Thứ Ba, 22 tháng 4, 2025

Áo Trắng Ngày Xưa

 

Thương cô áo trắng học trò 
Gợi tôi nhớ thuở mộng mơ ngày nào 
Đâu rồi tiếng guốc lao xao 
Đâu rồi cánh phượng thắm màu vội trao 

Kim Phượng( Canada)


Thư tình viết biết là bao 
Thương mà ngại nói tình đầu riêng mang 
Phượng hồng ve gọi hè sang 
Nhớ về áo trắng bâng khuâng một thời 

Kim Trúc ( Canada)


Ngày xưa áo trắng tôi ơi! 
Giờ đây áo trắng xa rồi còn đâu 
Thầy xưa bạn cũ năm nào 
Tìm về kỷ niệm lòng nao nao buồn 

Kim Oanh( Canada)


Thơ: Kim Phượng (Canada), Kim Oanh (Canada), Kim Trúc (Canada)
Hình Ảnh: Kim Oanh (Canada)


Chiếc Lá Thu Phong


Ngọn gió hôm qua lá rụng nhiều    
Cây buồn tủi phận kiếp cô liêu  
Lá vàng từng chiếc đang rời bỏ   
Lệ tiễn đưa nhau xót mấy chiều.   

Ngọn gió từ đâu chợt ghé đây   
Khiến bao chiếc lá phải rơi đầy   
Gió ơi có thấy buồn cho lá   
Hay vẫn vô tình tựa khói mây.  

Ngọn gió hôm qua lá rụng vàng   
Gió từ đâu đến gió tìm sang   
Lòng ai như lá kia màu úa   
Lưu luyến tình ta mãi đợi nàng.   

Xúc động "Gió Thu" của Tản Đà   
Nghe sao tê tái ngập hồn ta    
Gió thu mang đến bao thương cảm   
Chiếc lá vàng kia thật xót xa.

Quên Đi

Đọc "Gió Thu", mình cảm thấy xót xa. 
Phải chăng gió thu đã cắt đứt mối tình của Tác giả và cô hàng xóm, Tình vun đấp mới nửa năm, nghịch cảnh khiến xui thiếp phụ chàng. 
Nàng rời bỏ quê hương đi nơi khác. Một mối tình đẹp như màu hồng phải rời nhau. Một năm qua tác giả vẫn còn hy vọng vẫn mong chờ.

Thế Kỷ Xuân - Thơ: Kim Oanh - Thư Pháp: Quang Hà


Trích Thơ: Thế Kỷ Xuân của Kim Oanh
Thư Pháp: Quang Hà

Chiều Nhớ


Cũng có chiều vàng soi bóng cây
Bờ sông con nước lớn lên đầy
Nhưng sao vắng thiếu con đò nhỏ
Lạc lỏng phương trời không bóng mây
Ai bảo cây thu dệt lá vàng
Cho người ôm mộng chuyến đò ngang
Con tim hay lá trong chiều nhớ
Để gió lao xao biết rộn ràng.

Daniel Bien

12-3-2025

Thứ Hai, 21 tháng 4, 2025

Phan Thiết Ngày Về - Nhạc & Lời: Nguyễn Thanh Cảnh - Ca Sĩ: Quang Minh


Nhạc & Lời: Nguyễn Thanh Cảnh
Ca Sĩ: Quang Minh

Gửi Tùng Quân

 



Nhớ mãi những ngày đầu năm xum họp gia đình
giữa vùng biển trời thanh thoát.

Ở đây cũng Cực lạc rồi,

Lâm râm khấn nguyện, ai người uổng công?
Nhạc trời * khao khát chờ trông
Vẳng ngay từ hướng nhạc công Ta Bà,dai
Gác lầu bảy báu * bao la
Năm sao lữ quán ** kiêu sa vạn đời.
Ngập tràn hạnh phúc khôn vơi
Trăm năm vĩnh cửu? Cõi đời phù vân?
Nhân sinh ai chẳng một lần
Tang thương vùi dập hồng trần đắng cay?
Vạn niên phúc đức đong đầy
Rời đời mộng ảo lần tay kiếm tìm..
Hoàng hôn nối tiếp bình minh
Hoài mong rung cảm nối tình đạo giao:
Lực mình non trẻ đón chào
Đại Tâm Đại Nguyện dẫn vào Phẩm Thiêng ***
Nguyện thành Bồ tát, - triền miên?
Hay tìm viên mãn giữa miền THÊNH THANG? ***

Gran Canaria, mùng 7-8 tháng Giêng năm 2022
Nguyễn-Khắc Tiến-Tùng

Ghi chú:
* Hình ảnh mô tả trong kinh A di đà.
** Năm sao Lữ quán = Khách sạn năm sao. Do đó bai thơ có tựa đề "Giữa vùng TINH đẩu .."
Tại nhiều vùng biển các đại tổ hợp quốc tế xây dựng những quần thể khách sạn vô cùng rộng lớn kéo dài hàng cây số
dọc bờ biển với kiến trúc nhiều thẩm mỹ, tân kỳ, đầy tiện nghi. Phương tiện giải trí vô cùng đa dạng, từ ban nhạc sống,
dàn nhạc đại hoa tấu ... cho đến gánh xiếc, sòng bài, bên cạnh bể bơi với giờ thể thao cho từng nhóm riêng lớn, nhỏ, khiến lữ khách quên hẳn thực tại một thời gian.
*** Theo Phật giáo Tịnh độ những người chí thanh niệm Phật A di đa sẽ được (văng sanh) về TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC
ở một trong CỬU PHẨM LIÊN HOA (= Phẩm Thiêng, chín bậc) thành Bồ Tát bất thối chuyển, đi độ sinh ở những cơicòn đau thương đọa lạc hay tu đến giải thoát hoàn toàn, nhập NIẾT BÀN (= Miền Thênh Thang, một cách diễn tå còn miễn cưỡng, chưa trọn vẹn về bản chất của Niết Bàn, không là nơi chốn mà là trải nghiệm của TÂM? ).

Tình Ca Sơn Nữ

 

Đây Tây nguyên:

Đất đỏ suối trăng mơ,
Rừng bạt ngàn, hương rừng tẩm sương mờ
Người mới đến nên người bỡ - ngỡ
Ngắm hoa rừng lòng bỗng ngẩn - ngơ

Chiếc gùi nhỏ trên lưng thon nhỏ
Ướm hỏi rằng:- có nặng không em?
Khẻ lắc đầu cười mỉm nụ xinh duyên
"-Dạ, quen rồi... em không thấy nặng"

Dòng suối mát ban trưa ngồi hong nắng
Tóc bay bay... nước lộng bóng tiên - nga
Ta say nhìn lặng lẽ đứng xa xa
Ngại vô ý làm bình pha lê rơi bể...

Em Buôn Mê:

Mũi cao tóc thề
Làn môi thắm màu qủa càfê
Mắt biêng biếc thanh - tuyền diễm mộng
Má ửng hồng,
Ươm màu mây hừng đông....

Đây Buôn Mê:

Khèn, chiêng, rượu cần...
Người miền núi mượt mà tình thân
Khách đến nhà đậm - đà tiếp đãi
Mời Rượu Cần khách uống lâng lâng...
Bàn tay mời, hoa sứ trắng ngần
Mai, cuối trời... chinh khách bâng khuâng....

Áo trận phong trần... mây lãng du...
Chiến - chinh cuốn vó bụi tung mù...
Con đường phía trước còn hun hút...
Gĩa từ sơn nữ...núi rừng nhuốm Thu...!!

Nguyễn Minh Thanh
(Tây - Nguyên , 1969)


Tôi Phải Nợ Anh


Phước ơi
sao ngày xưa
anh không nói
Đến bây giờ
quá muộn
anh ơi!!
Nghe chị nói
lòng tôi dao cắt
Thương anh
lắng lòng
không rơi nước mắt
Nắm đất trong tay
bỏ xuống
thay dòng lệ
khóc thương anh!!
Phước ơi
giờ nầy
anh nằm đây
khói nhang nghi ngút
không lạnh đâu anh
Tôi về nhà
đơn lạnh
lạnh lắm anh ơi!!
Tuổi học trò
sống lại trong tôi
Tôi nhớ ngày xưa
mỗi lần vào tiệm sách
anh chỉ nói:
tôi mua cây bút chì
Tôi đâu hiểu
vì yêu tôi
anh phải tới
Tôi cũng mến anh
người bạn thật hiền
tôi đâu biết
anh yêu tôi đến thế
Phước ơi
sao ngày xưa
anh không nói
để bây giờ
TÔI PHẢI NỢ ANH

Hoàng Long


Vũ Lâm Linh 雨霖鈴 - Trương Hỗ (Trung Đường)

Trương Hỗ 張祜 (khoảng 785-849) tự Thừa Cát 承吉, người Thanh Hà (nay thuộc tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc), nổi tiếng về thể cung từ, thơ có 10 quyển.


Nguyên bản Dịch âm

雨霖鈴 Vũ Lâm Linh

雨霖鈴夜卻歸秦 “Vũ lâm linh” dạ khước quy Tần,
猶見張徽一曲新 Do kiến Trương Huy nhất khúc tân.
長說上皇和淚教 Trường thuyết thượng hoàng hoà lệ giáo,
月明南內更無人 Nguyệt minh nam nội cánh vô nhân.

Chú giải

雨霖鈴 “Vũ Lâm Linh” là tên nhạc khúc, còn viết là 雨淋鈴. Trương Dã Hồ 張野狐 giỏi thổi kèn, làm trưởng Tham quân hý (lo việc mua vui trong quân đội). Trong loạn An Lộc Sơn, Dã Hồ theo Đường Minh Hoàng nhập Thục rồi lại cùng vua trở về kinh. Đường Minh Hoàng trên đường về kinh, nghe tiếng mưa trong rừng ngân như tiếng chuông bỗng nhớ Dương Quý Phi, sai Dã Hồ làm hai khúc Vũ-lâm-linh và Hoàn-ai-nhạc 還哀樂.
卻 khước: lùi bước, từ chối.
秦 Tần: Nước Tần. Nhà Tần (248-207, trước T.L.), Tần Thuỷ Hoàng 秦始皇 diệt cả sáu nước thay nhà Chu làm vua gọi là nhà Tần. Nước Tần trong bài này chỉ nước Tàu.
Trương Huy: Tức Trương Dã Hồ
Thượng Hoàng: Chỉ Đường Minh Hoàng, khi đó đã làm thái thượng hoàng
教 giáo: truyền, dạy.
Nam nội: Hoàng cung gọi là đại nội, Đường Minh Hoàng khi đó làm thái thượng hoàng ở phía nam đại nội nên gọi là nam nội.

Dịch nghĩa

Vũ Lâm Linh

Khúc “Vũ lâm linh” lui về Trường An,
Do Trương Huy đã hát (khúc ấy) ở đó,
Lời ca kể lể Thượng Hoàng (Đường Minh Hoàng) đã khóc rồi sai y (Trương Huy) chép lời,
Trăng sáng rọi cả vào “Nam nội” nhưng không còn ai.

Dịch thơ

Vũ Lâm Linh

“Vũ Lâm Linh” nhạc khúc về Tần,
Do thấy Trương Huy đã hát vang.
Nghe nói Thượng Hoàng nhòa lệ dạy,
Trăng soi Nam-nội chẳng còn dân.

Lời bàn

Đường Minh Hoàng chỉ thương nhớ Dương Quý Phi, không thương xót hàng triệu dân đã điêu đứng và chết oan vì mối tình ngang ngược của mình với mỹ nữ họ Dương. Nhưng Trương Hỗ không trách vua. Ông dễ dãi lắm. Ông chỉ nhắc sơ lược tiểu sử của khúc “Vũ Lâm Linh” trong 3 câu đầu; câu kết nói Nam-nội (Đại nội của Đường Minh Hoàng) vắng tanh chẳng còn dân, một câu thương hại ông vua đa tình chứ không phiền trách ông vua dại gái.

Con Cò
***
Vũ Lâm Linh

“Vũ lâm linh” đêm trở về Tần
Lại thấy Trương Huy tấu khúc ngân
Chuyện kể Thương hoàng rưng lệ bảo
Sáng trăng Nam nội vắng cung nhân


Lộc Bắc

***
Vũ Lâm Linh

Về Tần đêm vọng tiếng mưa rơi,
Như điệu Trương Huy mới dạo chơi.
Vua khóc truyền ghi lời khúc nhạc.
Trăng soi, nam điện vắng không người.

Mỹ Ngọc phỏng dịch.
Apr. 12/2025.
***
Tiếng Chuông Trong Đêm

Về Tần mưa đẫm tiếng chuông mê
Nhớ nhạc Trương Huy buồn tái tê
Nghe nói Thượng Hoàng tuôn lệ thảm
Cung Nam cô độc ngắm trăng thề

Thanh Vân
***
Khúc Vũ Lâm Linh

Mưa đêm dai dẳng đất Trường An
Khúc Vũ Lâm Linh vẫn tấu vang
Nghe lại lời ca đầm nước mắt
Trăng soi riêng bóng chỉ Thượng Hoàng

Kim Oanh
***
Trương Hỗ 張祜 Zhāng Hù

Nguyên bản:        Phiên âm:

雨霖鈴                  Vũ Lâm Linh

雨霖鈴夜卻歸秦 Vũ Lâm Linh dạ khước quy Tần
猶是張徽一曲新 Do thị Trương Huy nhất khúc tân
長說上皇垂淚教 Trường thuyết Thượng hoàng thùy lệ giáo
月明南內更無人 Nguyệt minh Nam nội cánh vô nhân

Bài thơ có mộc bản trong các sách:

Nhạc Phủ Thi Tập - Tống - Quách Mậu Thiến 樂府詩集-宋-郭茂倩
Thu Giản Tập - Nguyên - Vương Uẩn 秋澗集-元-王惲
Đường Thi Phẩm Vị - Minh - Cao Bính 唐詩品彙-明-高棅
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐詩-清-聖祖玄燁

Sách Quách Mậu Thiển ghi tựa là Lâm Linh Nhị Khúc 霖鈴二曲. Các sách khác ghi tựa Vũ Lâm Linh với chữ Lâm viết khác nhau:

霖 với bộ 雨vũ = mưa dầm, mưa dai dẳng
淋 với bộ 水thủy = mưa phùn, ướt đầm, ngâm nước
Sách đời Thanh cho dị bản trong câu 2 見kiến thay vì 是thị và xài chữ 和hòa thay vì 垂thùy trong câu 3.

Sách Cao Bính đời Minh có ghi chú đầy đủ truyền thuyết về nguồn gốc của ca khúc Vũ Lâm Linh gồm 2 câu chuyện, một trên đường đến Thục và một khi đã trở về lại Trường An, như sau:

Sử ký Minh Hoàng ghi lại rằng Hoàng đế đã đến đất Thục, phía nam Tứ Xuyên, và đi vào một thung lũng hẹp, nơi có mưa trong mười ngày. Trên con đường lót ván, ông nghe tiếng chuông ngựa hòa âm với núi rừng. Ông thương tiếc Dương Quý phi đã bị bức tử nên đã đưa những âm thanh đó vào bản nhạc Vũ Lâm Linh để bày tỏ nỗi buồn của mình. Vào thời điểm đó, chỉ có Trương Huy张徽, một nhạc công tài giỏi ở Độc Lê Viên独梨园, theo ông đến Tứ Xuyên và giúp phổ biến ca khúc này.

Đến thời Chí Đức, loạn An Lộc Sơn đã dẹp yên, Minh Hoàng trở lại Hoa Thanh Cung华清宫, tất cả phi tần và cung nữ đều không còn như trước nữa. Hoàng đế ra lệnh cho Trương Huy diễn lại ca khúc Vũ Lâm Linh tại Vọng Kinh Lâu望京楼, ông cảm thấy buồn đến nỗi bật khóc. Sau đó bài hát được chép vào Pháp Bộ法部.

Sách của Thánh Tổ Huyền Diệp đời Thanh có nhắc lại một phần câu chuyện Đường Minh Hoàng và ca khúc Vũ Lâm Linh.

Ghi chú:

Vũ Lâm Linh: là một tạp khúc ca từ của Giáo Phường thời Đường, sau nó trở thành tên của một điệu từ với 103 chữ chia làm 2 đoạn: đoạn 1 gồm 10 câu với 5 vần trắc, đoản 2 gồm 9 câu với 5 vần trắc.
Tần: nhà Tần thống nhất Trung Hoa năm 221 TCN, chỉ đất nước Trung Hoa thời bấy giờ
Do thị: nó vẫn như cũ
Trương Huy: là Trương Dã Hồ 张野狐, một nhạc sĩ trong cung điện, giỏi về không hầu 箜, một thứ nhạc cụ ngày xưa, giống như cái đàn sắt nhỏ.
Nam nội: cung điện Hưng Thanh ở Trường An vào thời nhà Đường, nằm ở phía Nam cung Bồng Lai, ban đầu đây là nơi ở của Đường Huyền Tông khi ông còn là chư hầu nên được gọi là "Nam nội"

Dịch nghĩa:

Vũ Lâm Linh   

Vũ Lâm Linh dạ khước quy Tần
Do thị Trương Huy nhất khúc tân
Trường thuyết Thượng hoàng thùy lệ giáo
Nguyệt minh Nam nội cánh vô nhân

Tiếng Chuông Trong Đêm Mưa Dầm

Ta trở về đất Tần vào đêm mưa dầm trong tiếng chuông ngựa,
Tai vẫn còn nghe thấy bài hát mới của Trương Huy.
Hoàng đế thường nói về bài học đầy nước mắt của mình,
Dưới ánh trăng cung điện phía Nam không một bóng người.

Vào một đêm mưa dầm, Đường Minh Hoàng trở về Trường An từ đất Thục Trung. Cuộc khởi nghĩa An Sử đã kết thúc, nhưng tình cảnh của Đường Minh Hoàng cũng giống như bài Vũ Lâm Linh do nhạc sĩ Trương Huy trình tấu.

Người ta kể lại rằng Đường Minh Hoàng rơi lệ vì nhớ Dương Quý Phi khi nghe lại khúc Vũ Lâm Linh. Dưới ánh trăng sáng, trong cung Nam Cung tĩnh lặng không bóng người, Đường Minh Hoàng buồn bã cô đơn.

Dịch thơ:

Tiếng Chuông Trong Đêm Mưa Dầm

Trở lại Trường An đêm mưa dầm,
Tai còn văng vẳng khúc Vũ Lâm.
Khi nghe Minh Hoàng mắt đẫm lệ,
Trăng sáng cung Nam vắng âm thầm.

Bell Ringing In A Rainy Night by Zhang Hu

Emperor Minghuang returned to Changan on a rainy night,
He still heard the new song Yu Lin Ling by court musician Zhang Wei.
It was told that the emperor cried when he heard the song again,
Under the bright moon, the Southern Palace was without a soul.

Phí Minh Tâm
***
Góp Ý:

... sai Dã Hồ làm hai khúc Vũ-lâm-linh và Hoàn-ai-nhạc.
Câu này có thể không đúng với thực tế, hay do người dịch hiểu sai. Theo trang 雨霖铃=Vũ tâm linh - zh.Wikipedia này, lúc Đường Huyền Tông từ Thục về lại Tràng An, đi qua sạn đạo ở Tà Cốc (địa danh ở Thiểm Châu liên hệ với Gia Cát Lượng trong Tam Quốc Chí) thì mắc mưa dầm 10 ngày, nghe tiếng chuông và nhớ Dương quý phi, nên chọn điệu mạn vũ lâm linh (và hoàn ai nhạc) rồi sai nhạc công Trương Dã Hồ tấu - không phải hát - với kèn tất lật. Chữ 采=thái trong câu 采其聲為 (thái kỳ thanh vi) có nghĩa là chọn/lựa. Hai điệu nhạc giáo phường đó đã có từ thời Đường nhưng soạn giả là ai thì có lẽ không ai biết. Từ bài vũ lâm linh còn có tên là vũ lâm linh mạn (雨霖铃慢).

猶見張徽一曲新=do kiến Trương huy nhất khúc tân
張=Trương thì đúng là họ Trương nhưng "Trương huy" không phải là tên của Trương Dã Hồ vì 徽=huy có nghĩa là đàn/tấu! Chủ từ của câu thứ nhì này ẩn dụ và làm bài thơ khó hiểu, một phần vì từ 新=tân (nghĩa là mới) chỉ có thể hiểu như là một trạng từ với nghĩa (trong) lần đầu. Ai 見=kiến/gặp bài nhạc lần đầu? Phải chăng Trương Hỗ muốn nói là người nào đó gặp bài vũ tâm linh này lần đầu truyền lại đời sau huyền thoại thái thượng hoàng khóc vì không còn quý phi dưới trăng ở nội điện hướng nam?

Huỳnh Kim Giám

Tiếng Việt Tại Hải Ngoại Sau 50 Năm và VYEA - Hội Giáo Dục Trẻ Em Việt Nam vùng Hoa Thịnh Đốn

Thầy cô và ACE thiện nguyện viên, thế hệ thứ hai và vài vị thuộc thế hệ thứ nhất, của Hội Giáo Dục Trẻ Em Việt Nam Vùng HTĐ (VYEA)

Suy từ câu nói bất hủ của học giả Phạm Quỳnh, "Truyện Kiều còn thì... nước ta còn”, thì người Việt nơi hải ngoại phải nói, Tiếng Việt còn thì nước Việt còn”. Mà theo nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, "Sống trên đời sống cần có một tấm lòng”, mình có được tấm lòng thì ý nghĩa cuộc đời mình không lẽ để gió cuốn hết đi. Cho nên tấm lòng quý nhất là giữ gìn và bảo tồn Văn hóa cùng Việt Ngữ của quê hương.
 
Như bài hát vỡ lòng “Tôi yêu tiếng nước tôi”, vào đời mà biết đọc biết viết cũng nhờ các cô các thầy của những ngày đầu tiên ấy.  Nay ở hải ngoại, cũng nhờ những thầy cô có tâm, có lòng yêu tiếng Việt mà từ những phương trời luân lạc xa quê hương, người Việt nhìn ra thế giới có thể hãnh diện là thế hệ con cháu của mình vẫn còn gìn giữ tiếng mẹ đẻ và những phong thái Việt, tục lệ Nam. Quan trọng nhất, cũng nhờ các bậc cha mẹ khổ công  thúc đẩy con cái ráng học nói tiếng Việt và dạy dỗ chúng đừng quên công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy.
 
Sống ở cái xã hội đa nhiêu hợp chủng, nỗi lo mất tiếng mẹ càng canh cánh bên lòng những nhà làm văn hóa và giáo dục Việt. Thế nên từng ngày một, trên khắp cộng đồng người Việt hải ngoại đã mọc lên nhiều trường tiếng Việt trong những khu Little Saigon bên cạnh các chợ Việt Nam, các quán Phở, mà ngay cả ở những ngoại ô thưa người, cũng có các lớp tiếng Việt cho trẻ em Việt học ê a.
 
Việc truyền bá duy trì tiếng Việt và văn hóa Việt từ lâu vẫn là ăn cơm nhà vác ngà voi, nhưng các thầy cô đều tình nguyện cung cúc hàng chục năm trời cho nghĩa vụ này. Thật là đáng quý cho những tấm lòng của họ.
 
Một thí dụ là gia đình thầy Chử Bá Anh và nữ sĩ Vi Khuê, xưa hai người từng là hiệu trường trung học Văn Học & Văn Khoa, Đà lạt trước 1975. Họ tiêu biểu cho lớp tiền phong trong công việc gìn giữ nguồn Việt, qua các hoạt động với hội Giáo Dục Trẻ Em Vùng Hoa Thịnh Đốn (VYEA). Hội hoạt động liên tục từ 1977 cho đến khi thầy CBA qua đời năm 1996 vả rồi tiếp tục với các cộng sự viên và các con cái của ông bà, cho đến năm 2023 thì ngừng hẳn.
 
Mỗi năm trong suốt 46 năm ấy, "Lớp Hè Tiếng Việt" của VYEA với sự đóng góp của hàng trăm cha mẹ, hơn 50 thầy cô, đã dạy tiếng Việt chữ Việt cho khoảng 400 học sinh tuổi từ 6 đến 18 tuổi. Ngoài việc dạy chữ, các thầy cô bỏ rất nhiều công tạo các sinh hoạt cho các trẻ em trong không khí đùm bọc của một nhà Việt Nam.
 
Vùng thủ đô Hoa Kỳ có khoảng dưới một trăm ngàn người Việt gốc Mỹ, một con số khá lớn nhưng không bằng các vùng Orange County hay San Jose ở California, hoặc ở Houston Texas, chưa kể ở Âu Châu như Ba Lê, Luân Đôn, ...
 
Theo Thanh Trúc, RFA (2015) Nối gót tiên phong từ Hội Giáo Dục Trẻ Em Việt Nam vùng Hoa Thịnh Đốn, nhiều trường Việt ngữ vùng Virginia và phụ cận lần lượt thành hình. Bà Lê Tống Mộng Hoa, trước là giáo viên, từng dạy tiếng Việt nhiều năm trong Hội Giáo Dục Trẻ Em Việt Nam vùng Hoa Thịnh Đốn: “Ngoài trường Việt ngữ của Hội Giáo Dục Trẻ Em Việt Nam, gọi tắt là VYEA, còn có trường Việt ngữ Thăng Long, trường Việt ngữ nhà thờ St.  Michael, trường Việt ngữ Nhà Thờ Các Thánh Tử Đạo, Lớp Việt ngữ chùa Hoa Nghiêm, và Nhà Việt Nam sau này cũng có mở Lớp Việt ngữ. Trong các hoạt động của Hướng Đạo thì các huynh trưởng cũng có dạy Việt ngữ cho các em.
 
Tiểu bang Maryland có lớp dạy tiếng Việt của Giáo Xứ Mẹ Việt Nam và trường Việt ngữ Hoài Hương. Maryland, tuy ít mà cũng được khoảng 100 em theo học. Rồi miền Đông Bắc Hoa Kỳ với dân số Mỹ gốc Việt đông hàng thứ ba nước Mỹ, Texas là tiểu bang có số người Việt đông hàng thứ hai. Năm 1986, tại thành phố Houston, Texas, ba nữ sinh viên Vân Anh, Nguyệt và Huyền, đứng ra thành lập trường Việt ngữ Hùng Vương. Hiện tại trường Việt ngữ Hùng Vương đã yên vị trong Đại Học Cộng Đồng Houston với số học sinh thay đổi từ 400 đến 450: 
 
Không chỉ trường Việt ngữ Hùng Vương với bề dày sinh hoạt gần ba thập niên, nhiều lớp Việt ngữ khác trong thành phố Houston cũng góp mặt đều đặn hàng tuần. Theo ký giả Dương Phục, giám đốc đài Saigon Houston:
 
“Các cơ sở tôn giáo, các chùa các nhà thờ đều có lớp Việt ngữ. Những lớp Việt ngữ này bền bỉ vì có số học sinh đều đặn. Hiện giờ có một số những người trẻ hoặc là giáo chức cũng mở những trung tâm dạy Việt ngữ không những cho trẻ em mà cả cho lớp lớn tuổi nữa. Bây giờ giới trẻ dù đi vào đại học rồi mà vẫn muốn thông thạo Việt ngữ hơn mặc dù đã sử dụng Việt ngữ cũng tàm tạm trong sinh hoạt gia đình. Cho nên có những lớp Việt ngữ dạy cho lớp 12 trở lên hay cả những sinh viên đại học. Đây là điều cho thấy giới trẻ bây giờ không phải đi học vì bố mẹ bắt ép đi học mà họ tình nguyện đi học.
 
Dallas hay Austin cũng là những thành phố có đông người Mỹ trong tiểu bang Texas, mỗi nơi đều có từ ba đến bốn trường dạy tiếng Việt lớn nhỏ. Tại Dallas, trường Văn Lang được coi là một trung tâm Việt ngữ lớn và đông học sinh trong thành phố.
 
Từ Texas ngược lên California với cộng đồng cư dân Việt đông hàng đầu nước Mỹ, chủ tịch Ban Đại Diện Các Trung Tâm Việt Ngữ Nam California là cô Nguyễn Khoa Diệu Quyên, giáo viên Toán và năm nay thêm môn Việt ngữ tại trung học Pacifica, học khu Garden Grove: Ban Đại Diện Các Trung Tâm Việt Ngữ giới thiệu bộ sách giáo khoa từ lớp Mẫu Giáo cho tới Lớp Năm, đã được ấn hành cũng như đã được quý thầy cô tại các Trung Tâm Việt ngữ sử dụng để dạy tiếng Việt cho các em mỗi cuối tuần. Ngoài ra còn có bộ sách lịch sử bằng tranh, có hai phần tiếng Việt và tiếng Anh, để dạy cho các em lịch sử bằng những hình ảnh dễ nhớ và có thể học hỏi nhanh hơn. 
 
Các cơ sở tôn giáo, các chùa các nhà thờ đều có lớp Việt ngữ. Những lớp Việt ngữ này bền bỉ vì có số học sinh đều đặn. Hiện giờ có một số những người trẻ hoặc là giáo chức cũng mở những trung tâm dạy Việt ngữ không những cho trẻ em mà cả cho lớp lớn tuổi nữa”.
 
Theo bà Huỳnh Thị Ngọc, một trong những người sáng lập Trung Tâm Văn Hóa Hồng Bàng: “Trung Tâm Văn Hóa Hồng Bàng chính thức thành lập năm 1993, niên khóa 93-94, trên 20 năm rồi. Đầu tiên hết chỉ có 60 em học sinh thôi, thầy cô giáo thì trên dưới 10 người. Qua chặng đường dài hai mươi mấy năm thì số học sinh bây giờ xấp xỉ trên dưới 800 em. Tất cả thành viên của Hồng Bàng khoảng 80 người, giáo viên đứng lớp là 72 người.  Tất cả chúng tôi đều là những thành viên thiện nguyện. Chúng tôi sinh hoạt tự túc, sách cũng tự túc in ra”.
 
Trong lúc Bắc California, thành phố San Jose, không thua với những trường Việt ngữ tầm cỡ như Trung Tâm Việt Ngữ Văn Lang, thì quá trình thành lập trường tiếng Việt ở Sacramento, thủ phủ bang California, cũng phát xuất từ nỗi lo con trẻ Việt quên tiếng Việt.
 
Ở Australia có Vietnamese Cultural Schools Association, Liên trường Văn Hóa Việt Nam, là hệ thống 6 trường Việt ngữ với tổng cộng trên hai nghìn học sinh thuộc sáu quận hạt của thành phố Sydney, tiểu bang New South Wales.  Nhiều em học dưới Tiểu Học xong lên đây học 4 năm, nhìn chung qua những thông tin từ các trang mạng tôi  thấy các em học được, không có kiểu học lấy lệ do cha mẹ bắt ép.
 
Về những trường Việt ngữ lâu năm ở Canada thì không thể không nhắc đến trường Văn Hóa Việt Nam thuộc Trung Tâm Văn Hóa Giáo Dục Hồng Đức ở thành phố Montreal. 
 
Trở về với thầy cô Chử Bá Anh / Vi Khuê và các hoạt động của họ tại thủ đô Hoa Kỳ, tôi thu thập được một số tài liệu thú vị, xin trích lại dưới đây.
 
Năm 2006, cô Phương Anh, phóng viên đài RFA có nhận định như sau.
 
Đối với đại đa số những người Việt Nam định cư ở nước ngoài, thì một trong những vấn đề ưu tư nhất là làm sao để con cháu có thể nói, đọc và viết tiếng Việt, mặc dù chúng sinh trưởng tại nước ngoài hay rời quê hương từ khi còn quá nhỏ. Nỗi ưu tư này rất lớn vì trẻ học hành, sinh hoạt với các bạn đồng trang lứa trong khung cảnh văn hóa và ngôn ngữ nước sở tại mỗi ngày hàng chục giờ. Cho dù ở nhà có nói tiếng Việt, thì nhiều khi các em cũng không tha thiết vì lẽ những chuyện mà ông bà nói thì ngày càng xa lạ với những gì các em thật sự quan tâm.
 
Điều may mắn cho cộng đồng là luôn luôn có những người nhìn thấy vấn đề và sẵn sàng bỏ thì giờ tiền bạc cùng công sức vào việc vun bồi văn hóa Việt Nam cho giới trẻ. Cố gắng ấy đã có từ những ngày đầu cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại được thành lập, và trong hơn 30 năm qua, chưa bao giờ dừng lại.
 
Điều làm cho những ai quan tâm đến vấn đề xúc động và lạc quan, là cố gắng ấy ngày càng được nhận biết, được hoan nghênh và được tham gia tích cực.
 
Một hình ảnh điển hình của tiến trình vừa mô tả là hoạt động của Hội Giáo Dục Trẻ Việt Nam vùng Hoa Thịnh Đốn mà Phương Anh trình bày cùng quý thính giả trong khuôn khổ Câu chuyện hàng tuần kỳ này, nhân dịp Hội vừa tổ chức lễ bế mạc khóa hè Việt Ngữ 2006 hôm đầu tháng tám.
 
Được biết, trong suốt 30 năm qua, lớp Hè tiếng Việt VYEA được tổ chức vào mùa hè và hoàn toàn miễn phí. Các học sinh chỉ phải đóng một số tiền lệ phí tượng trưng, giúp cho nhà trường trong việc mướn trường ốc và in bài vở cho các em. Các thầy cô giáo đều là những tình nguyện viên đến lớp sau mỗi ngày làm việc. Buổi tối là giờ sum họp của gia đình, giờ nghỉ ngơi, nhưng họ đã hy sinh thời gian quý báu đó để giúp cho các em.
 
Cô Lê Tống Mộng Hoa, trong Ban chấp hành của Hội cho biết thêm: “Trong mùa hè, các em được nghỉ nên đi học tiếng Việt khoẻ hơn. Lớp học tiếng Việt với tinh thần vừa học vừa chơi...không khí trong lớp rất vui, các em tới trường lại được gặp các em khác để nói tiếng Việt.  Điều quan trọng nhất là ban ngày các em không phải đi học, nên buổi tối các em đến trường tràn đầy nghị lực. Do đó, tuy chỉ học 6 tuần, nhưng sau 6 tuần thì thầy cô cũng như phụ huynh thấy các em tiến bộ rõ rệt.”
 
Được biết, tuy gọi là khoá Hè, nhưng để chuẩn bị cho phần giảng dạy, Hội đã thành lập ban tu thư, để chuyên lo phần giáo trình cho các thầy cô và học sinh. Các giáo trình được soạn thảo rất kỹ lưỡng và in ấn rất chu đáo. Thi sĩ Vi Khuê, một người trong ban tu thư phát biểu: “Ngày xưa thì làm đơn giản, nhưng càng ngày thì càng tiến lên hơn, đã trải qua nhiều giai đoạn. Mấy năm sau này, chúng tôi soạn bộ sách hướng dẫn từ cấp 1 đến cấp 7. Chúng tôi soạn những tập sách về căn bản tập nói và tập viết tiếng Việt, theo tinh thần của quyển Quốc Văn Giáo Khoa Thư, quyển sách xưa nhưng được coi là gương mẫu cho trẻ em.
 
Chương trình được soạn bằng ca dao, tục ngữ. Nhưng muốn cho hợp thời thì tôi đã viết bằng thơ, ca dao, hợp với thời đại mới. Gần đây, chương trình phải làm sao cho phù hợp với trẻ em ở Hoa Kỳ. Ngoài việc trau dồi ngữ vựng, các em còn được đọc những truyện ngắn và truyện tranh, những bộ hình để dậy bằng video, projector…
 
Các em học hát, học hát rất quan trọng, vì khi học hát các em được học mặt chữ, dễ nhớ được lâu dài hơn. Đó là đối với các em nhỏ. Còn các em lớn thì chúng tôi soạn bài bằng Anh ngữ, nhưng khi các em trả lời thì bằng tiếng Việt, như thế các em hiểu tiếng Anh và trả lời tiếng Việt, chứ không dậy tiếng Việt hoàn toàn.”
 
Theo lời của tiến sĩ Chử Nhị Anh, tuy đã có những giáo trình thật kỹ lưỡng, soạn thảo rất công phu, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, ông nói: “Khó khăn thứ nhất là làm thế nào để dạy cho các em ngữ vựng, một số văn phạm, và đọc được một số bài văn. Do đó, cách đây vài năm, chúng tôi thay đổi, thay vì nhồi hết vào mùa hè thì chia thành 6 năm. Tức là nếu các em muốn học hết thì các em phải trở lại vài năm.  Khó khăn khác là các em có thể đánh vần được ngay, nhưng  chẳng hiểu gì cả. Các em rất nhanh, đánh vần rất mau, nhưng phải làm sao cho các em hiểu được và thích nói tiếng Việt, thì chúng tôi vẫn chưa làm được một cách thật hiệu quả vì dẫu sao các em cũng sinh ra ở Mỹ. một vài cha mẹ có kể chuyện là các em về Việt Nam một vài tuần thì tự nhiên các em nói ra những cái các em học được từ lớp hè. Chúng tôi cũng hy vọng là khi nào các em có dịp đi chơi đâu đó hay lớn lên thì vốn tiếng Việt của các em sẽ tự động có.”
 
Về phần cô giáo Hoàng Lan Hương, đã tham gia tình nguyện dạy cho lớp hè Việt Ngữ này được 18 năm, thì cho rằng:“Tôi thấy được tầm quan trọng của việc gìn giữ tiếng Việt nên tôi đã tình nguyện giúp. Phần lớn các em sinh ở Mỹ, gia đình, bố mẹ nói tiếng Việt với các em, các em hiểu được nhưng phần đọc và viết thì không được dạy ở nhà vì phần lớn bố mẹ bận rộn, lại không có chương trình rõ ràng chỉ bảo cho các em. Thành ra, tôi nhận thấy chương trình này rất tốt, buổi đầu tiên chưa biết đọc, biết viết, nhưng chỉ sau 6 tuần mùa hè là các em bắt đầu đọc được những câu thường như “ba đi làm”, những em ở lớp cao hơn thì có thể làm văn.”
 
Để duy trì và nuôi dưỡng tiếng Việt, khoá Hè Việt Ngữ của Hội Giáo Dục Trẻ Em Việt Nam vùng Hoa Thịnh Đốn còn mở thêm lớp 7, cho những em đã tốt nghiệp. Thầy giáo Hoàng Việt Dũng cho biết: “Sau khi học xong lớp 6 thì các em ra trường, nên chúng tôi muốn giữ các em lại nên mới lập ra lớp phụ giáo. Tức là các em học xong lớp 6 thì có thể vào lớp này. Nói là phụ giáo nhưng thực ra chỉ giúp cho các cô sửa bài, chấm bài, nếu cần làm gì trong lớp thì các cô giáo mượn làm.”
 
Ông Phạm Đăng Lương, có con 13 tuổi và đã theo học tại đây 5 năm qua, cho biết lý do tại sao cứ mỗi mùa hè đến, ông lại cố gắng mỗi tối chở con đến lớp. Ông nói: “Để cho nó nói được và nói được tiếng Việt, ở nhà thì làm luận văn thêm… nó cũng quên chút chút, nhưng ở nhà vẫn nói tiếng Việt với cháu thành thử nó vẫn giữ được tiếng Việt.”
 
Bà Nguyễn Thị Lý, mẹ của em Huỳnh Trung Đà Giang, cô nữ sinh đã đoạt giải nhất trong kỳ thi viết văn về người Mỹ gốc Á châu do Đài truyền hình NBC tổ chức, thì kể lại việc em đã học tiếng Việt nơi đây như thế nào: “Nó học lớp hè ban đầu nó không hề biết viết văn cho thành câu.  Đến khi hết lớp, thì nó có thể viết những bài luận. Tôi phải công nhận rằng họ dạy rất tiến bộ.”
 
Một phụ huynh khác, anh Nguyễn Minh Dũng, có hai con đang theo học lớp 7 phát biểu: “Mình là người Việt Nam, muốn cho con mình có thể nói, đọc và viết tiếng Việt như mình thì đó là lý do chính mà tôi đã đưa hai cháu đi học.  Tôi thấy chương trình này rất hiệu quả vì con tôi năm đầu tiên đi học về có thể đọc và viết được, nói chuyện rành rọt hơn. Ban ngày thì phải làm bài ở nhà, phải tập viết, làm luận, nói chuyện với nhau. Tôi thấy kết quả rõ ràng lắm.”
 
Nhân đây, Phương Anh cũng liên lạc với em Nguyễn Minh Duy, 14 tuổi, hiện là phụ tá cho cô giáo lớp hai ở khoá Hè, em nói: “Con học 3 năm và phụ giúp 3 năm. Ở nhà mẹ con đã dạy con chút ít rồi, nhưng khi con học con thích nhất là học về lịch sử Việt Nam, vì lần nào cũng có cái mới, học hoài không hết, rồi gặp bạn bè… Trong lớp, con phụ cô giáo ôn bài lại, chấm bài cho cô, phụ học sinh.”
 
Còn em Nguyễn Thùy Vi, 16 tuổi, thì nói: “Con học 4 năm và phụ hai năm. Con học được ngữ vựng và đọc truyện như truyện “Chiếc bó đũa”.  Con thích tới đó vì được gặp bạn bè ở lớp hè.”
 
Tôi có đứa con, cũng học đến lớp 7 ở trường này, khi nó về Việt Nam, nó nói là nó người Việt Nam, vì nói được tiếng Việt, nó cảm thấy đó là nước của nó. Điểm chính là mọi người yêu tiếng Việt Nam và muốn duy trì tiếng mẹ đẻ cho thế hệ mai sau.
 
Với cuộc sống nơi xứ người đầy bận rộn, thời giờ thật quí hiếm, thế nhưng, vì lòng nhiệt huyết muốn duy trì ngôn ngữ mẹ đẻ cho thế hệ mai sau, nên dẫu cho vất vả đến đâu chăng nữa, các thầy cô vẫn hy sinh đến lớp đều đặn trong suốt 6 tuần lễ. Phụ huynh Nguyễn Minh Dũng nói: “Họ cực hơn cha mẹ nữa, vì họ đi làm xong phải đến thẳng chỗ làm, đến khuya mới về, trong lúc đó thì con cái chúng tôi đã ăn uống đầy đủ rồi mới tới trường. Chúng tôi luôn nhớ đến các thầy cô, nhờ sự hy sinh tận tụy của các thầy cô hướng dẫn nên con cái chúng tôi mới nói được tiếng Việt.
 
Được biết, ngoài việc dạy tiếng Việt, để hướng dẫn thêm cho các em về văn hoá Việt, trong hai năm vừa qua, trường còn tổ chức ban nhạc hoà tấu Phượng Hoàng dưới sự hướng dẫn của nhạc trưởng Phạm Dương Hãn và cô Hoàng Kim Chi, quy tụ các em từ 16, 17 tuổi trở xuống, với các nhạc cụ dương cầm, vĩ cầm, sáo, cello, trống để trình diễn những bài nhạc dân ca Việt Nam.
 
Đến đây, mời quý vị nghe một đoạn trong bài Hòn Vọng Phu do các em trình tấu: (Xin theo dõi trong phần âm thanh bên trên) Vì sao mà suốt 30 năm qua, khoá Hè tiếng Việt của Hội Giáo Dục Trẻ Em Việt Nam vùng Hoa Thịnh Đốn lại được duy trì lâu bền như thế, cô hiệu trưởng Nguyễn Phan Trinh tâm sự: “Tôi có đứa con, cũng học đến lớp 7 ở trường này, khi nó về Việt Nam, nó nói là nó người Việt Nam, vì nói được tiếng Việt, nó cảm thấy đó là nước của nó. Điểm chính là mọi người yêu tiếng Việt Nam và muốn duy trì tiếng mẹ cho thế hệ mai sau.  Phụ huynh cũng như thầy cô giáo ai cũng có đời sống rất bận rộn nhưng đến mùa hè lại đến với nhau. Cái sức mạnh để cho mọi người đến với nhau, đó là ai cũng có một tấm lòng nhiệt tình.”


Các thầy cô thuộc giai đoạn thứ nhất (1976-1996) của Hội Giáo Dục Trẻ Em Việt Nam vùng Hoa Thịnh Đốn

Phụ huynh Nguyễn Nhật Huy, vốn từng dạy học tại quê nhà, cho cảm nghĩ:
 
Ở một số tiểu bang ở Mỹ, tôi được biết có nhiều nhà thờ, nhiều chùa tổ chức lớp dạy tiếng Việt cho trẻ em người Việt. Đây là việc làm rất đáng hoan nghênh. Nghĩ, giá mà nhà nước Việt Nam chú ý đến mãng này, nghị quyết 36 về người Việt Nam ở nước ngoài chú ý đặt nặng vấn đề này (**) thì tương lai tiếng Việt sẽ không bị mai một qua thời gian.  Nhưng đó chỉ là ý nghĩ vì ngay ở trong nước, vẫn có nhiều chủ trương phá hoại tiếng Việt mà Bùi Hiển là một điển hình, sách giáo khoa tiếng Việt sai be bét mà chính phủ không lên tiếng thì hy vọng, chỉ là hảo huyền!.
 
Một cộng tác viên kỳ cựu của thầy cô CBA/VK là cô Lê Tống Mộng Hoa, tiếp nối thầy dẫn dắt hội Giáo Dục trong năm đầu sau buổi giao thời năm 1997, đã viết về công trình giáo dục này, nhân dịp chào mừng năm thứ 40 hoạt động, như sau.
 
Lễ Mãn Khóa Lớp Hè Tiếng Việt Năm Thứ 40 của hội Giáo Dục Trẻ Em Việt Nam vùng Hoa Thịnh Đốn (Vietnamese Youth Education Association of Washington D.C.- VYEA) đã hoàn tất thành công mỹ mãn tại trường Trung Học Robert E. Lee 6540 Franconia Road, Springfield, Virginia với hơn 600 người tham dự.
 
Theo lời cô Chử Nhất Anh: “Ngày hôm nay, VYEA là một trong những hội đoàn lâu đời nhất của Cộng Đồng Người Việt tại hải ngoại. Cùng chung một tiếng nói, một mục đích và với sự cố gắng không ngừng nghỉ, có lẽ trong trái tim chúng ta ít nhiều cũng rộn rã một niềm vui vì đã và đang cùng nhau góp một bàn tay xây dựng một môi trường tốt đẹp với Lớp Hè Tiếng Việt, các lớp học đặc biệt cũng như những sinh hoạt lành mạnh cho con em chúng ta vào mỗi mùa hè.”
 
Sau đó cô đã dâng lời cảm tạ đến người cha khả kính, tài ba, rộng lượng, sáng lập viên của trường Việt Ngữ Hoa Thịnh Đốn- VYEA; cố giáo sư Chử Bá Anh và thân mẫu, nữ sĩ Vi Khuê, trưởng ban Tu Thư của trường VYEA cùng tất cả các Cộng Tác Viên thiện nguyện khác.  Cô giáo Lê Tống Mộng Hoa, người cao niên duy nhất còn sót lại trong nhóm nhỏ các Thầy Cô dạy lớp tiếng Việt thuở ban đầu chập chững ấy, đã chia sẻ tâm tình bằng giọng nói run run đầy xúc cảm, cô nói: “…  Lễ mãn khóa năm nay đánh dấu một quá trình hoạt động bền lâu và tích cực của hội GDTEVN-HTD- VYEA, một chặng đường dài với nhiều đổi thay, mất mát cũng như thành tựu lớn lao; sinh nhật thứ 40 của trường VIỆT NGỮ HOA THỊNH ĐỐN-VYEA.
 
Vì dấu ấn đặc biệt và quan trọng nầy nên tôi, với tư cách là cựu Hiệu Trưởng của Trường VYEA những năm về trước mạo muội đặt tên cho ngày Mãn Khóa năm nay là: “ Ngày Nhớ Ơn Người” và gởi “Đôi Lời Tâm Tình” như là một “ Nén Tâm Hương” thành kính dâng lên hương linh các thầy cô đã tận tình, tận lực đóng góp công sức cho VYEA mà nay đã cất cánh bay xa về vùng trời miên viễn một cách đột ngột, bất ngờ khiến cho chúng ta, những người còn lại khó nguôi ngoai niềm thương tiếc, lòng cảm phục!
 
Năm 2016 nầy cũng đánh dấu 40 năm tròn mà cố G.S. Chử Bá Anh- người sáng lập ra VYEA- và đã dốc lòng vun xới, tưới tẩm, chăm sóc.  “khu vườn Giáo dục Văn hóa” nầy đã đột ngột lìa trần, bỏ lại khu vườn VYEA hoa tàn, cỏ úa, phải đóng cửa trường, không thể dạy vào năm ấy 1996!
 
Ngoài thầy Chử Bá Anh còn có các thầy cô khác cũng đã ra đi vĩnh viễn, mà nay qua 40 năm, trí nhớ của tôi đã lệch lạc, chỉ còn nhớ được tên vài người như: Cụ Phạm Ngọc Hương, cụ Nguyễn Hữu Phú, ông Nguyễn Văn Sâm, Thầy Chử Tam Anh, cô Nguyễn Minh Ngọc… và hương linh quý vị phụ huynh hoc sinh của trường mà tôi không nhớ tên… Quý vị nầy tuy không còn hiện diện trong các sinh hoạt của Lớp Hè Tiếng Việt nữa nhưng hương linh họ luôn theo dõi, độ trì cho chúng ta – các thầy cô giáo của VYEA- được chân cứng đá mềm, tiếp tục công tác hữu ích, lành mạnh dạy Tiếng Mẹ cho các trẻ em người Mỹ gốc Việt- thế hệ thứ 3, thứ 4, thông minh, sáng trí, học mau, hiểu rộng.
 
Nhân đây cô Mộng Hoa cũng xin gởi đến tất cả các Thầy cô giáo cùng quý vị phụ huynh hoc sinh trường VYEA LỜI CẢM ƠN SÂU XA về sự hy sinh cao quý, thì giờ, công sức, nhân lực, tài lực để cho hoạt động của hội GDTEVN được phát triễn bề ngang lẫn bề dọc, lớn mạnh sau 40 năm.
 
Các cựu hoc sinh của trường VYEA ngày nay đã trở nên các chuyên gia tài giỏi: bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, tiến sĩ kinh tế, luật sư, kỹ sư, dịch thuật gia biết nhiều ngoại ngữ khác nhau và giữ những chức vụ trọng yếu trong xã hội hiện tại ở nhiều quốc gia trên thế giới như Pháp, Anh, Úc, Mỹ, Canada …nhưng các em nầy vẫn nhớ và nói được tiếng Việt rõ ràng, thông thạo, thật đáng mừng!
 
“Quả ngọt” nầy sỡ dĩ có được là nhờ “Nhân lành” do công lao và Tình Thương vị tha của các Thầy cô giáo cùng các bậc phụ huynh đã cho ra không ngừng nghỉ để hỗ trợ, khuyến khich việc học tiếng Việt của các em. Xin CẢM TẠ quý Thầy Cô giáo và phụ huynh trường VYEA! Xin gởi tặng quý Thầy cô và quý phụ huynh VYEA 4 câu thơ ca ngợi Tình Thương của Tôn Nữ Hỷ Khương:
 
Còn gặp nhau thì hãy cứ thương
Tình người muôn thuở vẫn còn vương,
Chắt chiu một chút Tình Thương ấy
Gởi đến muôn phương, vạn nẻo đường…
 
Xin mời xem một số tài liệu đăng tải trên trang nhà của hội vyea.com
 
Đặc biệt là cuốn Kỷ Yếu kỷ niệm 40 năm hoạt động của hội, có thể xem trực tiếp tại đây:
 
Một lần nữa, dầu đã muộn màng, xin cảm tạ thầy Chử Bá Anh, cô Vi Khuê và gia đình VYEA. Bài viết thô thiển này là một nén nhang để tưởng nhớ người xưa. Cũng xin cảm ơn các thầy cô, các thiện nguyện viên, các trường Việt ngữ, các phóng viên của đài Radio Free Asia.
 
Cho dù VYEA đã ngưng hoạt động, nhưng âm hưởng của Hội vẫn còn vang mãi trong lòng các phụ huynh học sinh với niềm tiếc nuối. Những công trình giáo dục tiếng Việt của hội không bao giờ mất đi, mà vẫn tồn tại trong trí óc các em, và sẽ được tiếp tục truyền đi theo cả chiều rộng không gian lẫn chiều sâu thời gian trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại của thế hệ mai sau.
 
Xin Vinh Danh Hội Giáo Dục Trẻ Em Việt Nam vùng Hoa Thịnh Đốn VYEA đã đi tiên phong trong việc giữ gìn tiếng Việt qua bao khó khăn và hy sinh của những ngày đầu.
 
Phannữlan (Thái Lan)
Dallas, TX

Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2025

Con Đường Chúa Đã Đi Qua( Sáng Tác: L.M Văn Chi )- The Way Of Love (Dan Damon) - Ca Sĩ: Lê Quốc Tuấn


Sáng Tác: L.M Văn ChiThe
English: Dan Damon
Ca Sĩ: Lê Quốc Tuấn

14 Chặng Đàng Thánh Giá - St Michael And All Angels - Bedford Park, Chiswick (London)

 


Con đường Thập Giá Chúa qua
Cho con hiểu thấu phong ba cuộc đời
Con đường Thập Giá cao vời
Cho con thấy được rạng ngời đức tin
Con đường thập giá hy sinh 
Cho con trải nghiệm hành trình nguy nan 
Con đường Thập giá hiên ngang
Cho con ân tạ vinh quang tình Ngài

Amen!


Hình Ảnh & Thơ: Kim Oanh
Cuộc Thương Khó của Chúa, 2025


Niềm Mơ Ước Phục Sinh

 

Lạy Chúa đưa con về dòng sông mộng
Một lần hằng sống lại tuổi thơ ngây
Tâm bình yên thân thoát phận đọa đày
Sớm mai thức ngày mới dài trở giấc
Ban tin yêu thường nhật chẳng lo âu
Đường Thánh Giá nguyện cầu thôi thao thức
Mở lòng con xa bờ vực bi ai
Che chở hình hài tơi tả thương ôi
Lạy Chúa! Bên con Ngài sống lại rồi


Kim Phượng


Niềm Vui Phục Sinh!

 

Trao ban là sự hy sinh
Hy sinh càng lớn là tình càng cao
14 chặng đàng lao đao
Thánh Giá gánh chịu đớn đau một mình
Yêu thương cứu rỗi nhân sinh
Máu đào cứu chuộc Thập hình vì ta
Con tin tình Chúa bao la
Khát khao đón nhận thứ tha lỗi lầm
Thiên Chúa là Đấng Thánh Tâm
Ngọn nến thắp sáng tối tăm đẩy lùi
Phục Sinh bừng sáng niềm vui
Ca ngợi danh Chúa đời đời… Tạ ơn!

Thơ: Kim Oanh
Hình Ảnh: Thanh Bình

Phục Sinh 2025 - Nhà Thờ Holyname, Reservoir.
*Ảnh của Thanh Bình chụp, chị Oanh cám ơn em nha.



Mùa Chay Yêu Thương

 

Tôi yêu những bài hát mùa Chay Thánh
Với tâm tình dâng Chúa hoà lời ca
“Giê-Su, Giê-Su sao Ngài chịu chết?”
Bởi vì Người yêu thương ta thiết tha

“Hỡi nguời hãy nhớ mình là bụi tro”
Thân phận mỏng giòn con nào dám chối
Nguyện “hãy xé lòng chớ đừng xé áo”
Chúa vẫn bao dung, dẫu ai có hững hờ

Nữ tử Sion nhảy múa reo hò
Chúa tiến vào thành, giơ cao cành lá
“Vạn tuế vạn tuế con vua David”
Chúc tụng Ngài, Thiên Chúa chính là Vua

“Nay con trở về cùng Chúa, Chúa ơi”
Sám hối tội đời vơi đầy dòng lệ
“Muốn khóc cho một niềm tin”, lặng lẽ
Con quỳ đây đợi chờ ơn tái sinh

“Trên đường trở về, hồn thấy băn khoăn”
Biết bao nhiêu lần ăn năn lỗi tội
Sẽ qua hết những lẻ loi, mòn mỏi
Chúa rửa sạch rồi, nhẹ gánh đường dài

Và “Xin cho con bước đi với Ngài”
Vác thập tự như chiều xưa loang máu
Pháp trường, mão gai, lưỡi đòng đâm thấu
Chén đắng nào Ngài phải uống, hiến thân?

Thánh ý Chúa Cha, Ngài cúi đầu xin vâng
Bởi vì “máu chiên bò, Cha chẳng thích”
Mây tím Can-Vê bơ vơ chất ngất
“Lễ toàn thiêu Cha không nhận”- Ngài hy sinh

“Mẹ đứng đó” nhìn con mang nhục hình
“Ôi thập giá Đức Ki-Tô” kiêu hãnh
“Đây suối thiêng chảy dạt dào” sâu thẳm
Đồi Golgotha ghi dấu diệu kỳ

Xin cho nhân loại lời Kinh Hoà Bình
Tan chảy hết những trái tim băng giá
Đổi mới tâm hồn (Mùa Chay hoang vu quá!)
“Hãy chỗi dậy đi hỡi ai ngủ mê”

Để ngày khải hoàn, từ Ga-li-lê
“Trên đường Em-mau” bà Maria khấp khởi
Ngài sống lại rồi, kìa muôn dân hỡi
“Vang lên muôn lời ca” … Alleluia

Kim Loan