Thứ Ba, 20 tháng 10, 2020

Thương Hồ - Bạn Cùng Sông Cá


Xướng:
Thương Hồ

Chèo khua bọt nước nổi bồng bềnh,
Cuộc sống thương hồ quá bấp bênh.
Sáng trẩy ngang doi chiều ngủ vịnh,
Trưa bơi qua thác tối neo ghềnh.
Xuân thu vật lộn cùng sông lạch,
Tuế nguyệt quây quần với rạch kênh.
Mắm muối đầy khoang ghe chật chội,
Tương chao ngập mũi lái cồng kềnh.

Anh Nguyen
October 05, 2020
***
Họa: Bạn Cùng Sông Cá

Đời trãi quanh năm nước bập bềnh,
Thương hồ thuyền sống kiếp lênh bênh.
Nay neo bến cảng lu bu khách,
Mai đậu đầu sông tấp kết ghềnh.
Bạn với lục bình nương theo sóng,
Thân cùng tôm cá vượt lách kênh.
Tháng ngày lẩn quẩn quen ghe lưới,
Cơm với ngô khoai nhọc cộc kềnh.

Hồ Nguyễn
(15-10-2020)

Nhớ Người



Nhớ người giá buốt mây trôi
Tiếng chim thắc thỏm hót lời chia ly
Mùa thu ôm cánh tay ghì
Lá vàng đưa tiễn người đi xa vời

Con đường phảng phất nụ cười
Người đi từ độ chơi vơi gót hồng
Tuổi buồn tình bước long đong
Nhớ người như gió phải lòng cơn mưa

Tay buồn lạc lõng chiếc ô
Biết che ai giữa mịt mờ bão giông
Qua cầu vịn mấy nhịp sông
Qua tôi vịn nỗi lạnh lùng cô đơn

Thu vàng trổ đóa cúc thương
Vàng lên cánh gió làn hương tóc người
Chợt đem nỗi nhớ ra phơi
Mùi hương còn đọng trên môi nồng nàn

Mưa buồn líu ríu thu sang
Nhớ người giá buốt chiều hoang vu chiều

Trầm Vân

Nếu Trong Thơ Vắng Tiếng Nhạc


Nếu trong thơ không có nhạc, thơ sẽ ra sao, thơ có còn là thơ chăng? 
Cùng nhìn lại các thể thơ xưa, như Lục Bát hay Thơ Mới của Việt Nam. Cổ Thể, Cận Thể của Trung Hoa... khi đọc lên ta cảm nhận được sự du dương, trầm bổng. Muốn được thế, phải hội đủ hai yếu tố:
Gieo Vần và Bằng Trắc trong các câu thơ phải được sắp xếp sao cho thuận miệng xuôi tai. 

Vì thế nên nhiều người quan niệm "Trong thơ phải có nhạc. Không có nhạc thì không còn là thơ"...
Nói chung, muốn có nhạc trong thơ, phải chăng điều quan trọng chính là gieo vần và bằng trắc ở mỗi câu phải hợp lý. 

Rõ hơn Thơ phải có Vần, có Điệu, nếu không, không thể gọi là Thơ.

Đúng thế chăng?
Để tìm câu trả lời, chúng ta thử xem lại một vài bài của dạng thơ "Nổi Loạn", đã phá bỏ mọi luật lệ, từ câu chữ đến gieo vần, xuất hiện vào những năm đầu của hậu bán thế kỷ 20 đó là Thơ Tự Do.

Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Cung Trầm Tưởng, Nguyên Sa...có thể coi là những nhà thơ đại diện cho phong trào Thơ Tự Do. Tuy vẫn có những bài thơ có các câu gieo vần với nhau, nhưng các nhà thơ Tự Do sáng tác rất nhiều bài không hề gieo vần. Có lẽ Tiếng Việt vốn đã là nhạc, có đủ Ngũ Âm (do dấu Ngã và Hỏi tương đồng coi như là một), nên các vị ấy bỏ qua vấn đề gieo vần, chỉ sắp xếp Bằng Trắc để giữ chất nhạc trong thơ.

Thơ Thanh Tâm Tuyền:

...Khi tỉnh dậyChẳng một ai ôm mình
Ðêm dài tiếng kèn thê thiết
Thổi trên môi ung độc người nhạc sĩ đen
Tội lỗi nhét đầy con mắt ngây ngô
Kể lể toàn truyện tình vô vọng
Với một mình cấu lấy tóc mình...
(trích "Tên Người Yêu Dấu")

...Ai xui rằng mùa măng chưa tới
Mà mùa về măng thôi chẳng ngọt
Vườn măng rừng tháng sáu đêm sâu
Muốn làm người học trò mười bảy tuổiÐạp xe trên đường đồng
Bông mía trắng những căn nhà ngủ dưới cây
Sẽ thăm những bà con thân thuộc
Một người em hay một bà dì
Trời sẫm...
(trích "Bao Giờ")

hay của "Nguyên Sa"

...Tôi trân trọng mời em dự chuyến tầu tình ái. 
Trong một phút, một giây cuộc hành trình sẽ mở. 
Tôi mời em. 
Trân trọng mời em cùng đi, cùng khai mạc cuộc đời.
Tôi mời em đi ngay không cần lấy vé... 
Còn nếu cần thì tôi sẽ làm người bán vé... 
Vé có thể là những lá thư xanh. 
Tầu là gian nhà rất nhỏ... (trích "Mời" )

hay của Trần Vấn Lệ:

...Phải chi thơ chỉ là hai chữ 
Vàng, Đá, cho Tình hóa núi non, chẳng có vai ai kề vác nổi để Tình muôn thuở đứng cô đơn! 
Ta cân nhắc mãi bài thơ mới, hình thức nằm trong chữ với câu? 
Ngắn quá, có ai trân trọng nó? Lê thê thì sợ mắt ai đau… 
Chữ Tình, rút lại thành con số. 
Thơ, lẽ nào thơ mỗi một dòng? 
Thôi, cứ nối chơi, rồi để đó, cất dành làm củi sưởi đêm Đông! 
Biết đâu mai mốt em về nhỉ, nhìn chữ Tình tôi, em viết thêm – hai chữ Tình Yêu, rồi bốn chữ, Tình Yêu Thắm Thiết!
Cảm ơn em! (trích "Bài Thơ Một Chữ")

Đọc qua những bài thơ Tự Do trên, từ trong âm điệu, có gì rất ư quen thuộc, làm tôi nhớ đến một đoạn văn xuôi, đó là truyện ngắn "Tôi Đi Học" của Thanh Tịnh, âm điệu cũng thật nhẹ nhàng êm ái. Nếu đem ngắt đoạn văn xuôi này thành từng câu, cho hình thức giống như một bài thơ: 

"Hằng năm cứ vào cuối thu, 
lá ngoài đường rụng nhiều 
và trên không có những đám mây bàng bạc, 
lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường...
...Buổi sáng mai hôm ấy, 
một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. 
Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. 
Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. 
Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, 
vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: "Hôm nay tôi đi học"...

Thật du dương với Hình, Ý, Thanh, Sắc đủ cả, độ trầm bổng so với các bài thơ trên không hề kém cạnh. Đây có thể xem là một bài Thơ Tự Do chăng? 

Từ câu hỏi này, tôi lại có ý nghĩ "Phải chăng Thơ Tự Do chỉ là những bài văn xuôi được ngắt câu một cách hợp lý?".
Qua những thí dụ trên, chúng ta cũng nhận ra một điều: Sự trầm bổng của Bằng Trắc trong câu thơ chưa đủ, cần phải gieo vần mới có thể đạt được tiếng nhạc trong thơ.

Có thể sẽ có ý kiến cho rằng Thơ Tự Do không phải chỉ phá bỏ các qui luật, mới gọi là Thơ Tự Do, mà còn những yếu tố khác, như sự diễn đạt tư tưởng, đối chọi, ray rức, cuồng loạn, hay chống đối với chính mình trong thơ... đôi lúc dẫn đến sự mù mờ khó hiểu, dẫn dắt người đọc đến cảnh giới trừu tượng... đó mới được gọi là Thơ Tự Do!

Với cá nhân tôi, không quan tâm đến ý thơ sâu sắc, hay khó hiểu. Trước hết thơ phải êm ả như cơn gió làm dịu mát lòng người. Phải líu lo như tiếng hót của Họa Mi vào buổi bình minh. Phải thổn thức như tiếng độc huyền cầm trong đêm vắng. Phải như áng mây tạo nét đẹp cho bầu trời. Phải như những cánh hoa mang hương thơm đến với người...từ đó sẽ đem lại cho người đọc cảm giác lâng lâng sảng khoái.

Thơ không phải là câu đố. Không phải tiếng đàn chỏi nhịp. Không phải là tiếng chim lạc đàn. Không phải là cái gì lạ lẫm từ một tinh cầu nào đó... Có lẽ chính vì vậy mà Thơ Tự Do ít được giới làm thơ yêu thích, dù đã trải qua khoảng gần 70 năm(*).

Huỳnh Hữu Đức
(*) Năm 1956 đánh dấu sự ra đời của Thơ Tự Do qua tập thơ "Tôi không còn cô độc" của Thanh Tâm Tuyền.

Thứ Hai, 19 tháng 10, 2020

Thì Thầm.Thơ Phạm Phan Lang - Nhạc Mộc Thiêng - Hòa âm: Giang Đông


Thơ: Phạm Phan Lang
Nhạc: Mộc Thiêng
Hòa âm: Giang Đông.
Ca Sĩ: Hương Giang

Trăng Thu Chết

Trăng Thu chết tình ta vẫn đợi
Chút ân tình còn lại cơn mê
Níu thời gian mơ bóng em về
Đêm nhung nhớ tình buồn dang dở

Xin cho chôn mộng đời hư ảo
Khóc một lần cho nhẹ con tim
Em có nghe sương khói ân tình
Tìm quên lãng Trời Thu im vắng

Anh đứng lặng trào dâng nước mắt
Hòang hôn buồn tím cả không gian
Tiếc nhớ tuổi xanh hồn thơ thẩn
Chiều bơ vơ nhớ mãi bóng nàng!

Nhìn đi em, Trăng tàn sắp lặn
Hồn tha phương bàng bạc cỏ cây
Khúc nhạc buồn dìu dặt ngất ngây
Đêm dạ vũ oan hồn ma quái

Trăng Thu chết lòng ta lạnh giá
Bước âm thầm theo khói sương bay
Hồn gọi hồn bịn rịn chia tay
Đêm sắp tàn hồn ma tan tác….


Mặc Khách

Hương Thu - Hơi Thu

                          Ảnh: Kim Phượng

Bài Xướng:

Hương Thu


Gom hết mùa Thu trong nắm tay
Rải dài theo lối nhẹ bay bay
Hương thu chẳng đủ làm ngây ngất
Lạnh trọn đêm này thu có hay

Kim Phượng
***
Bài Họa:

Hơi Thu


Níu gió thu vàng trên ngón tay,
gởi em cho tà áo nhẹ bay,
hơi thu lành lạnh làm ngây ngất,
nỗi nhớ thương này em có hay?

Sông-Hương 

Vàng Thu - Thu Muộn

 

(Thu Toronto - Ảnh: Yên Dạ Thảo)

Bài Xướng:

Vàng Thu 


Bây giờ trời vẫn chưa đông
Mà sao buốt giá tơ lòng trong đêm
Thu phong vàng rụng bên thềm
Cánh hoa muộn nở êm đềm say thu

Bây giờ thu vẫn còn thu
Đêm mưa thánh thoát, đêm mù mịt sương
Xa về tiếng gió vô thường
Lúc du dương thổi lúc hờn dỗi ai

Bên song đợi tối chờ ngày
Vòng xoay nhật nguyệt xoay hoài ngàn năm
Thềm sương xa vắng dư âm
Tiếng thu tình tự thì thầm đêm sâu

Bao mùa xanh lá phai màu
Là bao thu rót giọt ngâu xuống đời
Người buồn đong nhớ đầy vơi
Ta buồn nhìn lá vàng rơi cuối chiều! 

Yên Dạ Thảo
***

Bài Họa:

Thu Muộn

Phương ai trời chửa vào đông
Xa đây nghe những tiếng lòng than đêm
Trăng khuya còn sáng soi thềm
Mơ cùng chung ý êm đềm hương thu

Lắng tai tiếng nấc tình thu
Giọt sầu lê tái bóng mù mù sương
Thu sang rất đỗi bình thường
Mà sao bi lụy tủi hờn vì ai

Lá rơi hết tối lại ngày
Lạnh lùng bao phủ u hoài tháng năm
Vườn xưa chẳng một thanh âm
Vùi chôn kỷ niệm âm thầm huyệt sâu

Vàng mùa mấy độ thay màu
Là bao nhung nhớ lệ ngâu ướt đời
Xót lòng biết nói sao vơi
Chất đầy thuyền lá thả rơi dòng chiều

Kim Oanh

***
Thu Vẫn Còn

Thu còn thơ viết...dù đông
Làm cho nghe xót cõi lòng từng đêm
Lá Thu vàng rụng dưới thềm
Vài hoa nở muộn êm đềm bên Thu

Trời còn rót giọt mưa thu
Tiếng nghe thánh thót,hơi mù tựa sương
Hương Thu vẫn ngát bình thường
Sao em lại vội dỗi hờn...với ai ?

Còn Thu thì vẫn còn ngày...
Lá rơi bởi gió...thương hoài nghìn năm
Và nghe vọng mãi thanh âm
Hồn Thu lai láng khóc thầm mắt sâu

Xưa nay Thu chẳng phai màu
Thế nên Ngưu Chức sông Ngâu truyền đời
Bi thương nầy lúc nào vơi ?
Ta đành nhìn lá Thu rơi từng chiều

songquang
20201018

Quê Hương Hoài Niệm - Quê Hương Nỗi Nhớ


Hương Quê Hoài Niệm

1
Em đi vạt áo gió bay
Cho bao hoài niệm nhớ ngày xa quê
Lắng nghe gió thổi hồn về
Cuốn theo nỗi nhớ, lời thề gió bay.
2
Hoa vàng mấy độ vơi đầy
Dùng dằng chia lối, đổi thay ý trời
Quê hương nay đã đổi dời
Còn đâu tà áo, bước rời cố hương.
3
Cho dòng lệ ngấn hạt sương
Ngày dài hiu quạnh, đoạn trường thế thôi
Bóng em đầy ắp hồn tôi
Quê hương ở lại, nhớ người phương xa.
4
Em đi khép nép đôi tà
Lòng tôi chết dại, mưa sa tần ngần
Thôi thì tình ấy phù vân
Gánh theo nỗi nhớ, bước chân người tình.
5
Tạ ơn em một bóng hình
Tung bay tà áo xuân tình mộng mơ
Thương em cái thuở bao giờ
Ngây ngô trong sáng tuổi thơ dạt dào.
6
Hương quê tình tự xôn xao
Vọng đưa câu hát ngọt ngào lời ru
Tiếng ngân não nuột trầm tư
Vang xa ngàn dặm bay vù cánh chim.
7
Hôm nay tôi vội đi tìm
Tìm trong tá áo trái tim bồi hồi.
Quê hương khế ngọt trên đồi
Đường quê in bóng, Mẹ tôi đợi chờ.
8
Xa người tôi lại làm thơ
Trang thư ráo mực nửa tờ đánh rơi
Đôi hạc trắng bay mất rồi
Tiếng kêu thảm thiết bên trời tha phương.
9
Dẫu rằng trời đất vô thường
Mà sao lòng vẫn còn vương nhớ hoài
Đêm về sương đẫm trên vai
Đèn khuya một bóng soi dài tiếng đêm.
10
Sương thu ngấn lệ bên thềm
Nhớ thương ở lại nỗi niềm gió bay
Vướng em vạt áo nơi này
Hương quê hoài niệm tràn đầy hồn tôi.


Lê Tuấn
Vấn vương theo tà áo dài, như gợi nhớ cho tôi trở về với tình tự quê hương
Ở một nơi phương trời xa, hình dáng thiếu nữ trong tà áo dài, đã trở nên một hoài niệm của thời xa xưa.
Tháng 10 ngày 14 năm 2020.

***
Quê Hương Nỗi Nhớ 

 (Họa Vận)

1
Say vời ngắm lá thu bay
Dòng thương khơi dậy những ngày sống quê
Đìu hiu khoảng nhớ đi về
Xót xa số phận trăng thề lung lay
2
Tình xa tình vẫn chứa đầy
Đời buồn rẻ lối buốt thay bên trời
Dòng sinh biến đổi chuyển dời
Vẫn mang kỷ niệm dẫu rời quê hương
3
Nhớ từng buổi sớm mù sương
Nhớ con đường rộng đến trường thì thôi
Từng tà áo trắng say ôi
Ra đi in đậm bóng người phương xa
4
Nắng rơi hôn nhẹ đôi tà
Nghiêng vành quai nón kiêu sa đẹp ngần
Đi sau hồi hộp phân vân
Ầm thầm vẫn bước đôi chân lụy tình
5
Ngẩn ngơ khắc mãi dáng hình
Bao đêm thao thức một mình thầm mơ
Đồng hồ gỏ nhẹ điểm giờ
Tìm trang giấy bút khỏa thơ dâng trào
6
Bên ngoài tiếng gió lao xao
Vần buông ý thả nghẹn ngào tình ru
Mắt nhìn tường vách ưu tư
Mai này đời lính bay vù tựa chim
7
Thế rồi phận nước nổi chìm
Đời anh lưu lạc buốt tim lắm hồi
Nhớ màu khói nhạt trên đồi
Nhớ đường hoa nở mà tôi hằng chờ
8
Trời tây lại tắm suối thơ
Chữ yêu in đậm lắm tờ rớt rơi
Xa em thật sự xa rồi
Đôi bờ cách biệt dưới trời viễn phương
9
Nơi đây ấp ủ mộng thường
Hương xưa lối cũ sao vương vấn hoài
Non sông nặng trĩu đôi vai
Buồn đau lạc lõng thở dài trong đêm
10
Nguyệt lan chênh chếch trước thềm
Hồn thu lãng đãng êm đềm gió lay
Hương quê hoài niệm chốn này
Tình sâu nghĩa nặng bóng đầy theo tôi

Minh Thuý Thành Nội
Tháng 10/15/2020

***

Hương Quê Hoài Niệm


HƯƠNG QUÊ từ thuở xa bay
Đeo mang HOÀI NIỆM lòng này tái tê
Ước mong một buổi quay về
Bốn lăm năm để câu thề lắt lay
2.
Tình yêu đất nước tràn đầy
Ai gây chi cảnh khổ thay hỡ trời!
Chốn xưa lúc bước chân dời
Cơn sầu dã dượi rã rời sắc hương
3.
Trông vời thăm thẳm màng sương
Lòng đau tim nhói can trường quặn thôi
Tháng ngày gặm nhắm hồn tôi
Thu sang đông tới tình người xót xa
4.
Sáng tinh sương đến chiều tà
Tâm tư chất nhất lệ sa ngấn ngần
Trăng thề mây chuyển cẩu vân
Cách xa ai biết tình chân vẹn tình
5.
Phương trời ôm bóng nhớ hình
Khắc sâu tâm khảm chuyện tình như mơ
Nhớ thương từng phút từng giờ
Dấu xưa kỷ niệm ngày thơ ngọt ngào
6.
Tình quê muôn thuở chẳng xao
Mang theo âm hưởng ngạt ngào điệu ru
Sầu đeo man mác tâm tư
Mùa thu nao đã tạ từ dấu chim
7.
Tìm đâu ra nữa mà tìm
Nghĩ về chốn ấy nhịp tim liên hồi
Giờ xa sông biển núi đồi
Quanh năm chỉ tội mình tôi ngồi chờ
8.
Bây chừ đã cạn nguồn thơ
Bút run run vẩy bao tờ mực rơi
Yến oanh nay lạc hướng rồi
Tìm nhau ngơ ngác mây trời bốn phương
9.
Vô tư trái đất xoay thường
Riêng ta một nỗi vấn vương ai hoài
Đêm tàn sương lạnh bờ vai
Trăng non soi dấu bước dài trong đêm
10.
Rưng rưng lệ rớt trên thềm
Lòng đau đành gửi muôn niềm gió bay
Lời thơ trải cạn ý này
Nguồn thơ chất ngất ngập đầy trong tôi...


Phương Hoa
10/ 25 2020


Lộn Một Lần, Nó Dần Nhớ Mãi - Kỳ 1 & Kỳ 2

Xuân Hồng, Ngọc Học Trò Xưa, Hương BM, Kim Trúc

Tự truyện của Trúc Lan KTP - Kỳ 1

Chắc hẳn trong chúng ta nhứt là ở tuổi U50 - U60 xếp lên, phải có ít nhứt một lần bị lộn hoặc lầm lẫn một cách rất tự nhiên, để rồi sẽ nhớ mãi một đời hé...
- Có những người nhớ lộn ngày tháng những cuộc hẹn...???
- Cũng có người nhớ lộn ngày sinh nhựt của vợ, kỷ niệm ngày cưới...
- Hoặc có những người thì nhớ lộn ngày trả tiền hoá đơn, tiền nợ của ai đó một cách vô tư hay có suy tính...
- Lại có người nhớ lộn nhà, lộn tiệm, lộn phòng hay tệ hơn nữa là... lộn giường, lộn mùng...
Ôi ! Nhớ lộn, quên lộn, tai hại vô cùng, nó đã làm nên bao chuyện rắc rối cuộc đời, nên lắm nhà văn đã cho ta những đoản văn, bài viết thật hay, thật thú vị hé...
Cô 5 RG tui cũng không ngoại lệ, kỳ này vì bị coi lộn mấy con số một cách rất tự nhiên đến độ bị ú a ú ớ, đứng chết trân, không biết nên làm gì, “ tiến thoái lưỡng nan“ nhưng tui biết chắc một điều là: chỉ có thoái lùi chứ không thể nào tiến tới được, bởi người ta đâu có cho mình đi đâu nà.

Chuyện là dị nè, năm nay nhóm bạn Tha Hương của chúng tôi

Hẹn gặp nhau trước thu sang hè biệt
Để khi ngồi nhìn tuyết trắng bay bay
Tưởng vẫn còn tiếng cười nói quanh đây
Để đông ấm bởi ân tình còn đấy 

Thế là thay vì lấy nghỉ hè cuối tháng bảy như hàng ngàn người dân bản xứ tại đây, tui để dành 2 tuần hè vào đầu tháng chín theo lời mời của vợ chồng bạn Hương Đông bay qua Portland Oregon chơi một tuần lễ, tháp tùng với vợ chồng thầy cô tui, chương trình được Học Trò Xưa và vợ chồng Hương Bóng Mát xắp đặt thật là chu đáo và hấp dẫn, cả nhóm gồm: San Jose có anh chị Sanh Nga, hai mẹ con Xuân Hồng, Bé La, Napa có bạn CT Kim Thanh, San Francisco có vợ chồng sư huynh Lanh Nguyễn - Châu N, Texas có cặp Học Trò Xưa Ngọc - Tiến, Québec có thầy Phạm Công Nhựt cô Đường Năm và tui cô 5 RG Kim Trúc, sẽ được hội ngộ với thầy cô Trương Ngọc Thạch, Hoàng Khanh, v/c chú Phiêu Trần, Lý Thanh Phong và Bé Châu Văn.

Khoảng tháng bảy tính tới tính lui, meo qua meo lại sh/ Lanh Nguyễn ( chuyên gia tìm giá rẻ lắm) nhận đặt mua giùm cho 3 thầy trò tui vé máy bay chỉ đi Portland, (còn bận về sẽ tính sau) mà muốn mua vé phải đưa passport coi ngày tháng có ok không thì người ta mới bán vé máy bay cho mình chứ, trước khi mua sh /LN hỏi KT đã có “sự vụ lệnh“ của ông xã chưa?, vì khi đã book vé rồi là không thể trả vé lại được nghe...
- tui trả lời: Sư huynh yên chí lớn nghen, ông xã em nói: kỳ này để tuỳ em quyết định mà ...hì hi
Thế là tôi mang passport ra đọc sơ một lượt, rồi chụp hình định gởi cho anh LN, nhưng thấy thầy viết tay rồi gởi cho anh Lanh, nên tui cũng làm y vậy, mà lại nghĩ: hể cái gì về cá nhân quan trọng lắm, không nên gởi bằng email lỡ bị hắc cờ là đi đoong, trời ! tui tưởng tui là ai ta, chắc mình quan trọng lắm à, thiệt là tui quá tự tin hé ...)
Thế là tui viết tên y chang ghi trong passport, ngày sanh tháng đẻ, ngày hết hạn cho passport, có nghĩa là cô 5 tui đã đọc lộn ngược ngày cấp thành ra năm từ lúc này mà không hề hay biết, rồi yên chí lớn nó còn thời hạn đến 17-09-2019 thay vì đúng ra phải là 19-09-2017 mà nếu 2017 thì nó đã hết hạn từ tháng chín năm nay lận kìa) ô là la !!!, tai hại và tai họa đang chờ tui đó các bạn ơi.

Bạn biết chuyện gì sẽ đến với KT không ? Mời xem kỳ 2 nha

Tự truyện của Trúc Lan KTP - Kỳ 2


"Hương ới ơi ! tui đã book vé xong rồi, chắc chắn là tui sẽ tới nhà thăm bồ đó nghen", tui vui mừng la lớn như vậy trong điện thoại...

Theo chương trình thì thầy cô tôi sau một tuần ghé Portland sẽ bay tiếp tục qua chơi ở San Jose thêm một tuần nữa, để thăm người em trai của cô, mà vé máy bay từ portland qua San Francisco có khoảng 80 US thôi, nên anh Lanh lại mail hỏi tui: 
- Vé qua San Francisco quá rẻ sao muội không tháp tùng với thầy cô làm một chuyến du ngoạn Bắc Cali cho vui rồi cùng bay về với thầy cô luôn, thay vì trở về mình ên buồn thỉu buồn thiu... tới ngày đó huynh sẽ đưa ba thầy trò ra phi trường luôn.

Tui đáp: 
- Dạ không phải là chuyện giá vé mắc rẻ hay thêm thời gian đi chơi mà là qua tới bển rồi muội ở đâu?, hỏng lẽ ra khách sạn ngủ mình ên, cái này thì muội chưa từng làm trong đời và cũng hỏng dám làm sư huynh ơi.

Sư huynh tui đáp: 
- Thiệt tình San Francisco đất hẹp người đông, nếu muội không ngại khó thì anh chị xin mời ở nhà huynh , hay là muội hỏi thử vợ chồng chị Nga cũng ở San Jose đó, nhà rộng thênh thang chỉ có 2 người , huynh đưa thầy cô về đó thì muội cùng đi luôn một thể.

Thiệt tình thì tui còn đang ởm ờ, rất là ngại, dù rất biết anh chị Nga Sanh tốt và rất nhiệt tình, thật sự tui cũng hay đi chơi xa mình ên, cũng có ở khách sạn hoài đó chứ, nhưng lúc nào cũng đi chung với ông xã của mình hoặc với ba bà chị ruột của tui (Tam Kim mà), nhứt là thường hay đi chung với chị tư Kim Oanh của tui, rồi tui nghỉ ngay tới Xuân Hồng và bé La, dù biết 2 mẹ con bạn mình rất bận vì còn phải đi làm trong tuần, mà nếu tui ở nhà XH chắc ông xã tui cũng ok lắm lắm, nghỉ là làm liền, tui phone hỏi Xuân Hồng, bạn tôi mừng lắm (mà chắc tôi còn mừng hơn nó gấp bội đa) và XH welcomes tui tức khắc.
Chị Nga cũng nhắn với tui: "Nếu Kim Trúc qua San Jose thì cứ đến ở nhà anh chị, em đừng ngại gì cả ... "

Ôi ! tui vừa mừng và cảm động vô cùng, bạn Ngọc cũng điện thoại chia vui và bảo tui nên đi chơi thêm một tuần nữa đi, đừng lo ngại và do dự nữa nha, qua bển sẽ được gặp Hình Tròn. 

Thiệt là tình bạn bè và tình đồng hương ơi! Sao tui thấy thương quá đi...
Vậy là tui lẹ làng nhắn tin: 
- sư huynh Lanh Nguyễn ơi huynh tìm vé giùm đi nghen, tất cả đã ok lắm rồi...

Vậy là ba thầy trò tui mỗi người có 4 tấm vé máy bay để đi chơi 2 tuần lễ nhé.
Rồi tui thủ thỉ với ông xã mình: 
- Anh ơi ! lần này em sẽ đi chơi 2 tuần lễ, 1 tuần ở Portland và 1 tuần ở San Jose, từ 08-09 đến 23-09 đi chung với thầy cô và cả hai tuần đó em đều ở nhà bạn gái của em nha...( ừm... chứ hỏng lẽ ở nhà bạn trai à, tui cô 5 chèo đò tui nói chuyện huề vốn hé) 

Ông xã tui nói: 
- Chà kỳ này em đi chơi dữ đa...ok cưng cứ vui vẻ thoải mái đi gặp bạn bè cho vui nha.
Em nhớ hãy nhắn tin cho thầy cô biết là anh sẽ làm tài xế đưa đi và đón về hé.

Đời Tha Hương cứ mãi lo bương chải
Thời gian qua có trở lại bao giờ
Đến tuổi này ta được chút thảnh thơi 
Hẹn ngồi lại cùng khơi bao kỷ niệm

Tưởng cũng xin nói thêm là Kim Trúc (cô 5RG) , Ngọc (Học trò Xưa) , Hương Thu Trần (Hương Bóng Mát) và Xuân Hồng là bốn người bạn trong nhóm “Thất Quái Phu Nhân“ rất thân nhau, tụi tui học chung nhau từ tiểu học đến gần hết trung học, luôn thân thương nhau như chị em trong nhà, học thì không thua ai và phá phách cũng không ai hơn mình ...Xuân Hồng đã gần 42 năm xa biệt, Hương thì hơn 15 năm chưa gặp lại, tui thì ở tít tèo bên “Xứ Lạnh Tình Nồng” nên khó mà có dịp gặp nhau lắm, may mà nhờ có N Học Trò Xưa nên mới tìm và liên lạc được với nhau, tình bạn hơn 50 năm rồi, bởi dị còn nổi vui mừng nào hơn khi 4 nàng “ lục lâm “ ủa lộn “ Lục Tuần” được hội ngộ chuyến này.
Kim Thanh và Bé Châu Văn thì cũng thân nhau nhưng chỉ ở cấp trung học.

Thế là tin vui được nhắn tới tấp, gần như tối nào tụi tui cũng nói chuyện về chuyến hội ngộ lần này và lẽ đương nhiên chúng tôi đếm từng ngày mong cho mau đến ngày hẹn.

Ban tổ chức còn thông báo nhóm 16 người chúng tôi sẽ mướn 3 chiếc xe, qua phà đi thăm vườn hoa nổi tiếng ở Victoria Vancouver ...OMG!!! hấp dẫn đến thế là cùng... sung sướng quá đi.

Nhưng, nhưng ... xin mời các bạn xem kỳ 3 “ Đến phi trường ” ra sao nha? 


Xem Tiếp:

Trúc Lan KTP

Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2020

- Thương Về Xứ Huế - Minh Kỳ và Hoài Linh - Vân Khánh


Sáng Tác: Minh Kỳ & Hoài Linh
Tiếng Hát : Vân Khánh
Thực Hiện: Nguyễn Thế Bình

Tặng Bạn Gia Dương & Liên Hoa

Tết rồi 2020 Gia Dương bạn cũ tuổi tròn tám mươi

Tháng ngày gian khó qua rồi
Gia đình hạnh phúc tuyệt vời trời ban.
Chúng mình thuở nhỏ cùng làng
Sống chung xóm chợ lang thang khắp vùng
Dù cho mưa nắng bão bùng
Đạp xe như xiếc hào hùng tuổi thơ.
Chúc mừng người đẹp Liên Hoa
Trời sinh gương mặt như hoa tươi hoài
Biệt tài tiếng hát ngân dài
Và slide show đẹp cho đời thêm xinh.
Hai bạn như ánh bình minh
Dưới trời Thu muộn cuộc tình ấm no
Phước nầy chẳng phải ai cho
Mà tự anh chị chăm lo riêng mình. …


Dương hồng Thủy

Món Ngon Quê Mẹ


Miền Nam Quê Mẹ mến yêu
Biết bao kỷ niệm luyến lưu trong lòng
Sông Tiền, sông Hậu, Cửu Long
Mạch tim nuôi sống cánh đồng phì nhiêu

Cá tôm, thủy sản thật nhiều
Ruộng xanh, thẳng cánh dập dìu cò bay
Tình người chơn chất là đây
Miếng ngon, ta nhớ những ngày năm xưa
Bao giờ về lại Cần Thơ
Lai rai nhậu món nước dừa cua đinh

Thèm nem Thủ Đức, Long Bình
Nem Lai Vung, đỏ môi mình ớt tiêu
Bánh tét, cốm dẹp Bạc Liêu
Tôm càng ở bến Ninh Kiều nướng trui
Kho rim cá cháy, bê thui
Nếp than cụng chén, uống thôi … quên về!

Ba Xuyên, đặc biệt món quê
Cá he kho tộ, ăn mê dân ghiền
Mắm thái, gói bằng lá sen
Thì qua Châu Đốc, bạn quen thương hồ
Trộn cùng đu đủ một tô
Ngào thêm muỗng thính, ớt khô dậy mầu

Mâm cơm, nước mắm làm đầu
Nhãn hiệu Phú Quốc không đâu sánh bằng
Bánh canh, thì nhất Trảng Bàng
Mỹ Tho hủ tiếu ; Sóc Trang nghêu hầu
Long Xuyên nức tiếng từ lâu
Canh chua nấu cá bông lau tuyệt vời!

Về Sa Đéc nhậu, sẵn mồi
Bánh phồng tôm, đã mấy đời lừng danh
Bà Điểm là đất trầu xanh
Lái Thiêu măng cụt, Long Thành, sầu riêng,
Soài thanh ca ở Phong Điền
Biên Hòa nhất bưởi, khó miền nào tranh

Biết bao thổ sản xứ mình
Kể sao cho hết tự tình nước non!
Quê hương trái ngọt, miếng ngon
Một mai về lại … có còn Quê Hương?


Trần Quốc Bảo
Richmond, Virginia


Vườn Thơ Thẩn


Bài Xướng:

Vườn Thơ Thẩn

Lòng đầy cảm xúc mối tương giao
Thơ Thẩn bao năm lắm ngọt ngào
Sóng gió đã qua dù trở ngại
Tơ duyên vẫn đó chẳng hề nao
Thi đàn tái họp cùng hoan hỉ
Xướng họa câu vần thỏa khát khao
Bền vững vung bồi hoa đậm sắc
Vườn nhà hương vị sẽ bay cao.

Quên Đi

***

Các Bài Họa:

Vườn Thơ Thẩn

Tự bốn phương trời đến kết giao,
Buồn vui Thơ Thẩn ngọt cùng ngào.
Bao nhiêu trắc trở không lay chuyển,
Biết mấy thôi xao chẳng núng nao.
Bằng trắc luật niêm con chữ đãi,
Bổng trầm vần điệu tứ thi khao.
Thẩn Thơ chìm nổi theo năm tháng,
Bỉ cực qua rồi lại vút cao !

Đỗ Chiêu Đức
13-10-2020

Niềm Vui Gặp Gỡ
(Kỷ niệm buổi họp mặt VTT )

Nhớ lần họp mặt buổi sơ giao
Cảm đông mừng vui đến nghẹn ngào
Chủ xị Quên Đi lòng náo nức
Vơ chồng Chiêu Đức dạ nôn nao
Cao Linh điềm đạm, người chơn chất
Đắc Thắng khoan hòa, dáng dỏng cao
Thân mật, Phương Hà cùng góp chuyện
Cả ngày rôm rã tiệc mời khao.

Phương Hà 
***
Tâm Sự Chiều Thu

Tự ngẫm khi đồng mối cảm giao
Dường như đã thệ tiếp chung ngào
Âm thầm dệt chuyển vần thơ mới
Thoải mái vun bồi đạo nghĩa cao
Dõi ánh trăng vàng chia quả mộng
Chan tình tuổi lão động lòng nao
Trà sen điệu lý hương mùa cũ
Ý niệm chân thành viễn ảnh khao.

Mai Thắng
201015
***
Đêm Thu

Ngoài kia mờ ảo nước-trời giao
Lá bỏ vườn thu đứng nghẹn ngào.
Lạnh lẽo trăng khuya trùng thiết thiết
U hoài tiếng hạc dạ nao nao.
Nhành lan ấp ủ màn sương trắng
Đáy cốc mơ màng bóng nguyệt cao
Bên chén trà sen hồn lắng đọng
Nhạc buồn Thanh Thuý giọng khao khao.

MaiLoc
Oct 13-2020

*** 

Hoàng Hoa Kết Nghĩa

Nhập đường, chưa dám nghĩ tri giao
Lạ mặt, quen tên lòng nghẹn ngào
Tưởng tượng một ngày vui hạnh ngộ
Mộng mơ mỗi lúc thấy nôn nao
Thả vần mỹ tửu khai hương đãi
Hoà điệu hoàng hoa trổ sắc khao
Thắm nghĩa đậm tình chan chứa nắng
Trăm mầu , ngàn đoá cúc vươn cao ...

Utah 13 - 10 - 2020
Cao Mỵ Nhân

***
Hoài Nhớ


Họp Vườn Thơ Thẩn kết tâm giao
Những đóa hoa hương lắm ngạt ngào
Hải Ngoại mỏi mong lòng háo hức
Quê Nhà chờ đón dạ nôn nao
Cùng nhau đề bút trao tình ý
Tương ngộ ly mời cạn chén khao
Mới đấy đoàn viên đông đúc bạn
Thế mà bỗng chốc vắng anh Cao (*)

(*) Anh Cao Linh Tử đã mãn phần
Kim Oanh
***
Vườn Thơ Thẩn

Lâu ngày gặp lại bạn tâm giao
Tình tự đổi trao thể mật ngào
Lộc(*) khỏe nghê nhe như dạo trước
Hà(*) xem cũng vậy hệt hôm nao
Nào say cả nhé cô Kim đãi
Hãy cạn đi thôi anh Đức khao
Đừng để Thẩn Thơ thành quán vắng
Chắp muôn cánh hạc vút bay cao.

(*) Xin phép anh Mai Lộc và chị Phương Hà

Thái Huy 
14/10/2020
***
Thơ Thẩn Vườn Xưa (Trang web. Long Hồ Vĩnh Long)

Thơ Đường xướng họa cũng tâm giao
Bạn quý thầy yêu vẫn ngạt ngào
Nhớ buổi hôm nao lòng quyến luyến
Thương ngày tháng mấy dạ nôn nao
Tao nhân tới viếng em chào đón
Mặc khách vãng lai chị đãi khao
Biên khảo, văn chương bài súc tích
Thơ tranh minh họa với tầm cao !...

Mai Xuân Thanh
Ngày 14/10/2020
***

Tửu Phùng Tri Kỷ

Hương vị Đinh lăng lắm ngạt ngào
Kết tình thi hữu buổi tâm giao
Thời gian xa cách tình không đổi
Giây phút cận kề dạ chẳng nao
Rượu chuốc rượu mời cùng họp lại
Chén thù chén tạc chúc mừng khao
Tửu phùng tri kỷ bao nhiêu đủ
Cảm hứng hồn thơ nhẹ vút cao


Kim Phượng


Mối Tình Đầu Dang Dỡ

 

Mỗi độ Hè về, thấy hoa Phượng trổ.
Tôi nhớ đến Mối Tình Đầu Dang Dở
Thuở tuổi mười ba, cấp sách đến trường.
Trong cùng xóm có một cô gái trẻ
Tôi và nàng đi học bước chung đường

Nhưng cả hai xem nhau như xa lạ
Rụt rè, e thẹn, lứa tuổi mười ba.
Một buổi tan trường, trời mưa tầm tã
Nàng không mang dù, ước cả tóc tai

Tôi đánh bạo mời nàng cùng chia sẻ
Chung một dù tôi cầm sẳn trên tay.
Thoạt đầu nàng còn rụt rè e ngại
Nhưng đường còn dài, mưa hoài không tạnh

Cuối cùng nàng bẽn lẽn nhận lời mời.
Từ dạo đó, chúng tôi thành đôi bạn
Chia sẻ cho nhau những chuyện vui buồn
Từ tình bạn, hoa tình yêu chớm nở

Hai đứa chúng tôi một bước không rời.
Sau ba năm, chúng tôi xong Tiểu học
Tôi rời quê , tiếp tục chuyện sử kinh
Nàng bị Me Cha bắt nàng thôi học

Để ở nhà học gia chánh, nữ công
Tôi và nàng xa nhau từ dạo đó.
Chỉ được gặp nhau vào mùa hoa Phượng
Trong dịp nghỉ Hè, hai tháng bãi trường.

Nàng hẹn chờ tôi đến ngày thành đạt
Xin Mẹ, Cha cho hai đứa nên duyên.
Bỗng đời nàng bị giông tố nổi lên.
Cha Mẹ gả nàng cho con người bạn.

Nàng xin Cha Mẹ chờ vài năm nữa
Nhưng Cha Mẹ nàng, tính tình rất khó
Cha Mẹ đặt đâu thì con ngồi đó.
Nàng phải đành bất hiếu với Mẹ Cha

Thu xếp hành trang, rời bỏ quê nhà
Lánh thế tục, nương thân vào cửa Phật.
Mượn kệ kinh để quên chuyện yêu đương.
Được tin nầy, tôi xúc động cảm thương

Tìm thăm người yêu xuất gia đầu Phật.
Nàng tiếp tôi trong y phục nâu sòng
Nàng trong sân chùa, tôi ngoài cửa cổng
Nàng xưng bần ni, gọi tôi bằng thí chủ

Nhưng mắt nàng hai giòng lệ tuôn rơi
Nhìn nàng gầy gò, tan nát lòng tôi.
Tôi xin nàng hãy quay về thế tục.
Nhưng nàng quyết tâm một mực chối từ

Nàng khuyên tôi hãy cố gắng quên nhau
Tôi ra về, ôm theo một nỗi đau
Nàng lau mắt trở vào chùa quét lá.
Một thời gian sau nàng lâm trọng bịnh

Nàng gọi tên tôi trong lúc hôn mê
Rồi vĩnh viễn bước lên tàu thiên cổ.
Tiếng chuông chùa ngân xa ra tận phố
Đưa tiễn hồn nàng vào cõi hư vô

Mang theo mình Mối Tình Đầu Dang Dở.
Được hung tin, tôi tìm thăm phần mộ
Thắp một nén hương, khóc người bạc số.
Nơi đất khách, vào mùa hoa Phương trổ.

Tôi nhớ đến Mối Tình Đầu Dang Dở
Lòng bâng khuâng buồn, thương nhớ người xưa.

Hoa Đô, Mùa Hoa Phượng .
Trần Gò Công/Lão Mã Sơn

Một Thoáng “Hương Xưa”


Mỗi khi nhắc đến nỗi nhớ thương người yêu lìa cõi thế gian, nhất là “hương vị người tình” người ta liên tưởng đến bài thơ Khóc Bằng Phi chỉ có 8 câu, trong đó câu thứ 5 và thứ 6:

“Đập cổ kính ra tìm lấy bóng
Xếp tàn y lại để dành hơi”

Trải qua nhiều thập niên, các nhà phê bình văn học đã gây nhiều tranh cãi, cho rằng bài thơ nầy của nhà thơ Nguyễn Gia Thiều, có người lại cho là vua Tự Đức.
Nhà thơ Nguyễn Gia Thiều (1741-1798), tức Ôn Như Hầu, thời Lê Hiển Tông, tác giả tác phẩm chữ Nôm Cung Oán Ngâm Khúc, nổi tiếng văn học Việt Nam. Vua Tự Đức (1829-1883) sính thơ văn, hay chữ, nhà vua viết về nhiều thể loại về thơ văn Hán, Nôm với nhiều tác phẩm, để lại hậu thế.
Tuy nhiên theo sự phân tích sau nầy minh chứng vua Tự Đức có 103 phi tần nhưng không có con và không có phi tấn nào tên Bằng. Nhà thơ Nguyễn Gia Thiều có người vợ lẽ là Bằng Cơ.
Việc tranh cãi đó vẫn còn nhưng hai câu thơ nói lên tình yêu cao đẹp giữa người còn lại, kẻ ra người thiên cổ đẹp vô cùng trong cõi nhân gian.
Nhà soạn kịch Đoàn Phú Tứ (1910-1989) không chuyên về thơ nhưng bài thơ Màu Thời Gian của ông được Hoài Thanh và Hoài Chân giới thiệu trong quyển Thi Nhân Việt Nam (xuất bản năm 1942) được nổi tiếng vì mới lạ:

“Hương thời gian không nồng
Hương thời gian thanh thanh
… Duyên trăm năm dứt đoạn
Tình một thuở còn hương
Hương thời gian thanh thanh
Màu thời gian tím ngát”

Nhà văn Mai Thảo (1927-1998) với truyện dài Để Tưởng Nhớ Mùi Hương, ấn hành năm
1971 với nhân vật Trang “Người đàn bà chừng ba mươi tuổi… Buổi chiều đi qua trên đầu nàng, trên mái tóc Trang, trên cuộc đời nàng, nàng ngồi đó một mình, trầm tư trong mơ màng, và nàng vừa gội
đầu xong. Những sợi tóc lướt thướt toát ra mùi bồ kết thơm cay, được những ngón tay cong vút lùa vào, hất nhẹ, cho thả dài thành một dòng suối mun từ đỉnh đầu xuống gần sát mặt đất”. Và, người đẹp đó, mái tóc đó, mùi hương bồ kết… cũng đủ ngây ngất bao kẻ tình si nhưng mang nỗi dằn vặt, hụt hẫng trong tình trường! 
Nhưng thú vị nhất trong Thư Kiếm Ân Cừu Lục của nhà văn Kim Dung (1924 -2018), tác phẩm đầu tay trong thể loại tiểu thuyết võ hiệp của ông đăng trên báo trong 2 năm (1955-1956) mở đầu cho một loạt tác phẩm nổi danh sau này.
Nàng Kha Tư Lệ thường được gọi là Hương Hương công chúa, em gái của Hoắc Thanh Đồng,
nổi tiếng với vẻ đẹp “chim sa cá lặn”' như tiên nữ hạ phàm, toàn thân của Kha Tư Lệ còn toát ra một mùi hương đặc biệt, khiến ai ngửi thấy cũng bị ngây ngát, quên hết mọi sự đời. 
Nàng gặp và yêu say đắm Trần Gia Lạc, luôn tin tưởng và tôn thờ tình yêu với chàng ta, nhưng bị vua Càn Long đầy quyền lực để ý bởi sức quyến rũ và mùi hương tuyệt vời nên dùng mọi thủ đoạn ép làm phi. 
Trần Gia Lạc, em ruột vua Càn Long, làm Tổng Đà Chủ của Hồng Hoa Hội (Thiên Địa Hội), tổ chức này là phản Thanh phục hồi giang sơn của người Hán. Vì đại cuộc nên Trần Gia Lạc đành hy sinh hạnh phúc bản thân, thuyết phục Kha Tư Lệ đồng ý trong nước mắt vì nghĩa lớn mặc dù không có chút cảm tình còn căm ghét tận xương kẻ đã chia rẽ hạnh phúc của nàng với chàng nhưng khi phát hiện vua Càn
Long phản bội lời thề, nàng tự tử để cảnh báo Trần Gia Lạc. 
Sau khi an táng cho Kha Tư Lệ, Trần Gia Lạc và các anh hùng trong Hồng Hoa Hội trở về Hồi Cương để mai danh ẩn tích. Biết nàng hy sinh và chịu đựng vì mình, chàng vô cùng đau khổ và suốt đời không chịu lấy ai làm vợ, như một cách tạ lỗi với tuyệt sắc giai nhân. Trần Gia Lạc sau đó chọn một cuộc sống lặng lẽ một mình đến hết đời. 


Cung Tiến từ nhỏ được xem là nhạc sĩ tài hoa, học xướng âm và ký âm với hai nhạc sĩ Thẩm Oánh và Chung Quân. Năm 1952 theo thân phụ vào Sài Gòn học tại hai trường trung học Nguyễn Trãi và Chu Văn An. Năm 1953, sáng tác hai nhạc phẩm bất hủ Thu Vàng và Hoài Cảm. Theo lời anh “Lúc đi, nhớ tất cả những gì mà ở Hà Nội ghi vào ký ức mình”. Ca khúc Thu Vàng, điệu
valse, khi nghe tưởng chừng như những bước chân chim nhảy nhót trên lá thu, và Hoài Cảm nhưng tâm trạng của kẻ tình si “Lòng cuồng điên vì nhớ. Ôi đâu người, đâu ân tình cũ… Cố nhân xa rồi, có ai về lối xưa” thật tuyệt. Thật khó tưởng tượng cậu học sinh lớp Đệ Lục (lớp 7) mà
viết lên lời ca hay như vậy.
Nhạc sĩ Cung Tiến sáng tác hai ca khúc Hương Xưa và Nguyệt Cầm. Thể loại nầy từ lời ca và giai điệu mang chất classical nên thường gọi là dòng nhạc bán cổ điển (semi-classic, semi-classical).
Ca khúc Hương Xưa (1956) đã một thời nổi tiếng qua tiếng hát điển hình như Lệ Thu, Hà Thanh, Sĩ Phú, Duy Trác (Mai Hương trình bày với phong cách hòa âm thay đổi, phần phiên khúc với Harmonic Rhythm nhưng sang phần điệp khúc thì tiết tấu thay đổi đảo phách (Syncope)… Và sau nầy được trình bày với nhiều ca sĩ ở trong nước và hải ngoại cho đến nay hơn sáu thập niên.
Trong những tháng bị bệnh dịch Covid-19, không được đi đây đi đó, không gặp bạn bè… ở nhà viết lách, đọc sách hoài cũng chán, xem TV toàn chuyện tranh cãi trên chính trường nên có niềm an ủi khi nghe nhạc…
Tôi đam mê thưởng thức âm nhạc và tự bản thân cũng “khó tính” khi chọn từng ca khúc để thưởng thức. Trước đây, trong cassette, CD, video… phải chọn từng bản nhạc theo sở thích để thu lại, mất nhiều thời gian, nay nhờ YouTube nên dễ dàng chọn theo ý muốn.
Trở lại với ca khúc Hương Xưa với các giọng ca được nghe đi nghe lại, trong đó có DVD Fragrance of Love (Hương Xưa) của Cecilia Bach được thực hiện bởi John Kurlander, chuyên viên âm thành, từng đoạt nhiều giải Grammy. Phần hòa âm thực hiện bởi nhạc sĩ Jeremy Soule, chuyên viên hòa âm cho nhạc film, truyền hình… phù hợp với giọng soprano của ca sĩ trẻ tuổi.
Nay trong garage, cũng là nơi làm báo hơn hai mươi năm qua, trong tĩnh lặng, nghe tình khúc Hương Xưa quá tuyệt vời.
Trong ca khúc có phụ đề tiếng Anh, ở phần phiên khúc (verse) phù hợp với lời Việt trong nhạc phẩm nhưng phần điệp khúc (refrain) có lẽ không đúng tinh thần nội dung:

“Lời Ðường Thi nghe vẫn rền trong sương mưa.
Dù có bao giờ lắng men đợi chờ.
Tình Nhị Hồ vẫn yêu âm xưa.
Cung Nguyệt Cầm vẫn thương Cô Tô.
Nên hồn tôi vẫn nghe trong mơ tiếng đàn
đợi chờ mơ hồ.
Vẫn thương muôn đời nàng Quỳnh Như thuở đó”.

Nhạc sĩ Cung Tiến dùng những điển tích về Nhị Hồ, Nguyệt Cầm, Cô Tô, Quỳnh Như… mang
nét đặc biệt để mô tả ý nghĩa của hồn nhạc.
Nhị là cây đàn nhị, loại đàn có 2 dây, âm thanh hơi giống vỹ cầm, Hồ còn gọi là Hồ
Cầm, đàn làm bằng gổ ngô đồng có 5 giây tượng của Ngũ Hành (Kim Mộc Thuỷ Thổ Hỏa) và Ngũ Âm (Cung Thương Giốc Chủy Vũ) nên không gọi là guitar.
Nguyệt Cầm (còn gọi là đờn kìm) cây đàn có thùng tròn như mặt trăng. Ngày xưa ở Trung Hoa có 4 giây nhưng sau nầy ở Việt Nam chỉ còn 2 giây, Trong bài thơ Nguyệt Cầm của Xuân Điệu được Cung Tiến phổ thành ca khúc.
Theo GS Trần Văn Khê khi viết Mạn Đàm Âm Nạc Trong Truyện Kiều: “Có thể nói hầu hết các ấn bản Truyện Kiều của chúng ta đều vẽ hình Thúy Kiều ngồi ôm cây tỳ bà có thân đàn hình bầu dục. Theo tôi thì điều này không chính xác bởi lời thơ đã ghi rõ: “Trên hiên treo sẵn cầm trăng”, mà cầm trăng là nguyệt cầm, loại đàn có thùng hình tròn như mặt trăng. Có người lại cho rằng Kiều sử dụng đàn nguyệt, nhưng đàn nguyệt chỉ có hai dây trong khi đàn của Kiều có “Bốn dây to nhỏ nên vần cung thương”.
Một điều khẳng định là Thúy Kiều đã sử dụng một loại hồ cầm: “Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương”. Thông thường chữ hồ cầm - nghĩa là đàn của rợ Hồ - dùng để chỉ cây đàn nhị. Nhưng xem trong sách Thích Danh và tự điển Từ Nguyên - Từ Hải của Trung Hoa thì hồ cầm không chỉ là tên gọi đàn nhị mà cả đàn tỳ bà nữa.
Truy tìm “tỳ bà loại” trong các sách cổ Trung Hoa mới biết nước này có đến 3 loại là Tứ huyền tỳ bà (Việt Nam sử dụng loại này, có 4 dây và thân đàn hình bầu dục), Ngũ huyền tỳ bà (tỳ bà có 5 dây) và Nguyễn tỳ bà hay còn gọi là Nguyễn cầm (lấy theo họ của người sáng chế ra nó là Nguyễn Hàm sống vào đời Tấn). Đàn Nguyễn cầm có thùng tròn với 4 dây, hiện nay gần như đã thất truyền bên Trung Hoa”. Nhạc sư Trần Văn Khê là nhà nghiên cứu âm nhạc nên sự phân tích của ông rõ ràng và chính xác.
Trở lại với 2 câu:

“Tình Nhị Hồ vẫn yêu âm xưa
Cung Nguyệt Cầm vẫn thương Cô Tô”

Tình Nhị Hồ đó gợi lại trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du mô tả Thuý Kiều có hai người trong cuộc tình: Kim Trọng và Từ Hải. Với chàng Kim Trọng thì đây là mối tình đầu lưu luyến ngây thơ. Với Từ Hải thì Kiều cảm ơn ân nghĩa và khí thế độ lượng anh hùng. Nàng giải bày tâm sự, nỗi niềm qua cung đàn. Trải qua bao oan trái, sau 15 năm xa cách, Kim Trọng gặp lại Kiều, chàng Kim vẫn xem Thuý Kiều như thưở xa xưa!

“Cung Nguyệt Cầm vẫn thương Cô Tô” nói đến chuyện tình Tây Thi với Ngô Phù Sai và Phạm Lãi. Cô Tô ở đây là Cô Tô đài, không phải là Cô Tô trong bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế: “Cô Tô thành nội Hàn San tự”.
Vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, Ngô Vương Phù Sai đem quân đánh chiếm nước Việt, bắt Việt Vương Câu Tiễn làm nô lệ nước Ngô. Câu Tiễn phải chịu nhiều khổ nhục kể cả việc nếm phân của Phù Sai, chịu nhục nhã khuất phục để Phù Sai tin là kẻ nhu nhược, hèn nhát.
Văn Chủng và Phạm Lãi (người tình của Tây Thi) bày mưu dâng hiến Tây Thi sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành cho Phù Sai. Phù Sai say mê nhan sắc, sủng ái hết mực nên đem nàng ở Xuân Tiêu cung tại Cô Tô đài trên núi Linh Nham. Phù Sai dốc ngân quỹ cho người trùng tu Cô Tô đài, biết Tây Thi thích ca nhạc nên thiết kế cung điện, ca hát… đắm chìm trong tửu sắc, bỏ bê việc nước. Tây Thi sống trong nhung lụa với Phù Sai nhưng trái tim vẫn hình bóng Phạm Lãi.

Sau 3 năm phục dịch và chịu nhục được Ngô Vương cho Câu Tiễn quay về nước Việt. Câu Tiễn nuôi chí phục thù, nhưng ngoài mặt giả vờ tuân phục, hằng năm đều đặn triều cống. Phạm Lãi bí mật luyện tập quân sĩ, tích trữ quân lương. Sau 10 năm phục hưng kinh tế, quân sự và cải cách chính trị, nước Việt trở nên hùng mạnh.
Câu Tiễn và quân sư Phạm Lãi dấy binh đánh tan nước Ngô, Phù Sai xin quy phụcnhư Câu Tiễn trước đây. Câu Tiễn định chấp nhận nhưng Phạm Lãi can ngăn không nên. Vì vậy Phù Sai phải đâm cổ tự sát.
Sau khi Câu Tiễn nắm trọn quyền lực lại đa nghi sát hại công thần nên Phạm Lãi bất mãn. Có nhiều giai thoại nói về Phạm Lãi và Tây Thi nhưng giai thoại cho rằng Phạm Lãi từ quan và cùng Tây Thi trên chiếc thuyền nan ở Thái Hồ rồi sống biệt tăm.
Tây Thi là một trong tứ đại mỹ nhân, thi hào Lý Bạch nói về Tây Thi: 

“Phong động hà hoa thủy điện hương
Cô Tô đài thượng yên Ngô vương”

Nhạcsĩ Cung Tiến đã dựa vào nhạc cụ và điển tích để viết nên lời ca cho cuộc tình mỹ nhân rất linh động, trong hư ảo trở thành nỗi thương cảm.
“Vẫn thương muôn đời nàng Quỳnh Như thuở đó”. Đây là mối tình của vừa lãng mạn và bi thương giữa Phạm Thái và Trương Quỳnh Như thời Lê mạt – sơ Nguyễn.
Phạm Thái con của Thạch Trung Hầu, cựu thần của nhà Lê, đã nhiều lần khởi binh cần vương chống nhà Tây Sơn nhưng thất bại. Dáng thanh cao của chàng thư sinh phong nhã, tài năng về thơ văn, nổi tiếng sĩ phu Bắc Hà. Cuốn tự truyện Sơ Kính Tân Trang với thơ phú thi từ của ông với mối tình Quỳnh Như còn để lại hậu thế.
Trương Quỳnh Như là con gái của Kiến Xuyên Hầu, em gái của Thanh Xuyên Hầu, vẻ đẹp sắc nước hương trời, thông minh, giỏi thi thư.
Phạm Thái bị sa cơ thất thế, sống lang bạt, làm nhà sư để lánh nạn, may nhờ thân phụ Quỳnh Như đem về nhà làm gia sư. Đôi trẻ trai tài gái sắc đồng cảm xướng họa với nhau và cuộc tình say đắm, cùng nhau hòa nhập với thiên nhiên.
Thân phụ Quỳnh Như vì mến tài Phạm Thái có ý muốn gả con gái cho chàng, nhưng thân mẫu nàng không bằng lòng gả nàng cho Phạm Thái. Bà không muốn đứa con gái của bà lại trở thành vợ của của kẻ trốn tránh quan quân của Triều đình, thầy tu giả danh, lông bông, tứ cố vô thân…
Vì thế bà ép duyên Quỳnh Như cho anh chàng Trịnh Nhị, con nhà phú hộ nổi tiếng là Thạch Sùng. Bị mẹ ép gả cho tên nhà giàu Trịnh Nhị cục mịch, Quỳnh Như đau khổ.
Vâng lời mẹ để lấy người chồng không quen biết thì phản bội lời thề với Phạm Lãi, cưỡng lại lời mẹ thì mang tội bất hiếu nên nàng chọn cái chết cho vẹn cả đôi đường.
Phạm Thái quá đau khổ, thất tình, thất chí, lãng quên đời trong chén rượu, chán nản thế sự, phó thác cuộc đời vô định. Phạm Thái mất năm 1813 tại Thanh Hóa, khi vừa mới ba mươi bảy tuổi xuân. Nay đã hai trăm năm.
Nhà văn Khái Hưng (1896-1947) viết lại mối tình nầy trong quyển Tiêu Sơn Tráng Sĩ (1937). Trong tác phầm nầy ông dịch bài thơ Sonnet un Secret (Sonnet d'Arvers) của Félix Arvers, thi sĩ yêu cô Marie, nhưng tình yêu đơn phương, nên ông viết bài Sonnet Un secret để bày tỏ tình yêu câm lặng ngậm ngùi của mình.

“Lòng ta chôn một khối tình
Tình trong giây phút mà thành thiên thâu”
.

Bài thơ do Khái Hưng dịch được xem là một trong những bài thơ tình bi thương hay nhất. Nhạc sĩ Châu Kỳ (1923-2008) nổi tiếng với nhiều ca khúc, đặc biệt nhạc phẩm Giọt Lệ Đài Trang. Châu Kỳ chia sẻ mối tình bi thương khi còn trai trẻ ở Huế, si mê Tôn
Nữ Kim Anh, con gái một quan thượng thư, chàng lãng tử Châu Kỳ đã ôm đàn đứng dưới cửa sổ nhà nàng để trổ nghề chinh phục nhưng nàng nhìn xuống và buông một câu “Xướng ca vô loài”. 
Quá thất vọng và quá bẽ bàng, Châu Kỳ ôm trái tim tan vỡ vào Sài Gòn để lánh xa chốn ê chề. Thế sự vần xoay, Tôn Nữ Kim Anh lấy ông chồng Pháp rồi sau 1954 lại một thân một mình trôi dạt vào Sài Gòn. Nhạc sĩ Châu Kỳ gặp lại cố nhân trong một chiếc áo rách và trong túi chỉ còn 5 đồng, chỉ đủ ăn một bát cháo.
Trùng phùng giữa nghịch cảnh éo le, Tôn Nữ Kim Anh gục đầu vào vai nhạc sĩ Châu Kỳ mà nước mắt ngắn dài cho vơi bớt hờn tủi má hồng. Trong túi có 300 đồng, nhạc sĩ Châu Kỳ tặng luôn cho Tôn Nữ Kim Anh và chở nàng về xóm trọ. Không chịu nổi thử thách khốn khó, Tôn Nữ Kim Anh lao vào nghiện ngập và kết thúc số phận trong nghèo túng. 
Nghĩ về người cũ thăng trầm trần gian, nhạc sĩ Châu Kỳ viết ca khúc Giọt Lệ Đài Trang đầy thương xót: “Ngày xưa ai lá ngọc cành vàng. Ngày xưa ai quyền quý cao sang… Tôi, chính tôi ngày xưa đó,
cũng đèo bòng mơ người đẹp lầu son… Em, em nhớ xưa rồi em khóc. Tôi thoáng buồn thương giọt lệ đài trang…”. Phải chăng ca khúc Xin Làm Người Tình Cô Đơn để trang trải tâm sự của ông. Giữa nhạc sĩ và thi sĩ Hồ Dzếnh gặp nhau ở cuối cuộc tình:

“Tình mất vui khi đã vẹn câu thề
Ðời chỉ đẹp những khi còn dang dở
Thư viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ
Cho nghìn sau... lơ lửng... với nghìn xưa...”

Trong truyện võ lâm của Kim Dung với khung cảnh trời mây sông nước rất hữu tình đã nảy sinh những mối tình, tôi đã viết những mối tình đẹp và ngang trái trong tác phẩm Kim Dung. Cứ vậy để lơ lửng với
nghìn sau. 
Thưởng thức Fragrance of Love (Hương Xưa) của Cecilia Bach qua Youtube trong khung cảnh hữu tình giữa thiên nhiên với hình ảnh cô ca sĩ nằm trên lá vàng rơi, ngồi trên đá bên dòng suối róc rách.


Trước đây, tôi dịp gặp gỡ, trò chuyện với một số nhạc sĩ, ca sĩ… họ là những người sáng tác và trình bày nhưng hầu như quan tâm đến tác phẩm, tiếng hát của mình nhiều hơn đi sâu vào “suối nguồn âm nhạc”. Có lẽ phần đó dành cho người thưởng ngoạn.

Sự tích Bá Nha - Tử Kỳ thời Xuân Thu Chiến Quốc chỉ là giai thoại nhưng trổ thành điển tích cho tình bạn tri âm trong âm nhạc.
Bá Nha người nước Sở được bổ làm quan nước Tấn. Trong một lần Bá Nha đi sứ sang nước Sở, ngang Hán Dương. Gặp nhau giữa núi rừng, Bá Nha chơi đàn rất tuyệt, lão tiều phu Tử Kỳ (nhân vật ần sĩ) nghe đến đâu giải thích cặn kẽ đến đó, tâm hợp ý đầu, trở thành tri kỷ. 

Sau đó, Bá Nha đã cáo biệt bạn đường trở về nước Tấn, khi Bá Nha trở lại, Tử Kỳ đã qua đời, cảnh còn người mất,. Bá Nha lòng quặn đau, ngậm ngùi thương tiếc Tử Kỳ bên nấm mồ xanh cỏ. Bá Nha gảy khúc đàn ly biệt cuối cùng để tiễn người nơi suối vàng. Bá Nha đập vỡ cây đàn và thề với lòng không bao giờ gảy một khúc nhạc nào nữa. Trong thơ văn Việt Nam cũng nhắc đến điển tích nầy để nói đến tình bạn tri âm. 

Có nhiều danh ngôn nói về giá trị và sự huyền nhiệm của âm nhạc, đơn cử lời nói của 4 nhà soạn nhạc nổi tiếng trên thế giới: 

Robert Schumann “Nhiệm vụ cao quý của âm nhạc là chiếu sáng vào những cõi sâu thẳm trong trái tim con người”. Gioachino Rossini “Ngôn ngữ của âm nhạc là ngôn ngữ chung của tất cả mọi thế hệ và mọi dân tộc; ai cũng hiểu được nó, bởi nó được hiểu bằng trái tim”. Beethoven “Âm nhạc khơi ngọn lửa trong tim người đàn ông và dâng lệ lên mắt người phụ nữ” và J. B Bach “Âm nhạc có thể giúp tinh thần rũ sạch mọi bụi trần của cuộc sống thường ngày”. 

Trước đây, tôi viết bài Âm Nhạc & Cuộc Sống vì không có bộ môn nào gần gũi và gắn liền hằng ngày trong đời sống con người như âm nhạc. Trong thời gian cả thế giới bị nạn dịch Covid-19, hàng tỷ người bị cấm cửa, cô lập… hằng ngày đối diện với thảm họa, với cô đơn, bi thảm… quá buồn chán, không lẽ trầm tư suy nghĩ mãi, có khi bị trầm cảm, chỉ có âm nhạc mới khuây khỏa nỗi buồn vây quanh. 


Trong quyển Văn Nhân & Tình Sử, tôi đề cập đến các nhạc sĩ với hình bóng giai nhân vừa lãng mạn và bi thương để viết nên tình khúc, gởi lại cho đời. Và, những loạt bài trong những năm qua đăng trên mục Văn Nghệ của tờ Chiến Sĩ Cộng Hòa, tổng hợp lại cho quyển Người Lính & Chiến Hữu Văn Nghệ dự trù ấn hành vào Hè năm nay nhưng xảy ra dịch bệnh nên cảm thấy không hợp lúc nên chưa ấn hành. Trong thời chinh chiến những nhạc sĩ khoác áo chiến y đã sáng tác nhiều nhạc phẩm, tình khúc nói lên tình yêu nơi tiền tuyến và hậu phương, tình chiến hữu, tình tự quê hương, dân tộc… đã đi vào lòng người. Hình ảnh những chiến sĩ VNCH đã hy sinh dần dà phôi phai theo năm tháng nhưng những ca khúc nầy đã vinh danh, gợi hình ảnh đó từ thời chiến tranh và đến nay, 45 năm nơi xứ người. 
Trong đời sống (nếu có) người đồng cảm, đồng diệu để thả hồn trong cung bậc với nhau đã khó mà kéo dài cho đến hoàng hôn của cuộc đời lại càng khó hơn. Thôi đành “Tha thiết gởi mấy cung đàn… Tơ vương nghìn năm nát tan” như lời ca khúc Lỡ Cung Đàn (1952) của Hoàng Giác. 

Trong ca khúc Hương Cố Nhân của nhạc sĩ Dzoãn Mẫn với lời hẹn ước “Từ lâu ta nguyện cùng người. Suốt đời chìm trong muôn tiếng đàn thầm rộn chơi vơi” vì mai đây mỗi người một nơi, Cung Tiến tiếp nới với hình bóng, hương vị đó với Hương Xưa.

Tôi thích viết về âm nhạc vì mỗi khi viết được nghe lại những ca khúc để thêm nguồn cảm hứng nhưng “Ôi đàn trăng cũ làm vỡ hồn anh” (Nguyệt Cầm - Cung Tiến).

Viết trong mùa đại dịch
Little Saigon, 10, 2020

Vương Trùng Dương