một mối tình 
Luân hồi nếu thiệt có lai sinh 
Em ngồi đan áo bên sân thóc 
Anh đứng nhìn con dưới mái tranh 
Đêm ngắn khoe hoài thơ Lý Đỗ 
Ngày dài quên lửng chuyện công danh. 
Từ nay cho đến muôn vàn kiếp 
Em chỉ là em của một anh

9/ 

Anh hẹn đi anh! Anh, anh, anh
Kỷ niệm ùa về gọi thất thanh 
Nỗi nhớ nhung này dâng khắc khoải 
Chút hơi hướng cũ rải mong manh 
Tĩnh-Tâm sen rũ tàn trong nắng 
Thiên-Mụ chuông ngân vẳng trước mành 
Chợt tỉnh bồi hồi, trời sắp sáng 
Trêu nhau đến cả ngọn đèn xanh! 

10/ 
Xanh ngắt đèn xanh, tủi khóc thầm 
Hại nhau vì cái nghĩa tri âm 
Thơ văn thuở trước thôi đành lỡ 
Thương nhớ giờ đây trót đã lầm! 
Một chữ khuyên tròn, mười chữ hận 
Mười bài khép lệch, một bài câm! 
Đã không quấn quít bên nhau được 
Sao nỡ làm anh phải khổ tâm? 


Tương Đàm 

***

Bài họa: 
L
ời Tạ Tình
1/ 
Sắc tài là lụy đấy, em ơi! 
Muốn thốt, nhưng sao cứ nghẹn lời 
Mây nổi lênh đênh, mây chắn lối 
Gió lùa quanh quất, gió ra khơi 
Thành Hà cỏ úa tan cùng tác 
Đất Huế hoa dàu tả lại tơi 
Từ thuở chia tay, thuyền tách bến 
Đường về, nhớ dáng khuất chân trời 


2/ 
Chân trời ngơ ngẩn ngắm mây trời 
Có thấu lòng chăng, hỡi bạn ơi! 
Thơ tặng còn ghi đây mấy vận 
Tai nghe dường vẳng đấy bao lời 
Nắng soi nắng chiếu màu lưu luyến 
Người đến người đi chốn cách vời 
Kỷ niệm hiện về bên cốc rượu 
Mà thêm tê tái, buốt đôi môi! 


3/ 
Đôi môi khô đắng, mắt trông vời 
Ôi dấu bèo, gương dẫu có soi ! 
Lá thắm thả liều dòng nước chảy 
Chỉ hồng bay lạc áng mây trôi 
Hảo cầm tình đẹp khôn nâng phím 
Giai ngẫu duyên lành khó cử bôi 
Thư chúc gởi ai riêng chữ Hỷ 
Viết chi, khi chẳng bước chung đời? 


4/ 
Chung đời đâu dễ, mộng mà thôi! 
Cách biệt muôn trùng, chẳng vẹn đôi 
Ước vọng trượng phu chưa toại chí 
Ái tình nhi nữ đã lên ngôi 
Lòng kia cứ muốn thuyền quay ngược 
Trí nọ đành cam nước cuốn xuôi 
Hoa chúc bẽ bàng đêm lạnh lẽo 
Người ơi, xin hãy cố quên người 


5/ 
Quên người đi nhé, tội em tôi 
Duyên nợ lỡ làng thế, hỡi ơi ! 
Tấm lụa phất phơ, bay trót vậy 
Hạt mưa tí tách, rớt đành thôi 
Qua cầu áo vướng, thương cầu Bạch 
Lên núi nắng tràn, nhớ núi Thai 
Số mệnh oái oăm, ai cưỡng nổi 
Nghìn năm tình sử xót ai ai! 


6/ 
Ai khóc, ai hờn tủi, đớn đau 
Nhạt nhòa duyên thắm buổi xa nhau 
Vườn xuân gió cuốn cho hoa héo 
Nắng hạ lửa thiêu để cỏ sầu 
Một kiếp lạnh lùng sao vội sớm ... 
Trăm năm đằng đẵng khéo dài lâu 
Trăng soi bên gối, trăng thao thức 
Người mỗi phương trời có biết đâu! 


7/ 
Có biết đâu như chiếc lá bàng 
Thu vàng xao xác tiễn đời sang 
Thơ Tình Tuyệt Vọng thương càng cảm 
Khúc Bạch Đầu Ngâm dở lại dang 
Phận liễu nay là cây có chủ 
“Chàng Tiêu giờ đã khách qua đàng” 
Thi nhân vướng mắc vòng ngang trái 
Chĩu nặng trong hồn vạn tóc tang 


8/ 
Tang tóc, bi thương ngút biển tình 
Ngậm ngùi thẹn nhắc chuyện ba sinh 
Bâng khuâng Thần Nữ về trong mộng 
Thấp thoáng Giáng Kiều ẩn giữa tranh 
Vốn bởi chẳng tài mà chẳng phép 
Còn vì không phận lại không danh 
Uyên ương chắp cánh sao liền được 
Mái tóc vắn dài, em của anh! 


9/ 
Mái tóc vắn dài, em của anh! 
Giật mình choàng dậy giữa đêm thanh 
Dạt dào biển nhớ hồn thao thức 
Chất ngất trời thương dáng mỏng manh 
Thờ thẩn trông hoa tàn trước ngõ 
Ngẩn ngơ nghe gió tạt bên mành 
Chập chờn ác mộng, thân rời rã 
Ôi một đời xuân, tiếc tuổi xanh 


10/ 
Tuổi xanh héo hắt, khổ đau thầm 
Kỷ niệm se lòng, mãi vọng âm 
Thi phú đổi trao nên nghĩa nặng 
Keo sơn gắn bó hóa duyên lầm 
Liên hoàn thập thủ tình than khóc 
Trường đoạn thiên ngôn dạ lặng câm 
Em ạ! Chẳng qua là mệnh số 
Ta cùng chia một mối thương tâm 

Thiên Tâm 
(5/5/05 – 7/5/05)

Khái Quát Về Vô Vi

 
Chữ "Vô" ở nghĩa thông thường là "Không", nhưng đối với Triết lý Đông phương, "Vô" mang ý nghĩa thật cao xa đều được 3 tôn giáo đề cập đến nhiều. "Vô" dường như là vấn đề cối lỏi, từ Lão Giáo, Khổng Giáo đến Phật Giáo. Phải chăng Triết lý Đông Phương đặt Vô Vi làm nền tảng, khi diễn giải, mỗi học thuyết đưa ra một số giải thích khác biệt. Trước khi đi sâu vào Vô Vi của Lão Tử, chúng ta cùng tìm hiếu sơ về "Vô" của Phật và Khổng.

1- "Vô" Trong Phật Giáo

Trong Tâm Kinh Bát Nhã, nhắc đến rất nhiều "Vô" như: Vô sắc, Vô Lượng, Vô Thường, Vô Tranh, Vô Biên, Vô pháp, Vô Hữu, Vô Lượng, Vô Tướng, Vô Sở Nhập, Vô Sở hành, Vô Sở Đắc... Tại sao có quá nhiều "Vô"? Chính vì cái "Nghiệp" mà ta phải biến ta thành "Vô", bản thân ta thành tâm vô sở đắc. Vì thế nên đường Tu của Phật ở chữ "Diệt" như: Diệt Khổ, Diệt Dục...tự diệt cho đến khi "Vô Ngã Phi Ngã" (Ta không phải là Ta nữa) ...
Như thế "Vô" đối với học thuyết của Phật Giáo không kém phần quan trọng. 

2- Nguồn Gốc Kinh Dịch và Và Vô trong Khổng Giáo

Kinh Dịch từ đâu mà có? Có từ bao giờ? Ai là người sáng tạo ra Kinh Dịch? 

Hoàn toàn không lời giải, chỉ biết truyền thuyết nói rằng Kinh Dịch bắt đầu ra đời từ vua Phục Hy, lúc ấy Hoàng Hà có con long mã hiện hình lưng nó có khoáy (xoáy) thành đám, từ một đến chín, vua Phục Hy coi những khoáy đó, mà hiểu được lẽ biến hóa của vũ trụ, mới đem lẽ đó vạch ra thành nét. Người mới tạo nên Thái Cực Bát Quái Đồ được gọi là "Tiên Thiên Bát Quái Đồ". Sau đó, Chu Văn Vương rồi đến con là Chu Công (Chu Cơ Đán) mới cải biến thêm gọi là "Hậu Thiên Bát Quái Đồ".



Thành phần hợp thành của quẻ Vạch liền là Dương, tượng của mặt trời. Vạch đứt là Âm, tượng của mặt trăng. Mỗi một vạch (liền hoặc đứt) là một hào. Các thành phần này được biểu diễn trong một biểu tượng hình tròn chung (☯), được biết đến như Thái Cực đồ (☯) (太極圖 taijitu), nhưng nói chung người ta gọi tắt là đồ Âm-Dương (陰陽 yin-yang), miêu tả quan hệ giữa hai trạng thái của mọi thay đổi, chuyển dịch: khi Dương đạt tới cực đỉnh thì Âm bắt đầu phát sinh và ngược lại. Thái Cực đồ cũng là nguyên lý phát sinh Âm-Dương.

Vô Cực sinh Thái Cực
Thái Cực sinh Lưỡng Nghi
Lưỡng Nghi sinh Tứ tượng
Tứ Tượng sinh Bát Quái
Bát Quái sinh vô lượng

Kinh Dịch là bộ sách kinh điển của Trung Hoa. Nó là một hệ thống tư tưởng triết học của người Á Đông cổ đại. Tư tưởng triết học cơ bản dựa trên cơ sở của sự cân bằng thông qua đối kháng (Âm, Dương) và thay đổi (chuyển dịch). Ban đầu, Kinh Dịch được coi là một hệ thống để bói toán, nhưng sau đó được phát triển dần lên bởi các nhà triết học Trung Hoa. Cho tới nay, Kinh Dịch đã được bổ sung các nội dung nhằm diễn giải ý nghĩa cũng như truyền đạt các tư tưởng triết học cổ Á Đông và được coi là một tinh hoa của cổ học Trung Hoa. Nó được vận dụng vào rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống như thiên văn, địa lý, quân sự, bói toán nhân mệnh…
Kinh (經 jīng) có nghĩa là một tác phẩm kinh điển, trong tiếng Hoa có gốc gác từ “quy tắc” hay “bền vững”, hàm ý rằng tác phẩm này miêu tả những quy luật tạo hóa không thay đổi theo thời gian. Dịch (易 yì) có nghĩa là “thay đổi” của những thành phần bên trong một vật thể nào đó mà trở nên khác đi. Khái niệm ẩn chứa sau tiêu đề này là rất sâu sắc. Nó có ba ý nghĩa cơ bản có quan hệ tương hỗ như sau:

* Bất dịch – bản chất của thực thể. Vạn vật trong vũ trụ là luôn thay đổi, tuy nhiên trong những thay đổi đó luôn luôn tồn tại nguyên lý bền vững – quy luật trung tâm – là không đổi theo không gian và thời gian.

* Biến dịch – hành vi của mọi thực thể. Vạn vật trong vũ trụ là liên tục thay đổi. Nhận thức được điều này con người có thể hiểu được tầm quan trọng của sự mềm dẻo trong cuộc sống và có thể trau dồi những giá trị đích thực để có thể xử sự trong những tình huống khác nhau.

* Giản dịch – thực chất của mọi thực thể. Quy luật nền tảng của mọi thực thể trong vũ trụ là hoàn toàn rõ ràng và đơn giản, không cần biết là biểu hiện của nó là khó hiểu hay phức tạp. Tóm lại:

Vì biến dịch, cho nên có sự sống.
Vì bất dịch, cho nên có trật tự của sự sống.
Vì giản dịch, nên con người có thể qui tụ mọi biến động sai biệt thành những quy luật để tổ chức đời sống xã hội. Quan điểm Vô Vi của Khổng giáo hoàn toàn lệ thuộc vào Kinh Dịch.

Thái Cực huyền bí vô cùng, ta không thể biết rõ được, nhưng khi xem xét sự biến hóa của vạn vật thì ta có thể đoán biết được cái động và tịnh của Thái Cực. Động là Dương, tịnh là Âm. Dương lên đến cực độ lại biến ra Âm; Âm lên đến cực độ lại biến ra Dương. Hai cái Âm Dương ấy cứ xoay chuyển tương đối, điều hòa nhau mà biến hóa sanh ra Vũ trụ và vạn vật. Đó là điểm cốt yếu của Kinh Dịch, bởi vì Dịch là biến đổi. Trong Trời Đất, không có cái gì là không biến đổi, không có cái gì là nhứt định. Tất cả đều biến đổi, xoay chuyển, lưu hành khắp nơi, nhưng đều phát sinh từ một Lý duy nhứt là Thái Cực. Chỉ có Thái Cực là tuyệt đối, còn tất cả đều là tương đối. Do đó, Đức Khổng Tử lấy chủ nghĩa “ Thiên Địa vạn vật đồng nhất thể “ làm căn bản cho học thuyết của Nho giáo.
Tin tưởng đấng tối cao là Trời, là thiên mệnh. Tất cả vạn vật đều do Trời tạo nên. 
Nhất là Trường Phái Tân Nho giáo, được Hàn Dũ và Lý Ngao khai sáng từ thời nhà Đường. Đến đời Tống, được Trình Hạo, Trình Di, Chu Đôn Di, Chu Hi phát triển và trở thành trường phái Nho học chủ đạo thời nhà Tống và nhà Minh. nên được gọi là Tống Nho. Phái Tống Nho đã mang học thuyết của Lão và Phật Giáo nhất là Thuyết Vô Vi hòa nhập một phần vào Nho Giáo, vì thế có người nói Tam Giáo Quy Đồng.

3- Vô trong Lão Giáo

Theo Kinh Địch, Thái Cực Đồ nguyên lý phát sinh Âm-Dương.
Vô Cực sinh Thái Cực
Thái Cực sinh Lưỡng Nghi
Trong đó:
- Vô Cực tương đương trong Lão giáo là Vô Vi – có thể coi là hư vô.
- Thái Cực có thể coi như trạng thái cân bằng khi vũ trụ hình thành. 
- Lưỡng Nghi là 2 thành phần Âm và Dương.

* Đạo Đức Kinh

Lão Tử khi viết Đạo Đức Kinh, không hệ thống tư tưởng theo thứ tự, mà lời lẽ trong Đạo Đức Kinh lại rất khúc chiết, ý nghĩa rất uyên thâm, luận về hai chữ "Đạo Đức", nói về cơ tạo hóa, định vị trời đất, hóa sinh vạn vật, gồm Thượng Kinh nói về "Đạo", Hạ Kinh nói về "Đức"

Thượng Kinh (Đạo Kinh)

Thượng Kinh luận về chữ Đạo nên được gọi là Đạo Kinh. Thượng Kinh gồm 37 chương, bắt đầu bằng câu: "Đạo khả Đạo phi thường Đạo". 

道 可 道 非 常 道. 名 可 名 非 常 名. 
Đạo khả đạo phi thường Đạo. Danh khả danh phi thường danh.
(Đạo có thể gọi được, thì Đạo không hợp lẽ thường. Tên mà có thể gọi được, thì tên không hợp lẽ thường).

無 名 天 地 之 始; 有 名 萬 物 之 母. 
 Vô danh thiên địa chi thủy; Hữu danh vạn vật chi mẫu. 
(Không tên là khởi nguồn của trời đất, có tên là mẹ của muôn vật)

Bàn về Đạo cần chi phải nhiều lời, vì: 

«Nhất ngôn khả dĩ đại ngộ, 一 言 可 以 大 悟 (một lời cũng đủ biết tất cả)
Bán cú khả dĩ thông huyền.» 半 句 可 以 通 玄 (nửa câu cũng đủ thấu lẽ cao thâm).

道 常 無 為 而 無 不 為. 
Đạo thường vô vi nhi vô bất vi. 
(đạo thường không làm gì; nhưng không gì không làm).


道 沖 而 用 之 或 不 盈. 淵 兮 似 萬 物 之 宗.
Đạo xung nhi dụng chi hoặc bất doanh. Uyên hề tự vạn vật chi tông.
(Đạo rỗng không mà dùng không hết. Đạo sâu xa man mác tựa hồ như là tổ tông vạn vật). 

Trước Lão Tử , các nhà tư tưởng trong “Bách gia Chư tử” quan niệm: Đạo chỉ là nhân đạo, đạo lý làm người. Đến Lão Tử, Đạo được hiểu theo nghĩa rộng nhất của khái niệm Triết học, thông qua Đạo có thể hiểu được quá trình hình thành và phát triển của thế giới.

Mặc cho Khổng Tử thừa nhận Trời là đấng tối cao, sinh ra muôn vật, Mạnh Tử cũng khẳng định điều đó, Mặc tử coi là tất nhiên, không phải bàn luận. Ngược lại, Lão Tử phủ định vai trò tối cao của Trời, không thừa nhận trời sinh ra muôn loài. Ông nói: Có một vật trộn lộn mà thành, sinh ra trước trời đất, ta không biết tên nó là gì, nên mới cho tên riêng là Đạo.
Như vậy, có thể hiểu là: Đạo là cái đầu tiên, cái có trước, trước cả trời - đất và muôn loài. Đạo là khởi nguồn của vũ trụ, không có đồng loại, không có gì sánh được. Đạo tồn tại độc lập tuyệt đối, không có gì chi phối được. 

Đạo có trước Trời, Đất; trong Đạo có vật chất. Đạo chính là vật chất, là nguyên tố sinh ra vạn vật. 
Đạo là sự vận động và chuyển hoá lẫn nhau của vật chất 
Đạo là qui luật hình thành vạn vật. 

Ở thời thượng cổ, khi chưa có thuyết tiến hoá và phép biện chứng duy vật, Lão Tử đã nêu ra lý thuyết: Đạo sinh ra Một, Một sinh ra Hai, Hai sinh ra Ba, Ba sinh ra vạn vật. Vạn vật đều cõng âm và ôm dương trong quá trình phát triển. Ông còn nhấn mạnh: Đạo vừa là không (Vô), vừa là có (Hữu). Không và Có là hai trạng thái trong hai giai đoạn của Đạo. Khi Đạo ở trạng thái vô thanh vô sắc, vô hình, vô tướng thì là không, khi Đạo sinh thành Trời đất vạn vật thì là có. Trong khái niệm Đạo của Lão Tử bao gồm khái niệm vật chất cùng các thuộc tính của nó là vận động, không gian, thời gian, sự thống nhất của các mặt đối lập ... 

Lão Tử cho rằng Đạo là bản thể của vũ trụ, là nguồn gốc sinh ra trời đất, vạn vật, là đường lối muôn vật noi theo. Đạo tồn tại độc lập, bất biến, đạo là vật chất chứ không phải là tinh thần, là tổng thể những qui luật chi phối sự sinh thành, biến hoá của vũ trụ. 

Đặc tính của Đạo là: Vô cùng, vô tận, không bao giờ hết, tồn tại khách quan, thuận với tự nhiên, không can thiệp, chế ngự tự nhiên, luôn luôn vận động, vĩnh cửu, lâu dài, phổ biến trong mọi vật, có khả năng chuyển hoá, quay trở lại trạng thái ban đầu và hết sức huyền diệu. 
Theo Lão Tử: Đạo mà có thể diễn tả được bằng lời thì không phải là cái Đạo Vĩnh Cửu, bất biến. Tên mà có thể gọi ra được thì không phải là tên Vĩnh Cửu, thường hằng. Cái Đạo trường tồn bất biến ấy thật quả nó ở ngoài vòng ngôn ngữ, nhạt không có mùi, nhìn không thể thấy, nghe không thể rõ dùng không thể hết. Đạo là một cái gì lúc ẩn lúc hiện, dù mập mờ thấp thoáng mà ở trong vẫn có hình tượng, vẫn có vật chất, dù sâu thăm thẳm, tối như bưng mà ở trong vẫn có tinh tuý.
Lão tử khuyên chúng ta nên sống giản dị, tự nhiên, tuần tự nhi tiến, đừng lo lắng làm những chuyện bất thường. Những chuyện bất thường không thể tồn tại, y thức như những cơn giông cơn gió, những trận mưa lũ, mưa rào, chỉ chốc lát rồi lại qua đi. 

Hạ Kinh (Đức Kinh) 

Gồm 44 chương, bắt đầu bằng câu: "Thượng Đức bất Đức thị dĩ hữu Đức". Hạ Kinh luận về chữ Đức nên được gọi là Đức Kinh. 

上 德 不 德, 是 以 有 德. 
Thượng đức bất đức, thị dĩ hữu đức. 
                                         (Đức cao coi thường tục đức, vì thế nên có đức).

上 德 無 為 而 無 以 為. 下 德 為 之而 有 以 為. 
Thượng đức vô vi nhi vô dĩ vi. Hạ đức vi chi nhi hữu dĩ vi. 
(Bậc đức cao không làm, lại không hệ lụy vì công việc. Người đức thấp có làm, lại hệ lụy vì công việc). 

Đức 德 là sự phát huy của Đạo 道 ra bên ngoài. 

道 生 之, 德 畜 之, 物 形 之, 勢 成 之. 是 以 萬 物 莫 不 尊 道 而 貴 德. 
Đạo sinh chi, đức súc chi, vật hình chi, thế thành chi. Thị dĩ vạn vật mạc bất tôn Đạo nhi quí Đức. 

(Đạo sinh, Đức dưỡng, vật chất cho hình, hoàn cảnh tác thành (muôn vật). Cho nên muôn vật đều tôn Đạo, quí Đức). 

Như vậy, Đạo sinh ra vũ trụ, vạn vật. Đức nuôi dưỡng và giúp vũ trụ, vạn vật phát triển đến chỗ hoàn mỹ. 

道 之 尊, 德 之 貴, 夫 莫 之 命, 而 常 自 然. 
Đạo chi tôn, Đức chi quí, phù mạc chi mệnh nhi thường tự nhiên. 
(Đạo thì kính, Đức thì quý , mà Đạo Đức tự nhiên vốn đã như vậy)

故 道 生 之, 德 畜 之, 長 之, 育 之, 成 之, 熟 之, 養 之, 覆 之, 生 而 不有, 為 而 不 恃, 長 而 不 宰, 是 謂 玄 德.
Cố Đạo sinh chi, Đức súc chi, trưởng chi, dục chi, thành chi, thục chi, dưỡng chi, phú chi, sinh nhi bất hữu, vi nhi bất thị, trưởng nhi bất tể, thị vị huyền đức. 

(cho nên Đạo sinh, Đức dưỡng, làm cho vạn vật lớn lên; dưỡng nuôi vạn vật, tác thành che chở vạn vật. Sinh vạn vật mà không nhận là của mình; làm mà không cậy công; làm cho lớn lên mà không đòi làm chủ, thế gọi là Đức nhiệm mầu). 

道 是 德 的 體 . 德 是 道 的 用 
Đạo thị Đức đích thể, Đức thị Đạo đích dụng
(Đạo là bản thể của Đức, Đức là ứng dụng của Đạo).

Như vậy Đạo là một nguyên lý siêu việt, là nguyên lý cấu tạo ra vạn vật. Còn Đức bao gồm tất cả các ảnh hưởng, các hiệu năng của Đạo để giúp cho muôn vật được đi tới toàn vẹn. 

Vô Vi 

Nếu tìm hiểu học thuyết vô vi của Lão Tử một cách toàn diện chúng ta càng thấy ông là một người xuất chúng. Mặc cho Khổng Tử thừa nhận Trời là đấng tối cao, sinh ra muôn vật, Mạnh Tử cũng khẳng định điều đó, Mặc tử coi là tất nhiên, không phải bàn luận.

Khái niệm vô vi trong Đạo Đức kinh thường được hiểu lầm là không nên làm gì cả, nhưng thật ra Lão Tử khuyên rằng "Làm mà như không làm, như thế có đặng không". 

為 學 日 益, 為 道 日 損. 損 之 又 損, 至 於 無 為. 
Vi học nhật ích, vi Đạo nhật tổn. Tổn chi hựu tổn dĩ chí vô vi.
                 (theo học ngày một thêm, theo Đạo ngày một bớt. Bớt rồi lại bớt, đến mức Vô vi). 

無 為 而 無 不 為, 取 天 下 常 以 無 事. 及 其 有 事, 不 足 以 取 天 下. 
Vô vi nhi vô bất vi, thủ thiên hạ thường dĩ vô sự. Cập kỳ hữu sự bất túc dĩ thủ thiên hạ. 

(Không làm mà không gì không làm; muốn được thiên hạ phải dùng vô vi; dùng hữu vi không đủ để được thiên hạ).

Ông cũng viết rằng: nước tuy mềm mại uyển chuyển nhưng có thể chảy đến bất cứ nơi nào, và với một khối lượng lớn thì có thể làm lở cả đất đá. Như vậy vô vi có thể ví von với cách hành xử của nước. Vô vi nhi vô bất vi(chương 48), vô vi là hành động theo tự nhiên, là làm mà không có tâm riêng, cũng như đói thì phải ăn, khát thì phải uống".

天 下 之 至 柔, 馳 騁 天 下 之 至 堅. 無 有 入 無 間. 吾 是 以 知 無 為 之 有 益. 
Thiên hạ chi chí nhu, trì sính thiên hạ chi trí kiên. Vô hữu nhập vô gián. Ngô thị dĩ tri vô vi chi hữu ích. 

(Cái mềm nhất trong trời đất chi phối được cái cứng nhất trong trời đất. Cái «không có» lọt được vào chỗ «không có kẽ hở». Vì thế nên ta biết lợi ích của vạn vật).

不 言 之 教, 無 為 之 益, 天 下 希 及 之
Bất ngôn chi giáo vô vi chi ích thiên hạ hi cập chi. 
 (Cách Dạy mà không dùng đến lời, cũng như ích lợi của «Vô vi», ít người có thể hiểu thấu). 

Lão Tử là một đại trí thức, một người ưu thời mẫn thế, lập nên học thuyết vô vi mong cứu vãn thời thế. Học thuyết vô vi của Lão Tử nhấn mạnh “Vô dục”, “Vô vi”, “bất tranh”. Ông cho rằng bản tính tham lam, hiếu thắng là nguồn gốc của mọi cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn. Muốn cho xã hội thái bình, con người phải sống thanh cao, không tham lam, không màng danh lợi.

不 尚 賢, 使 民 不 爭. 不 貴 難 得 之 貨, 使 民 不 為 盜. 不 見 可 欲, 使 民 心 不 亂.
Bất thượng hiền, sử dân bất tranh. Bất quí nan đắc chi hóa, sử dân bất vi đạo. Bất kiến khả dục, sử dân tâm bất loạn. 
(Không sùng thượng hiền tài, khiến cho dân không tranh. Không quí của khó được, khiến cho dân không trộm cướp. Không phô trương những gì kích thích lòng ham muốn, khiến cho lòng dân không loạn).

是以 聖 人 之 治, 虛 其 心, 實 其 腹, 弱 其 志, 強 其 骨. 常 使 民 無 知 無 欲. 使 夫 知 不 敢 為 也. 
Thị dĩ thánh nhân chi trị, hư kỳ tâm, thực kỳ phúc, nhược kỳ chí, cường kỳ cốt. Thường sử dân vô tri vô dục. Sở phù trí giả bất cảm vi dã. 

(Vì vậy phép trị nước của thánh nhân là làm cho dân: Trống lòng; No dạ; Yếu chí; Mạnh xương. Thường khiến cho dân không biết, không ham. Khiến cho kẻ trí không dám làm gì cả).

為 無 為, 則 無 不 治 
Vi vô vi, tắc vô bất trị. 
                                             (Làm theo phép Vô vi, thời không gì là không trị).

為 無 為, 事 無 事, 味 無 味. 大 小 多 少; 報 怨 以 德.
Vi vô vi, sự vô sự, vị vô vị. Đại tiểu, đa thiểu; báo oán dĩ đức.
(Làm hay không làm, có việc hay không việc, có mùi hương hay không mùi hương. Lớn nhỏ, nhiều ít, nên lấy đức báo oán).

Triết lý “vô” - “hữu”, “có” - “không” biểu hiện trong hành động của con người là “Vô vi nhi vô bất vi”. Đó là điều cuối cùng Lão Tử muốn vạch ra trong toàn bộ tác phẩm của mình. Ở đây, Lão Tử không có ý bảo “vô vi” chỉ là “vô vi”, ông nói rõ “vô vi” mà vẫn “hữu vi” và là làm theo tự nhiên, vì chỉ có theo quy luật tự nhiên thì hoạt động mới có hiệu quả. Trong Đạo đức kinh, “Vô vi nhi vô bất vi” là tư tưởng khó hiểu nhất nhưng cũng sâu sắc nhất xuyên suốt nội dung tác phẩm. 

4- Kết Luận

Với Đông Phương, Vô Vi là một Triết lý rất thâm sâu. Tựa mơ hồ, tựa hiện thực, có đó mà như không có, nhưng bao trùm cả vạn vật. 

Như Phật Giáo phải diệt những dục vọng để trở về vô ngã. Nho Giáo cho vô vi là bất dịch và biến dịch nên hình thành trật tự của sự sống. Còn Lão Giáo thì không làm, nhưng lại làm tất cả.
Với sự hiểu biết thâm sâu của các học giả trên thế giới, từ Đông sang Tây, khi tìm hiểu về các tư tưởng Tam giáo, nhất là Lão Giáo, mỗi người mỗi ý. Tuy rằng "Văn dĩ Tải Đạo", nhưng không thể diễn tả được hết ý Đạo.

Đối với các Học Giả còn vậy, thế còn mình? 
Chỉ thích tìm hiểu và thích viết, nên cũng đua đòi chen vào nơi bí hiểm này! Thôi thì cứ coi như :"Có cũng như không. Viết như không có viết vậy"

Huỳnh Hữu Đức
(theo: daoduckinh.com; nhantu.net; Tam Giáo Đại Cương của Trần Văn Hiến Minh và Vũ Đình Trác)

Chủ Nhật, 13 tháng 12, 2020

Chốn Xưa - Thơ Hồng Thúy - Phổ Nhạc & Tiếng Hát Lâm kim Cương



Thơ: Hồng Thúy 
Phổ Nhạc & Tiếng Hát: Lâm kim Cương  


Lối Cũ Đường Xưa


Lối cũ nhìn lạ lẫm
Người về lạc bước vỉa hè quen
Tiếng ve kêu râm ran

Khung trời xanh tuổi dại
Đường xưa em nón nghiêng tóc thả
Hoa năng động xôn xao

Quả bàng rơi động khẽ
Nồi kê ai bếp còn đỏ lửa
Ngơ ngác trước nổi chìm

Sóng êm sau lũ dữ
Phận bèo trôi giạt lạc bờ xa
Ta mất nhau rồi sao?

Phạm Khắc Trí

Đính Kèm: Đường Xưa
https://youtu.be/H7ARTfH3E74

Sương Tím


Tím sương sương
Trong nắng sớm
Như nỗi buồn
Vương màu tím

Chiều nắng lịm
Hồn đong đưa
Nói sao vừa
Niềm nhung nhớ

Hoa hé nở
Uống giọt sầu
Khép lòng đau
Đêm nhỏ lệ

Trong cơn mê
Người trở về
Mắt im lìm
Sương tim tím...

phamphanlang
13/5/2015


Blog Và Facebook



1- Facebook

Ai cũng biết cuộc đời là ảo
Và facebook cũng ảo mà thôi
Gặp nhau rồi biệt ly mất dấu
Ra đi không để lại đôi lời
Nhưng tình người như vết khắc trên đá?
Có lẽ ngàn thu mới bị nhạt mờ
Nếu mất tích không có lời từ giã
Khác gì chim lìa tổ ấm, ra khơi...

2-Blog và Facebook

(Dù không biết ý nghĩa đúng của hai thuật-ngữ
tôi cũng viết bài vè/thơ con cóc cho vui)


Blog, Facebook là hai trang mạng ảo
Nhưng tương quan fans-chủ khác nhau nhiều
Đa số Blog, fans được biết rõ chủ nhân
(nhân vật nhỏ,nhỏ rất nhiều hơn Facebook)
Tôi thường kết nối thân tình với Blog
Cùng chủ nhân cho biết địa chỉ Gmail
Để trao đổi tin cùng tâm sự riêng mình
Khi không tiện phơi bày trên mạng
(Thử nghĩ có ai muốn làm quen chủ Facebook
bằng quen thân các chủ Blog_ nhỏ như tôi)
Nên thật tình chỉ thích Blog mà thôi
Tôi luôn bày tỏ sự chân thành qua bài viết
Đã mấy năm qua tham gia nhiều Blog
Góp bao bài thơ, tuỳ bút lẫn comment
Biểu lộ nhiệt tình không phân biệt cỡ fans
Đôi lúc thấy vui vì có người đáp ứng
Nhưng nhiều khi dù có kêu gào mỏi miệng
Vẫn hiếm fan nhiệt tình góp sáng tác văn thơ
Nên có lần muốn bỏ Blog cho xong
Ngại một nỗi: vẫn còn chủ nhân đáng mến!

ChinhNguyen/H.N.T
Giao mùaThu-Đông Dec/2020


Yellow Bird - Chim Vàng



"Choucoune" là một bài hát Haiti thế kỷ 19 được sáng tác bởi Michel Mauléart Monton với phần lời từ một bài thơ của Oswald Durand. 
Nó được viết lại với lời bài hát tiếng Anh vào thế kỷ 20 là "Yellow Bird". Nhạc sĩ Arthur Lyman của Exotica đã làm cho bài hát trở thành hit vào năm 1961.

Yellow Bird

Yellow bird, up high in banana tree.
Yellow bird, you sit all alone like me.

Did you lady friend leave the nest again?
That is very sad, makes me feel so bad.
You can fly away, in the sky away.
You're more lucky than me.

I also had a pretty girl, she's not with me today.
They're all the same those pretty girls.
Take tenderness, then they fly away.
Yellow Bird, yellow bird.

Did you lady friend leave the nest again?
That is very sad, makes me feel so bad.
You can fly away, in the sky away.
You're more lucky than me.

Wish that I were a yellow bird, I'd fly away with you.
But I am not a yellow bird, So here I sit.
Nothing I can do.
Yellow bird, yellow bird. 

***
Đây là bản dịch của Ngọc Hương:


Chim Vàng 

Chim vàng, chim vàng, chim vàng ơi,
Sao cứ cô đơn ngọn cây ngồi,
Người yêu ắt lại đi rồi nhỉ,
Đành sống một mình giống ta thôi.
Ôi buồn nẫu ruột, tim nát tan,
Sao chẳng bay đi, chưa muộn màng,
Hãy tung đôi cánh tìm đời mới,
Riêng ta, cơ hội chẳng ngó ngàng.
Ta đã từng yêu, yêu một người,
Một cô gái trẻ, đẹp, xinh tươi,
Và cũng như bao cô gái đẹp,
Đến dịu dàng, đi chẳng nửa lời. 

Chim vàng, chim vàng, chim vàng ơi,
Lại vẫn cô đơn giống ta ngồi,
Trên cao ngọn chuối hoài nuối tiếc,
Hãy để nàng bay tận chân trời,
Đừng để lòng yêu lạc nẻo đường,
Mà ôm vào mãi nổi sầu thương,
Hãy bay ra khỏi vùng tăm tối,
Để tim đừng chết bởi chán chường.
Ta ước mình là một cánh chim,
Cùng mi ta sẽ bay đi tìm,
Một tình yêu mới, nhưng vô vọng...
Ta vẫn là người nặng khối tim.
Chim vàng, chim vàng, hãy bay đi,
Còn ta chẳng biết phải làm gì,
Vẫn ngồi đây mãi lòng mơ ước,
Là cánh chim trời, ta ước chi...

 
Ngọc Hương
11/27/20

Y Học Thường Thức: Da Khô Và Ngứa - Bác Sĩ Hoàng Cầm

 

Y HỌC THƯỜNG THỨC

Da Khô & Ngứa - Bác Sĩ Hoàng Cầm


Đại cương 

Trước khi nói tới da khô, ta cần biết qua về các yếu tố bảo vệ da và giữ da ẩm trong những điều kiện khác nhau của môi sinh. Da là cơ quan bao bọc cơ thể. Từ ngoài vào trong được chia thành ba phần: biểu bì, bì và lớp mỡ. 

Biểu bì là lớp ngoài cùng và là lớp mỏng nhất của làn da. Giữa biểu bì và bì có một lớp tế bào được gọi là tế bào đáy. Khoảng 95% tế bào của lớp này có khả năng tiếp tục sinh ra tế bào mới, đẩy các lớp tế bào cũ ra phía ngoài. Các tế bào bị đẩy ra ngoài, ít được nuôi dưỡng, dẹt dần được gọi là tế bào sừng. 

Tế bào sừng tiết ra chất sừng, phủ trên mặt da. Ngoài lớp tế bào sừng là lớp sừng, gồm những tế bào đã chết, bong dần. Tùy nơi trong cơ thể, chiều dày của lớp sừng khác nhau: mỏng nhất ở mặt, dày nhất ở lòng bàn tay, bàn chân và gót chân, dày trung bình ở cánh tay và những nơi khác. Lớp sừng không ngấm nước, khiến nước trong da không bốc hơi, tránh cho da khỏi bị khô. 

Số 5% còn lại là tế bào tạo sắc tố, sinh ra sắc tố melanin. Sắc tố ngấm vào tế bào của biểu bì, lông và tóc. Nồng độ của melanin khiến màu da, màu tóc đậm, nhạt khác nhau tùy theo sắc tộc. Melanin có khả năng ngăn chặn bớt các tia tử ngoại trong ánh nắng, che chở da chống lão hóa và ung thư. Da trắng chứa ít melanin, dễ bị hư hại hơn da màu sậm. Bì chiếm 90% chiều dày của da, gồm các sợi trắng giữ da chắc, sợi vàng cho da tính co giãn. Lớp bì chứa các bộ phận phụ thuộc của da gồm có: chùm cuối dây thần kinh, tuyến mồ hôi, tuyến bã nhờn, chân lông và mao quản. Tuyến mồ hôi. Trừ môi, da có hàng triệu tuyến mồ hôi. Mồ hôi tiết ra điều hòa thân nhiệt và giữ da ẩm. 

Tuyến bã nhờn. 

Tuyến bã nhờn ớ khắp cơ thể, trừ lòng bàn tay, gót chân và hai bên chân. Tuyến này tiết ra bã nhờn, một hỗn hợp chất béo, ngăn nước trong da bốc hơi. Tuyến bã nhờn nhỏ, bắt đầu hoạt động khi người ta tới tuổi “dậy thì”. Lớp mỡ phần nhiều là tế bào mỡ. Giữa mô mỡ có dây thần kinh và mạch máu. Dấu hiệu và triệu chứng 
Da khô gây ngứa thường ở lưng, bụng, vùng thắt lưng. Da khô kèm theo ngứa dễ đưa tới những bệnh khác về da. Phần cơ thể có da khô gợi cảm giác bị bó chặt. Da nhám, dễ bong. Da nứt, vết nứt nhỏ hay lớn, nông hay sâu thường thấy ở những nơi không có tuyến bã nhờn như đầu ngón tay, gót chân, hai bên bàn chân. 

Nguyên nhân 

-Thời tiết. 
Da dễ bị khô trong mùa đông, thời tiết lạnh và độ ẩm trong không khí thấp. Dùng lò sưởi khiến không khí thêm khô. 
-Phơi nắng. 
Ánh nắng làm khô da, tia tử ngoại làm đứt các sợi trong lớp bì khiến da nhăn, có nhiều vết tàn nhang.
-Tắm và rửa tay bằng nước nóng, dùng xà bông cứng có chất tảy.
-Rối loạn tuyến giáp. 
Nhược giáp trạng khiến tuyến mồ hôi và tuyến bã nhờn tiết ra ít mồ hôi và chất nhờn.
-Bệnh vảy nến. 
Da dày và khô quanh năm.
-Một số thuốc bào chế, nhất là thuốc về tâm thần làm giảm chức năng của tuyến mồ hôi và tuyến bã nhờn. 

Phòng ngừa và trị liệu 

Khi có bệnh hoặc nghi ngờ thuốc dùng thường ngày có phản ứng phụ làm khô da, cần gặp bác sĩ để trị liệu và theo dõi. Ngoài ra, ta có thể tránh khô da và tự săn sóc được nếu chú ý tới các nguyên nhân trình bày ở trên. Thuốc mua không cần toa. 

Thành phần chính của các loại thuốc này là chất vaselin, lanolin hay glycerin, pha trộn với acit lactic, urea. Thoa một lớp mỏng trên da, thuốc ngăn nước trong da bốc hơi, giữ da mềm, mịn. 
Tùy theo loại thuốc, thời gian hiệu nghiệm từ 6-12 giờ. 
Thuốc được chế dưới dạng mỡ, kem hay nước. 
Cần dùng hàng ngày, nhất là những nơi da dễ khô như mặt, tay, chân. 
Tóm tắt Da bao bọc cơ thể, luôn được giữ ẩm nhờ tuyến mồ hôi, tuyến bã nhờn, lớp sừng. 

Da khô thường do: thời tiết lạnh, không khí ít độ ẩm, ánh sáng mặt trời, tắm và rửa bằng nước nóng, chất tảy trong xà bông và phản ứng phụ của một số thuốc bào chế. Da khô thường kèm theo ngứa, dễ bị nứt, nẻ, dễ đưa tới những bệnh khác của làn da. Cần ngăn ngừa những điều kiện làm khô da, dùng vaselin, lanolin hay glycerin dưới dạng mỡ, kem hay nước, thoa trên da hàng ngày. 

Bảng đối chiếu danh từ y học Việt-Anh 

Da khô Xerosis 
Bệnh vảy nến Psoriasis 
Bì Derm Biểu bì Epiderm 
Chất sừng Keratin 
Lớp sừng Stratum corneum 
Nhược giáp trạng Hypothyroidism 
Tế bào tạo sắc tố Melanocytes 
Thuốc kem Cream 
Thuốc mỡ Ointment 
Sợi trắng Collagen 
Sợi vàng Elastin Tế bào sừng Keratinocytes 
Tia tử ngoại Ultraviolet ray 
Tuyến bã nhờn Sebaceous glands 
Chất bã nhờn Sebum 

Y HỌC THƯỜNG THỨC
Ngứa - Bác sĩ Hoàng Cầm 

Đại cương 

Ngứa là cảm giác khó chịu ngoài da khiến ta phải gãi. 

Nguyên nhân 

Nguyên nhân ngứa có thể gom thành ba loại chính: 

-Ngứa do da bất thường hoặc do bệnh ngoài da 
-Ngứa do bệnh tổng quát của cơ thể 
-Ngứa do rối loạn tâm thần 

Da bất thường và những bệnh ngoài da 
Da khô, da sần: Cơn ngứa xảy ra khắp mình, nhưng thường thấy nhất ở chân, tay, nơi da dễ khô, nứt khi trời lạnh. Bệnh ngoài da: Một số bệnh làm da sần, dày, cứng cũng gây ra những cơn ngứa, như bệnh vảy nến. 
Ký sinh trùng ở da, gây ngứa những nơi chúng thường ở hay nơi chúng xâm nhập vào cơ thể. Bệnh ghẻ, ngứa ở ngón tay, cổ tay, bàn tay, nách, bẹn, cơ quan sinh dục. Chấy, ngứa da đầu; rận, ngứa vùng thắt lưng, bụng. Chấy, rận cắn da, hút máu nuôi thân. Ấu trùng giun móc, ngứa giữa ngón chân là nơi chúng thường xâm nhập cơ thể. 
Bệnh nấm da. Da bị nhiễm nấm có hình vòng tròn, thường xảy ra ở nơi da ẩm, nhiều mồ hôi như: nách, háng, dưới vú, ngón tay, giữa ngón chân, bàn chân, móng chân, da đầu, mặt. Viêm da do chất bã nhờn xảy ra ở những nơi da có nhiều tuyến bã nhờn: da đầu, mặt, nách, háng, rốn. 
Da ngứa, tróc nhiều vảy khô, nhỏ như hạt bụi. 
Bệnh tổng quát của cơ thể 
Nhiều bệnh trong cơ thể có triệu chứng ngứa khắp cả người. 
Sau đây là ít trường hợp: Chứng nổi mề đay: 

Chứng nổi mề đay là phản ứng của da với: 
 Một số thuốc bào chế như Penicillins, Sulfonamides, Aspirin, Quinine.
 Một số thực phẩm như lạc, tôm, cua, cà chua, sữa và phụ phẩm của sữa. 
 Hóa chất bảo quản thực phẩm và thuốc nhuộm thực phẩm. 

Yếu tố gây dị ứng khi ta nổi mề đay kích thích tế bào da tiết ra chất histamin. Histamin gây ngứa và làm giãn nở mao quản để chất lỏng trong máu thoát ra ngoài làm nổi mề đay. Mề đay là mảng da sưng, màu đỏ hay trắng nhạt, có vành đỏ sậm. Kích thước của mề đay từ dưới 1 centimet tới trên 10 centimet. 
Mề đay thường thấy ở ngực, lưng, mông. Chứng nổi mề đay có thể làm sưng mô dưới da, gọi là phù mạch, thường thấy ở môi, mí mắt, lưỡi, họng. Lưỡi, họng sưng cản trở không khí ra vào phổi. Chứng nổi mề đay nặng dẫn tới khó thở, đau bụng, huyết áp xuống thấp, cần được điều trị gấp tại bệnh viện. 

Một số trường hợp không do dị ứng nhưng có thể gây ngứa và nổi mề đay như: làm việc nặng dưới trời nắng gắt hay khí hậu lạnh giá, tinh thần bị căng thẳng trong tình trạng súc cảm mạnh. 

Nghẹt đường dẫn mật: Nghẹt đường dẫn mật do sạn mật hay bệnh gan mạn tính khiến độ acit mật trong máu tăng làm vàng da và ngứa khắp người. Trường hợp tăng acit mật và ngứa đôi khi cũng xảy ra khi phụ nữ mang thai vào ba tháng cuối thai kỳ. Sau khi sanh con, acit mật trong máu trở lại mức bình thường và triệu chứng ngứa không còn nữa. 

Một số bệnh nội khoa gây ngứa: 
-Suy thận mạn tính 
-Tiểu đường 
-Cường giáp hoặc nhược giáp 
-Thiếu máu 
-Bệnh tăng hồng cầu vô căn 
-Ung thư máu 
-U bạch huyết 

Rối loạn tâm thần 
Một số người mắc bệnh tâm thần có cảm giác ngứa do tưởng tượng trong da họ có dị vật xâm nhập hay có ký sinh trùng, Người bệnh gãi mạnh, làm rách da. Ngứa hậu môn, âm hộ, bìu cũng là triệu chứng thông thường của những người mắc bệnh tâm thần. Tuy nhiên, trước khi kết luận ngứa là do nguyên nhân tâm thần, cần phải khám nghiệm để loại trừ bệnh ngoài da do ký sinh trùng hoặc nấm gây ra. 

Phòng bệnh và trị liệu 

Tránh dùng những thức ăn, thức uống gây dị ứng. Tránh các trường hợp sinh hoạt gây dị ứng. Nếu bị ngứa hoặc nổi mề đay có kèm thêm khó thở, cần tới bệnh viện để trị liệu gấp. Tránh để da khô, tránh làm việc ngoài trời khi khí hậu quá nóng hay quá lạnh. Thoa các chất giữ cho da ẩm thuộc dạng thuốc nước, thuốc keo hay thuốc mỡ. Chườm nước lạnh hay nước đá có thể làm dịu cơn ngứa trong một thời gian ngắn. Dùng thuốc thoa chống ngứa có chứa chất Cortisone, Phenol, Menthol. Dùng thuốc uống chống ngứa, loại không cần toa, dạng thuốc viên hay thuốc nước: thương hiệu Benadryl, Periactin, Phenergan, Vistaril. Nên nhớ những thuốc uống chống ngứa có thể gây buồn ngủ. Khi ngứa do bệnh ngoài da hay bệnh tổng quát của cơ thể, cần đi khám bệnh để trị nguyên nhân gây ngứa. 

Bảng đối chiếu danh từ y học Việt-Anh 
Âm hộ Vulva 
Bệnh nấm da Dermatophytosis hoặc ringworm 
Bệnh tăng hồng cầu vô căn Polycythemia vera 
Bìu Scrotum Chứng dị ứng Allergy 
Chứng nổi mề đay Urticaria 
Phù mạch Angioedema 
Sự làm da sần Lichenification U bạch huyết Lymphoma 
Viêm da do chất bã nhờn Seborrhric dermatitis 

Bác Sĩ Hoàng Cầm