Thứ Hai, 27 tháng 4, 2026

Khiển Bi Hoài Kỳ 1 遣悲懷其一 - Nguyên Chẩn (Trung Đường)


Nguyên Chẩn 元稹 (779-831) tự Vi Chi 微之, người Lạc Dương, Hà Nam, gia đình quan lại, làm Thượng thư Tả thừa, có quan điểm chính trị và văn học gần gũi với Bạch Cư Dị, chủ trương tác phẩm phải giàu tính hiện thực, nên người đương thời gọi là Nguyên-Bạch. Tác phẩm có Nguyên thị Trường Khánh tập. Ông còn là tác giả của truyện Hội chân ký về sau được Vương Thực Phủ đời Nguyên dựa vào để viết vở kịch Tây sương (14 bài).

Nguyên Chẩn

Đây là một trong những bài thơ của Nguyên Chẩn điếu tang vợ.
Nguyên tác Dịch âm

遣悲懷其一 Khiển Bi Hoài kỳ 1

謝公最小偏憐女 Tạ công tối tiểu thiên liên nữ,
自嫁黔婁百事乖 Tự giá Kiềm Lâu bách sự quai.
顧我無衣搜藎篋 Cố ngã vô y sưu tẫn khiếp,
泥他沽酒拔金釵 Nê tha cô tửu bạt kim thoa.
野蔬充膳甘長藿 Dã sơ sung thiện cam trường hoắc,
落葉添薪仰古槐 Lạc diệp thiêm tân ngưỡng cổ hoè.
今日俸錢過十萬 Kim nhật bổng tiền quá thập vạn,
與君營奠復營齋 Dữ quân doanh điện phục doanh trai.

Dịch nghĩa
Giải nỗi sầu nhớ kỳ 1

Con gái yêu bé bỏng nhà ông họ Tạ,
Gả cho chàng Kiềm Lâu trăm sự đều khó khăn!
Nhìn ta không áo, nàng mở rương lục tìm,
Biết ta thèm rượu nàng gỡ thoa bán đổi.
Sẵn rau đồng, bữa ăn thêm vị hoắc ngọt ngào,
Lá rụng thay củi, ngửa trông cây hòe cằn cỗi.
Ngày nay, tiền lương có hơn mười vạn,
Chỉ còn vì nàng bày cỗ chay cúng tế!

Chú giải:
*Tạ công: Tức Tạ An đời Tấn. Ở đời Đường họ Tạ là một trong những họ quý phái, nhiều người muốn làm rể nhà họ Tạ nên thường dùng từ "Tạ công" để chỉ nhạc phụ, dùng từ Tạ gia để chỉ gia đình và nhà ở của ý trung nhân hoặc của vợ.
**Kiềm Lâu: Cao sĩ nước Tề thời Xuân Thu, nhà nghèo. Đây, Nguyên Chẩn tự ví.

Dịch thơ
Giải Nỗi Sầu Nhớ kỳ 1

Gái yêu bé bỏng nhà ông Tạ*,
Lấy gã Kiềm Lâu** gặp khó khăn.
Thấy hắn không quần tìm mọi chỗ...
Nghe chồng thèm rượu bán thoa vàng.
Rau đồng đến bữa hăng thành ngọt,
Lá úa đun cơm ngó củi hoang.
Lương bổng ngày nay hơn chục vạn,
Cúng em cũng chỉ bát cơm xoàng.


Lời bàn

Đây là một bài thơ điệu vong (điếu người chết). Vợ Nguyên Chẩn là Vi Tùng, con cưng của nhà quan, lấy Nguyên Chẩn khi ông còn hàn vi. Vi Tùng mất khi Nguyên Chẩn mới 30 tuổi và còn làm chức quan nhỏ; mười mấy năm sau ông làm đến chức tể tướng, nhớ người vợ tao khang đã mất sớm mà làm bài thơ này, cùng với nhiều bài thơ điệu vong khác. .
2 câu mở đề:
Nàng là con quan mà lấy nhầm anh trò kiết nên khổ.
2 câu 3, 4:
Thấy chồng mặc quần áo rách thì lục rương kiếm đồ lành để thay cho chồng. Thấy chồng thèm rượu thi bán thoa vàng để có tiền mua rượu.
2 câu 5, 6:
(bữa ăn cho riêng mình thì) rau mọc hoang ngoài đồng cũng lấy hăng làm ngọt. Đun bếp không có củi phải dùng lá úa lượm ngoài đường.
2 câu cuối:
Cực kỳ thấm thía: Em vất vả thiếu thốn suốt cả tuổi thanh xuân, lúc ta vinh hiển thì em chết. Bây giờ cúng em sang trọng nhất cũng chỉ là bát cơm chay.

Con Cò
***

Khiển Bi Hoài Kỳ 1

Thấy đầu đề quen, tưởng đã post rồi, nhưng đọc phớt qua thì lạ hoắc. Bên dưới lại thấy góp ý của mình mà không nhớ ở bài nào, đọc cũng vui, chắc lúc đó đã tra cứu lung tung … Bài có lý luận nhiều về năm chết của Vi Tùng, và những liên hệ của Nguyên Chẩn với Tiết Đào và Lưu Thái Xuân cũng liên quan nên xin giữ lại. Nhờ LB gắn đâu đó giùm.

Đọc bài kỳ này thì thấy nhiều chữ khó, và thơ không có vần, lấy làm lạ. Lại có 2 điển tích, BS rất thích nên tra cứu thêm để anh chị em đọc chơi.
Chữ áp chót trong câu đầu, viết với bộ tâm, có thể phiên âm là liên hoặc lân, là buồn thương, yêu thương.
Hai chữ chót của câu 3, bản của ÔC phiên âm là MẪN HIỆP. Bản của Thi Viện phiên âm đúng là TẪN KHIẾP. Tẫn là một loại cỏ, Khiếp là cái rương. Chắc LB phải sửa lại bản của ÔC. (thư ký đã sửa)
Tạ công, là Tạ An, gọi công để tỏ lòng kính trọng. Tạ An là một danh gia đời Tấn, giầu sang rất mực, có 2 người cháu nổi tiếng là Tạ Huyền, võ tướng, đánh tan quân của Phù Kiên (nước Tần trong Ngũ Hồ) và Tạ Đạo Uẩn, là người có văn tài (nàng Ban ả Tạ trong Kiều), vợ của Vương Ngưng Chi, thường phải gà ý tứ cho em chồng là Vương Hiến Chi để đối đáp với các danh sĩ. Họ Vương này là con cháu của Vương Hi Chi với thiếp Lan Đình, chuyên về thư pháp và văn chương. Họ Vương có quyền thế và gia sản vạn hộ là Vương Đạo.
Họ Tạ và họ Vương này, để phân biệt với thiên hạ, toàn mặc quần áo đen, ở gần nhau, gọi là Ô Y Hạng, mà Lưu Vũ Tích có làm bài thơ cùng tên.
Kiềm Lâu, theo “ Thành Ngữ, Điển Tích, Danh Nhân Tự Điển của Trịnh Vân Thanh thì có 2 người:
- Du Kiềm Lâu, một trong Nhị Thập Tứ Hiếu, nếm phân của cha để đoán bệnh: phân đắng thì sống, phân ngọt thì chết. Người cha có phân ngọt nên qua đời, nhưng Kiềm Lâu được ghi trong 24 người con hiếu, cùng Lão Lai, Mẫn Tử Khiên, Lục Tích...
- Kiềm Lâu, người nước Tề, nghèo tới nỗi, khi chết chỉ có cái mền nhỏ, che không kín thân, che đầu hở chân, che chân hở đầu. Đây chính là Kiềm Lâu trong bài thơ, mà Nguyên Chẩn dùng để ví với mình, và họ Tạ để ví với gia đình vợ.
Một số chữ khó khác:

- Nê : bùn, mềm yếu, cố ép.

- Cô tửu là mua rượu.

- Bạt là nhổ ra, lấy ra, dời chuyển, cầm, nắm, giữ.

Câu 4, nê tha cô tửu bạt kim thoa, tự điển của Nguyễn Tôn Nhan đã dùng làm thí dụ, và dịch là ép người mua rượu rút thoa vàng.

- Dã : cánh đồng, chốn quê mùa, hoang dại.
- Sơ là rau cỏ. Dã Sơ là rau dại, cỏ hoang.
-Sung: đầy đủ, chuẩn bị.
- Thiện là bữa ăn
- Hoắc: mau, tên nước. Với bộ thảo, là một loại rau tầm thường.
- Tân : cỏ, củi, lương
- Điện là tế lễ.
- Trai : Ăn chay.

Giải Sầu Nhớ

Gái xinh bé út nhà ông Tạ,
Lấy Kiềm Lâu trăm sự trái ngang,
Thấy thiếu áo quần, nàng lục tủ,
Ép ta mua rượu rút thoa vàng,
Rau đồng lo bữa thêm hoắc ngọt,
Lá khô thay củi, ngóng hoè sang,
Lương bổng ngày nay hơn chục vạn,
Nhớ em trong trại cúng cơm xoàng.

Bát Sách.(Ngày 13/04/2026)

Góp ý cũ của Bát Sách:

Ngày xưa, Mai Thảo mê Thái Thanh, viết truyện Giàn Bông Giấy Trước Nhà, rất thơ mộng, lãng mạn. Hồi trẻ, BS thích lắm, mà sau này, không sao tìm lại được….

A- Trích từ bài 215 Nỗi Nhớ:
1/… Ở đây (Montréal), Bát Sách biết ít nhất là 3 người, khi vợ mất, khóc lóc rất thảm, có người đi đâu, kể cả đi ăn, cũng vác theo hũ tro của vợ, nhưng chỉ một thời gian sau, cả 3 đều vui duyên mới... Có người còn tuyên bố "bây giờ mới thật sự tìm được tình yêu" làm mấy đứa con thấy chướng tai, phải quyết liệt phản đối. Nhưng mà đời là vậy, Bát Sách chỉ mô tả mà không dám bình luận……
2/… Về Nguyên Chẩn:
Nguyên Hoà năm thứ 6, đời Đường Hiến Tông là năm 814 tây lịch.
Theo sử sách, thì Nguyên Chẩn sinh năm 779, mất năm 831, được 52 tuổi.
Nguyên Chẩn mồ côi cha, học giỏi, thi đậu sớm, và lấy vợ sớm. Vợ chàng tên Vi Tùng, mất khi Nguyên 30 tuổi, khi nhà còn nghèo, tức là vào năm 809. Nguyên đã làm 3 bài thơ khóc vợ, như bài Khiển Bi Hoài, kỳ hai, có mấy câu:
Y thường dĩ thí hành khan tận,
Châm tuyến do tồn vị nhẫn khai.
Quần áo đem cho dần đã hết,
Kim chỉ hãy còn không nỡ mở ra..

Đó là năm 809. Bài thơ anh Bảo dẫn là năm Nguyên Hoà thứ 6, tức năm 814, như vậy Bát Sách nghi rằng Nguyên Chẩn khóc bà vợ khác, lẽ đâu chàng thi sĩ chung tình tới mức, 5 năm sau mà khi ngủ còn mơ thấy vợ, nói lời yêu đương trong giấc mơ. Tuy nhiên, hai câu kết thật cảm động, những lời nói trong mơ mà làm cho bạn khóc thì đáng cảm phục lắm chứ. Anh Bảo nói rằng, Nguyên Chẩn thương vợ hồn nhiên, nồng nàn, dai dẳng, chỉ đúng khi nhà thơ khóc bà vợ tên Vi Tùng….

B- Lần này, vì BS có viết một bài về Tiết Đào và mối tình của nàng với Nguyên Chẩn 
1) Theo sử thì Nguyên Chẩn sinh năm 779. Nhà nghèo, mồ côi cha, nhưng học giỏi lại có chí nên thi đậu sớm.
- Năm 807, bị giáng chức, nên khổ lắm, nhờ vợ là Vi Tùng tần tảo giúp đỡ nên mới qua cơn hoạn nạn..
- Năm 809, Vi Tùng qua đời, lúc 27 tuổi, và Nguyên 30.
- Hai năm sau, Nguyên Hoà thứ 6, là năm 811, Nguyên làm bài Lục Niên Xuân Truy Hoài Kỳ 5. (Hồi đó BS có đoán rằng cái tựa có lẽ thiếu hai chữ Nguyên Hoà, và BS nghi nhầm là năm 814, thay vì 811.)
- Nguyên Chẩn cũng làm mấy bài thơ khóc vợ, có tựa là Khiển Bi Hoài. Bài kỳ nhị có câu chót là "Bần tiện phu thê bách sự ai" nghe rất thảm, chắc nhớ lại thời Nguyên Chẩn bị cách chức, gia cảnh quá bần hàn.
- Bài Ly Tư kỳ tứ, cũng nói đến lòng yêu vợ của Nguyên:

Tằng kinh thương hải nan vi thủy
Trừ khước Vu Sơn bất thị vân,
Thủ thứ hoa tùng lãn hồi cố,
Bán duyên tu đạo, bán duyên quân.
(Từng ngắm biển xanh, khó còn gì đáng gọi là nước.
Trừ phi đã tới Vu Sơn thì coi như chưa thấy mây,
Gặp người đẹp, cũng lười quay lại nhìn,
Nửa phần vì tu đạo, nửa phần vì đã kết duyên với nàng)

2) Tuy yêu vợ và làm nhiều thơ khóc vợ, nhưng bản chất của Nguyên là nghệ sĩ, lãng mạn, nên có thơ gửi Lưu Thái Xuân, Tiết Đào.

Theo sử thì Tiết Đào hơn Nguyên Chẩn 11 tuổi (Tiết sinh năm 768, Nguyên sinh năm 779). Khi Nguyên được vua sai vào Thục là năm Nguyên Hoà thứ 4, tức năm 809, thì Vi Tùng vừa qua đời, vậy mà gặp Tiết Đào, Nguyên đã rơi vào lưới tình mấy năm, khi trở về kinh còn làm bài thơ tặng Tiết Đào, hai câu chót cũng tình tứ lắm:

Biệt hậu tương tư cách yên thuỷ,
Xương Bồ hoa phát ngũ vân cao.
Tương tư khói nước xa nhau,
Hoa Xương Bồ nở năm mầu như mây.

(Bát Sách dịch)

3) Đọc bài Lục Niên Xuân Truy Hoài kỳ 5 thì thật hay và cảm động, nhưng nếu đem đối chiếu với thời gian thì BS thấy hơi kỳ, vì bài thơ làm năm 811, 2 năm sau khi Vi Tùng mất, mà ngay năm vợ qua đời, 809, Nguyên đã chung sống với Tiết Đào ở Thục rồi... Vậy ta có nên tin thi nhân đa tình này không?

Bát Sách

***

Giải Nỗi Sầu Nhớ kỳ 1.

Gái nhỏ Tạ Công rất mến yêu,
Chồng nghèo nên phải thiệt trăm điều.
Ta không áo mở rương tìm kiếm,
Rượu cạn bình thoa bán vẫn chiều.
Rau hoắc ngon cơm mùi đạm bạc,
Lá hòe làm củi đợi rơi nhiều.
Bây giờ lương bổng trên mười vạn,
Đáp lại tình nàng thiết điện siêu.


Song Thất Lục Bát:

Con gái nhỏ Tạ công yêu mến,
Lấy chồng nghèo trăm chuyện đáng thương.
Ta không áo, nàng lục rương,
Chiều chồng mua rượu bán luôn trâm cài.
Cơm rau hoắc sơ sài đạm bạc,
Củi lá hòe rơi lạc lượm đun.
Nay mười vạn lộc ung dung,
Chay đàn cúng tế tình chung cùng nàng.


Mỹ Ngọc.
Apr. 11/2026.
***
Giải Nỗi Nhớ Thương (Kỳ 1)

Con gái nhà giàu được quý yêu
Lấy ta nàng khổ đủ trăm chiều
Lục rương tìm vải may cho áo
Cầm cố trâm vàng mua rượu tiêu
Rau dại đỡ lòng trong đạm bạc
Đun cơm nhặt lá lửa thiêu đều
Ngày nay lương bổng ta mười vạn
Nàng đã qua đời lễ cúng chiêu


Thanh Vân

***

Giải Sầu Nhớ Kỳ 1 


Út cưng bé bỏng nhà ông Tạ
Lấy gã nghèo sơ thảy đổi thay
Nhìn mỗ áo sờn rương lục kiếm
Chiều ta mua rượu rút trâm cài
Rau đồng thêm bữa càng thanh đạm
Hòe lá củi thay khô khốc cây
Bổng lộc bây giờ hơn chục vạn
Vì nàng cúng tế một đàn chay


Song thất lục bát:

Cô Út rượu xinh xinh nhà Tạ
Mọi đổi thay lấy gã tầm thường
Chồng không áo, lục tìm rương
Chiều ta mua rượu, khiêm nhường rút trâm
Cơm rau đồng nhủ thầm ngon miệng
Lá hòe rơi quét giếng, củi đun
Nay bổng lộc, đã chục muôn
Đàn chay cúng tế vong hồn dấu yêu!

Lộc Bắc
Avr26
***

Nguyên tác: Phiên âm:

遣悲懷三首其一-元稹 Khiển Bi Hoài Tam Thủ Kỳ 1 - Nguyên Chẩn

謝公最小偏憐女 Tạ công tối tiểu thiên liên nữ
自嫁黔婁百事乖 Tự giá Kiềm Lâu bách sự quai
顧我無衣搜藎篋 Cố ngã vô y sưu tẫn khiếp
泥他沽酒拔金釵 Nê tha cô tửu bạt kim sai
野蔬充膳甘長藿 Dã sơ sung thiện cam trường hoắc
落葉添薪仰古槐 Lạc diệp thiêm tân ngưỡng cổ hoè
今日俸錢過十萬 Kim nhật bổng tiền quá thập vạn
與君營奠復營齋 Dữ quân doanh điện phục doanh trai

Nguyên tác được chép từ sách của Nguyên Chẩn:
Nguyên Thị Trường Khánh Tập - Đường - Nguyên Chẩn 元氏长庆集-唐-元禛
Cổ Thi Kính - Minh - Lục Thì Ung 古诗镜-明-陆时雍
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐 诗-清-圣祖玄烨

Đây là bài thơ số 1 trong 3 bài Khiển Bi Hoài 遣悲懷 của nhà thơ Nguyên Chẩn thời Đường, sáng tác để tưởng nhớ người vợ quá cố là Vi Huệ Tùng.

Giải nghĩa điển cố:

Tạ Công 謝公: Tức Tạ An tể tướng đời Đông Tấn, Tạ An rất tâm đắc và yêu quý cô con gái tài hoa Tạ Đạo Uẩn. Một lần trời tuyết, Tạ An hỏi con tuyết rơi giống cái gì, Tạ Đạo Uẩn đáp: Vị nhược liễu nhứ nhân phong khởi (Chẳng bằng như bông liễu bay theo gió).

Ở đây Nguyên Chẩn dùng điển tích Tạ An để chỉ nhạc phụ của mình và gọi vợ Vi Huệ Tùng là Tạ công tiểu nữ để ví nàng như Tạ Đạo Uẩn, một tiểu thư khuê các, vừa có xuất thân quyền quý, vừa có tài năng và đức hạnh.

Kiềm Lâu 黔婁: Một hiền sĩ thời Chiến Quốc, nhà rất nghèo nhưng thanh cao. Theo Đào Tiềm đời Tấn, Kiềm Lâu thời cổ đại là người sống trong thanh bần, nghèo mà không tham lam. Khi ông mất, tấm chăn đắp xác ngắn đến mức hễ che kín đầu thì hở chân, che kín chân thì hở đầu. Có người bảo đắp chéo chăn lại cho vừa, nhưng vợ ông khóc mà rằng: Thà ngay mà ngắn, còn hơn xéo mà dài.

Nguyên Chẩn tự ví mình như Kiềm Lâu để nói về cảnh ngộ nghèo túng của mình khi mới lấy vợ. Câu thơ Tự giá Kiềm Lâu bách sự quai ý nói: Từ khi nàng lấy kẻ nghèo hèn, mọi chuyện trong đời nàng đều trở nên khó khăn, vất vả, chẳng được hưởng chút phú quý vinh hoa nào.

Dịch nghĩa:
Khiển Bi Hoài Kỳ 1 Giải Nỗi Nhớ Thương Kỳ 1

Tạ công tối tiểu thiên liên nữ
Nàng là con gái nhỏ được cha yêu quý nhất,
Tự giá Kiềm Lâu bách sự quai
Kể từ khi lấy kẻ nghèo hèn như ta, trăm việc đều gian nan vất vả.
Cố ngã vô y sưu tẫn khiếp
Thấy ta thiếu áo mặc, nàng lục lọi trong rương cũ tìm vải may,
Nê tha cô tửu bạt kim sai
Ta nài nỉ mua rượu, nàng không ngần ngại rút chiếc trâm vàng đi cầm cố.
Dã sơ sung thiện cam trường hoắc
Thức ăn chỉ có rau dại, nàng cũng vui lòng ăn lá đậu già cho qua bữa,
Lạc diệp thiêm tân ngưỡng cổ hoè
Đốt lửa nấu cơm, nàng phải nhặt lá rụng dưới gốc hòe già làm củi.
Kim nhật bổng tiền quá thập vạn
Ngày nay lương bổng của ta đã hơn mười vạn tiền,
Dữ quân doanh điện phục doanh trai
Mà nàng không còn nữa, ta chỉ biết cúng lễ trai tăng để tưởng nhớ nàng.

Bình luận:

Bài thơ được đánh giá là một trong những tác phẩm cảm động nhất trong dòng thơ khóc vợ của văn học Trung Hoa nhờ sự chân thực và giản dị.
Bài thơ được làm sau khi Vi Huệ Tùng qua đời vài năm. Lúc này, Nguyên Chẩn đã thăng tiến, có địa vị trong triều đình và bổng lộc dư dả. Chính sự tương phản giữa quá khứ nghèo khổ có nhau và hiện tại giàu sang lẻ bóng đã thúc giục ông viết nên những dòng thơ buồn khổ này.
Vi Huệ Tùng là con gái út của Vi Hạ Khanh, một quan đại thần quyền quý. Dù xuất thân từ gia đình danh giá, nàng vẫn chấp nhận lấy Nguyên Chẩn khi ông còn là một người nghèo khó, chưa có sự nghiệp.

Thay vì dùng những từ ngữ hoa mỹ, tác giả chọn liệt kê những chi tiết rất đời thường: vợ lục hòm cũ tìm vải may áo cho chồng, rút trâm vàng đi cầm để chồng có tiền mua rượu, hay nhặt lá hòe rụng làm củi. Những hình ảnh này khắc họa sâu sắc đức hy sinh và lòng tận tụy của người vợ.

Hai câu kết là bi kịch của sự thành đạt muộn màng. Khi ông có thập vạn tiền bổng lộc, người vợ từng cùng ông ăn rau dại, lá đậu đã không còn để chia sẻ. Tiền bạc giờ đây chỉ có thể dùng để làm lễ cúng tế, càng nhấn mạnh nỗi ân hận và xót xa của người ở lại.

Dịch Thơ:

Nỗi Nhớ Thương Kỳ 1

Gái út Tạ ông dễ mến thương,
Lấy Kiềm Lâu khốn khó trăm đường.
Biết chồng thèm rượu cởi thoa bán,
Kiếm áo cho chồng lục đáy rương.
Cam khổ cơm rau ngào ngạt vị,
Lá khô thay củi hòe vô phương.
Nay lương bổng lộc hơn mười vạn,
Trai cỗ cúng nàng với nén hương.


An Elegy for Wei Cong Part 1 by Yuan Zhen

You were like the youngest daughter, the one Lord Xie loved best,
Since marrying this poor Qian Lou, everything has gone awry.
Seeing me without clothes, you searched through old hampers,
I coaxed you for wine, and you pulled out your gold hairpin to pay.
Wild greens filled our meals; you were content with bitter bean leaves,
To add fuel to the fire, you looked to the fallen leaves of the old scholar tree.
Today, my official salary exceeds a hundred thousand coins,
But I can only prepare vegetarian offerings and hold fasting rituals for you.

Phí Minh Tâm

***

Góp ý:

Kiềm Lâu (黔婁) là một đạo sĩ ở ẩn thời Xuân Thu Chiến Quốc, người nước Lỗ (hay Tề?) tương truyền sống cùng vợ trong động Kiềm Lâu (黔婁) ở Thiên Phật Sơn (千 佛山, Tế Nam, Sơn Đông) [dĩ nhiên đây chỉ là huyền thoại vì Phật chưa được biết ở Hoa Lục cho tới thời Hán]. Truyền thuyết cũng nói rằng Lỗ Cung Công (魯共公, hậu bán tk 4 TCN) và Tề Uy Vương (齊威王) mời Kiềm giữ chức khanh, tướng nhưng Kiềm từ chối. Đa số giai thoại về tính khí của Kiềm đến từ miệng vợ, kể cả chuyện ông chết không có đủ áo quần để che thân và thụy của ông là Khang (康) vì lý do ông sống bình an trong cảnh nghèo hèn, không màng làm quan. Về sau, thành ngữ Kiềm Lâu được dùng để chỉ bần sĩ (贫士). Các người dựng những giai thoại về Kiềm Lâu không hề phân vân tại sao một người hình như được các vương công biết vì tài tề gia trị quốc lại không thể tạo một cuộc sống đầy đủ hơn cho chính mình và cho vợ; nếu không hề trổ tài thì làm sao người khác biết ta có tài? Kiềm Lâu có thể là nhân vật tương đối tân thời tạo nên huyền thoại Hứa Do (许由, thời Nghiêu, 25 thế kỷ trước) xuống suối rửa tai. Người ni được một bạn đồng môn gọi là quái nhân cũng vì y đã thắc mắc về điển tích Hứa Do từ thuở còn bé tí tẹo.

Hiểu điển tích Kiềm Lâu như thế thì người ni phân vân làm sao Nguyên Chẩn có thể ví mình với Kiềm Lâu. Nguyên sống trong cảnh nghèo thuở thiếu thời vì cha mất sớm nhưng có thật nghèo đến độ vợ phải lục rương tìm áo cũ cho chồng mặc? Gia đình nào chịu cho ông làm rể? Vợ chính của họ Nguyên là Vi Tùng (妻妾), con gái út của tả phó xạ Vi Hạ Khanh (仆射韋夏卿), và ta cũng cần biết rằng họ Nguyên thành công trong đường hoạn lộ tương đối sớm, đậu minh kinh (明經) năm 14 tuổi và được giữ chức giáo thư lang (校书郎) sau đó. Đời hoạn lộ của Nguyên nhiều trắc trở vì ông ta đụng độ hoài với triều thần và hoạn quan khi giữ những chức tương đương với ngự sử và chuyên vạch lá tìm sâu, trong khi chính ông ta cũng đã được biết là không hoàn toàn thanh liêm. Những dữ kiện từ sử liệu này cho ta thấy rằng họ Nguyên, cho dù có tính chuyện đi ở ẩn với Bạch Cư Dị, ông chỉ muốn làm thế sau khi đã có tài sản và đó không phải là mối hành xử của huyền thoại Kiềm Lâu!

Nếu bài điệu vong đầu không tin được về dữ kiện và làm người đọc thắc mắc về thành ý của thi nhân thì giá trị của hai điệu vong tiếp sẽ như thế nào? Câu chót của Khiển Bi Hoài kỳ ba đọc: 報答平生未展眉=Báo đáp bình sanh vị triển mi có thể để lộ rằng hiền thê Vi Tùng đã không có hạnh phúc hôn nhân nhưng không phải vì chồng nghèo.

Huỳnh Kim Giám



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét