Thứ Ba, 26 tháng 3, 2024

25/3 Điểm Đến Vinh Quang


Từ một tiếng: Xin Vâng của Mẹ 
Để cho Đấng Cứu Thế vào đời 
Tin Mưng nở rộ khắp nơi 
Do lòng quảng đại Chúa Trời thương ban. 
Mẹ xin vâng vũ hoàn phấn khởi 
Mẹ xin vâng tháo cởi tội khiên 
Hồng ân từ Chúa nhân hiền 
Thế gian khắp chốn bình yên vui mừng. 
Và những ai tuyên xưng lòng mến 
Rất phấn khởi chạy đến cùng Bà 
Chuyển cầu xin Chúa thứ tha 
Ngàn muôn tội lỗi do ma quỷ bày. 
Trông cậy Mẹ cầu thay nguyện giúp 
Đoàn chúng con đủ sức vượt qua 
Sóng đời lộn lẫn gian tà 
Bến quê hạnh phúc vui ca hát mừng. 
Trông cậy Mẹ cầu cùng Đức Chúa 
Đốt bừng lên ngọn lửa mến tin 
Chúng sinh khấu lạy nguyện xin 
Mọi người cuộc sống giữ gìn bình an. 

Thái Huy 
3/23/24

Tự...



Không được gặp Tố Nga.
Anh đi tìm Tố Nữ.
Mảnh tình treo chốn cũ.
Ngẩn ngơ bước đứng nhìn.

Saigon chiều không em .
Mưa ngập đường lối cũ.
Mành nhà em buông rủ.
Gió chạnh lòng lãng du.

Giờ em lại đi xa.
Bỏ quên mùa thu cũ.
Lá vàng ơi…dành nụ.
Cho những ngày đông sang.

Hhai 

 

Người Việt Cao Quý (Trần Xuân Thời) - The Noble Vietnamese(Thúy M)


 
Người Việt Cao Quý  


". . .
Các nguyên tắc luân lý đó thường được bàn bạc qua văn chương và triết học. Triết lý văn nghệ của các truyện nôm như Phan Trần, Nhị Độ Mai … nêu cao khí phách của con người lý tưởng, đạo đức:

“Trời nào phụ kẻ trung trinh,
Dẫu vương nạn ấy, ắt dành phúc kia.
Danh thơm muôn kiếp còn ghi,

Để gương trong sạch, tạc bia với đời.
Gian tà đắc chí mấy hơi,
Mắt thần khôn dấu lưới trời khôn dung.
Uy quyền một phút như không,
Xem bằng lứa đá, ví cùng đám mây.
” 

(Nhị Độ Mai)

Đức tính truyền thống của con người cao quý theo truyền thống của dân tộc Việt là con người có Trung, có Hiếu, có Tiết, có Nghĩa đúng theo ngũ thường Nhân-Lễ-Nghĩa-Trí-Tín

“Ai ơi lẳng lặng mà nghe,
Dữ răn việc trước, lánh dè thân sau.
Trai thời Trung, Hiếu làm đầu,
Gái thời Tiết, Hạnh là câu sửa mình.”

Trần Xuân Thời
=========
 
The Noble Vietnamese 
 
:. . .Those principles of life have been discussed in literature and philosophical works. Artistic morals from Vietnamese works such as Phan Trần, Nhị Độ Mai, glorified the noble features of a person who follows correct ideals and morals.

God will not fail the pure of heart
In distress you might find some time; but elsewhere you will reap rewards
Good reputation will last forever
Shining examples will be honored for generations and carved in stone for future generations to revere

The evil might feel a short moment of pride
But he cannot escape God’s eyes nor run away from His net
Earthly power lasts but a fleeting moment
Just like stone and fire, incomparable to noble clouds in the sky.

Traditional qualities expected in a noble Vietnamese are: loyalty, filial piety, and constancy, according to the five principles Kindness-Respect-Justice-Wisdom-Trustworthiness.

" Listen up! Folks!
Forwarnings for the future and to help you protect yourself
Man must abide above all by loyalty and filial piety
Woman should rely on constancy and virtue to be a good person"
. . . 
Thúy M dich
 

Những Cánh Gió Thời Gian

Những cánh gió thời gian
Mỏng manh như phiến lá
Đùa giỡn thật thản nhiên
Với tháng ngày nôn nả.

Những hạt bụi quá khứ,
Những mơ ước tương lai.
Những kỷ niệm xưa cũ
Những nắng vội, mưa dài.

Từ trong từng cánh gió
Có hạt nắng, giọt mưa
Những khoảnh khắc đáng nhớ
Những vùng trời xa xưa

Những cánh gió đưa ta
Về mùa hè rực rỡ
Râm ran vạn tiếng ve
Giữa muôn hoa phượng đỏ


Rồi chúng lại đưa ta
Theo lá vàng rơi rụng
Về ngưỡng cửa mùa thu
Dưới bầu trời thơ mộng

Và rồi cùng tuyết giá
Đưa ta qua mùa đông
Khắp chung quanh trắng xóa
Làm hồn ta rưng rưng
.

Những vòng quay nối tiếp
Dẫn ta đến mùa Xuân
Hoa cỏ đua nở đẹp
Hân hoan tràn ngập hồn.

Những cánh gió thời gian
Luôn cùng ta kể chuyện
Cứ quay mãi không ngừng
Cuộc sống ta hòa quyện

Với ta chúng là bạn
Những người bạn vô hình
Đồng hành từng giai đoạn
Với tất cả chân tình

Qua biết bao thăng trầm
Và dập dồn thay đổi
Những cánh gió thời gian
Mãi cùng ta đi tới.

Trên suốt quãng đường đời
Bên người bạn chung thủy
Những kỷ niệm đầy vơi
Hãy giữ gìn, trân quý.


Chẩm Tá Nhân
03/23/2024

*****

Đây là nguyên bản văn xuôi của ChatGPT

Những cánh gió thời gian - một hình ảnh tinh tế, như những lá phiến mỏng manh, đang đùa giỡn với sợi thời gian. Chúng lướt qua nhau, mang theo những kỷ niệm, những hạt bụi của quá khứ và những ước mơ của tương lai. Trong từng cánh gió, có những câu chuyện, những hạt nắng và những giọt mưa. Chúng đưa ta đi qua những khoảnh khắc đáng nhớ, nhưng cũng đưa ta xa xôi, vào những vùng trời xa xăm.

Nhìn kỹ hơn, bạn có thấy không? Có những cánh gió đang đưa ta về những ngày hạ nắng rực rỡ, khi hoa cúc nở rộ và tiếng ve kêu vang. Có những cánh gió đưa ta vào mùa thu, khi lá vàng rơi rụng, tạo nên một bức tranh ấm áp và thơ mộng. Và cũng có những cánh gió đưa ta vào mùa đông lạnh giá, khi tuyết phủ trắng đồi núi và cây cối.

Những cánh gió thời gian - chúng không bao giờ ngừng bay, không bao giờ ngừng kể chuyện. Chúng là những người bạn vô hình, luôn ở bên ta, đưa ta đi qua cuộc sống, qua thăng trầm và những thay đổi. Hãy để chúng đưa ta đi, và hãy nhớ giữ lại những kỷ niệm đẹp trong từng hơi thở của thời gian.

Thinh Nguyen

 

Hoàng Thịnh Và Ngọc Hà Chân Thành Cảm Tạ

 

 


 

Xiêm ÁoThênh Thang

 
 (Tạp bút)

Nhà tôi có bốn chị em gái. Hai người chị của tôi: chị Thanh Tâm và chị Cẩm Thành hoa tay nữ công đầy mười ngón. Tôi và nhỏ em Ngọc Hiền thêu thùa may vá cũng thuộc hạng nhứt, nếu tính từ dưới lên. Qua đường kim mũi chỉ khéo léo của hai chị, chúng tôi đã có được những tác phẩm nghệ thuật vừa đẹp, vừa thắm tình yêu thương.

Sau khi học (lóm) may áo cổ cánh sen, chị Cẩm Thành trổ tài cho tụi tôi. Nhưng lúc chị ráp cổ áo, hai phần không đều nhau. Có lẽ do “sư phụ” chỉ dạy chưa thấu đáo. Bởi vậy, mặc áo này, tụi tôi phải lận hai cánh sen vào phía trong, giấu đi. Bác hàng xóm, tình cờ đứng gần Ngọc Hiền, thấy là lạ, âu yếm móc cổ áo, lật ra ngoài, dặn dò:
– Con gái ăn mặc, nhớ để ý nghe con. Cổ áo là phải lận bẻ ra ngoài.
Ngọc Hiền dạ dạ, nhưng sau đó, len lén cất kỹ hai cánh sen.
Chị Thanh Tâm khăn gói học may nhà chị bạn. Về nhà, chị thực tập may cho hai đứa em gái nhỏ, hai cái áo đầm có “li” to, màu xanh nhạt, vải popeline. Áo đầm dài quá gối. Vải dày, hơi cứng. Chắc là khi tụi tôi chạy nhảy, áo kêu sột soạt như áo bà vú của Scarlett O'Hara trong phim Cuốn Theo Chiều Gió. Chị Thanh Tâm thuở đó rất tân tiến. Chị sưu tầm những cuốn catalogue Sears, chọn mẫu áo đẹp, tìm vải thích hợp. Chị dẫn tôi và Ngọc Hiền đi may áo ở nhà may Lyly. Thế là hai chúng tôi được xúng xính trong những chiếc áo đầm tân kỳ, kiểu cọ. Hai đứa em trai út lúc mới vài tháng tuổi, cũng được diện áo chị Thanh Tâm may. Chị tỉ mỉ thêu rua hình mắt cáo ở trên ngực áo. Nhìn mấy cái áo xinh xắn cho hai thằng nhóc, tụi tôi mê mẩn. Nhưng chị Thanh Tâm bận học, không may vá nhiều được. Khi vải tê-tô-rôn thịnh hành với các mẫu hình trái cây, Mạ cho tụi tôi theo kịp thời trang. Tôi được một bộ đồ hình trái lê màu xanh, nhỏ em được hình trái táo màu đỏ.

Ở miền trung, vào mùa mưa, áo mưa gần như là vật bất ly thân. Thuở ấy, loại áo mưa phổ biến là áo ny lông có nón liền, màu xanh nhạt, màu hồng, màu vàng với những đường chỉ vân ngang dọc mờ mờ. Thời trang hơn là các áo mưa nylon trong suốt, điểm những chấm tròn to, hoặc điểm hình vài trái táo đỏ, các hoa hippie, hàng nóng hổi từ Sài Gòn về. Các loại áo mưa phổ thông hay thời trang đều có “tật” là nách áo dễ bị rách. Lắm khi, áo nhìn còn mới, mà nách áo đã trổ cửa sổ, thì không chỉ mưa rơi ướt phố phường, mưa trôi lá trong vườn, mà có mặc áo mưa, cũng vẫn mưa rơi trên vai chàng, mưa rơi ướt vai nàng. Bởi thế, Ba tôi nghiên cứu đâu đó, rồi nhờ người “thiết kế”, may áo mưa loại không có tay, giống như áo poncho của quân đội. Chỉ khác là áo gọn hơn và may bằng loại nylon màu sáng. Thời đó, tôi mới vào trung học, thuộc tuổi nhi đồng và rất ngoan. Nhưng tôi không mấy hoan hỉ với thời trang áo poncho. Chiếc áo mưa cải biên đúng là một kiệt tác của Ba chúng tôi. Chiếc áo ôm quanh người, cổ áo được luồn sợi dây thun kéo sát vào vành cổ. Áo không có mũ. Do đó, khi nhận áo, được tặng… kèm một cái nón. Thật tiện dụng, không khác mái hiên nhà. Nhìn tổng quát, người ta tưởng như thấy một… cây nấm khổng lồ biết đi. Anh chị của tôi, mặc dầu đã bước vào tuổi dậy thì, vẫn có tên trong danh sách đơn đặt hàng áo mưa poncho. Vì thế, ngày ấy, mấy anh chị rất sợ trời mưa. Sau đó, chúng tôi cầu cứu Mạ nhiều lần, xin Mạ mua những cái áo mưa “bình dân”, để mấy chị em cùng chúng bạn lội mưa một cách “bình thường”. Có thể áo quần ướt nhẹp vì áo mưa bị bung các đường nối. Nhưng tụi tôi cảm thấy thoải mái vì giống các bạn, chứ không nổi bật với áo poncho “cải biên”.

Mỗi lần Mạ vô Sài Gòn đặt hàng hóa cho nhà sách, bầy con háo hức ngóng Mạ về. Có lần, Mạ làm quà cho tôi và nhỏ em những quần “xì-líp”, màu hồng, màu vàng, bằng vải va-li-de, có ren ẻo lả. Đối với tụi tôi, đây là một “bước nhảy” thiệt cao trong trang phục áo đầm. Vì trước đó, hai chị em tôi chuyên trị quần banh- xô-lây (pantalon de soleil). Quần banh-xô-lây thường may bằng vải tê-tô-rôn có hoa li ti, giống quần đùi, hai ống quần có sợi thun luồn ngang. Thật ra, thời đó đám học trò trường nữ tiểu học khi ra sân tập thể dục, xài toàn quần phồng màu xanh đậm cùng với áo trắng ngắn tay. Bởi vậy, đối với dân tỉnh lỵ, cái quần phồng đọc theo tiếng Tây là banh- xô-lây chẳng có gì lạ lẫm. Đang từ quần phồng cổ điển, được chuyển qua “xì-líp” hiện đại, hai chị em tôi lâng lâng, tưởng như nhân gian chung quanh trầm trồ, chiêm ngưỡng. Lần nọ, nhỏ em diện áo đầm trắng vải ca-tê mỏng, trong lại mặc “xì-líp” hình bông hoa xanh đỏ. Cho nên, “nội y” lồ lộ, bị mấy chị chọc ghẹo quá trời.

Năm tôi học lớp tám, Mạ mua cho tôi và em tôi hai cái áo đầm, loại bằng xoa-tẹc-gan, dưới là những nếp xếp, phía trên có nẹp ở giữa, thêu một hàng hoa dọc. Chiếc áo đầm Mạ đặt mua trong sạp của một bà bán hàng người Bắc di cư. Bà là một trong những bà chủ sạp nổi tiếng dữ dằn ở chợ thị xã Quảng Ngãi. Do đó, áo tuy hơi rộng, hơi dài hơn khổ người của tôi lúc đó, nhưng không tiện đem ra đổi áo khác. Cho nên, tôi đành phải diện áo đầm này đi học. Lên lớp chín, tôi được mặc áo dài, áo đầm trắng để mặc ở nhà. Áo đầm này theo tôi cho đến lúc tôi là sinh viên năm thứ ba ở Đại Học Sư Phạm.
Áo dài đầu tiên Mạ cho tôi mặc là áo vải tê-tô-rôn sọc. Hồi đó, các chị tôi mặc những áo lụa hoa hồng, có mẫu hình bông hoa hoặc cành trúc dệt chìm, trông rất thướt tha, yểu điệu. Mặc áo dài ở trung học thì phải có áo lót. Mạ sắm cho tụi tôi những cái áo lót có tay cụt, khác với áo lót đương thời chỉ có hai sợi bún (spaghetti strap). Cho nên tôi và nhỏ em lén Mạ “điều chỉnh” lại một chút cho áo bớt “cổ điển”. Chúng tôi lấy kéo cắt hai cánh tay, rồi khoét cho nách rộng ra. Chỉ vậy thôi, chứ chưa dám cắt thành hai sợi bún. Chúng tôi không biết dùng máy may, mà khâu tay cũng không khéo. Nhìn kỹ, áo lót lua tua, lủa tủa trông rất bụi đời.
Em tôi có óc sáng tạo để đời. Em rất lọng cọng trong việc thêu thùa may vá. Mỗi khi áo quần gặp vấn đề, thay cho đường kim mũi chỉ, nhỏ em dùng những miếng băng keo cắt nhỏ dán nham nhở ở mặt trong của áo hay gấu quần. Thật tiếc, thuở ấy, nhỏ em không xin cầu chứng bằng sáng chế. Ngày nay, một trong những bước tiến trong kỹ nghệ may mặc là dùng keo dán thay cho kim chỉ lên gấu quần, gấu áo...

Gần nhà chúng tôi có chị thợ may dưới quê mới lên thị xã lập nghiệp. Mạ ủng hộ, kêu chị may mấy bộ đồ cho mấy đứa con gái. Chị ấy may những áo tròng cổ, vải ca-rô nhuyễn trắng xanh đậm. Cổ áo hình cánh sen, xen vào giữa hai cánh sen chồng lên nhau là một đoá hoa hồng được may cùng chất liệu vải nhìn rất công phu, được đính lên áo với một hạt nút bóp kết rất khéo dưới cuống hoa. Khi giặt, gỡ hoa ra, hồi nào đi chơi hay sắp sửa đi ra tiệm chụp hình thì gắn hoa lên áo. Hàng năm, theo thông lệ Ba “lùa” bầy con ra tiệm Lệ Ảnh, chụp những tấm hình gia đình để làm kỷ niệm, cũng như đánh dấu sự nhổ giò của con cái theo thời gian. Nhờ đó, những chiếc áo có bông hồng đính kèm được sống mãi với những tấm hình gia đình.
Ba đi Sài Gòn về, ngoài những quà cáp khác, tôi còn nhớ bộ đồ bằng vải ca-tê mẫu ca-rô nhuyễn màu xanh chuối non, có chạy đường chỉ dọc cổ áo, lai tay, lai quần, với những hột nút con bướm thắt bằng vải cùng màu. Bao năm qua, khi nhớ lại, tôi thấy bộ đồ đó vẫn đẹp tuyệt vời. Về Việt Nam, tôi nhờ bạn dẫn đi mua vải và bỏ may mấy bộ đồ của ký ức tuổi thơ.
Tết năm 1975, chị Thanh Tâm đem từ Sài Gòn nhiều áo quần thời trang vô cùng hấp dẫn. Mồng hai tết, Ba chở cả nhà du xuân. Tôi vui sướng lâng lâng diện cái váy xếp ngắn màu trắng với ca-rô đỏ và cái áo thun đỏ tay lỡ, hiệu Vicky Valaire (không biết thương hiệu này ngày nay còn sống không). Tôi đứng lâu trong buồng thay áo quần, trong ánh sáng mờ mờ, ngắm mình và hài lòng trong bộ vó mùa xuân. Khi tôi ra xe, Ba có vẻ không vui, vì bộ đồ quá thời trang của chị Thanh Tâm “diện” cho tôi. Ba hỏi, sao không mặc áo dài. Sau đó, có lẽ không kịp giờ, nên tôi không phải thay áo khác và trên tấm hình gia đình tôi vẫn trong bộ váy rất “tây”.

Sau 1975, nhiều người lo xa, tìm may áo quần bằng các loại vải tám, màu tối thui, cho hợp với chương trình tiến nhanh, tiến mạnh, tiến lật đật thành... người nghèo. Nhưng Mạ không thích con gái Mạ mặc áo quần kiểu cày sâu, cuốc bẩm. Mạ vẫn đưa thợ may cho tụi tôi những bộ đồ lụa màu tím nhạt, xanh lơ, thiệt mượt mà.
Chị Cẩm Thành có thời kỳ đi học thêu. Chị thêu những kiểu mẫu rất công phu, tỉ mỉ. Các áo sơ-mi của chúng tôi lần lượt được tô son, điểm phấn tùy theo chương trình chị đang học. Một trong những tác phẩm đầu tay của chị là hình cành cây với lá và hoa trái trên áo sơ mi trắng của tôi. Mấy hoa trái đó tôi thấy đẹp, dù nhìn không rõ hoa trái gì. Nhưng một con bạn có đôi mắt bồ lạch lại nói, đó là trái cà d.. dê.
Thời gian dân chúng xếp hàng cả ngày, chầu chực quanh cửa hàng thực phẩm địa phương để mua vài ký gạo mốc lẫn đầy thóc, sạn, thì đồ lót ren lụa của phụ nữ là xa xỉ phẩm, rất quý hiếm. Chị Cẩm Thành thêm một phen vì cái khó phải ló cái khôn. Chị học lóm, học ké bạn bè, tập tành đan móc len, chỉ. Sản phẩm của chị Cẩm Thành là những đồ “phụ tùng” được móc bằng chỉ len xanh đỏ tím vàng. Trong lúc ngồi tán gẫu với chị bạn ở quán cà phê, thấy những túm bít tất đựng cà phê giặt treo lủng lẳng sau quán, chị Cẩm Thành nảy ra ý tưởng táo bạo là móc bằng chỉ những “nội y xú xì” lạ mắt, ngồ ngộ. Cho đến bây giờ, mấy chị em trong nhà vẫn hay gọi đùa là đồ lượt cà phê. Phải chi hồi đó Victoria's Secret đến Việt Nam, họ sẽ mời chị Cẩm Thành làm người chuyên vẽ kiểu Dessous. Mấy chị em tôi hổng chừng thành những Victoria's Secret Angels.

Từ lúc biết ông anh cả nộp đơn xin đoàn tụ gia đình, tôi bắt đầu nghĩ đến việc học thêm vài nghề “vặt” để phòng thân nơi xứ người. Tôi theo khóa dạy cắt may. Đây là một trong những quyết định táo bạo, liều lĩnh trong đời tôi. Bởi, hồi trung học, tôi thuộc top 5 các môn học trong lớp 50, 60 học trò. Riêng môn nữ công, tôi quanh quẩn trong top 3 tính theo… bottom up. Có lần trong giờ nữ công, học trò tập vắt khăn để làm khăn tay. Tức là phải dùng một sợi chỉ dài xỏ kim, vắt trọn chu vi của miếng vải. Tôi vắt gần xong cái khăn, không biết loay hoay thế nào, cây kim bị gãy. Tôi quýnh quáng, sợ làm không kịp để nộp bài. Tôi hỏi cô giáo, tìm cách giải quyết “tai nạn”. Cô giáo ngó cái khăn tôi làm lở dở, nhăn nhúm, xấu xí, hỡi ơi. Cô lật qua lật lại, ngao ngán, hết tìm ra cách chữa, cô lẩm nhẩm:
– Trời đất! Tay trâu hay sao mà làm gãy cả cây kim.

Sau này mỗi khi nghe câu hát bàn tay năm ngón em vẫn kiêu sa... tôi tự nhiên nhìn xuống bàn tay mình và nhớ tới nhận xét của cô giáo năm xưa... Trở lại chuyện đi học may, tôi theo lớp với đầy đủ chương trình may cắt Âu, Việt phục. Học may áo sơ-mi, quần tây, tôi còn học cắt áo dài, áo bà ba... May sao, thuở ấy, cả nhà có lẽ nhìn thấy “tiềm năng” của tôi, nên chẳng ai đưa vải cho tôi may thử. Giờ đây, những “kỹ năng” còn giữ lại sau khóa học may, là tôi biết... lựa chỉ đúng màu để kết nút.
Nhỏ bạn tôi có dì bên Pháp về, mang theo cơ man áo quần, thơm phức mùi Paris. Bạn tôi thường cho tôi “điệu” theo thời trang của kinh đô ánh sáng. Lần nọ, bạn đưa cho tôi cái quần jeans, kiểu rất “ngầu”. Vải quần là những mảnh vuông nhiều màu, chắp lại. Tôi chọn mặc với cái áo thun ông anh mới gởi. Thời trang của Đức trông mát mắt, với sọc ngang trắng đỏ, có hình mấy con thú. Tôi hí hửng rủ mấy đứa bạn cùng anh bạn phó nhòm cùng lớp vào sở thú làm dáng để chụp hình và để cho mấy... con khỉ ngắm. Về nhà, Mạ bắt gặp, Mạ nói rất nhẹ nhàng:
– Thôi, con đừng mặc cái quần ni nữa. Ngó không có duyên chi hết.
Vâng lời Mạ, tôi giặt ủi thẳng thớm ngay ngắn, đạp xe lên quận 10, trả quần jeans lại cho bạn.
Trong hành trang “di dân” qua Đức, chị Cẩm Thành khuân theo bộ đồ nghề thêu, gồm có khung gỗ vuông, tròn và nhiều loại kim chỉ. Thời gian mới qua, chưa đi học, chị trổ tài thêu thùa rất đẹp. Người bạn của ông anh cả, tặng chúng tôi áo quần, nhiều áo sơ-mi nữ. Chị Cẩm Thành tha hồ biểu diễn tài nghệ. Tôi còn nhớ cái sơ-mi màu xanh da trời, chị thêu hình hai đứa bé mặc áo dài khăn đóng thiệt là ngộ nghĩnh. Tôi xin chị cái áo, để “bắn y dô quởn”. Nhìn tôi, hổng chừng chị phải tấm tắc: “Em tôi xinh xinh quá, bao giờ em... có bồ.”

Thời gian học trung học ở Đức, chị Cẩm Thành chuyển qua nghệ thuật đan áo. Chị chọn nhiều hình, mẫu rất đẹp mà cũng rất phức tạp. Mấy chị em gái đều được có những cái áo len tuyệt vời. Chị lớn được áo len vàng với hình con hươu cao cổ. Tôi được áo màu xanh hình bươm bướm. Em tôi được áo màu cánh sen với con voi. Hình con voi hơi lớn so với áo. Cho nên, vòi voi cứ dúi vô phía... nách của nhỏ em. Có lẽ, nhờ voi thọc lét, nhỏ em mặt mày cứ tươi phơi phới.
Chị Cẩm Thành kể ra thiệt nhiều hoa tay. Có dạo chị mua các mẫu áo bằng giấy và mằn mò may áo vest. Chúng tôi rất khó tìm áo vest vừa vặn ở Đức. Thường thì chúng tôi phải mua áo trẻ con. Áo người lớn quá bự. Mua đã không hợp với túi tiền. Mà phải đem đi sửa, cắt ngắn chỗ này, xén bớt chỗ kia. Một hồi, cái áo không còn hình dáng của nó nữa. Nay có chị Cẩm Thành cắt may, tôi được cái áo vest bằng loại “lụa thô"(wild silk) màu vỏ trứng. Lớp lót ở trong có hơi thiếu trật tự một chút. Nhưng bề ngoài vẫn là cái áo vest thanh lịch, tươi trẻ. Mặc chung với một cái mini jupe mầu đồng, tôi đã xuất hiện trong vài cái đám cưới với thiết kế thời trang chính hiệu hand-made của chị.
Ông anh cả gởi về cái quần nhung màu sữa, ống túm. Cuối thập niên 70, ở Việt Nam vẫn còn quần ống loa. Cho nên, tôi phải mang ra tiệm, nhờ thợ lấy khúc vải dư của ống quần (quá dài) ghép lại, mở rộng ống, thành quần loe cho hợp thời trang đương thời. Đến khi có giấy xuất cảnh đi Đức, cái quần này vẫn là cái quần đẹp nhất, xứng đáng ra ngoại quốc. Lúc đó, tôi phải nhờ người tháo mớ vải ngày trước đắp cho ống rộng, để cái quần trở thành ống túm. Tức là bây giờ, mèo lại hoàn mèo. Ông anh gửi hai cái áo sơ mi con trai số 152, tức là cho trẻ em khoảng 1m52, cho hai thằng nhóc em. Hai cái áo rất hợp nhãn tôi. Bởi vậy, hai thằng cu vừa bỏ áo dơ ra thau, bà chị hăng hái đem giặt, ủi ngay. Rồi mượn tạm, mặc đi học, “giựt le” với bạn bè. Dẫu áo mặc ôm cứng như bó chả, ngắn cũn cỡn vừa lưng quần, tay áo chỉ mới lấp ló che cùi chỏ, tôi vẫn hân hoan diện “mốt” Tây Đức. “Mùi” hàng ngoại thơm phức, mặc dù áo đã giặt năm lần bảy lượt với xà phòng cục dầu dừa. Bước qua thế kỷ 21, khi nhìn các búp bê mẫu mặc áo sơ-mi trưng bày trong cửa tiệm, trông cũng giông giống tôi của thế kỷ trước lúc còn ở Việt Nam. Tức là áo chật chật như bị thiếu vải, vạt vừa đụng lưng quần, tay thì lưng lửng. Như vậy, tôi đã đi trước thời trang tây phương hàng chục năm.

Thỉnh thoảng chúng tôi nhận được một số áo sơ-mi ông anh đã dùng. Đối với chúng tôi, vẫn là những cái áo đẹp tuyệt vời và thơm lựng mùi... Tây Đức. Chúng tôi háo hức đem những áo sơ-mi sọc nâu, xanh đậm ra tiệm cho người ta sửa, biến các áo nam thành áo nữ.
Sang Đức, lần đầu tiên được đưa đến phòng nhận áo quần, chúng tôi rộn ràng lựa các áo lạnh lông thú. Mấy chị em tôi “diện” những chiếc áo lông thú trong mùa lễ hội hóa trang Karneval. Không chừng người ta tưởng là chúng tôi muốn hóa trang thành những lão bà bà, tranh giành với bầy trẻ nít, nhặt kẹo từ những chiếc xe hoa tung xuống trong lễ hội. Người Đức nhìn chúng tôi ngỡ là học trò trung học, nhưng lại xúng xính trong những chiếc áo cho các bà hiệu trưởng đã về hưu đang bước vào cổng... thất thập cổ lai hi.
Thời gian chị Cẩm Thành và tôi đang là hai cô bé lọ lem, lên kinh đô Wolfhagen đi học, chị Thanh Tâm và Ngọc Hiền đã “lùng sục” không biết bao nhiêu cửa hàng để tìm trang phục cho chị Cẩm Thành và tôi, theo tiêu chuẩn đẹp mà vừa túi tiền. Khi nhận thùng quà từ “quê nhà” Duisburg, chị Cẩm Thành và tôi vui mừng tở mở. Chị Cẩm Thành được một cái váy sọc xanh nhạt, mặc với áo thun trắng. Tôi được một cái áo đầm màu xanh ngọc lam (turquoise color), có sợi nịt trắng ở giữa. Hai chị em hí hửng mặc đi dự disco mỗi thứ năm trong trường. Cả hai đều mơ mòng trong ý nghĩ... La plus belle pour aller danser. A ha! đêm nay ai cũng cho em là xinh nhất nơi trần gian... Ở thêm vài năm, chúng tôi phát giác ra, mấy cái áo đó dành cho con nít khoảng... phân nửa số tuổi của chúng tôi. Ồ, đâu sao! Mình thấy mình đẹp, mình thấy vui sướng trong bộ cánh đó là đủ rồi.

Thời gian học tiếng Đức, tiệm áo quần C&A là nơi chốn ưa thích “du ngoạn” của đám học trò chúng tôi. Nhất là những khi vừa lãnh học bổng, túi rủng rỉnh xu hào, chúng tôi dung dăng, dung dẻ trong khu vực áo quần trẻ em không mệt mỏi. Lần nọ, tôi thấy một cái váy mấy tầng dài đến mắt cá, màu trắng, có viền đăng ten, chỗ nối các tầng có chạy đường ruy-băng lụa màu hồng trông rất sang (ít ra trong mắt tôi). Cái váy đại hạ giá. Nhìn thấy giá cũ, mình mua được rẻ, tức là lời to, tôi hớn hở ôm váy đến quầy trả tiền. Tôi mua, nhưng lờ mờ về “chức năng” của cái váy. Nếu chỉ mặc như vậy, thì cực kỳ “xếch xi”, tại vải mỏng tanh. Nhưng nếu để mặc lót, phí quá, ai còn thấy dây ruy-băng hồng và đăng-ten lả lướt. Vả lại, tôi đâu có cái váy nào để mặc ngoài cho “môn đăng hộ đối” với cái váy lót quý phái này. Năm bữa, nửa tháng tôi lại đem váy ra săm soi, không biết mặc như thế nào. Sau thời gian nghiên cứu, tôi biết chắc đó là cái váy lót. Tiếc của, tôi xài như váy ngủ, được đôi lần rồi dẹp vào xó tủ. Mặc ngủ, đẹp chẳng ai thấy. Vì tắt đèn tối thui, mà váy lụng thụng, lột xột, loạt xoạt, chỉ tổ không thoải mái.

Lần khác, tôi mua cái áo len loại hơi dài, che mông, bán kèm hai cái ống len. Tôi suy diễn theo hiểu biết của mình, dùng ống len như ống quần. Thế là tôi mặc áo len, thay vì mặc quần, tôi choàng hai cái ống đó kéo lên che bắp đùi, phía dưới “chơi” đôi giày ống cao đến đầu gối màu da bò, gồ ghề không thua chi dân cao bồi Tếch-xịt. Diện xong thời trang thế kỷ, tôi ỏn ẻn đứng ngồi, nhờ người chụp hình. Bà chị dâu tôi thấy tấm hình đó, cố nén tiếng cười:
– Cô Thúy mặc bộ đồ ni coi ngầu ghê nghe. Có điều hấp dẫn quá đó!
Cũng may, tôi chỉ mới biểu diễn thời trang trong phòng, chứ chưa ra đường, vì lúc đó trời lạnh quá. Chớ không thôi, chắc đã có nhiều tai nạn giao thông trầm trọng, vì các tài xế bận cười, quên cả lái xe. Về sau, tôi mới phát giác ra rằng, ô ồ, cặp ống len chỉ là leg warmers, để mang choàng từ cổ giày lên bắp chuối mà thôi, còn quần thì vẫn phải mặc chứ lỵ. Tiếc quá, không có nhà kiểu mẫu thời trang nào khám phá ra đầu óc sáng tạo của tôi để đưa vào... Haute Couture.
Bây giờ, tuổi đã nhiều, cuộc sống đã ổn định, tôi có thể tìm cho mình những bộ áo quần vừa ý, hợp thời, may cắt khéo léo. Tôi có điều kiện tìm hiểu trang phục thích hợp. Nhưng đâu đó trong trí, tôi vẫn luôn nhớ đến những kỷ niệm nho nhỏ. Những áo quần ngày xưa có thể không hoàn hảo, nhưng đầy ắp tình cảm của gia đình, bạn bè. Những “trục trặc kỹ thuật” tuy vụng về, ngô nghê, nhưng là ký ức dễ thương, ít nhiều đã góp phần tô điểm thêm cho dòng đời muôn màu, muôn vẻ của tôi.

 Hoàng Quân

 

Thứ Hai, 25 tháng 3, 2024

Tóc Rối - Thơ: Phạm Phan Lang - Nhạc: NguyễnTâm Hàn - Ca Sĩ: Hương Giang


Thơ: Phạm Phan Lang
Nhạc: NguyễnTâm Hàn
Ca Sĩ: Hương Giang

Tâm Sự Ngày Sinh Nhật



Sinh nhật bẩy lăm cảm thấy già 
Lộc Trời ban phước vẫn thăng hoa 
Nhàn hưu dưỡng sức tâm thanh tịnh 
Thể dục cường thân nắng thắm da.
Sự nghiệp Trấn Không mau vụt mất 
Công danh Bảo Quốc vội trôi qua
Tình thâm thân hữu đà như ý 
Hạnh phúc gia trang thật mặn mà 

Hạnh phúc gia trang thật mặn mà 
Duy điều khát vọng vẫn tầm xa 
Từ ngày vượt biển hằng ghi nhớ 
Năm tháng lưu vong chẳng xóa nhòa 
Mơ ước hồi hương thành hiện thực 
Nguyện cầu trở gót hết phong ba 
Chim bằng tung cánh về quê cũ 
Nhắm mắt an nhiên mới thật là…

Lâm Hoài Vũ
22/3/2024

 

Nguyên Nhật 元 ⽇ - Lê Cảnh Tuân

 

Nguyên Nhật
Lê Cảnh Tuân


元 ⽇

旅 館 客 仍 在
去 年 春 復 來
歸 期 何 ⽇ 是
⽼ 盡 故 園 梅

黎 景 詢

***
Nguyên Nhật

Lữ quán khách nhưng tại,
Khứ niên xuân phục lai.
Quy kỳ hà nhật thị?
Lão tận cố viên mai!

Lê Cảnh Tuân (*)

Bản dịch 1, nguyên thể (ngũ ngôn) của Trần Quốc Bảo:

Ngày Đầu Năm

Quán trọ khách dừng chân
Năm qua, lại đón Xuân
Ngày về quê chửa biết
Vườn cũ, mai tàn dần!

Trần Quốc Bảo

Bản dịch 2, thể thất ngôn, của Trần Quốc Bảo:

Ngày Đầu Năm

Giữa đường quán trọ khách dừng chân
Năm hết, Xuân về lại đón Xuân
Quê cũ, biết bao giờ trở lại
Cội mai vườn cũ lụi tàn dần!

Trần Quốc Bảo

(*) Lê Cảnh Tuân (1350-1416) là một Nhà Ái Quốc; Ông quê ở làng Lão Lạt, huyện Thống Bình, trấn Thanh Đô (nay là huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa), đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) năm 1381. Gặp lúc quân nhà Minh bên Tầu sang xâm lấn Nước ta. Ông viết “Vạn ngôn thư” (Bức thư một vạn chữ) trao cho bạn là, Bùi Bá Kỳ, ngầm tính chuyện “diệt Minh, phục quốc”. Việc bại lộ, ông và người con là Lê Thái Điền bị quân Minh bắt giải về Yên Kinh (Bắc Kinh). Vua nhà Minh hỏi ông rằng: “Mày khuyên Bá Kỳ âm mưu làm phản. Vì sao vậy?”. Ông khảng khái nói: - “Người Nam thì hết lòng gìn giữ nước Nam. Chó ông Trích thì cắn người ác phạm chủ nó. Hỏi làm gì!” Vua Minh tức giận, nhưng trọng ông là một Nhà Ái Quốc, không xử tử hình, chỉ truyền giam cha con ông vào ngục Kim Lăng, 5 năm sau, (1416, tức năm Bính Thân) cả hai cha con đều chết thảm trong ngục thất của Tầu

Trần Quốc Bảo
Richmond, Virginia

Sài Gòn Ngày Ấy

 

Sài Gòn ngày ấy thoáng hương bay
Cảnh củ người xưa ngỡ đâu đây.....
Thời gian phủ bóng bên hè phố
Đường dài râm mát lá me bay........

Sài Gòn vang điệu nhạc "Phố đêm"*
"Đèn mờ giăng giăng" vọng bên thềm
Nắng trưa hiu hắt buồn Thanh Thúy
"Cho nên còn đó tiếng say mềm...."...

Dập dìu phố xá nắng ban mai
Gió nhẹ vờn bay vạt áo dài
Sóng tay rão bước tình lính chiến
Cô nàng e thẹn má hây hây....!

Khung trường đại học một thời xa
Kỷ niệm trường xưa chợt thoáng qua
Bạn cũ trường xưa đường mỗi ngã
Dòng đời trôi nổi tóc phôi pha.......

Sài Gòn vẫn mãi ở trong ta
Một thời xuân thắm mộng đơm hoa
Mang theo nỗi nhớ đời xa xứ
Còn đó hương xưa chẳng nhạt nhòa...!

Ngư Sĩ

Tháng Mấy Mây Trôi

 

(Cảm tác bài “Bây Giờ Tháng Mấy”
Tác giả: Từ Công Phụng)

Em có nhớ khi ta hẹn ước
Mùa Anh Đào con phố nở hoa
Ta hẹn nhau tìm đến sân ga
Ngồi xuống cạnh con tàu hoen rỉ

Em hờn dỗi cho anh năn nỉ
Bởi vì anh đã bắt em chờ
Chờ quá lâu quên cả ước mơ
Và quên cả mây trời lãng đãng

Kể từ đó biết bao năm tháng
Theo dòng đời lặng lẽ qua nhanh
Em hỏi rằng "tháng mấy hả anh"
Những áng mây trôi êm đềm quá

Anh chỉ nhớ chặng đường sỏi đá
Đưa em về ướt lạnh bờ vai
Hoa bên đường như cũng tàn phai
Mà chẳng nhớ bây giờ tháng mấy

Bây giờ đã mấy mùa thương nhớ
Mấy lần thu thay lá bên rừng ...
Nhớ em nhiều trên đỉnh bâng khuâng
Nhớ ánh mắt trong mùa sao sang

Đèo Văn Trấn


Hồi Hương Ngẫu Thư Kỳ Nhị 回鄉偶書其二 - Hạ Tri Chương (Thịnh Đường)

Hạ Tri Chương 賀知章 (659-744), người Quảng Đông, tự Quý Chân. Ngoài tài thơ văn, tiểu thuyết, còn có tài viết chữ thảo, chữ lệ rất đẹp. Tính phóng khoáng, thích uống rượu. Bạn thân của Lý Bạch. Đỗ tiến sĩ, làm Thái Tử Tân Khách Bí Thư Giám, rồi từ quan về làng làm đạo sĩ. Lúc ra về vua có tặng thơ, thái tử và bá quan đều đưa tiễn.

Mượn cảnh để tả tình là một kỹ thuật rất thông thường của những thi sĩ Đông, Tây, kim cổ; nhưng chưa từng thấy ai mượn cảnh tả tình siêu việt như họ Hạ. Ông không dùng những thứ dễ biến đổi để so sánh với những thứ đã biến đổi trong làng ông, mà dùng cái tính cố hữu của ngọn sóng trên mặt hồ Kính (cái thứ hàng triệu năm không bao giờ và không thể nào thay đổi) để mô tả rằng quê cũ đã thay đổi từ cội rễ trừ ngọn sóng. Chỉ có ngọn sóng này còn như cũ thôi, tất tần tật những thứ khác đều tiêu ma hết rồi !!!

Mời các bạn đọc bài thơ 回鄉偶書其二 Hồi Hương Ngẫu Thư kỳ nhì, để thưởng thức kỹ thuật mượn cảnh tả tình siêu việt của họ Hạ trong hai câu cuối.

Nguyên bản      Dịch âm

回鄉偶書其二 Hồi Hương Ngẫu Thư kỳ nhì

 
離別家鄉歲月多 Ly biệt gia hương tuế nguyệt đa
近來人事少消磨 Cận lai nhân sự bán tiêu ma
惟有門前鏡湖水 Duy hữu môn tiền Kính Hồ thủy
春風不改舊時波 Xuân phong bất cải cựu thì ba

Chú giải:

歲月多 tuế nguyệt đa: nhiều năm tháng.
近來 cận lai: gần đây.
人事 nhân sự: việc đời.
惟有 duy hữu: duy có.
門前 môn tiền: trước cửa.
不改 bất cải: không đổi.
鏡湖 Kính hồ: Kính hồ ở tỉnh Chiết Giang. Một hồ lớn đẹp, còn có tên là Hạ Giám hồ vì vua Đường Minh Hoàng, sau khi đọc bài Kính hồ của Hạ Tri Chương, phong cho ông làm chức Bí thư giám.
波 ba: sóng.
舊時波 cựu thì ba: sóng ngày xưa.

Dịch nghĩa

Xa cách quê nhà đã nhiều năm tháng,
Gần đây việc đời đã thay đổi mất một nửa.
Duy chỉ có nước trên Kính hồ ở trước cửa,
Gió xuân vẫn không làm thay đổi con sóng xưa.

Dịch thơ

Hồi Hương Ngẫu Thư kỳ nhì
Trải bao năm tháng biệt quê nhà
Việc đời phân nửa đã tiêu ma
Duy trước hiên nhà trên hồ Kính
Gió xuân chẳng đổi sóng ngày xưa


Lời bàn:

Hạ Tri Chương làm rất ít thơ nhưng bài thất ngôn tứ tuyệt này đã ngang nhiên đi vào Đường thi nhờ ý của 2 câu 3 & 4: Chỉ làn sóng trên mặt hồ Kính là không đổi. Vậy thì, ngoài làn sóng trên hồ Kính, kể như từ cọng cỏ, từng cục đất của quê xưa đã đổi hết rồi. Ôi! Thơ mà tả được như vậy mới thực sự gõ vào nỗi nhớ quê hương của mọi người! Nói rất ít mà hiểu rất nhiều! Nói rất nhẹ nhõm mà hiểu rất đậm đà! Lời ngắn ngủi mà thơ chan chứa! Câu "Xuân phong bất cải cựu thì ba" (Gió xuân chẳng đổi sóng ngày xưa) cực kỳ đơn sơ mà cực kỳ siêu việt! Trải qua 1200 năm mà chưa có địch thủ xứng đáng. Suốt một đời làm thơ, chỉ để lại dăm bài thất ngôn tứ tuyệt, sàng lọc lại còn 7 chữ lóng lánh như 7 viên ngọc quý (xuân phong bất cải cựu thì ba) mà danh tiếng bất hủ ngàn năm. Lạ lùng vậy thay!

  Con Cò





Về Quê Chợt Viết Kỳ 2


Ly biệt quê nhà năm tháng qua
Việc đời phân nửa đã tiêu ma
Chỉ riêng trước cửa hồ Gương trải
Gió chẳng đổi thay sóng thuở xa!


Muốn về thăm quê nhà, lần lữa
Giờ việc đời một nửa tiêu ma
Chỉ riêng hồ Kính trước nhà
Gió xuân không đổi sóng qua muôn đời!


Lộc Bắc

***
Hồi Hương Ngẫu Thư (kỳ 2)

Xa cách quê nhà năm tháng qua
Chuyện đời hao hụt đến phai nhoà
Chỉ hồ kính nước soi sân trước
Sóng gợn gió vờn chẳng đổi a!!!


Kiều Mộng Hà
Austin 3.16.24.

Viết Lúc Về Quê Nhà. kỳ 2.

Quê nhà cách biệt đã bao ngày,
Phân nửa chuyện đời đã đổi thay.
Riêng mặt Kính Hồ nơi cổng trước,
Gió xuân không đổi, sóng xưa đây.


Mỹ Ngọc 
Mar. 17/2024.
***

Ghi chú:

Hạ Tri Chương (659-744), người Vĩnh Hưng, Việt Châu (nay là Tiêu Sơn, Chiết Giang), theo Đường Thi Đại Từ Điển 唐詩大辭典

Kính hồ: hồ ở cách 2 dặm về phía tây nam thành phố Thiệu Hưng, Chiết Giang ngày nay.

Dịch nghĩa:

Chợt Viết Khi Về Làng Kỳ 2


Xa quê nhà đã nhiều năm tháng
Gần đây sự đời đã có thay đổi nhiều
Chỉ riêng nước hồ Kính ngoài cổng
Gió xuân không thay đổi sóng thời xưa.

Dịch thơ:

Ngẫu Nhiên Viết Khi Về Quê Kỳ 2


Xa cách quê hương bao tháng năm
Việc đời ngẫm lại lắm thăng trầm
Chỉ riêng hồ Kiến ngay ngoài cổng
Gió vẫn không thay được sóng thầm.

Bao năm xa cách quê nhà,
Sự đời ngẫm lại bao la thăng trầm.
Chỉ riêng hồ Kiến âm thầm,
Gió Xuân không đổi sóng ngầm xưa nay.


Written on Coming Home by He Zhizhang


I was away from home months and years.
Recently many things did change.
Except for the Mirror lake beyond our gate
Spring wind had not changed the waves of time past.

Trở Về Quê Cũ

Biết bao năm tháng vắng quê nhà
Trở bước về làng khác biệt xa
Duy nước Kính hồ bên cổng trước
Gió xuân không đổi, sóng ngày xưa


Thanh Vân
***

Ngẫu Nhiên Viết Khi Về Quê Kỳ 2

Xa cách quê nhà bao tháng năm
Bạn bè ngày cũ biệt mù tăm
Chỉ riêng hồ Kính soi thềm trước
Vẫn gió xuân xưa, sóng vẫn trầm!

Kim Oanh 
***
Góp ý:

Thi Viện vẫn bất cẩn về dữ kiện/chú thích như thường lệ. Phần tiểu sử bảo Hạ Tri Chương người Quảng Đông trong khi thật sự ra ông ta là người Triết Giang và nhà ở quê hương nằm trên bờ Kính Hồ. Phần chú thích cho Kính Hồ nói đúng là hồ này ở Triết Giang nhưng có lẽ người viết không biết hồ nằm chính xác ở đâu - hướng nam của Thiệu Hưng, chân núi Bắc của Hội Kê sơn; hoặc là hồ quá nhỏ, hoặc giờ không còn nữa nên không thấy trên Google Map, và không thấy bài nào viết cho hồ này trên internet.

Rất có thể Thi Viện cương ẩu về cái từ "giám" trong một tên của hồ vì họ Hạ đã từng giữ chức bí thư giám (秘書監) trước khi về hưu nên không có chuyện Đường Huyền Tông "đọc bài thơ Kính Hồ" rồi mới phong chức bí thư giám cho ông. Bài thơ 'Kính Hồ' là bài nào? Thường người đời dùng một dữ kiện quan trọng hay đặc biệt để tạo biệt hiêu cho một nhân vật. Tại sao lại chọn cái chức bí thư giám trong khi Hạ Tri Chương từng đỗ trạng nguyên (chúng ta biết ai đã đỗ trạng nguyên bên Tàu?), và giữ chức thượng thư bộ Lễ?

 
Huỳnh Kim Giám

***

Góp Ý Cho Bài HỒI HƯƠNG NGẪU THƯ Kỳ 2 Của Hạ Tri Chương.

Bài này tiếp bài trước: Hạ về quê trẻ con không biết ông là ai, vào làng thì “cận lai nhân sự bán tiêu ma “. Cận lai là gần đây. Nhân sự là việc đời, việc người đời, nhân viên trong một cơ quan, lễ vật...Theo ý của BS thì nhân sự trong bài này có lẽ là bạn bè hay người quen cũ của Hạ. Vì Hạ xa quê quá lâu nên một nửa số người này đã quá vãng… Chỉ có sóng trên Kính hồ là không thay đổi dưới gió xuân.

Như anh Giám nói, Hạ quê ở Chiết Giang, Thi Viện ghi là Quảng Đông, không đúng.

Chú thích về Kính hồ là giải thích của ÔC, không phải Thi Viện. Theo sách của Trần Trọng San: Kính hồ ở huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang

Đường Minh Hoàng, sau khi đọc “ Kính hồ khúc “ của Hạ Tri Chương, bổ ông làm chức Bí Thư Giám, vì thế Kính hồ còn gọi là Hạ Giám hồ. Cái này giống chú thích của ÔC.

BS đồng ý với anh Giám về việc Minh Hoàng bổ cho Hạ chức Bí Thư Giám sau khi đọc bài thơ thì có vẻ vô lý. Nhưng người đời gọi Kính hồ là Hạ Giám hồ thì có lý, vì Tiến Sĩ thì đậu từ lâu rồi, mà Bí Thư Giám là chức cuối cùng của Hạ.Bài này ngắn, nhưng dịch rất vất vả, BS loay hoay mãi mà không vừa ý.

Ngẫu Nhiên Viết Lúc Về Quê, Kỳ 2


Xa cách quê nhà năm tháng đưa,
Bạn quen, người cũ đã lưa thưa,
Duy nước Kính hồ ngay cửa trước,
Gió xuân chẳng đổi sóng ngày xưa.


Bát Sách.
(Ngày 18/03/2024)
***
@ Phí minh Tâm góp ý:

Theo Hán Ngữ Đaị Tự Điển, hồ Kính ở quê của Hạ Tri Chương, còn có tên là hồ Giám, hồ Trường, hồ Khánh.
Trung Hoa còn có hồ Kính ở Cát Thủy, Giang Tây và hồ Kính ở Tân Cương. pmt@ 

mirordor góp thêm ý:

Từ 監 (trong chức 秘書監=bí thư giam, viết với bộ 皿=mãnh) có phát âm Hán-Việt chính là giam (jiān theo bính âm) với những nghĩa coi sóc, cai quản, thống lĩnh, v.v... và khi phát âm thành giám (jiàn) thì có nghĩa là cái gương soi, giống như tên 鑑 (dùng bộ 金=kim) của tôi.

Dùng các từ 鏡=kính hay 鑑=giám với nghĩa soi gương để đặt tên hồ thì có lý, tại sao lại dùng từ 監=giam với nghĩa coi sóc để đặt tên hồ? Trích phần dẫn nhập cho cụm từ 秘書監 trong zn.Wikipedia:

秘書監是中國古代官制,用於掌管皇家经籍图书,是秘書省的長官。bí thư giam thị trung quốc cổ đại quan chế, dụng ư chưởng quản hoàng gia kinh tịch đồ thư, thị bí thư tỉnh đích trưởng quan。 (bí thư giam là một chức trong hệ thống hành chánh Trung quốc cổ, quản lý sách vở hoàng gia và là quan bí thư trưởng.)

Trong trang 贺知章与镜湖_鉴湖=Hạ Tri Chương dữ Kính hồ-Giám Hồ này với câu mở đầu "镜湖, 又名鉴湖、 庆湖、贺监湖等 [Kính hồ, còn có tên Giám hồ、 Khánh Hồ、 Hạ Giám hồ, v,v...]" có đoạn: 。中唐诗人朱放《经故贺宾客镜湖道士观》云:“已得归乡里,逍遥一外臣。哪随流水去,不待镜湖春 。Trung Đường thi nhân Chu Phóng《Kinh cố Hạ Tân Khách Kính hồ đạo sĩ quan》vân:“ dĩ đắc quy hương lý, tiêu dao nhất ngoại thần。na tùy lưu thủy khứ, bất đãi Kính hồ xuân。[thi nhân Chu Phóng thời Trung Đường viết trong bài "quan điểm của đạo sĩ Hạ Tân Khách ở Kính hồ": vừa về đến cố hương, một cựu thần sống thong dong, sao còn theo dòng nước chảy đi xa thay vì chờ mùa xuân về trên Kính hồ? ] cho ta thấy rằng người thời Đường của đạo sĩ họ Hạ dùng tước 太子賓客=thái tử tân khách để đặt tên hiệu cho ông thay vì dùng cái chức bí thư giam.


Huỳnh Kim Giám

 

Trong Tâm Có Phật


Đây là bài số bảy trăm lẻ bốn (704) của người viết về chủ đề Thiền Nhàn trong khu vườn Một Cõi Thiền Nhàn của trang văn nghệ Oregon Thời Báo.

Chiều nay người viết ra hộp thư đi lấy thư và rất vui khi nhận được món quà đặc biệt của chị Kiều Mộng Hà, người bạn văn nghệ rất có tâm đạo trong Nhóm Cô Gái Việt mà người viết đang sinh hoạt.

Một chiếc quạt trang nhã có thêu hình một chiếc hoa sen hoa sen màu hồng và đặc biệt nhất có hàng chữ thư pháp "Trong Tâm Có Phật" rất đẹp do chị Kiều Mộng Hà viết tặng người viết.

Người viết rất vui khi nhận được món quà đầy thiền vị này rất hợp với tâm ý của tôi vì mấy năm gần đây, vợ chồng chúng tôi ít đi chùa vì lý do sức khỏe nhưng lúc nào trong Tâm cũng có Phật trong mọi sinh hoạt hằng ngày. Xin cảm ơn những người bạn tốt cùng một tâm cảm như tôi, trong đó có chị Kiều Mộng Hà.


Trong khi đi tìm tài liệu viết bài, người viết đọc được câu chuyện dưới đây. Mời Bạn đọc và xin hãy tùy nghi cảm nghĩ theo ý của mình nhé.

Phật tại tâm, Chúa ở trong lòng!
Đi Chùa !- Quang Nguyen 

"Đi chùa mà trong tâm không có Phật, thì đi chùa để làm gì? 
Hãy làm việc gì có lợi cho đời, còn có ý nghĩa hơn. Thời giờ luôn là thứ quý giá mà con người đang lãng phí vào những điều vô bổ. Họ phí phạm thời gian, mà kết quả thu về chỉ là con số 0."

Tôi quá đỗi ngạc nhiên khi nghe những lời ấy từ một vị tu hành. Chẳng phải người xuất gia luôn mong ai cũng 'tu tâm dưỡng tánh', đến chùa lễ Phật, đọc kinh nguyện cầu sao?!

Có lẽ hiểu ý tôi, thầy liền giải thích thêm:
- Ý tôi muốn nói đi chùa nên mang theo cái "tâm hướng Phật". Chẳng phải đi cho vui, theo phong trào. Đương nhiên, cửa Phật luôn rộng mở đón chào bất cứ ai.
- Thưa sư, đến chùa lễ lạy chắc là họ có lòng hướng Phật chớ?
- Anh là người nhìn xa trông rộng. Tôi kể anh nghe câu chuyện này rồi anh tự xâu chuỗi và đúc kết những gì chúng ta đang đề cập:
"Có một gia đình Phật tử, nhà ở Xóm Bến, rất ngoan đạo. Vào dịp lễ Vu lan cả nhà 6 người cùng nhau đi chùa để 'báo ân mẹ cha'. Họ lại không cho mẹ già theo cùng. Lý do đơn giản, vì mẹ tuổi già sức yếu chậm chạp, ăn mặc xuề xòa, những người con e ngại khi đi cùng bà trước đám đông. Đứa con lớn nói:
- Mẹ hãy ở nhà, trên đó đông người, khói nhang nghi ngút, mệt mỏi lắm. Chùa to, có nhiều bậc thang dẫn tới chánh điện, mà dắt theo mẹ lê từng bước, chẳng biết khi nào chúng con mới được vào trong cúng bái, làm Lễ Vu lan.
Gương mặt bà mẹ buồn vì lại phải đón nỗi cô đơn, quạnh hiu trong căn nhà quá lớn, dù đây chẳng phải lần đầu tiên bà lủi thủi một mình, những khi con cái đi chơi, có khi đi xa mấy ngày trời. Những lần như thế, bà chỉ ước ao có ai đó hàn huyên cho qua thì giờ.

Chiếc tivi là người bạn không cảm xúc, nhưng cũng giúp vơi đi nỗi lòng đôi chút. Bà mê coi cải lương, nhưng thường có tật ngủ quên không tắt. Con trở về thấy vậy, luôn la rầy, phàn nàn mẹ quá lãng phí, không biết tiết kiệm điện. Đã không làm ra tiền mà còn phá thêm. Từ đó, bà không dám xem tivi, thậm chí tắt đèn tối thui.

Họ đi chùa, bà buồn nên sang nhà hàng xóm nói chuyện giải khuây. Khuya quá chẳng thấy con về, không thể nào ở lì mãi nhà hàng xóm, bà đành trở về căn nhà tối thui. Do đôi mắt kém, ánh trăng không đủ soi lối đi, bà trượt chân té ngã, đầu đập xuống bậc tam cấp, tử vong ngay tại chỗ. Chẳng một ai hay.
Những người con từ chùa về, tới cổng ánh đèn xe pha rõ cái tướng của mẹ nằm; họ nói thành lời:
- Đụng đâu ngủ đó! Vậy mà cứ đòi đi chùa. Lên cửa Phật tôn nghiêm mà nằm vật vờ như thế, có phải 'đội quần thiên hạ' không?

Rồi họ hốt hoảng khi thấy cảnh tượng, một vũng máu loang lổ còn tươi rói trên sàn! Mẹ đã tắt thở từ bao giờ. Họ gào khóc thảm thiết: Lúc ở chùa, chúng con cầu nguyện trước Phật cho mẹ sống lâu trăm tuổi, sao mới đó thôi bà đã vĩnh viễn ra đi?

Họ đã hăng hái đọc kinh to nhất nhằm thể hiện sự thành tâm. Luôn quỳ lạy nhiều gấp đôi người chung quanh. Thế mà Phật vẫn không minh chứng cho lòng thành...

Thế là họ từ giã, tìm ngôi chùa lớn hơn trao niềm tin. Chùa to, nhiều thầy và có đông người đến viếng mới là nơi 'linh ứng' và luôn có Phật hiện ngự."
(Nguồn: Sưu tầm trên internet)

Vợ chồng chúng tôi sống an nhiên đơn giản với hạnh phúc bình dị trong tầm tay của mình và cố gắng làm những chuyện thiện lành nho nho nhỏ theo lời chư Phật dạy, tịnh tâm Thân, Khẩu, Ý trước khi đi ngủ. Chúng tôi lễ Phật và cầu nguyện cho người quá vãng siêu sinh miền Tịnh Độ, kẻ hiện tiền bịnh tật tiêu trừ, căn lành tăng trưởng.

Nước Mỹ đã bắt đầu vào Xuân, hoa vườn nhà tôi đã bắt đầu khai nở sau một mùa Đông tuyết lạnh khiến nguời viết nhớ lại bài thơ Nai Tìm Cỏ Non, Người Tìm Tâm Phật của tôi đã viết. Xin mời Bạn thưởng thức nhé.

Nai Tìm Cỏ Non, Người Tìm Tâm Phật

Một vùng tuyết trắng phủ bao la,
Ba chú nai tơ đứng trước nhà
Ngơ ngẩn hỏi tìm đâu cỏ quí
Như ta đã thấy những ngày qua

Tuyết trắng lấp che bãi cỏ mềm
Như người cứ mãi cố tìm xem:
Đâu là Thật Tướng, là Tâm Phật
Nhưng vẫn đa mang nghiệp chướng thêm

Thương thay nai nhỏ vẫn ngây thơ
Tội khách trần gian mãi đợi chờ
Cỏ non, Tâm Phật tìm đâu thấy
Chỉ thấy Tâm mê, Không, Sắc mờ

Nai bới tuyết lên cỏ hiện liền
Người tìm Tĩnh Lạc sẽ bình yên
Cỏ non ẩn hiện sau màn tuyết
Tâm Phật luôn luôn ở Tĩnh, Thiền
Sương Lam

Mùa Xuân đến nên trái tim tình cảm của chúng ta cũng nở hoa theo. Xin mời qúy bạn thưởng thức 2 Youtube Một Cõi Thiền Nhàn Mùa Xuân do người viết thực hiện cho vui nhé. Smile!

1-Một Cõi Thiền Nhàn Minh-Sương Lam-Mùa Xuân 2013 -


Chúc quý bạn có nhiều sức khỏe, thân tâm an lạc, sống vui từng ngày trong hiện tại với duyên nghiệp của mình nhé.

Người giữ vườn Một Cõi Thiền Nhàn

Sương Lam
(Tài liệu và hình ảnh sưu tầm trên mạng lưới internet, qua điện thư bạn gửi-MCTN 704-ORTB 1134-32024)

Chủ Nhật, 24 tháng 3, 2024

Đường Tình Thập Giá - (Hiệp Lễ Chúa Nhật Lễ Lá ) - Sáng Tác: Sr. M. Tigon - Hoà Âm: Xuân Tính - Trình Bày: Đinh Công Huỳnh

 

Sáng Tác: Sr. M. Tigon
Hoà Âm: Xuân Tính
Trình Bày: Đinh Công Huỳnh

 

 

Ngày Lễ Lá

Hôm nay là ngày Lễ Lá
Nguyện cầu lặng nhìn Thập Giá nguồn ân
Vì yêu Ngài xuống gian trần
Vì yêu nhân loại quên thân của mình
Đòn roi Ngài vẫn lặng thinh
Chấp nhận đau đớn hy sinh cực hình
Khẩn cầu tha thiết lời kinh
Sau đêm tăm tối bình minh lóe dần
Tia sáng Thiên Chúa từ nhân
Tạ ơn Lễ Lá con dâng trọn tình.
Amen!

Kim Oanh
Lễ Lá Melbourne 24.3.2024