Thứ Tư, 22 tháng 3, 2023

Bóng Xưa - Thơ: Đỗ Bình - Nhạc: Tôn Nữ Mặc Giao - Trình Bày: Hồng Nhiên


Thơ: Đỗ Bình
Nhạc: Tôn Nữ Mặc Giao
Trình Bày: Hồng Nhiên

Về Thăm Hoài Nhơn

   

Tôi về thăm lại Hoài Nhơn
Qua con phố nhỏ Bồng Sơn quê nghèo
Quán buồn vì nỗi gieo neo
Khách buồn vì nỗi niềm đau nước nhà
Đâu còn cảnh đẹp phồn hoa
Đâu còn dáng đứng kiêu sa mấy nàng !
Cửa An Giũ nắng hanh vàng
Biển Tam Quan lại mơ màng dáng xuân
Nhớ em qua mối tình chân
Thương em câu nói ân cần trao duyên
Anh về trong nỗi sầu riêng
Nhớ câu hát giọng chim quyên gọi bầy
Bình Đê gió, Phủ Cũ mây
Trăng Trung Lương sáng làm ngây ngất lòng
Bên giòng sông Lại trời trong
Tiếng thôn nữ hát chạnh lòng nước non
Trăm năm một cuộc vuông tròn
Dắt nhau qua những lối mòn chân quê
Nhớ lời ước, hẹn câu thề
Đờn kêu: xang, cống… lối về chông chênh
Rưng rưng nhìn nắng bên thềm
Thầm mơ hôn má em mềm như hoa
Ngất ngây mùi áo bà ba
Hương đồng cỏ nội trong ta nhạt nhòa
Hoài Nhơn xưa đất gấm hoa
Làm anh nhớ mãi như là nhớ em


Nguyễn Công Lượng

Ghi Chú:

- Hoài Nhơn: Tên đất có từ thời các chúa Nguyễn khai mở đất phương nam, phủ Hoài Nhơn thuộc Đạo
Quảng Nam, nay là một huyện thuộc tỉnh Bình Định, quê quán và là nhiệm sở đầu tiên của tác giả.
- Bồng Sơn: Tên xã quận lỵ của quận Hoài Nhơn, nay đã trở thành thị xã.
- An Giũ: Cửa sông Lại chảy ra biển.
- Tam Quan: Tên xã thuộc quận Hoài Nhơn, có phong cảnh đẹp.
- Bình Đê: Tên một cái đèo phía bắc tỉnh Bình Định giáp tỉnh Quảng Ngãi.
- Phủ Cũ: Tên một cái đèo ở phía nam quận Hoài Nhơn giáp quận Phù Mỹ. Thời các chúa Nguyễn phủ
lỵ Hoài Nhơn đóng dưới chân đèo nên sau đó đèo có tên là Phủ Cũ.
- Trung Lương : Một thôn của xã Bồng Sơn nằm trên bờ bắc sông Lại, có bờ cát và vườn dừa rất đẹp.
- Sông Lại: Ở bắc Bình Định do 2 nguồn Kim Sơn và An Lão hợp thành.

( Bồng Sơn trước 1975)

Yêu Rút

 

Yêu người trong RẤT ngoài KHÔNG
cầm như đi “shop” lông nhông chợ chiều.
Chợ mới nhóm đã buồn hiu.
Tình mới nhúm đã phập phều lửa than.
Lụa là chưa kịp bày hàng
đã xếp lại để ... ngỡ ngàng bướm hoa!
Chợ chiều, quán xá la cà
giá “sale” rẻ mạt phù hoa mắt người.
Mua càng tưởng được giá hời!
Yêu càng! Yêu rút!Mà rồi ...Hình như ...

Cao Vị Khanh

Nguyệt Cầm

 

Lòng nặng trĩu âm thanh nào cao vút
Lời trong thơ vang vọng tiếng nhạc buồn
Tình anh đó lòng em còn ray rứt
Nguyệt cầm kia ôm ấp lại mình anh
Đêm trăng tàn ngồi yên trong tưởng nhớ
Vũ khúc nào quay cuồng suốt đêm sâu
Giấc trưa nồng còn vương sầu lệ nhỏ
Dáng anh về trăng úa dọi đường khuya
Cuộc tình đó với qua nhiều cách biệt
Bước em đi trên những nỗi ngại ngùng
Trong khoảng khắc ngộ ra lòng da diết
Để lại anh cùng với những đắng cay
Em đã biết dù trăm ngàn lời nói
Cũng chẳng đủ tan đi mối hận lòng
Nguyệt cầm cũ đưa anh vào hạnh phúc
Hát cho anh yên giấc ngủ ngàn năm

Ý Nhi

Hư Cấu Trong Võ Hiệp Kim Dung (1)


Ai cũng biết truyện võ hiệp của Kim Dung đều toàn là những câu truyện HƯ CẤU, nhưng sao tất cả mọi người già trẻ lớn bé, bất kể sang hèn nam nữ, từ bình dân đến trí thức đều mê như điếu đổ. Truy nguyên, ta sẽ thấy được những HƯ CẤU của Kim Dung đều dựa vào những thực tế của cuộc sống hằng ngày, của tâm lý tình cảm chân thật của con người, của những sự kiện lịch sử có thật kết hợp với những dã sử trong dân gian, những phong tục tập quán của từng địa phương hòa vào trong các tình tiết khúc chiết ly kỳ gây cấn để hấp dẫn người đọc bằng lối kể truyện vừa bình dân vừa bác học, vừa chất phác vừa văn chương, vừa xen vào cái không khí trinh thám như của Sherlock Holmes... Tất cả Lịch sử, Địa lý, Chính trị, Văn hóa, văn chương, tâm lý tình cảm của con người, tất cả tất cả... hòa quyện vào nhau trong câu truyện VÕ HIỆP HƯ CẤU một cách tài tình hợp lô-gích và phù hợp với cuộc sống thực tại của con người!

Trước tiên xin được điểm qua vài nét về mặt văn chương văn học trong truyện Võ Hiệp của Kim Dung :
Trong truyện "Thiên Long Bát Bộ 天龍八部 (1963-1966)". Khi Đoàn Dự bị nhà sư Thổ Phồn Cưu Ma Trí bắt đem về xứ Giang nam để tế sống trước mộ của Mộ Dung Bác, vì chàng ta thuộc lòng hết khẩu quyết của Lục Mạch Thần Kiếm. Đến xứ Giang nam vào môt buổi chiều xuân tươi đẹp với sóng nước lăn tăn, với liễu xanh rũ bóng bên bờ, với cỏ non xanh rợn chân trời xa xa là xóm nhà thấp thoáng với những hoa hạnh bay là đà trong ánh nắng chiều. Trước cảnh đẹp của Giang nam mà ở Đại Lý chưa từng thấy qua, chàng thư sinh Vương tử Đoàn Dự nổi hứng cất giọng ngâm:

波渺渺,柳依依; Ba miểu miểu, liễu y y;
孤村芳草遠, Cô thôn phương thảo viễn,
斜日杏花飛。 Tà nhật hạnh hoa phi !

Có nghĩa:

Sóng lăn tăn, liễu thướt tha,
Cỏ non xanh biếc xóm xa ,
Hạnh hoa theo nắng là đà bay bay!

Khiến cho nhà sư Cưu Ma Trí cũng phải bật cười mà nói rằng :"Chết đến nơi, bộ vui lắm sao mà còn ngâm thơ nữa ?!"

Ba miểu miểu, Liễu y y...

Lúc nhỏ khi đọc đến đây, tôi cứ ngỡ là thơ của "Kim Dung làm cho Đoàn Dự ngâm"; đến lúc học về văn học cổ thì mới biết rằng đây là bài TỪ "Ba Miểu Miểu" trong từ điệu "Giang Nam Xuân" của Khấu Chuẩn 寇準的"江南春·波渺渺". Khấu Chuẩn (961-1023) là nhà văn nhà thơ đời Bắc Tống, đậu Tiến sĩ năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 5, làm quan đến chức Thừa tướng. Bài từ trên của ông, nhà văn Kim Dung trích còn thiếu 2 câu. Cả bài như sau :

波渺渺,柳依依; Ba miểu miểu, liễu y y;
孤村芳草遠, Cô thôn phương thảo viễn,
斜日杏花飛。 Tà nhật hạnh hoa phi !
江南春盡離腸斷, Giang Nam xuân tận ly trường đoạn,
苹滿汀洲人未歸。 Bình mãn đinh châu nhân vị quy!

Có nghĩa:

Sóng lăn tăn, liễu thướt tha,
Cỏ non xanh biếc xóm xa ,
Hạnh hoa theo nắng là đà bay mau.
Giang Nam xuân hết lòng đau,
Bèo đầy bến bãi người sao chưa về!

Kim Dung đã trích rất khéo vì 2 câu sau không ăn với hoàn cảnh của Đoàn Dự lúc bấy giờ.

Còn trong truyện "Anh Hùng Xạ Điêu" , tức "Xạ điêu anh hùng truyện 射鵰英雄傳 (1957-1959)", xem phim thì không có, nhưng nếu xem truyện, chúng ta sẽ đọc thấy...

... Khi bị Thiết Chưởng Thủy Thượng Phiêu Cừu Thiên Nhận đánh cho một thiết chưởng thừa sống thiếu chết, Hoàng Dung phải nhờ Quách Tĩnh cỏng đi tìm người trị thương. Được sự chỉ điểm của Thần Toán Tử Anh Cô, đi tìm Đoàn Nam Đế nhờ ngài dùng Nhất Dương Chỉ để trị thương cho Hoàng Dung. Vì mỗi lần dùng Nhất Dương Chỉ để trị thương cho ai, thì Đoàn Nam Đế phải mất hết công lực, sau 3 năm mới phục hồi lại được, cho nên các học trò của ngài là Ngư, Tiều, Canh và Độc có ý ngăn cản không cho Quách Tĩnh và Hoàng Dung lên núi. Từ chân núi đến đỉnh núi, Ngư Tiều Canh Độc 魚,樵,耕,讀 chia làm 4 trạm để cản trở, khó khăn lắm mới vượt qua được 3 trạm Ngư, Tiều và Canh.... Bây giờ tới trạm cuối cùng của ông ĐỘC nhé !...

Thấy Hoàng Dung giỏi văn thơ và đã lên tiếng chê trách là ông chỉ đọc sách như vẹt, chứ không hiểu hết ý nghĩa của Thánh hiền, qua câu chuyện : Khi nghe ông Độc đọc một câu trong sách Luận ngữ là : "Mạc xuân dã, xuân phục ký thành, quan giả ngũ lục nhân, đồng tử lục thất nhân, dục hồ Nghi, phong hồ Vũ Vu, vịnh nhi qui...末春也,春服既成,冠者五六人,童子六七人,浴乎宜,風乎宇于,咏而歸...". Có nghĩa ; Vào cuối xuân, quần áo mùa xuân đã may xong, năm sáu người lớn, sáu bảy trẻ nhỏ, tắm ở dòng sông Nghi, hứng gió ở đền Vũ Vu, rồi hát mà về...(tả cảnh sống thanh bình vui vẻ, tự do tự tại của dân chúng trong buổi đầu xuân)... mà hỏi ông rằng : "Ông đọc sách Thánh hiền, mà có biết Bảy Mươi Hai người thành đạt 七十二賢 (thất thập nhị hiền) trong số 3 ngàn học trò của Không Tử, là : Có bao nhiêu người già, bao nhiêu người trẻ không ? Ông Độc suy nghĩ mãi không ra , sách chỉ nói Thất thập nhị Hiền, chứ đâu có nói gì đến già trẻ đâu. Hoàng Dung mới cười ông , và đem câu Luận ngữ mà ông vừa đọc ở trên để giải thích như thế nầy : Quan giả là người đội mũ, là người lớn, ngũ lục nhân, năm sáu người, 5 lần 6 là 30 người. Đồng tử là con nít là người trẻ, lục thất nhân, sáu bảy người, 6 lần 7 là 42 người. 30 cộng với 42, chẳng phải 72 là gì ? Cho nên tôi nói ông chỉ đọc sách như vẹt, chứ không hiểu hết ý nghĩa sâu xa ở bên trong là vậy đó !". Thấy Hoàng Dung mặc dù ngụy biện, lấy câu sách mình vừa đọc để mắng mình, nhưng cũng phải phục tài thông minh, cơ trí của cô ta, nên định thử xem con bé nầy giỏi tới đâu...

Đầu tiên, ông ta đọc một bài thơ, cho Hoàng Dung đoán lý lịch của mình (đây là một cách chơi chữ bằng cách đố chữ rất lý thú để cho người ta đoán). Bài thơ như sau :

Lục kinh uẩn tịch hung trung cửu, 六經蕴籍胸中久,
Nhất kiếm thập niên ma tại thủ. 一剣十年磨在手.
Hạnh hoa đầu thượng nhất chi hoành, 杏花頭上一枝横,
Khủng tiết thiên cơ mạc lộ khẩu. 恐泄天機莫露口.
Nhất điểm luy luy đại như đấu, 一点畾畾大如斗,
Giảm khước bán sàng chung sở hữu. 减却半牀终所有.
Hoàn danh trực đãi quải quan quy, 完名直待挂冠歸,
Bản lai diện mục quân tri phủ ? 本来面目君知否?

* LỤC KINH 六經 : gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Nhạc, Kinh Xuân Thu《詩》《書》《禮》《易》《樂》《春秋》. Đến đời Tống "Kinh Lễ và Kinh Nhạc" được nhập lại thành một, gọi là "Kinh Lễ Nhạc", nên chỉ còn có NGŨ KINH mà thôi. Ta hay nghe nói TỨ THƯ NGŨ KINH 四書五經 là vì thế !

Bài thơ có nghĩa:

Sáu bộ kinh sách đã nung nấu trong lòng từ lâu và trong tay mười năm nay đã luôn mài một lưỡi gươm. Trên đầu hạnh hoa có một cành ngang, sợ để lộ thiên cơ nên đừng mở miệng. Một chấm to lớn như là cái đấu, sẽ có được khi đã giảm nửa sàng. Công thành danh toại nên muốn cáo lão về quê, gốc gác mặt mũi của ta, bạn đã biết rồi chưa?

Hoàng Dung nghe xong, bèn lập lại hai câu đầu "Lục kinh uẩn tịch hung trung cửu, Nhất kiếm thập niên ma tại thủ" là : Lục kinh đã thuộc nằm lòng, lại mười năm mài một lưỡi gươm, Quả là văn võ song toàn. Chữ lục 六 thêm chữ nhất 一 trong chữ "nhất kiếm" và chữ thập 十 trong chữ "thập niên", gộp lại thành chữ Tân 辛. Trên đầu chữ Hạnh 杏 thêm một gạch ngang , và ở phía dưới bỏ đi chữ khẩu (mạc lộ khẩu 口) còn lại là chữ Mùi 未. "Nhất điểm" là một chấm ở trên chữ "đại" là chữ Khuyển 犬, giảm khước là giảm đi phân nữa chữ sàng 牀, tức là bỏ chữ mộc 木 đi, thêm chữ khuyển 犬 vào, sẽ thành chữ Trạng 狀. Cuối cùng, chữ "hoàn danh", Hoàn 完 mà "quải quan" là treo nón, bỏ cái nón ra, chữ Hoàn chỉ còn lại có chữ Nguyên 元. Nhập kết quả của bảy câu lại thành ra 4 chữ : Tân Mùi Trạng Nguyên 辛未狀元, Câu chót "Bản lai diện mục quân tri phủ? " là : "Mặt mũi vốn có của ta, cô đã biết hay chưa?" À, thì ra ông xuất thân là Trạng Nguyên đậu năm Tân Mùi, Xin kính chào Ngài Trạng Nguyên ạ !

Tranh và tạo hình của Ngư, Tiều, Canh, Độc qua phim

Ông Độc rất phục cái thông minh, tài trí của Hoàng Dung, nhưng ông vẫn phải làm khó, vì nếu để cho sư phụ của mình là Đoàn Nam Đế trị thương cho Hoàng Dung thì ông ta phải chịu mất hết công lực trong 3 năm, mà trước mắt ông ta đang gặp phải cường địch. Vì vậy, ông Độc bắt Hoàng Dung phải đối thêm 2 câu đối nữa, nếu đối được mới cho vào. Câu thứ nhất, vế ra của Ông như sau :

Phong bãi tông lư, thiên thủ Phật dao triệp điệp phiến,
風 摆 棕 梠,千 手 佛 摇 槢 叠 扇,

Có nghĩa:
Gió đưa các nhánh cọ (như cây thốt nốt xòe các nhánh như lá dừa), giống như là ông Phật ngàn tay đang phe phẩy quạt.

Vế ra hay quá, lại rất tượng hình, muốn đối lại không khó, nhưng muốn đối cho hay thì... Chợt Hoàng Dung nhìn thấy một cọng sen vương cao lên trong hồ, bèn xúc cảnh sinh tình mà đối ngay rằng :

Sương điêu hà diệp, độc cước quỷ đái tiêu dao cân.
霜 凋 荷 叶, 独 脚 鬼 戴 逍 遥 巾.

Có nghĩa:
Sương thu làm héo úa lá sen, trông giống như con quỷ một giò đội khăn tiêu dao.

Phong bãi tông lư... Sương điêu hà diệp...

Bấy giờ trời đã vào buổi tàn thu, sen trong đầm đà tàn tạ, một cọng sen vương cao lên, lá sen bên trên bị sương thu nên héo úa đen đúa rũ xuống, trông tựa như người đang đội khăn, ông Độc đang đội khăn Tiêu Dao, khăn của thư sinh ngày xưa, bây giờ bị Hoàng Dung diễu là "Con quỷ một giò đội khăn tiêu dao", để đối lại với "Ông Phật ngàn tay đang phe phẩy quạt". Đối khéo và hay quá, lại còn mắng mình là "con quỷ một giò" nữa chớ !. Nhưng vẫn không chịu thua, ông tiếp tục moi ra câu đối hóc búa mà ngày xưa thầy ông đã ra cho ông khi còn đi học, và mãi cho đến nay mặc dù đã đậu Trạng Nguyên mấy chục năm rồi ông vẫn chưa đối lại được. Câu đối đó như sau :

Cầm Sắt Tì Bà bát đại vương, nhất ban đầu diện ,
琴 瑟 琵 琶 八 大 王, 一 般 頭 面. 

Có nghĩa:
"Cầm sắt tì bà" (là 4 loại nhạc cụ) , mỗi chữ trên đầu đều có 2 chữ VƯƠNG 王, nên gọi là bát đại vương 八大王, "Nhất ban đầu diện" là mặt mũi đều giống nhau, vì 2 chữ vương của mỗi chữ đều nằm ở phần trên đầu.

Vế ra quả là hóc búa, trong một lúc muốn đối cho chỉnh không phải là dễ. Nhưng Hoàng Dung lại rất thông minh dĩnh ngộ, lại đúng ngay tình cảnh mình đang gặp trước mắt, nên nàng bèn cất tiếng đối ngay:

Si Mị Võng Lượng tứ tiểu quỷ, các tự đỗ trường .
魑 魅 魍 魉 四 小 鬼, 各 自 肚 腸.

Có nghĩa:

"Si mị võng lượng" là 4 loài tiểu quỷ ở trong núi, chuyên phá phách người đi đường, "các tự đỗ trường" là mỗi con bụng dạ đều khác nhau. Câu đối thật khéo, thật chỉnh, "Cầm sắt tì bà" đối với "Si mị võng lượng", "Bát đại vương" đối với "Tứ tiểu quỷ", "Nhất ban đầu diện" đối với "Các tự đỗ trường". Vì phần trong của 4 chữ QUỶ 鬼 là 4 bộ khác nhau. Câu đối còn hay ở chỗ, vừa đối chỉnh lại vừa mượn ý câu đối mà mắng 4 ông Ngư Tiều Canh Độc là "Tứ tiểu quỷ" , mỗi người một bụng dạ khác nhau, như 4 con quỷ núi đều tìm cách ngăn chặn không cho Quách Tĩnh và Hoàng Dung lên núi...

Cầm sắt tì bà... Si mị võng lượng

Đến nước nầy, Ông Độc cũng phải chịu Hoàng Dung là giỏi và để cho 2 người lên núi trị thương...

Riêng tôi, thì tôi không biết là Hoàng Dung giỏi cở nào, chứ KIM DUNG thì quả nhiên giỏi thiệt, chả trách mọi người đều mê đọc truyện của ông ta, già mê theo già, trẻ mê theo trẻ, trí thức mê theo trí thức, bình dân mê theo bình dân... Quả thật là Ông Thần của tiểu thuyết Võ Hiệp Trung Hoa. Chả trách ở Trung Quốc có thành lập một tổ chức gọi là : Kim Dung Học, để chuyên nghiên cứu về 15 bộ tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung về tất cả các mặt tâm lý, tình cảm, triết học, lịch sử, đia lý...

Thực ra theo "Cổ kim đàm khái, Đàm tư bộ 古今譚概·談資部" của Phùng Mộng Long 馮夢龍 đời Minh thì đây là câu đối của một Đường Cao 唐皋 Trạng nguyên đời nhà Minh khi đi sứ sang nước Cao Ly. Chúa Cao ly ra câu đối thử tài là : Cầm Sắt Tì Bà bát đại vương, nhất ban đầu diện 琴瑟琵琶八大王,一般頭面. Trạng bèn đối lại là : Si Mị Võng Lượng tứ tiểu quỷ, các tự đỗ trường 魑魅魍魉四小鬼, 各 自肚腸. Chúa Cao Ly kinh ngạc khen hay.

Lại có thuyết cho là khi liệt cường xâu xé Trung Hoa, trong Bát quốc Liên quân có người giỏi tiếng Hoa muốn làm nhục triều đình Mãn Thanh đã ra câu đối hóc búa sau đây :

騎奇馬,張長弓,琴瑟琵琶八大王王王在上,單戈作戰。
Kỵ kỳ mã, trương trường cung, cầm sắt tì bà bát đại vương,
vương vương tại thượng, đơn qua tác chiến.

Có nghĩa:
Cởi ngựa lạ, giương cung dài, cầm sắt tì bà tám đại vương, mỗi vị vương đều ở trên, đơn thương tác chiến. Vế ra nầy hóc búa ở chỗ, ngoài Cầm Sắt Tì Bà Bát Đại Vương... lắt léo như đã nói ở trên, thì :

Chữ KỲ 奇 đặt sau chữ MÃ 馬 là chữ KỴ 騎;
Chữ CUNG 弓 đặt trước chữ TRƯỜNG 長 thành chữ TRƯƠNG 張.
Chữ QUA 戈 ghép sát lại với chữ ĐƠN 單 thành chữ CHIẾN 戰.

Lúc đó trong đám quan viên của Thanh Triều, có một người đứng ra đối lại rằng:

偽為人,襲衣衣,魅魑魍魎四小鬼鬼鬼犯邊,合手即拿。
Ngụy vi nhân, tập long y, Si mị võng lượng tứ tiểu qủy,
qủy qủy phạm biên, hiệp thủ tức nã.

Có nghĩa:

Làm người ngụy, trộm áo rồng, Si mị võng lượng bốn qủy nhỏ, qủy nào cũng muốn phạm biên cượng nắm tay lại là sẽ bắt lấy. Vế đối cũng có các chữ :

Chữ VI 為 đặt sau chữ NHÂN 人 là chữ NGỤY 偽;
Chữ Y 衣 đặt dưới chữ LONG 衣 là chữ TẬP 襲.
Chữ HIỆP 合 đặt trên chữ THỦ 手 là chữ NÃ 拿.

Bát Quốc Liên Quân xâu xé Trung Hoa

Câu đối hay ở chỗ Bát Quốc Liên Quân đến xâu xé Trung Hoa là Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Nga, Nhật, Áo, Ý 英、美、法、德、俄、日、奧、意 xưng là "Bát Đại Vương" là "Tám ông vua lớn", thì bị gọi lại là "Tứ Tiểu Qủy" là "Bốn con qủy nhỏ". "Cởi ngựa lạ, giương cung dài, ngồi trên mà chiến đấu", thì được đối lại là "Ngụy quân tử, trộm áo vua, đến để xâm lấn biên cương"...

Nhưng trên đây chỉ là truyền thuyết, không có trong chính sử. Kim Dung đã khéo lượm lặt những giai thoại trong dân gian rồi ghép vào cho những nhân vật võ hiệp Hư Cấu của mình cho câu truyện thêm phần ly kỳ hấp dẫn và lý thú hơn mà thôi.

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức.

Xim xem tiếp:

 



Thứ Ba, 21 tháng 3, 2023

Buồn - Thơ-Nhạc Chương Hà - Tiếng Hát Đông Nguyễn


Thơ&Nhạc: Chương Hà
Tiếng Hát: Đông Nguyễn

Giã Từ Đà Lạt

 
Đà Lạt từ nay cách biệt rồi,
Lòng tôi lưu luyến quá đi thôi.
Đường xưa xóm vắng sân trường cũ,
Kỷ niệm trong tôi cả một trời.

Những chiều nắng đẹp trên đồi vắng,

Cành lá lưa thưa những đốm vàng.
Xuân Hương mặt nước hồ im tiếng,
Thủy Tạ xa mờ phủ khói sương.

Cam Ly thác đổ rền vang tiếng,

Thông reo vi vút lá vàng rơi.
Bích Câu hoa đẹp chiều thăm viếng,
Vạn Kiếp muôn đời vẫn nhớ ghi.

Mỗi mùa Xuân đến hoa đào nở,

Du khách mười phương đến ghé thăm.
Đà Lạt niềm thương và nỗi nhớ,
Người về xin gởi những vần thơ.

Tôi biết ngày đi khó trở về,

Nghìn trùng xa cách quá Người ơi!
Hẹn ước ngày mai khi trở lại,
Biết còn gặp lại cảnh, người xưa?

Đại Bàng(Trần Đại Bản)

Ơi Quê Hương!

 

Quê hương ơi, tiếng kêu sao xa quá
Lời thương xưa xin gửi lại cho người
Còn tìm đâu thời thơ ấu hát cười?
Thưở ca khúc tình quê theo trang giấy

Tổ Quốc ơi, phải chăng người còn đấy
Bốn ngàn năm lịch sử rạng anh hùng
Hay mất rồi lòng đoàn kết ý chung?
Còn đâu nữa tình anh em máu mủ

Việt Nam ơi, phải chăng người còn đủ?
Hay vẫn còn nhìn con cháu điêu linh?
Chiến tranh qua, sao chẳng thấy yên bình?
Máu ngưng chảy, sao còn đời oan nghiệt?

Đất nước ơi, xin một lời từ biệt
Phận bọt bèo lưu lạc sống tha phương
Biết bao giờ tìm lại dược tình thương?
Thầm một bóng, mắt là đôi giòng lệ

Cung Thị Lan



Ức Tần Nga 憶秦娥 – Lý Chi Nghi


憶秦娥 - 李之儀 Ức Tần Nga – Lý Chi Nghi

用太白韻                 Dụng Thái Bạch vận


清溪咽。                 Thanh khê yết.
霜風洗出山頭月。 Sương phong tẩy xuất sơn đầu nguyệt.
山頭月。                 Sơn đầu nguyệt.
迎得雲歸,             Nghinh đắc vân quy,
還送雲別。             Hoàn tống vân biệt.

不知今是何時節。 Bất tri kim thị hà thời tiết.
凌歊望斷音塵絕。 Lăng Hiêu vọng đoạn âm trần tuyệt.
音塵絕。                 Âm trần tuyệt.
帆來帆去,             Phàm lai phàm khứ,
天際雙闕。             Thiên tế song khuyết.

Chú Thích

1- Ức tần nga 忆秦娥: tên từ bài. Tên khác là “Tần lâu nguyệt 秦樓月”, “Bích vân thâm 碧雲深”, “Bích vân mộ hợp 碧雲暮合”, “Song hà diệp雙荷葉”, “Bồng lai các 蓬萊閣”, “Hoa thâm thâm花深深”. Truyền thuyết cho rằng Lý Bạch đã sáng tác ra điệu này. Bài này có 46 chữ, có khi trắc vận, có khi bình vận hoặc có cả trắc, bình vận trong một bài. Thường có thêm điệp vận. Cách luật:

X X T vận
X B X T B B T vận
B B T điệp vận
X X X X cú
X X B T vận

X B X T X B T vận
X B X T B B T vận
B B T điệp vận
X B X T cú
X X B T vận

2- Thanh khê 清溪: suối trong.
3- Yết 咽: nức nở, róc rách.
4- Sương phong霜風: gió lạnh.
5- Tẩy xuất 洗出: rửa giải, elute.
6- Sơn đầu 山頭: đỉnh núi.
7- Hoàn 還: còn, hãy còn.
8- Thời tiết 時節: nhiệt độ không khí nóng hay lạnh, trời mưa hay nắng.
9- Lăng Hiêu 凌歊: tức Lăng Hiêu đài 凌歊台, thuộc tỉnh An Huy 安徽, TH. Vua Tống Hiếu Võ đế Lưu Tuấn 宋孝武帝劉駿thời Nam Tống 南宋 từng xây dựng cung tránh nóng bức ở đây. Lý Chi Nghi làm bài này khi bị đầy ải đi xa khỏi kinh đô.
10- Vọng đoạn 望斷: nhìn thật xa.
11- Âm trần音塵 = âm tín 音信: tin tức.
12- Tuyệt 絕: mất hẳn, dứt hẳn, ngừng hẳn.
13- Phàm 帆: buồm, đại chỉ thuyền.
14- Thiên tế天際: chân trời.
15- Song khuyết雙闕: tức là cung khuyết宮闕, cửa cung vua, đại chỉ cung vua.

Dịch Nghĩa

Dùng vận (của bài Ức Tần Nga) của Lý Bạch.

Suối trong róc rách,
Gió lạnh (thổi tan mây) hiện ra trăng trên đầu núi.
Trăng đầu núi.
Nghinh đón mây về,
Còn đưa tiễn mây đi.

Không biết bây giờ thời tiết thế nào.
Nhìn thật xa nơi tháp Lăng Hiêu không thấy tin tức gì cả.
Không tin tức gì cả.
Thuyền buồm đến thuyền buồm đi,
Cung vua ở nơi chân trời.

Phỏng Dịch

1 Ức Tần Nga - Nhớ Thành Đô

Suối róc rách,
Gió sương rửa sạch đầu non nguyệt.
Đầu non nguyệt.
Trăng đón mây về,
Cùng mây ly biệt.

Bây giờ ai biết đâu thời tiết,
Lăng Hiêu nhìn tận không tin biết.
Không tin biết.
Buồm đi buồm đến,
Cung vua xa tít.  

2 Nhớ Thành Đô

Suối reo róc rách âm vang
Gió sương gột sạch trăng vàng đầu non.
Mây về tụ với trăng tròn,
Cùng mây ly biệt trăng còn treo cao.

Bây giờ thời tiết ra sao,
Lăng Hiêu trông vọng hôm nào vắng tin.
Cánh buồm đi, đến liên miên,
Đế vương cung khuyết thiên biên cách vời.

HHD
08-2021
***
Ức Tần Nga – Lý Chi Nghi

1-
Suối trong biếc
Gió thổi sương, lộ trăng núi khuyết
Trăng núi khuyết
Nghinh đón mây về
Còn đưa mây biệt
Chẳng biết giờ ra sao, thời tiết
Nhìn xa Lăng Hiệu, không tin tức
Không tin tức
Buồm đi, buồm đến
Chân trời cung khuyết!

2-
Suối trong róc rách nguồn cơn
Sương tan gió thổi đầu non trăng tà
Trăng tà nghinh đón mây xa
Còn đưa mây nổi trôi qua chốn nào?
Bây giờ thời tiết ra sao?
Nhìn xa Lăng Hiệu âm hao mịt mờ
Tin buồm đi, đến ai ngờ
Chân trời cung khuyết chơ vơ lạnh tràn!

Lộc Bắc
Mars23

Tháng Ba Trong Đời



1975- TAM KỲ/ ĐÀ NẴNG

Người gục ngã khi tuyến đầu bỏ ngõ

Kẻ ngậm hờn trên từng bước lui binh
Rời Đức Tân, bỏ Suối Đá, Phú Ninh (*)
Chân ngược bắc, nát tan lòng chiến sĩ!

Đà Nẵng bỗng trở thành thân chốt thí

Não nùng thay! Gươm súng gãy giữa dòng
Chốt cũng đành chùng bước tại bến sông
bó tay trước sóng cuồng vì định phận!

1987- SÀI GÒN/ BANGKOK/ BATAAN

Vẫy tay từ tạ phố phường

Chân lìa cố quận, lòng vương vấn tình
Tình Anh Em thuở Chi Binh
Tình Người trong kiếp phù sinh đổi đời
Đường mây, cánh sắt, trùng khơi
Hai giờ bay đã một trời biệt ly
Tháng 3! Hiu hắt xuân thì
Đành quay lưng bước. Một đi không về
Bờ xa tìm dấu sơn khê
Ngàn khơi dậy sóng, lối quê dặm dài
Ngậm ngùi nhìn cánh chim bay
Chiều trên đảo trại nắng quay quắt... Buồn!

2023 LEBANON-PENNSYLVANIA

36 năm! Nửa vòng trái đất

Vạn ngày qua trong cuộc tỉnh, say
Mỏi tay đếm bao lần nhật nguyệt
theo chân đưa trên lối miệt mài!

Có phải buồn vui trong tiền kiếp
vọng về theo nhịp sống cuồng quay?
Cổ lụy trầm vương trong nuối tiếc
như sóng trường giang vỗ đêm ngày.

Chiêm bao mấy giấc còn say mộng
Trở mình mới biết đã hư không
Quạnh hiu từ lúc đời biển động
Thiên di từ đó cũng bềnh bồng.

Nỗi buồn chôn kín bao ngày tháng
vẫn quay về đọng giữa hồn ta
Tháng 3! Đà Nẵng. Mùa ly tán
Trời xa! Nhớ mãi bóng quê nhà.


Huy Văn
(*) Địa danh của những chiến trường quanh
thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Tín. 1975)

"Văn Hóa Uống Rượu" Của Người Việt Nam Xưa Và Nay


Chén vui nhớ buổi hôm nay
Chén mừng xin đợi ngày rày năm sau.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)

Thức uống của người Việt mình chỉ có Rượu và Trà.
Ngày xưa các nhà Nho mời rượu nhau gọi là “Chén tạc, chén thù”. Chủ rót rượu mời khách gọi là “tạc”, khách đáp lễ gọi là “thù”. Trong các cuộc vui có uống rượu, người xưa thường đọc thơ, bình thơ, nên có chữ “bầu rượu, túi thơ”.

Đua chi chén rượu câu thơ
Thuốc lào ngon nhạt, nước cờ thấp cao
(Nguyễn Trãi, Gia Huấn ca)

Ngày xưa rượu trước tiên dùng trong lễ nghi: vô tửu bất thành lễ. Trong đời thường, rượu trong tiệc tùng, ăn uống, bạn bè gọi là nhậu. Người đàn ông Việt Nam xưa nay tự cho rằng Nam vô tửu như kỳ vô phong, và lắm người tự hào mình là đệ tử của Lưu Linh, một nhân vật văn học nổi tiếng về tửu lượng.
[Lưu Linh: Người đời Tấn (210-270), quê đất Bái (nay thuộc Từ Châu, Giang Tô). Là một trong "Trúc Lâm thất hiền": Kê Khang, Nguyễn Tích, Sơn Đào, Hướng Tú, Lưu Linh, Nguyễn Hàm, Vương Nhung.]

Cho nên nói không sợ quá lời là rượu thuộc phạm trù văn hóa Việt Nam!
Việt Nam là dân tộc có truyền thống uống rượu. Người Việt Nam uống rượu khi ăn, mang ý nghĩa tương sinh hài hòa, thuận theo nguyên lý "âm dương phối triển" của Phương Đông.

Rượu Ta rượu Tây


Rượu ta – quốc tửu, là rượu trắng, nấu bằng gạo/nếp thơm, đựng trong chai, đậy nút bằng lá chuối, bằng nút “cặt bần”, không nhãn hiệu, không ghi nơi sản xuất. Rượu trắng được chưng cất theo phương cách thủ công trong dân gian có từ lâu đời rồi. Nên sách Lãnh Nam trích Quái mới viết: “Dân ta lấy gạo làm rượu”; còn sứ thần nhà Tống đi sứ qua nước ta về có nói rằng: “Lê Hoàn vừa hát vừa uống rượu…” (Lê Hoàn là người đánh thắng giặc Tống, lên làm vua tức Lê Đại Hành 980-1005).

Theo giòng lịch sử, rượu ngon nổi tiếng của ta là rượu làng Vân (Bắc Ninh), Nguyên Xá (Thái Bình), Trương Xá (Hưng Yên), Nga Mi (Hà Tây), Quảng Xá (Thanh Hóa), Bắc Hà (Lào Kai), Kẻ Diên (Quảng Trị), Phụng Hiệp (Cần Thơ), Gò Đen (Long An), Củ Chi Hóc Môn ( Sài Gòn-Gia Định), vân vân. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, rượu Kim Long ở Hải Lăng, Quảng Trị ngon hơn hết.

Hiện nay Việt Nam có bốn loại rượu trắng ngon nổi tiếng là rượu làng Văn xứ Bắc, Kim Long ở Quảng Trị, Bàu Đá Bình Định và đế Gò Đen Long An.
[Tên gọi rượu đế trong Nam xuất xứ từ chuyện người dân giấu rượu lậu dưới cây đế, sợ Tàu Cáo phạt. Cây đế là một loài cây giống cỏ năn, cỏ lác, cỏ tranh, lau sậy… mọc cao khỏi đầu. Cây đế tên khoa học Saccharum spontaneum, có thân cứng nhỏ, lá dày cứng cắt rất đau, mọc thành bụi hoang có tốc độ mọc rất nhanh, có nhiều ở đồng bằng sông Cửu Long.]

Rượu đế Gò Đen, Củ Chi còn gọi là nước mắt quê hương, nấu bằng nếp, có nồng độ cao. Rượu đế được đánh giá là ngon nhứt phải trong vắt, rót sủi tăm bọt nhỏ lăn tăn, uống có mùi vị thơm, ngọt, cay, có độ cồn tương đối cao từ 39 đến hơn 45 độ, uống vô thấy êm dịu và không gây nhức đầu chóng mặt. Theo dân gian ngày xưa rượu cho vào chai hạ thổ, chôn xuống đất 100 ngày có màu cánh kiến, uống ngon hơn rượu thường.

Rượu đế trong miền Nam thường uống trực tiếp, hay dùng ngâm với các loại thuốc Bắc thuốc Nam, theo các bài thuốc gia truyền nổi tiếng như Minh Mang toa.
Rượu đế ngâm động vật hoặc một phần của động vật được ưa chuộng như rắn, tắc kè, bìm bịp, hổ cốt, cá ngựa… Các loại động vật hầu hết được ngâm sống, sơ chế hay nấu chín. Rượu rắn Phụng Hiệp Cần Thơ có tiếng là ngon từ năm 1960 tới nay vẫn còn.


Khi người Pháp mới đến Việt Nam, họ cấp phép cho dân nấu rượu cổ truyền, khuyến khích người Việt uống rượu để thâu thuế. Đến khi các nhà máy sản xuất rượu ra đời, Pháp ra lịnh cấm dân nấu rượu, ngừng cấp giấy phép nấu rượu gia đình, thành lập tổ chức gọi là "Tàu cáo", một loại thanh tra thuế, chuyên đi bắt phạt dân nấu rượu.

Nhà có môn bài bán rượu của Công ty rượu Đông Dương (Société françaises des Distilleries de l’Indochine) treo bảng trước cửa có hai chữ "RA" (Régie d'Acool - Sở rượu). Rượu của Công ty rượu Đông Dương, dân mình gọi là rượu Phông – Tên, bởi công ty do A.Fontaine thành lập năm 1901, rượu nầy nấu bằng gạo bắp lạt hơn rượu ta, nhưng giá cao 16 xu mỗi chai so với rượu ta chỉ có 14 xu.

Người Pháp mang vào Việt Nam ngoài súng đạn, còn có rượu chát.
Nhiều người mình bắt chước cách uống rượu Tây. Như rót rượu vào ly phải ở mức 1/2-2/3 ly để giữ được hương thơm của rượu, như khi uống rượu khai vị và rượu tráng miệng chỉ nên dùng với lượng vừa phải, vân vân.

Người Việt cũng học nguyên tắc dùng rượu Tây là “rượu nào thức ăn nấy”.
Như:
- Rượu chát đỏ: uống buổi tối thường là rượu nguyên chất không pha, đôi khi hơi chát, được dùng cho những bữa tiệc thịnh soạn hoặc với những thức ăn như thịt bò, thịt heo, thịt rừng, vịt, ngỗng và mì xào.
- Rượu chát trắng: nhẹ hơn và có vị thơm, có thể dùng nguyên chất, vị chát hoặc ngọt và rất thơm. Nên dùng rượu chát màu trắng với các loại thức ăn như: gà ta, gà tây, cá, tôm cua sò, thịt jambon và thịt bê.
- Rượu hồng: nhạt hơn rượu đỏ, có thể dùng nguyên chất hoặc được pha ngọt. Những rượu này dùng với jambon, gà nướng, tôm sò cua, thức ăn nhanh và những món ăn buffet.
- Rượu khai vị: dùng như rượu cocktail hoặc dùng trước bữa ăn để làm tăng thêm sự ngon miệng. Rượu cocktail nhẹ thường được làm từ trái cây.
- Rượu tráng miệng: dùng sau bữa ăn là mạnh hơn và ngọt hơn rượu dùng trong bữa chánh. Có thể chỉ dùng rượu này không hoặc dùng thêm với trái cây, bánh nướng, phô-mai tráng miệng, bánh cake hoặc bánh quy.

Lời chúc rượu


Việt Nam mình là dân tộc có truyền thống uống rượu nhưng lại có rất ít “lời những lời chúc rượu” như các nước Tây phương!
Lời chúc rượu theo tiếng Anh là toast, là những lời nói trước khi chạm ly và uống rượu trong những dịp lễ, những cuộc gặp gỡ chánh thức cũng như trong những cuộc vui trong đời sống thường.
Trong các buổi tiếp đón, chiêu đãi chánh thức, lời chúc thường được nói sau khi đã dùng món tráng miệng, thường là khoảng 10–15 phút sau khi buổi tiệc bắt đầu. Thường thì chỉ nâng ly chớ không chạm. Nếu chạm ly thì đàn ông luôn để ly của mình thấp hơn ly của phụ nữ. Trong khi nghe lời chúc thì không nên nói chuyện, không rót rượu. Người nói lời chúc thường là đứng, tất cả mọi người giữ ly rượu trong tay và cũng thường là đứng.
Phụ nữ, nếu không phải là cô dâu, thì thường là tiếp nhận lời chúc bằng cách mỉm cười, ngồi và đôi mắt nhìn xuống trong khi tất cả đều đứng. Phụ nữ giữ ly rượu trong tay mình và chưa uống, nếu tất cả chưa uống hết. Làm ngược lại sẽ được coi là người không khiêm tốn, không biết cách uống rượu!

Những lời chúc rượu quan trọng phải hướng về những nhân vật quan trọng. Thông thường là uống hết 100 phần trăm. Trong những buổi tiệc long trọng, đôi khi người ta uống xong, ném ly vào đá hoặc ném xuống sàn nhà.
Nói chung, từ chối uống rượu để chúc cho ai đấy, được hiểu là thiếu tôn trọng đối với người đó. Nếu một người không thể uống được thì cũng nên làm ra vẻ như mình đang uống. Nếu nâng ly nước lã thì không được nói lời chúc.

Chúc rượu tiếng Anh: Cheers!
Tiếng Pháp: Santé!
Nếu nói tiếng Việt thì thường người ta nói: Chúc sức khoẻ! Bình dân thì nói trăm phần trăm. Vô! Vô!…

Từ đâu mà có lời chúc rượu?

Lời chúc rượu có từ thời Hy Lạp cổ đại. Thuở đó người ta quan niệm rằng ăn uống- ẩm thực bao gồm cả ngũ quan là thị giác, xúc giác, vị giác, khứu giác và thính giác. Thông thường khi ta uống rượu thì Màu rượu mắt đã nhìn, Mùi rượu mũi đã ngửi, Vị rượu lưỡi đã nếm, bàn tay Rờ ly rượu… nhưng Thanh rượu tai chưa nghe.
Thế là cần phải chạm ly/cốc để rượu phát ra âm thanh của nó. Người ta còn nói rằng cùng một cái ly, nhưng với những loại rượu khác nhau, khi chạm ly ta sẽ nghe ra những “tiếng rượu nói” khác nhau! Không biết đúng vậy không?

Ngày nay, những lời chúc rượu không quá ư lịch thiệp, cao kỳ như người xưa nữa, mà thường là ngắn gọn hơn, hoặc là vui nhộn nhiều hơn. Trong những cuộc vui, người nói lời chúc rượu có thể là đọc một câu thơ, một câu danh ngôn hoặc là kể một câu chuyện vui, một tình huống vui nhộn nào đấy để làm cái cớ bắt vào lời chúc. Nói chung, tính chất nghiêm túc hay vui nhộn của lời chúc phụ thuộc vào tình huống của cuộc vui và đối tượng mà lời chúc hướng đến.

Việt Nam là dân tộc có truyền thống uống rượu lâu đời. Nhưng chúng ta không phải là dân tộc có truyền thống nói lời chúc rượu như Tây phương. Dầu vậy từ xa xưa người Việt đã có câu “Chén tạc, chén thù”. Chủ chúc khách gọi là “tạc”, khách chúc đáp lễ gọi là “thù”.
Ngày nay hầu như tiệc tùng nào người Việt mình cũng đều có dùng rượu. Khi chúc nhau người mình nói: Chúc sức khoẻ!
Người Miền Nam thì thường nói “Trăm phần trăm”. Hoặc vừa nâng ly vừa nói: Vô! Vô!… Cung cách uống rượu kiểu nầy được cả nước hưởng ứng làm theo.

Nam Sơn Trần Văn Chi

Thứ Hai, 20 tháng 3, 2023

Sầu Lẻ Bóng - Anh Bằng - Viễn Châu - Kim Phượng ( Canada) - Kim Trúc


Tân Nhạc: Anh Bằng
Cổ Nhạc: Viễn Châu
Trình Bày: Kim Phượng (Canada) & Kim Trúc

Bây Giờ Là Tháng Ba


Bây giờ là tháng Ba
Trời Việt Nam sa mưa những máu
Cỏ cây buồn ủ rũ màu tang
Lòng tôi ơi!
Trên hoang tàn đổ nát

Bây giờ là tháng Ba
Khôn nén đau thương
Máu thịt cha vương vãi dọc đường
Lòng tôi ơi!
Chí quật cường nung đúc

Bây giờ là tháng Ba
Mây Trường Sơn âm u rờn rợn
Oan khiên niềm ray rứt bụi tro
Lòng tôi ơi!
Rộn âm ba hồn nương xuôi gió

Kim Phượng



Đời Xoá Giấc Mơ Con

 

Có những cuộc đời con
Sớm chiều đi về trong ngõ hẹp
Trên miền đất nước quê hương.
Nơi nào tôi cũng thấy những em tôi
Ngày tủi cực, lòng mơ trong mộng đẹp
Tháng năm qua, xuôi ngược dấu chân đời.

Trên đường đến miền Cao Nguyên đất đỏ
Núi tiếp trùng mây, cây tiếp đồi xanh.
Chênh vênh gió, chiều xa vờn sắc cỏ,
Thượng dân về, hơ hếch những chòi tranh.

Vai mang chiếc gùi con, ngày hai buổi
Sáng theo nắng lên đồi,
Chiều nương mây xuống núi.
Quày chuối, củ khoai, bó củi,
Một ngày qua, năm tháng ước mơ con.
Ánh lửa về đêm ấm ngày tháng rộng
Điếu thuốc tàn canh xua bóng đêm dài.
Những hôm nào,
Và như cả hôm nay
Những ngõ hẹp đi về theo lối mộng.
Những ngõ hẹp, lòng vui bao sức sống,
Với núi rừng, cây cỏ, với ngàn mây.

Niềm vui khổ dấu trong làn sóng mắt
Bữa cơm ngon chỉ thấy ở môi cười.
Đời cúi mặt, tâm sự dẫu đầy vơi,
Cũng đủ đựng trong chiếc gùi con nghĩa nặng.

Tôi là khách bao miền xuôi ngược
Thương đời em lầm lũi nước non nầy.
Đường sỏi đá, lối sương mòn đếm bước,
Khép kín cuộc đời theo bờ cỏ truông mây.

Cơn nắng, cơn mưa, lòng như tiếp núi
Sầu năm tháng đi về bao gió bụi,
Hoa lá ngàn reo nhịp bước lối sương mòn.
Cuộc đời con,
Vui với giấc mơ con.

Để nhớ một lần lên vùng Buôn Ma Thuột
Thương đời em,
Lòng bỗng hoá trang thơ.
Đã thu lại trong tôi bao cảnh thực,
Rồi hoá thành tim máu tự bao giờ.!

Thương đời em,
Như thương cả kiếp người
Và cũng như cuộc đời bao dân tộc.
Trăn trở đòi phen, đêm lên gầy giấc mộng
Đã qua rồi những tháng ngày biến động,
Binh la còn đâu sau trái núi hoang tàn,
Nhưng mắt lệ vẫn sầu như biển rộng,
Đời em còn theo những bước thênh thang.

Em ơi!
Khi ngoài kia trời lộng gió
Đường quê hương ngày lên.
Thức gọi bình minh chim rừng vang tiếng hót
Mắt nhìn xa, Đời Xoá Giấc Mơ Con.

Buôn Ma Thuột, 1999.
Mặc Phương Tử


Tiễn Người Ra Ði

 

(Gửi đến chị Kim Chi)

Tiễn người về với cỏ cây
Giữa trưa gió lộng bóng mây hững hờ
Bên huyệt mộ, con đọc thơ
Mừng sinh nhật bố, con giờ mồ côi
Tám mươi năm lẻ, một đời
Người đi để lại bao lời tiếc thương
Thênh thang dạo bước trên đường
Giữa trưa gió lạnh tóc sương mẹ buồn
Từng hàng nước mắt mẹ tuôn
Lòng con mang cả nỗi buồn vào tim
Bố đi lấy mất nỗi niềm
Vui buồn sướng khổ lặng yên đáy lòng
Chữ thương chữ nhớ chất chồng
Chữ chờ chữ đợi long đong kiếp người
Từ đây mất cả tiếng cười
Nỗi niềm giấu kín theo người hôm nay!

031123 - Mount Calvary Cemetery
Võ Phú