Thứ Năm, 30 tháng 4, 2026

Xuân Dạ Lạc Thành Văn Địch 春夜洛城聞笛 - Lý Bạch 李白 (Thịnh Đường)


(Bát Sách biên soạn)

Đêm Buồn

Tháng tư, năm 1975, tôi đang phục vụ tại Trung Tâm IV Hồi Lực, Cần Thơ, với chức vụ Chỉ Huy Phó kiêm Trưởng khối chuyên môn. Ngày 30/04/1975, vì BS Tô Văn Nghiễn về Sài Gòn, tôi xử lý thường vụ Chỉ huy trưởng, vẫn đi làm việc như thường lệ, cùng anh bạn sau tôi một khoá là BS Trần Cao Thăng. Lúc 10 giờ, Dương Văn Minh đọc thông điệp đầu hàng trên đài phát thanh, tôi tập họp thương binh, tuyên bố rã ngũ, ai lo phận nấy. Nhìn bệnh nhân của mình, kẻ què, người cụt, vết thương chưa lành, đi chân hoặc nạng, thất thểu ra cổng trại, tôi không sao cầm được nước mắt, khóc cho đồng đội, cho gia đình và cho chính mình.... Tương lai nào biết ra sao. Sau đó, Thăng và tôi đi tìm đường chạy. Vì có bạn là Nha Sĩ Trần Văn Bé ở căn cứ hải quân Bình Thuỷ, Cần Thơ, tụi tôi được gửi lên mấy chiếc tầu há mồm, theo giòng Hậu Giang ra biển. Tầu chìm, được tầu Song Long của Đại Hàn vớt, ghé Thái Lan, rồi chở về trại tị nạn ở Phú San, ngày 21/05/1975.

Trong thời gian ở trại, tôi cũng có nhiều việc, khám tại bệnh xá, phân chia đồ cứu trợ, làm thông dịch viên, một mối tình Hàn Việt thơ mộng và lãng mạn. Những chi tiết vui buồn, gian lao khổ sở, nhục nhằn đã được kể trong bài Phú San, đăng trên Tập SanY Sĩ. Trại gần 2000 người, tôi đã biết trước một số nhỏ như BS Trịnh Cao Hải, và phu nhân là chị Mộng Ngọc, giáo sư, hỏi vấn đáp khi tôi thi tú tài, các đồng nghiệp khác như các BS Lê Dư Khương, Phó Đức Mùi, Nguyễn Văn Thạnh, Dương Hồng Huy, Trần Cao Thăng, Lê Lữ, Lê Thiện Nhân... Bạn mới, tôi cũng có thêm, như Hoàng Văn Thuận, Nguyễn Văn Điềm, Lê Khuê Hào, Trịnh Thiếu Sinh...Trong số bạn mới, tôi nhớ nhất là một anh lính hải quân, tên thật là gì, tôi không biết, anh xưng là Kim Chi. Số là khi đó, Tổng Thống Phác Chính Hy nuôi dân tỵ nạn bằng mì luộc và kim chi, món ăn bình dân nhưng độc đáo của Hàn Quốc, và bạn tôi lấy nó làm tên của mình.

Kim Chi hiền lành, nói chuyện vui vẻ, đặc biệt là rất nghệ sĩ, anh biết hát và thổi sáo. Chẳng hiểu sao, anh ngoại giao, anh xin được một ống nhựa bao giây điện, rồi mầy mò làm thành ống sáo. Từ đó, tối nào, tụi tôi cũng theo Kim Chi, nghe anh trổ tài, mang theo chút kẹo hoặc thuốc lá để trợ hứng. Khi ngồi cả đám thì không sao, nhưng lâu lâu, có những đêm khuya mất ngủ, nằm trằn trọc, mà nghe văng vẳng tiếng sáo của Kim Chi, thổi những bài như Lòng mẹ, Con thuyền không bến, thì kẻ vong quốc, tha hương, nhớ cha mẹ, nhớ nhà, ai mà không rơi nước mắt.

Lúc đó, trên người chỉ có một bộ quần áo, làm gì ra sách vở, nhưng còn nhớ được mấy bài thơ Đường, bèn tìm một bài hợp tình, hợp cảnh, đem ra dịch cho qua thì giờ. Đó là bài:

春夜洛城聞笛    Xuân Dạ Lạc Thành Văn Địch
李白                      Lý Bạch

誰家玉笛暗飛聲 Thuỳ gia ngọc địch ám phi thanh,
散入春風滿洛城 Tán nhập xuân phong mãn Lạc thành.
此夜曲中聞折柳, Thử dạ khúc trung văn chiết liễu,
何人不起故園情 Hà nhân bất khởi cố viên tình.

Nghĩa:

Đêm xuân, ở Lạc Dương, nghe tiếng sáo.

Tiếng sáo ngọc nhà ai thoảng bay,
Tan vào gió xuân, đầy thành Lạc Dương.
Đêm nay, nghe điệu bẻ liễu trong khúc sáo, (Điệu bẻ liễu là điệu biệt ly)
Ai là người không dậy lên mối tình nhớ vườn xưa.

Dịch thơ:

Đêm Xuân,  Lạc Dương, Nghe Tiếng Sáo.

Nhà ai tiếng địch thoảng bay,
Quyện vào trong gió, tan đầy Lạc Dương,
Nghe câu ly biệt đêm trường,
Ai người chẳng thấy nhớ thương quê nhà.

Đây là một bài trung trung của Lý Bạch, tôi thích chỉ vì nó nói đúng tâm trạng của mình, Nhưng xét cho cùng, thì thấy câu thứ 2 sao hay lạ lùng, tiếng sáo mà tan vào gió xuân, bay đầy thành phố, thì chỉ có Lý mới viết nổi.
Hồi ở Phú San, câu chót tôi dịch là: Ai người chẳng nhớ cố hương xa vời. Nhưng tôi có lây bệnh Thôi, Xao của Giả Đảo, nên đã sửa lại như trên, mong các bạn cho ý kiến.

Tôi viết bài này vì sắp tới ngày Quốc hận, và cũng để gợi ý cho anh Bảo, dù anh lúc nào cũng có quá nhiều ý kiến.

Nguyễn Thanh Bình( Bát Sách)
***

Nhà ai sáo ngọc thoảng bay nhanh
Nương gió xuân loang khắp Lạc thành.
Khúc sáo lắng nghe như "Chiết Liễu”
Hỏi ai chẳng nhớ đến quê mình

Con Cò
***

Đêm Xuân Ở Lạc Thành Nghe Sáo.

Nhà ai sáo vọng suốt canh trường,
Quyện gió xuân bay khắp Lạc Dương.
Khúc nhạc đêm nay nghe " Bẻ Liễu,"
Người nào chẳng nhớ tới quê hương.

Mỹ Ngọc.
Apr. 14/2026
***
Đêm xuân nghe sáo trong thành Lạc Dương

Sáo ngọc nhà ai thoảng tiếng bay
Gió xuân mang rải Lạc Dương đầy
Đêm nay Chiết Liễu chìm trong nhạc
Ai chẳng chạnh lòng chốn cũ đây?


Lục bát


Nhà ai sáo ngọc thoảng bay
Gió xuân chuyên chở rắc đầy Lạc Dương
Điệu nghe Chiết Liễu đêm trường
Ai người mà chẳng nhớ thương quê nhà?


Lộc Bắc
Mars2019
***

Tiếng sáo đêm xuân ở Thành Lạc Dương

Vi vu tiếng sáo vọng nhà ai
Theo gió mùa xuân dìu dặt bay
“Chiết liễu” Lạc Dương vang điệu nhạc
Quê hương nỗi nhớ thiết tha đầy

Thanh Vân
***
Đêm Xuân Nghe Sáo  Thành Lạc Dương

Canh trường tiếng sáo nhà ai
Quyện nương theo gió xuân bay Lạc thành
Nghe câu ly biệt đêm thanh
Mấy ai sao nở quên đành quê hương.

Kim Oanh
***


Nguyên tác: Phiên âm:

春夜洛城聞笛-李白 Xuân Dạ Lạc Thành Văn Địch - Lý Bạch


誰家玉笛暗飛聲 Thùy gia ngọc địch ám phi thanh
散入春風滿洛城 Tán nhập xuân phong mãn Lạc thành
此夜曲中聞折柳 Thử dạ khúc trung văn Chiết Liễu
何人不起故園情 Hà nhân bất khởi cố viên tình

Bài thất ngôn tứ tuyệt này được viết vào năm Đường Huyền Tông Khai Nguyên thứ 23 (năm 735) khi Lý Bạch viếng thành Lạc Dương. Có mộc bản trong các sách:

Lý Thái Bạch Văn Tập - Đường - Lý Bạch 李太白文集-唐-李白
Thi Lâm Quảng Ký - Tống - Thái Chánh Tôn 詩林廣記-宋-蔡正孫
Đường Thi Phẩm Vị - Minh - Cao Bính 唐詩品彙-明-高棅
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐詩-清-聖祖玄燁

Giải nghĩa chữ khó:

Lạc Thành: thành phố Lạc Dương, tỉnh Hà Nam, một thành phố rất thịnh vượng trong thời nhà Đường, kinh đô cổ kính của Trung Hoa ngày xưa, còn được gọi là Đông Đô.
Văn địch: Vào thời Ngụy Tấn, Hướng Tú làm bạn với Kê Khương và Lữ An, Khương và An bị Tư Mã Chiêu giết chết. Tú về nơi ở cũ của Kê Khương tại Sơn Dương, nghe tiếng sáo của hàng xóm, cảm thấy nhớ người bạn đã khuất của mình. Sau đó, văn địch được sử dụng như một từ để thương tiếc người quá cố.
Thùy gia: nhà ai, ở đâu
Ngọc địch: sáo ngọc, tên đẹp của sáo
Ám phi thanh: âm thanh không biết từ đâu đến; tiếng sáo bay bổng, vẳng lại một cách kín đáo, mơ hồ trong đêm tối; tiếng sáo vang lên trong đêm và truyền đi xa
Xuân phong: gió mùa xuân, ẩn dụ ân trạch, bầu không khí hòa hợp
Chiết Liễu: tên bản nhạc xưa; ngày xưa mỗi lần đưa tiễn, người thân thường bẻ cành liễu trao cho người ra đi, sau có khúc ca Chiết liễu (bẻ liễu) nói về tình ly biệt.
Cố viên: vườn uyển cổ xưa, từ dùng để chỉ quê hương

Dịch nghĩa:

Xuân Dạ Lạc Thành Văn Địch


Đêm Xuân Nghe Tiếng Sáo Ở Thành Lạc Dương
Thùy gia ngọc địch ám phi thanh
Nhà ai có tiếng sáo ngọc vẳng trong đêm,
Tán nhập xuân phong mãn Lạc thành
Theo gió xuân bay khắp thành Lạc Dương.
Thử dạ khúc trung văn Chiết Liễu
Đêm nay trong khúc nhạc ta nghe lại có điệu "Chiết Liễu",
Hà nhân bất khởi cố viên tình
Thử hỏi có ai mà không cảm thấy nhớ quê hương.

Bình luận:

Bài thơ được Lý Bạch sáng tác vào khoảng năm 734-735 (niên hiệu Khai Nguyên thời Đường Huyền Tông), khi ông đang lưu lạc và tạm trú tại thành Lạc Dương. Sống nơi đất khách trong một đêm xuân tĩnh lặng, âm thanh của tiếng sáo vẳng lại đã chạm vào nỗi lòng xa xứ của nhà thơ.

Dù viết về nỗi nhớ quê, Lý Bạch không dùng những từ ngữ bi lụy. Ông dùng câu hỏi tu từ Hà nhân bất khởi (Ai mà không chạnh lòng) để nâng cảm xúc cá nhân lên thành một tình cảm phổ quát, khẳng định rằng tình yêu quê hương là bản năng sâu thẳm của mỗi con người khi đứng trước những rung động tinh tế của thiên nhiên và nghệ thuật.
Bài thơ ngắn nhưng giàu nhạc tính, hình ảnh trong trẻo mà thấm buồn. Đây là một trong những bài thơ tiêu biểu của thơ Đường về tâm trạng tha hương, sánh cùng Tĩnh Dạ Tứ của Lý Bạch hay Nguyệt Dạ của Đỗ Phủ.
Bài thơ này hơi khó so sánh với bài Văn Địch của Triệu Hỗ vì khác thể thơ, nhưng có thể so sánh với bài tứ tuyệt Tái Thượng Văn Địch của Trương Hỗ. Cả hai bài đều nghe sáo ban đêm. Bài của Lý Bạch, như chúng ta đã biết, được làm vào mùa xuân ấm áp ở nơi phồn hoa đô thị khi ông đến Lạc Dương tìm danh vọng. Bài thơ của Trương Hỗ, bên dưới, được làm vào mùa đông lạnh lẽo ở biên thùy Tây Bắc, hình ảnh một chiến binh cô đơn nhớ nhà.

Dịch thơ:

Đêm Xuân Nghe Tiếng Sáo Ở Thành Lạc Dương


Thể thất ngôn:

Tiếng sáo nhà ai gợi vấn vương,
Gió xuân đưa khắp nẻo Lạc Dương.
Khúc nhạc chia tay ôi tha thiết,
Sao khỏi chạnh lòng nhớ cố hương.


Thể lục bát:


Nhà ai tiếng sáo nhẹ nhàng,
Gió xuân đưa khắp nẻo đàng Lạc Dương.
Khúc Chiết Liễu gợi vấn vương,
Hỏi ai viễn xứ chẳng thương quê mình.


Thể song thất lục bát:


Tiếng sáo ngọc, nhà ai trầm bổng
Khắp Lạc Thành, theo ngọn gió xuân
Đêm nay Chiết Liễu ru ngân
Hỏi ai chẳng khởi bâng khâng nhớ nhà?


Flute On A Spring Night in Luoyang by Li Bai

From whose house arises the melodious flute
Spring wind carries it all over the city of Luoyang
Tonight the song is the Willow Breaking melody
Who does not have feeling for his old country?

From whose house comes the sound of a jade flute, discretly flying?
The spring wind scatters them across the whole city of Luoyang.
Tonight, within that drifting melody, I hear the tune "Breaking the Willow."
Who could listen without being moved by memories of their father land?

The above translations focuse on conveying the sense and emotion of the original poem rather than reproducing its rhyme.

Phí Minh Tâm

***
Góp ý:

李白. Tên của thi nhân họ Lý đã được chuyển sang chữ Latin thành Li Bai, Li Po hay Li Bo tùy hệ thống chuyển ngữ nhưng Lý Bạch trong tiếng Việt có thể gần gũi nhất với lối phát âm /baek/ hay /bhæk/ của thời Trung Cổ. Ngoài tên cúng cơm Bạch, ông còn được biết dưới các tên Thanh Liên Cư Sĩ, Thi Tiên, Tửu Tiên, Trích Tiên Nhân và Thi Hiệp.

折柳. Liễu trong tục chiết liễu là cây thùy liễu (Salix babylonica) có gốc ở bắc Hoa Lục rồi lan tràn qua miền ôn đới Tây phương nên cho dù người (nhiệt đới) Việt có tên cây liễu, ít ai ở quốc nội thấy cây đó, vì dĩ nhiên ít ai (kể cả người Viết) biết tục bẻ liễu có ý nghĩa gì. Và trừ khi người đọc hiểu rằng liễu (柳) và lưu (留) là hai từ đồng âm [cùng bính âm liǔ] thì họ cũng không hiểu rằng từ liễu là biểu tượng của sự chia ly, để diễn tả ước muốn níu kéo người đi ở lại hay trở về. Thời xưa người đi xa thường dùng thuyền – đường bộ rất hiểm nghèo - nên việc chia tay thường xẩy ra bên bờ sông nơi cây liễu thích sống, hay thường được trồng. Mặc dù đa số thổ âm Hoa Lục phát âm 留 với phụ âm /l/, người Thành Đô, Tứ Xuyên phát âm nó giống hệt như níu của tiếng Việt nhưng có lẽ đây không phải là ngữ nguyên của ‘níu’ trong các nghĩa níu lại, níu kéo.

玉笛. Từ thời Đường, từ địch được dùng riêng để chỉ loại sáo thổi ngang nên dùng các hình vẽ với sáo thổi dọc (có tên là tiêu, 簫) không hợp với bài thơ. Nguyên liệu cho sáo thường là trúc hay gỗ vì khả năng cộng hưởng của chúng làm tăng phẩm chất của tiếng sáo. Ngọc (bích) và kim loại ít khi được dùng (trừ trường hợp các flute gốc Âu Châu) vì âm thanh từ chúng không ấm bằng tiếng sáo gỗ hay trúc. Và cụm từ ngọc địch có thể hàm ý rằng người thổi sáo đang ở trong một lầu đài, cung điện nào chứ không phải là một nghệ sĩ chuyên dùng sáo, vì ít ai đủ giàu mua sáo ngọc và người chuyên nghề thổi sáo thì lại thích sáo gỗ hay sáo trúc. Họ Lý sáng tác bài thơ này năm 734 khi đang lang thang qua đông đô Lạc Dương và ngữ cảnh của bài thơ gợi ý – ít nhất cho người viết ni – rằng ‘cố viên tình’ (故園情) nói đến một người quen mà Lý đã nhờ tiến cử vào triều đình. Một điều ít người biết về cuộc đời họ Lý là ông đã nhiều lần viết thư tự tiến cử đến triều thần ở Trường An.

Nếu người ni đoán đúng thì sáo của người bạn Kim Chi của Bát Sách chế tạo là địch, không phải tiêu, và phân vân âm thanh từ cái địch này như thế nào vì nhựa làm vỏ dây điện không cứng lắm (cứng quá thì không uốn quanh được).

Huỳnh Kim Giám




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét