Thứ Tư, 11 tháng 12, 2019

Ngày Tri Ân Nhà Giáo 2019


Xúc động và cám ơn Luật Sư Hồ Trung Thành, CHS Phan Thanh Giản, nhân Ngày Tri Ân Nhà Giáo vừa qua, đã cho phổ biến một số hình ảnh Thầy Cô trước 1975, người mất người còn, đã bao năm qua rồi, đã bao nhiêu thay đổi rồi, mà anh Thành vẫn còn giữ được, qúy hoá lắm  ̣
Trong niềm thương tiếc một người bạn rất thân qúy, chúng tôi xin được chia xẻ với các học trò cũ và các bạn của Giáo Sư Phùng Quang Lộc, một số hình ảnh chụp (khoảng 2 năm trước khi anh lâm bệnh rồi mất vào mấy năm sau), trong ngày 2 bố con chúng tôi qua thăm anh chị ở Blois, bên Pháp, hơn 10 năm về trước.
Cầu chúc an lành cho chị Phùng Phạm Đức Hạnh, cháu Phùng Lương Việt và cho tất cả chúng ta ̣ Trân trọng,
PKT 11/26/2019






Thứ Ba, 10 tháng 12, 2019

Bước Chân - Thơ Thadée Thái Quang Đáng Diển Ngâm - Hương Nam Thực hiện youtube : Phan Anh Siêu


Thơ:  Thadée Thái Quang Đáng 
Diển Ngâm:Hương Nam 
Thực hiện: Phan Anh Siêu

Nguyệt Tận


Bài Xướng:
Nguyệt Tận

Tóc liễu rơi nghiêng lối- lối ấy
Thả sầu bóng thỏ sắc vàng hanh
Luống chiều trăng xoã tà mờ nhạt
Nhánh mộng đêm khan giấc ngọt lành
Ém chặt nỗi đau trong cát ẩm
Vo tròn mộng lỗi giữa bờ xanh
Phiến băng tâm níu bờ nguồn cội
Đá tạc hình- Thương phận mỏng manh.

Ca Dao
***
Họa Bài: 
Buồn

Trăng non nuối tiếc - ngày xưa ấy!
Lỡ bước quê trời lạnh, nắng, hanh
Nhạt nhẽo tình thâm nơi xứ lạ
Viển vông duyên phận chốn cung lành
Vui chi gió níu rung rừng rậm
Chán nản mây khều đậy biển xanh
Kiếp trước e rằng - còn thiếu nợ
Bao giờ chấm dứt - cảnh mong manh!

Trương Văn Lũy

Tàn Tro



Bài Xướng:

Tàn Tro


Xếp lại từ nay phút hẹn hò
Buông dòng nước cuốn những âu lo
Quay lưng giọt đắng lời khuyên nhủ
Ngoảnh mặt lòng đau tiếng dặn dò
Mộng mị tràn nghiêng bờ cát biển
Cơn mê nặng trĩu bóng con đò
Trời xanh lấp phủ niềm vô vọng
Hốt cuộc tình tàn đốt bụi tro

Minh Thúy

***
Các Bài Họa:
Khơi Lại Dòng Xưa

Tưởng mãi ngày xưa hẹn với ho
Thu về man mác những chiều lo
Gió qua cuốn phố ru mòn nắng
Lá rụng theo ai bước mỏi dò
Sóng nhớ dạt dào lay lắc biển
Dòng thương nghiêng ngả nhấp nhô đò
Mối tình say đắm giờ đâu nhỉ
Chẳng lẽ thời gian đốt hóa tro

Trầm Vân
***
Niệm Thức

Dù cố quên đi hẹn với hò
Vẫn không thoát khởi mối sầu lo
Đỉnh trời cao thấp thường khôn đoán
Rốn bể nông sâu vốn khó dò
Diều vượt nương dây đành gượm gió
Sông qua lụy sóng phải theo đò...
Ngoài thân,vạn vật đều vô nghĩa
Trừ cõi thiên thu liệm bụi tro.

27-9-2019
Nguyễn Huy Khôi
***
Trở Về Bến Cũ

Quen thuộc đâu đây một giọng hò
Thở phào nhẹ nhõm hết sầu lo
Bốn năm ly biệt khôn lường biết
Ngàn dặm chia xa khó hiểu dò
Lại đúng người xưa trên sóng nước
Vẫn là cô ấy với con đò
Niềm vui tái ngộ tràn lên mắt
Đốt nỗi buồn tung gió cuốn tro...

Sông Thu
***
Y Đề

Từ cuối sông quen một giọng hò
Lại như khắc khoải nỗi buồn lo
Thương xưa tuổi mộng còn say đắm
Nhớ buổi hồn mơ thích hỏi dò
Xem thử lòng anh mong đổi bến
Hay chừng sóng nước phải thay đò
Lênh đênh những tưởng mầu cô quạnh
Sương khói trời mây nhuốm sắc tro...

Hawthorne 27 - 9 - 2019
Cao Mỵ Nhân
***
Tình Tồn Tại Nỗi Lo

Còn chi dấu ấn bến sông hò,
Hai đứa nay tồn tại nỗi lo.
Giọt đắng cố quên luôn ẩn hiện,
Niềm đau muốn xóa biết đâu dò.
Ngày xưa mộng mị yêu say đắm,
Nay khóc sầu vươn dáng bóng đò.
Ai thấu nỗi đau ai có thấu?
Tình tan tình đốt trụi thành tro!

Hồ Nguyễn
***
Tương Tư Ngày Ấy 

Tương tư giọng hát lẫn câu hò
Đã khiến thân nầy lắm nỗi lo
Một dáng bơ phờ hay ngóng đợi
Ba thu mòn mỏi cứ thăm dò
Tim sầu khắc khoải vì xa bến
Sông lạnh buồn thiu bởi vắng đò
Xứ lạ mong người say hạnh phúc
Bùi ngùi ảnh tặng biến thành tro!

Như Thu
27/9/19
***
An Phận

Ngày nao nhớ mãi hẹn cùng hò
Ấy thế ! Lời thề đã hoá tro
Thăm biển,thăm sông thường dễ đoán
Đo lòng,đo dạ khó lường dò
Cứ ngờ thuyền cũ đà thay bến
Nào biết người xưa đã đổi đò
Duyên kiếp cũng đành...cho mạng số
Dặn mình an phận chớ buồn lo...!

songquang
9/2019
***
Tiếng Hát Ngày Mùa

Ngày mùa trai gái tụ nhau hò,​
Giọng hát dân gian thật líu lo.​
Vừa mắt́, em buông lời chọc ghẹo,​
Ưa nhìn, anh thả tiếng thăm dò.​
Hữu duyên tiến tới thành đôi lứa,​
Vô phận đành thôi, lỡ chuyến đò.​
Bà Nguyệt Ông Tơ hay cắc cớ,​
Để tình hai trẻ hóa ra tro.​

Nguyễn Thị Mỹ Ngọc
Sept.27/2019
***
Bên Dấu tro

Trở lại nơi này tìm dấu tro,
Khi ăn khoai nướng để qua đò.
Con đường khúc khuỷu con đường tới,
Mỗi bước gian nan mỗi bước dò.
Lòng đã chọn lòng đâu thể nản,
Ý đà thuận ý có chi lo.
Hôm nay có bánh mì nêm chả,
Đời chúng ta vui ngọt giọng hò..

Trần Như Tùng
***
Thả Tro Theo Gió

Xa xôi giọng hát với câu hò...
Buông bỏ từ nay vạn mối lo.
Quên hết gian truân, đầu sóng vượt,
Nhớ chi vất vả, đáy sông dò.
Cõi hư,ngụp lặn hoài cùng nước,
Chốn ảo, quay cuồng mãi với đò.
Bến khổ là do thân tạo nghiệp,
Chuyên thiền, tâm tĩnh, thẩy thành tro...

Thanh Hòa
***
Bát Thê
(Toán thi)

NHẤT dạ mang mang giọng ngọt hò
NHỊ thời xao xuyến tấc lòng lo
TAM tuần tơ tưởng tâm trao gửi
TỨ quý nhớ thương ý dẫm dò
NGŨ nguyện Tơ Hồng thuyền cập bến
LỤC cầu Nguyệt Lão ngự chung đò
THẤT mong bách tuế vui giai ngẫu
BÁT thệ quách đồng dẫu tán tro

Phương Hoa 
Sep 28th 2019

***
Mọi Sự Không Trường Cữu

Hồi nhớ thuở xưa nhộn nhịp hò,
Giờ đây buông thỏng có chi lo.
Rộn ràng sắc mộng lòng thôi nghĩ,
Lắng đọng màu mơ ý chẳng dò.
Nửa giấc nên thơ đành xếp vận,
Một dòng lờ lững thả trôi đò.
Phú, quyền, danh, lợi chăng gì cả,
Không có có không ẩm hoá tro.

Đặng Xuân Linh
***
Hiện Thực

Hốt cuộc tình tàn đốt bụi tro?
Làm sao có thể cuốn âu lo?
Trần gian chẳng khác giòng nước xiết
Vạn vật hình như những chuyến đò
Quá khứ luân hồi làm sao biết?
Tương lai họa kiếp dễ chi dò?
Này đây hiện tại là chân thực
Sống khỏe đùa vui với hát hò 

Bảo Trâm 
***
Cái nợ Yên Hoa

Tìm vui tiếng hát với câu hò
Cái nợ yên hoa quẳng mối lo
Một mảnh tình si khi đã gặp
Đôi tay xiết chặt dặn nhủ dò
Lời hay ý đẹp câu thơ tuyệt
Điệp khúc bài ca trang hát show
Chia sẻ trong làng thơ với bạn
Mặc đời tỵ nạn xám màu tro...

Uyên Quang
Santa Clara, 28-9-2019


Một Thoánng Chiều Xưa


Đầu Thu nhóm Câu Lạc Bộ Văn Học Nghệ Thuật Paris họp mặt, những áng văn thơ và nhạc quyện nhau thành bản giao hưởng Thu. Những khuôn mặt như Phương Du, Quỳnh Liên, Lê Mộng Nguyên, Phạm Đình Liên,Từ Trì, Trịnh Khải, Đỗ Bình, Trần Văn Cảnh, Phan Khắc Tường, Nguyễn Bá Linh, Nguyễn Lương Thận, Nguyễn Thanh; Từ Lan Hương, Mây Thu, Bạch Sương , Cao Lan Hương, Minh Cầm, Thúy Hằng, Tuyết Mai..vvv.. Đỗ Bình, Phương Du, Quỳnh Liên đọc thơ, Lê Mộng Nguyên, Phạm Đình Liên cho nghe những sáng tác mới...

Paris vào cuối thu tiết trời se se lạnh những chiếc lá vàng rơi bay trong gió như đàn bướm lượn.Ở một góc trời thuộc ngoại ô Paris trong căn nhà của anh chị BS Phạm Đăng Thiện & Minh Châu đã hội nhnững tâm hồn nghệ sĩ tìm đến nhau tạo thành một khoảnh không gian nhỏ để hơ ấm tình tha hương với những khuôn mặt : nhạc sĩ Jules Tâm bicannou, nhạc sĩ Đào Tuấn Ngọc , nhạc sĩ Hồng Anh, nhạc sĩ Văn Tấn Phước, nhạc sĩ Hoàng Hoa đến từ Ý, nhạc sĩ Nguyễn Minh Châu, nhạc sĩ Linh Chi..vv..Tiếng thơ, tiếng dương cầm và tiếng hát hòa nhau làm thổn thức tình quê hương. Bài thơ Xuân Muộn của tôi đưọc anh Đào Tuấn Ngọc phổ cách nay 22 năm được trình bày ở hội trường Quốc Tế Paris do chính tác giả đệm dương cầm và Phạm Đăng trình bày. 

Xuân Muộn

Em thường hỏi mùa xuân sao chẳng đến?
Ta ngại ngùng khơi động đáy niềm đau.
Trời vào thu Paris nắng lên màu,
Như lấp lánh cả Sài Gòn trìu mến.
Em muốn hỏi mùa xuân sao chớm lạnh?
Ta vội vàng thay chiếc áo mùa đông.
Nhìn sông Seine nghe sóng vỗ trong lòng.
Theo dòng nước chảy về miền cô quạnh.
Em vẫn hỏi mùa xuân sao quá chậm?
Ta gục đầu xin xám hối thời gian.
Trời Đông Âu hoa đã hết muộn màng.
Vo nắm tuyết biết xuân về hừng sáng..

Chiều nay trong căn phòng ấm cúng này ca khúc phổ thơ lại đưọc tiếng hát vút cao của Ngọc Ánh phu nhân của Đào Tuấn Ngọc trình bày, và tiếng dương cầm vẫn là Đào Tuấn Ngọc. Một bất ngờ kế tiếp, bài thơ Khách Quê của tôi do anh Phạm Đăng phổ vào tháng 9 năm nay và chiều nay được chính tác giả đệm dương cầm và trình bày ca khúc làm xao xuyến những kỷ niệm về khung trời Đà lạt vì có một thời những người hiện diện ghi dấu chân trên miền cao nguyên xứ lạnh.

Cao Nguyên Xứ Lạ

Ta về nghe núi rừng than thở!
Liễu rũ bên hồ dáng xác xơ...
Chiều xuống sương mù giăng bóng nước,
Dốc buồn, nắng nhạt, gót bơ vơ!
Có phải xa lâu nên phố lạ?
Mà sao người cũ lại ơ hờ!
Giang tay ôm mối sầu quê mẹ
Phố nhỏ năm xưa đã hững hờ!

Bài thơ khác: Bên Em Chiều Mơ, do Văn Tấn Phước phổ và trình bày 

Bên Em Chiều Mơ

Ta ngắt hoa cài mái tóc em,
Tìm dư hương cũ thuở êm đềm.
Gọi mùa xuân đến ôi xa quá!
Vạt nắng hanh chiều theo gió lên.
Ta thích xuân về trong mắt em,
Ngăn ngày tháng úa rụng bên thềm,
Cho ta dừng bước chân luân lạc,
Trả gánh phong trần bên dáng em.
Ta muốn tìm quên trong mắt em,
Ru đời say đắm nụ môi mềm,
Buông suôi dĩ vãng thành mây khói,
Mặc ánh sao trời đua bóng đêm!
Ta cố tìm vui trong ý thơ, 
Nhặt sầu quăng xuống đáy mong chờ,
Bỏ rơi ảo mộng vào quên lãng,
Rồi tự ôm tim khóc chiều mơ.

Tôi rất vui được những món quà tinh thần chia sẻ những cảm xúc nghệ thuật của bằng hữu. Về nhà mở PC lại được nghe một nhạc phẩm mới của mình bài Em Còn Trong Thơ tôi viết, được ca sĩ Hồng Liên trình bày, người mà tôi chưa bao giờ được gặp mặt! Tiếng hát đượm chất buồn xa vắng hòa giai điệu thêm chất thơ. 

Đỗ Bình

Thứ Hai, 9 tháng 12, 2019

Nụ Cười Mùa Xuân - Thơ Quách Như Nguyệt - Nhạc Nguyễn Tuấn


Thơ: Quách Như Nguyệt 
Nhạc: Nguyễn Tuấn  
Tiếng Hát: Hà Huệ Mẫn
Thực Hiện: Đặng Hùng


Ẩn Mình


Sao em không ẩn mình
Nơi con tim của anh
Ẩn chi nơi ngoại vật
Khiến anh hóa vô tình

Tim anh vẫn rung động
Mỗi khi em chuyển mình
Lòng anh vẫn hồi hộp
Khi mắt em nhìn anh

Bông vàng đà héo rũ
Như Thiên Thần ngủ quên
Anh ướp vào trang sách
Quên thế giới ưu phiền.

Locphuc.

Có Nhau Trong Đời



Gặp gỡ cho đời bớt lẻ loi
Hàn huyên chia sẻ nỗi đầy vơi
Sơ giao mà tưởng chừng như đã
Bạn tác cố tri thân thiết rồi
Sương tuyết điểm tô ngời mái tóc
Yêu thương lắng đọng thắm bờ môi
Thời gian gõ nhịp âm thầm bước
Vui sống bên nhau vẹn tuổi trời

Yên Nhiên

Đoản Khúc Phượng



Bài Xướng:

Đoản Khúc Phượng


Người giữ hộ tôi cánh Phượng hồng
Giữ lòng xao động giữ hoài mong
Biển đời xuôi ngược như con nước
Hãy giữ cho nhau một tấm lòng


Kim Phượng

Ngày Đầu Hè Úc Châu
***
Bài Họa và Cảm Tác:


Người ơi cánh Phượng mãi tươi hồng
Nhớ lắm mùa hè rộn ước mong
Lỡ dở câu thề non với nước
Tình xưa cách biệt vẫn ghi lòng…


dovaden2010
***
 Ánh phượng bừng lên dưới nắng hồng
Màu hoa đỏ thắm vẫn chờ mong
Đời ta bị cuốn theo giòng nước
Tình cũ còn in đậm đáy lòng.


Chinh Nguyên/H.N.T
 Dec.1.2019
***
 Cánh Phượng Hồng

Đường xưa cánh phượng vẫn luôn hồng
Khép mở khung trời những đợi mong
Giữa biển đời trôi nghìn ngọn sóng
Màu hoa vẫn thắm đượm trang lòng.


Mai Thắng
 191201
***
 Tình Khúc Phượng

Rộn ràng phố hạ điểm tô hồng
Hái đóa phượng đầu thổn thức mong
Ấp ủ trao tay người gối mộng
Vẹn tình thỏa ý đẹp đôi lòng. 


Kim Oanh
***
 Tình Xa

Gió lướt bên song nhạt nắng hồng
Đông về tuyết giá vẫn chờ mong
Thương người lẻ bạn ngoài sương gió
Sưởi ấm trong tim ngập cõi lòng.


Kim Dung
***
 Tôi giữ hộ em cánh Phượng hồng
Giữ lòng chân thật nghĩa tình trong
Bến đời xuôi ngược theo cơn nước
Giữ cánh Phượng hồng, giữ ước mong.


Anh Lam
***
 Hoa Học Trò

Tim ta còn thắm, dạ vẫn hồng
Dù đã lâu rồi không chờ mong
Nhưng tiếng ve ngân mầu Phượng nhớ
Mái trường xưa in mãi nơi lòng


Locphuc

***
 Tiếng Ve Ngày Cũ

Đã từ bao lâu chẳng nhớ mong
Ký ức nhòa phai những bóng hồng
Rồi bỗng ve sầu kêu thảng thốt
Khơi dậy xôn xao tiếng sóng lòng


Yên Nhiên 
 

Đài


Tiện đây xin một hai điều,
ÐÀI GƯƠNG soi đến dấu bèo cho chăng?

Đó là lời nói khéo léo ga-lăng của Kim Trọng khi tỏ tình với Thúy Kiều. Kim ví Kiều như là ĐÀI GƯƠNG SEN ở trên cao, còn mình chỉ là những dấu bèo nhỏ nhoi trôi nổi ở bên dưới. "Nịnh đầm" đến thế là cùng. Chả trách cô Kiều nhận lời ngay, nhưng vẫn còn e ngại mà "đổ thừa" rằng : 

Đã lòng quân tử đa mang,
Một lời dâng tạc đá vàng thủy chung.

... và khi cả nhà Vương Viên Ngoại đi mừng thọ ngoại gia, chỉ còn có một mình Thúy Kiều ở nhà, thì nàng cũng đã nhân cơ hội nầy mà cùng với Kim Trọng thề nguyền gắn bó. Khi nàng đến tìm Kim thì chàng đã:

Vội mừng làm lễ rước vào,
ĐÀI SEN nối sáp, lò đào thêm hương.
Tiên thề cùng thảo một chương,
Tóc mây một món dao vàng chia đôi!


ĐÀI SEN là cái giá có hình hoa sen để cắm đèn cầy, đèn sáp.
ĐÀI GƯƠNG còn là ĐÀI GƯƠNG SOI như trong bài kệ của nhà sư Thần Tú đời Tống:

Thân tự bồ đề thọ,                 身似菩提樹,
Tâm như minh Kính Đài.      心如明鏡台. 
Thời thời thường phất thức,   時時勤拂拭, 
Mạc sử nhạ trần ai.                莫使惹塵埃.

Có nghĩa:
Thân bền vững tựa như cây bồ đề, còn lòng thì trong sáng như ĐÀI GƯƠNG soi. Lúc nào cũng siêng năng lau phủi, không để cho nhuốm phải bụi trần.

Thân như cây bồ đề,
Lòng tựa Đài Gương soi.
Siêng năng thường lau phủi,
Không để nhuốm trần ai!

Nhưng Lục Tổ Huệ Năng đã chỉnh lại rằng:

Bồ đề bổn vô thọ,           菩提本無樹,
Minh kính diệc phi Đài, 明鏡亦非台,
Bổn lai vô nhất vật,       本來無一物,
Hà xứ nhạ trần ai?       何處惹塵埃?

Có nghĩa:
Vốn chẳng có cây bồ đề nào cả, cũng không có đài gương nào hết, vốn dĩ chẳng có vật gì cả, thì lấy đâu mà nhuốm bụi trần ai?

Không bồ đề nào cả,
Cũng chẳng có Đài Gương,
Vốn không vật gì cả,
Lấy đâu nhuốm bụi đường? 


Sau ĐÀI GƯƠNG ta còn có từ PHẬT ĐÀI, là cái đài cao có hình đức Phật đứng hoặc ngồi trên đó. Khi sư Giác Duyên đưa cả nhà đến gặp mặt Thúy Kiều ở thảo am thì "Nỗi mừng biết lấy chi cân? Lời tan hợp chuyện xa gần thiếu đâu!" và sau khi "Hai em hỏi trước han sau, Đứng trông chàng cũng trở sầu làm tươi", thì cả nhà mới:

Quây nhau lạy trước PHẬT ĐÀI,
Tái sinh trần tạ lòng người từ bi. 

Trong bài DƯƠNG ta đã có từ DƯƠNG ĐÀI là tích của Sở Vương và Vu Sơn Thần Nữ theo như bài Cao Đường Phú của anh chàng đẹp trai Tống Ngọc; nhưng trong Bích Câu Kỳ Ngộ thì lại gọi là ĐÀI DƯƠNG như hai câu sau đây :
Kìa ai mê giấc ĐÀI DƯƠNG,
Mây mưa là chuyện hoang đường có đâu!

Còn ĐÀI LÂN là Kỳ Lân Đài 麒麟臺 cùng với Lăng Yên Các 凌 煙 閣 là nơi vua Đường Lý Thế Dân cho họa sĩ vẽ hình của 24 người có công giúp vua lập nên nhà Đường đem treo ở nơi đây để ghi nhớ công lao của họ. Trong nguyên bản chữ Hán Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn câu 447-448 ghi :

凌 煙 閣兮秦 叔 寶, Lăng yên các hề Tần Thúc Bảo, 
麒 麟 臺兮霍 嫖 姚. KỲ LÂN ĐÀI hề Hoắc Phiêu Diêu*
(* Hoắc Phiêu Diêu trong truyện Thuyết Đường gọi là Uất Trì Cung 尉遲恭).

Hai câu thơ trên đã được nữ sĩ Đoàn Thị Điểm diễn nôm một cách rất tài tình là : 

Tài so Tần , Hoắc vẹn tuyền 
Tên ghi gác khói, tượng truyền ĐÀI LÂN.

Lăng Yên Các và Kỳ Lân Đài

Trong Văn Tế Chiến Sĩ Trận Vong của Nguyễn Văn Thành cũng có nhắc tới GÁC KHÓI ĐÀI MÂY:

Phận dù không GÁC KHÓI ĐÀI MÂY;
Danh đã dậy ngàn cây nội cỏ.

ĐÀI MÂY là Vân Đài 雲臺, là nơi Hán Minh Đế treo tranh của hai mươi tám vị công thần của nhà Hán để tưởng nhớ đến công lao của họ. Trong văn học cổ thường dùng để ví cái vinh dự cao nhất của kẻ bề tôi hết lòng với vua dưới thời phong kiến.

Ta còn có từ ĐÀI NGÂN tức là Ngân Đài 銀臺, vốn là tên riêng để gọi mặt trăng, nhưng căn cứ vào câu :"Sính Vương Mẫu vu Ngân Đài hề, tu ngọc chi dĩ liệu cơ 聘王母于银台兮,羞玉芝以疗饥。" Có nghĩa : "Mời Vương Mẫu ở Ngân Đài, dùng mè ngọc để đỡ đói" (Ngọc Chi là "Mè ngọc" có thể là một cách để gọi "hạt gạo" mà ta đang ăn). Đó là một câu trong bài "Tư Huyền Phú 思玄赋" của Trương Hành đời Đông Hán, nên sau nầy thường dùng Ngân Đài hay "ĐÀI NGÂN" để chỉ chỗ ở của các nàng tiên. Như trong Truyện Tây Sương có câu :
Trên thì chễm chệ ĐÀI NGÂN,
Mấy lời dạy bảo mười phần đinh ninh.

Còn ĐÀI THIÊNG là do chữ Nho là LINH ĐÀI 靈臺 theo tích của một thi nhân đời Đường như sau :

BÙI ĐỘ (756-839), đại thần nhà Đường, tự là Trung Lập, người đất Văn Hỉ Huyện Hà Đông, nay thuộc tỉnh Sơn Tây. Ông đậu tiến sĩ năm Trinh Nguyên đời Đường. Lúc ấy phiên trấn làm loạn, triều đình thảo phạt mấy lần đều thất bại, nên triều thần đều muốn bãi binh, duy chỉ có Bùi Độ là muốn đánh tới cùng. Tướng Phiên là Ngô Nguyên Tế phái người hành thích ông nhưng không chết. Sau ông được thăng làm Tể Tương. Năm Nguyên Hòa thứ 12, ông xua quân công phá Thái Châu, bắt sống Ngô Nguyên Tế. Các phiên trấn Hà Bắc kinh sợ đều về qui phục triều đình. Ông lập công to, nên nhiều người dèm xiểm hãm hại, nhiều lần bị biếm xứ xa. Về già, vì hoạn quan chuyên quyền, nên ông xin về hưu ở đất Lạc Dương, thường cùng ngâm vịnh với Bâch Cư Dị, Lưu Vũ Tích. 
Dưới đây là bài đề từ của ông đề dưới bức chân dung của mình, lời lẽ khiêm tốn nhưng lại rất tự hào về phẩm chất hơn người của mình:

爾才不長,爾貌不揚,胡為乎將?胡為乎相?一點靈臺,丹青莫狀!Nhĩ tài bất trưởng, nhĩ mạo bất dương, hồ vi hô tướng ? Hồ vi hô tướng* ? Nhất điểm LINH ĐÀI, đan thanh mạc trạng !
(* Có 2 chữ TƯỚNG : 將nầy là TƯỚNG QUÂN 將軍; Còn 相 nầy là TỂ TƯỚNG 宰相)

Có nghĩa:
Tài của ngươi không giỏi, tướng mạo cũng bình thường, sao lại có thể làm tướng quân ? Sao lại có thể làm Tể Tướng ? Chỉ còn một điểm tâm linh thần thái (hơn người của ngươi) mà nét đan thanh không thể nào vẽ nên được!

Nên LINH ĐÀI hay ĐÀI THIÊNG còn dùng để chỉ con tim, tấm lòng thanh cao trong sạch vượt trội hơn người khác, như trong truyện Nôm Hoa Tiên Ký của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện :

Đeo đai trót một tiếng đà,
ĐÀI THIÊNG hổ có trăng già chứng lâm.

Cũng trong Hoa Tiên Ký của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiên, ta còn bắt gặp từ ĐÀI XUÂN, là ĐÀI trồng cây XUÂN 椿. Theo sách Trang Tử, chương Tiêu Dao Du, thì XUÂN 椿 là loại cây cao bóng cả, tàng lá sum xuê, có tám trăm năm là mùa xuân, tám trăm năm là mùa thu, nên được dùng để ví với người cha là cột trụ chống đỡ và che chở cho gia đình :

Vào hầu lạy trước ĐÀI XUÂN,
Hương đưa chén rót, gấm nhuần tiệc cao.

Ngoài ra, ta còn có các từ như DẠ ĐÀI 夜臺, TUYỀN ĐÀI 泉臺 đều chỉ nơi mộ địa chôn người chết, dùng rộng ra có nghĩa là Âm Phủ như các từ Suối Vàng (hoàng tuyền 黃泉), Chín Suối (cửu tuyền 九泉) vậy. Cụ thể là:

* TUYỀN ĐÀI 泉臺 : là Cái Đài có Suối chảy. Vốn là tên một cái đài cao do Lổ Trang Công đời Xuân Thu xây dựng nên. Sau dùng để chỉ lăng mộ và mộ huyệt, đến đời Đường do hai câu trong bài thơ "Lạc Đại Phu Vãn Từ" của Lạc Tân Vương 駱賓王〈樂大夫挽詞〉một trong Tứ kiệt buổi sơ Đường là: 

忽見泉臺路, Hốt kiến TUYỀN ĐÀI lộ,
猶疑水鏡懸。 Do nghi thủy kính huyền.
Có nghĩa:
Chợt thấy ngõ TUYỀN ĐÀI,
Còn ngờ treo kính nước.

Nên TUYỀN ĐÀI còn có nghĩa là Âm ty Địa phủ, nơi của người chết phải đi về. Như khi nhờ Thúy Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng xong, Thúy Kiều đã than rằng :

Nợ tình chưa trả cho ai,
Khối tình mang xuống TUYỀN ĐÀI chưa tan !

* DẠ ĐÀI 夜臺 : là cái Đài về Đêm. Đài ở đây chỉ Lăng mộ người chết, nên kín mít bít bùng không có ánh sáng như là ban đêm vậy. Nên dùng rộng ra để chỉ cỏi âm, nơi mà tất cả người chết đều phải đi về nơi đó, như trong bài "Khóc Tuyên Thành Thiện Nhưỡng Kỷ Tẩu" ( Khóc ông lão chuyên ũ rượu ở Tuyên Thành) của Thi Tiên Lý Bạch 唐李白在《哭宣城善酿纪叟》có câu :

夜臺無曉日, DẠ ĐÀI vô hiểu nhật,
沽酒與何人? Cô tửu dữ hà nhân? 

Có nghĩa:

DẠ ĐÀI không ánh ban mai,
Muốn đi mua rượu ai người uống cho?

Trong Truyện Kiều, khi bán mình chuộc tội cho cha, Thúy Kiều đã trối lại với Thúy Vân về mối tình của mình với Kim Trọng rằng:

Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.
DẠ ĐÀI cách mặt khuất lời,
Rải xin giọt mước cho người thác oan.

... và khi Kim Trọng trở lại vườn Thúy để tìm Kiều, thì Vương Ông đã kể lể với chàng rằng :

...Kiếp này duyên đã phụ duyên,
DẠ ĐÀI còn biết sẽ đền lai sinh.
Mấy lời ký chú đinh ninh,
Ghi lòng để dạ cất mình ra đi.
Phận sao bạc bấy Kiều nhi...
Chàng Kim về đó, con thì đi đâu ?!!!

Đỗ Chiêu Đức

Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2019

Vá Khâu Nỗi Buồn - Thơ PhamPhanLang - Nhạc Vĩnh Điện - Tiếng Hát Vân Khánh


Thơ: PhamPhanLang 
Nhạc: Vĩnh Điện 
Tiếng Hát: Vân Khánh


Về Thăm Trường Cũ


Về thăm trường cũ phượng tàn rơi
Áo trắng Văn Khoa khuất nẻo rồi
Kỷ niệm ngày xưa giờ mất dấu
Khung trời mộng ước đã xa tôi
Mấy năm đại học ngồi chung lớp
Nay ở phương nào thương nhớ ơi!
Dâu bể qua rồi sao cách biệt ?
Về đâu man mác giữa dòng đời?!!


Kim Dung 
6/12/2019


Con Đường Trong Mưa



Con đường trong mưa
Lá thu vừa chớm xôn xao
Nắng phơn phớt nắng hương ngào ngạt hương
Mà sao đời lại vô thường
Làm mưa ướt cả con đường em đi?
(Con Đường Trong Mưa? /DP-hn)

Đường em đi ướt không anh?
Mưa Thu rơi nhẹ thêm xanh tóc mềm.
Gót ngà kịp bước lên thềm,
Vòng tay tròn mộng êm đềm trong nhau.
Tim hồng hoà nhịp xôn xao,
Ngất ngây hương ngát du vào Thiên-thai.
Cầu cho mưa mãi mưa hoài,
Đường về ướt áo một mai anh đền.

ChinhNguyen/H.N.T.
 Sept.15.19

Nhìn Lại Bóng Không



Theo anh suốt vạn dặm dài
Con đường phía trước có cài ngải mê!!!
Theo anh trùng điệp sơn khê
Đất trời bịn rịn đường về sơ hoang

Theo anh nến lụn hương tàn
Mỏi mê thả cái hồng nhan cuối ghềnh
Chân mòn nặng bước chông chênh
Guốc rền cọ đá thân rên rả rời

Đồi cao rừng thẳm biển khơi
Theo anh thoắt rụng nửa đời lưu vong
Giật mình nhìn lại bóng không
Áo lem lấm tấm bụi hồng trăng soi

Theo anh mòn láng cuộc đời
Đêm ngồi đồng thiếp ngày thôi miên dài
Bỏ thiền quên kiếm Bản Lai
Xóa luôn công án là Ai ? Ta Là....

Trang kinh vô tự hiện ra
Anh là cái Ngã. Ta là Vô Minh

Kiều Mộng Hà
Mar 01-2019
***
Bể Khổ 

Luỵ anh gối những đêm dài
Mê mê tỉnh tỉnh như cài bùa mê
Hỡi người vạn dặm núi khê
Có nhìn khói thuốc mơ về chiều hoang

Luỵ anh hương nhạt sắc tàn
Gương thôi soi bóng diện nhan thả ghềnh
Nỗi buồn cõng gánh nghiêng chênh
Bám theo những phút đau rên chẳng rời

Hồn sầu như sóng dạt khơi
Mênh mông biển cả vá tình thương vong
Mù sương trôi dạt cõi không
Lạc vườn hoa dại tình hồng nắng soi

Nhớ anh dệt mộng chân trời
Xuân Thu mây lượn lã lơi ngày dài
Quên rồi diện mục tương lai
Hồng trần tham đắm khổ ai _ ? thế là ...

Thiền tâm định quán lần ra
Anh gieo cái nghiệp .Ta đà u minh 

Minh Thuý
12/2019

Võng Lọng


Nói tới Võng Lọng là người ta nghĩ tới Quan Quyền, Quí Tộc! Nhưng thực ra hai tiếng võng lọng chỉ nói lên sự sang cả mà thôi! Điều tôi nghĩ tới võng lọng là đám rước, lễ hội, lễ đình đầu năm!

Tôi nghĩ tới phương tiện di chuyển của người trên, người có quyền là võng, sau nữa là Kiệu, sau cùng là du thuyền, thuyền Rồng!
Địa chủ và lý dịch trong làng, tổng thì chỉ dùng võng đi trong tổng, lên huyện!

Sau này người ta giầu lên, bèn có võng điều , đòn võng trạm trổ, và…Võng có 4 phu khiêng cho êm! 
Có lẽ cái cáng cũng là cái võng cải tiến cho vững chắc hơn ( ó lẽ chở được 2 người )

Quan võ thì cũng đi võng thôi bởi vì các ông không thể đi nhanh trước đoàn quân, trừ trường hợp đại tướng Nguyễn tri Phương phải phi ngựa cho nhanh để vào Gia Định điều động quân sĩ cho trận chiến cự kỳ quan trọng!
Tôi lại phải nhấn mạnh là người Việt mình chậm biết dùng ngựa, và ít dùng ngựa.

Lê Lợi vớ được một số ngựa của người Minh (500 con), ngài không biết dùng làm gì, nên đem thả chúng vào Hóa Châu cho chúng vào rừng chơi(?)
Có lẽ các tỉnh miền ngược phía Bắc Bộ biết tới con ngựa khi những tên giặc cỏ đệ tử Hồng Tú Toàn chạy sang ta … và sau này được biến thành những chú ngựa thồ! Sau nữa, khi người Pháp tới thì ta mới có ngưa hay: ngựa Phú Yên và vùng Sài Gòn!

Tôi cũng phải nói nhanh kẻo mất phần là xe ngựa phát triển ở thời đại cực kỳ tiến bộ !Bởi không có cao su thì xe ngựa sẽ chậm hơn xe bò (đó là chưa kể qua khỏi kinh đô hơn 10 cây số thì làng nào cũng có lỗ lội, vũng lội)

Cái con đường Thiên Lýí của các cụ nó chỉ rộng 5 thước ta, tức 2m thôi!!! Mỗi lần hành quân xa, hoặc Vua, Đại Thần đi kinh lí thì trước đó đã phải sai lính và dân phu phát cây mở đường, vì tuổi thọ của những con đường đó không qua khỏi một mùa mưa mà cây đã lấn hết đường!!!)


Tại Kinh Đô thì Vua, Hậu, Hoàng Thân Quốc Thích đi Kiệu (Nói đến Kiệu thì tôi lại mắc cười cái anh chàng này đi như… rùa bò! Không phải chủ nhân của nó rỗi hơi đâu! Mà những ông bà này rất ư khoái đi … nhàn tản! Và khoái ngồi trang trọng khi thăm nhau hoặc đi lễ đình, đền. cái kiệu này có lẽ cũng nhiều cải tiến lắm: chạm trổ, che lọng … và buông rèm!), Thuyền Rồng, thuyền cực kỳ sang trọng … đều có phép tắc cả! Triều Đình đặt lệ: Hậu, Phi, Tần… ngồi thuyền thì sẽ có 8 hoặc 10 hoặc 12 cung nữ kéo! Thế đấy! Người ta ròng dây để các cung nữ kéo mấy bà đi thưởng ngoạn ven sông nhỏ và các hồ như Hoàn Kiếm, Hồ Tây!

Những cái thuyền, Kiệu sang trọng này không phải ai tùy tiện đóng cũng được! Những người, những làng làm nghề này, tôi rất thắc mắc , sẽ trả lời quí vị vào một dịp khác, là những làng này xưa ở Bắc Ninh , Hải Dương sau mới di cư đi Hà Nội(?!)

Tóm lại, cái trò ăn chơi, xài sang, quí (sờ ) tộc, sang cả! của người xưa cũng công phu và thú vị lắm đấy! Tôi truy tìm nghiên cứu cũng đổ mồ hôi hột nhiều và tất nhiên cũng cò nhiều điều chưa giải quyết được.

Dù người trên muốn bắt dân phu bao nhiêu, muốn ra lệnh cho làng nghề tùy ý. Nhưng với những người như Trịnh Sâm (đầy tham vọng ) thì Ngài cũng … chưa vừa ý đâu!!!

Chân Diện Mục