Thứ Ba, 24 tháng 6, 2014

Giải Nghĩa Từ Hán Việt - Đôi Điều Cần Suy Gẫm


I / Xuất Xứ của Từ Hán Việt

      Từ thuở khởi đầu dựng nước, Tiền nhân ta đã hình thành và phát triển một nền văn minh rực rỡ. Đó là nền Văn Minh Lúa Nước, cùng lúc chữ viết cũng được hình thành. Chữ Viết này, ngày nay chúng ta gọi là chữ Việt Cổ, tượng Thanh có hình dáng như con nòng nọc, được thể hiện trên các Trống Đồng cũng như trên các di chỉ khảo cổ được tìm thấy (*).

      Qua hằng ngàn năm Bắc Thuộc, các vương triều phương bắc thực hiện mạnh mẽ chính sách đồng hoá dân bản địa, như trường hợp Sĩ Nhiếp đã  phá huỷ và cấm lưu hành chữ viết thời Hùng Vương, bắt dân ta học chữ Hán. Tuy không bị đồng hoá, nhưng nước ta vẫn bị ảnh hưởng nhiều về văn hoá học thuật của người Tàu. Chữ Việt Cổ đã dần mai một và đi vào quên lãng.
Sau thời gian dài Bắc thuộc, các triều đại của chúng ta hầu hết đều lấy chữ Hán làm chữ viết chính trong nước.
Để thuận tiện, Tiền nhân đã phiên âm chữ Hán theo giọng đọc của người Việt. Chữ hán phiên âm được viết ra theo chữ Quốc ngữ gọi là từ Hán Việt.

Chữ Việt Cổ Trên Trống Đồng
 
           II / Điều Cân Nhắc Khi Giải Nghĩa Từ Hán Việt.

      Cũng từ cách viết các phiên âm thành chữ Quốc ngữ, do không có chữ gốc là Hán Tự, nên đã xuất hiện những cách giải nghĩa từ Hán Việt khiến người xem đôi lúc phải dở khóc dở cười.
      Có 5 nguyên nhân khiến chúng ta thường giải nghĩa sai từ Hán Việt:
1 - Nghĩa chữ thay đổi :
Thí dụ như chữ "Lang Bạt: 狼跋 "
- " 狼跋其胡 Lang bạt kỳ hồ” là một câu trong “Kinh Thi” của Trung Hoa. “Lang” là chó sói, “bạt” là giẫm đạp, “kỳ” là một đại Danh từ thay thế cho danh từ “lang”, còn “hồ” là cái yếm da dưới cổ của một số loài thú.
Hầu hết Tự Điển ngày nay đều giải nghĩa là trôi dạt lang thang đó đây.
Theo Tự Điển Hán Việt của Đào Duy Anh:
- Lang Bạt Kỳ Hồ là con sói đạp cái bọc da ở trước cổ nó. Không thể đi được (ý chỉ sự lúng túng.). Người mình lại thường dùng mấy chữ ấy theo nghĩa trái hẳn .
Ngày nay từ Lang Bạt đã trở thành Từ Nôm mang nghĩa: Đi nơi này nơi khác không định chỗ nào.

2 - Một từ Hán Việt có nhiều Hán Tự khác nhau:
      Như chữ Phụ. Chỉ một chữ Phụ này thôi, Hán Tự có nhiều chữ khác nhau, mỗi chữ lại nhiều nghĩa:

3- Từ Hán Việt sử dụng thông dụng đã  trở thành  từ  Nôm:
- 鍾 chung : tụ họp, của chung.
- 鍾 Chung cư : chỗ ở chung.
- 贒
hiền
: hiền lành tốt bụng.

Vũ trụ, tạo hoá, thiên nhiên, tự nhiên...

4 - Cùng một từ Hán Việt nhưng nghĩa hoàn toàn trái ngược nhau:
- Chữ Minh : chữ  Hán có nhiều cách viết, nhưng chúng ta vẫn đọc, viết là Minh
minh
: u ám tối tăm ; Minh Nguyệt : trăng mờ
明 Minh : Sáng sủa ; 明月 Minh Nguyệt : trăng sáng
Chúng ta thấy Minh Nguyêt nếu viết bằng chữ Hán là hai chữ khác nhau, nghĩa cũng khác nhau. Nhưng khi viết bằng chữ Việt, nếu đứng riêng rẽ, chúng ta sẽ không biết phải giải nghĩa thế nào cho đúng.

5 - Một Từ Hán Việt theo nghĩa Việt có nhiều nghĩa:
- Như chữ Phụ : 
-婦 phụ : người vợ; người đàn bà có chồng.
- phụ : ba , người sanh ra mình

 Chữ Phụ đi chung với chữ Hiền ; Hiền Phụ ta sẽ được hai cách giải nghĩa.  
: người vợ hiền
: Người ba hiền

      Ngoài ra, do xã hội ngày càng phát triển, có những tiện nghi mới phục vụ cho cuộc sống của con người. Ngôn ngữ cũng phải có nhiều từ mới để theo kịp sự tiến bộ của nhân loại. Chính vì thế đã xuất hiện nhiều từ ghép giữa Từ Nôm và Từ Hán Việt. Đó là qui luật phát triển ngôn ngữ, những từ mới này, nếu không hợp lý, sẽ tự đào thải, chúng ta không thể cho ra phán quyết đúng sai. Điều này cũng ảnh hưởng đến cách giải nghĩa của chúng ta.

      Qua những điều kể trên, khi muốn đinh nghĩa các từ Hán Việt, chúng ta cần cân nhắc kỹ lưỡng tránh tình trạng giải thích chỉ một chiều.
 ....
Giải Mã chữ Việt Cổ

      (*) Giới nghiên cứu trong nước và nước ngoài như Anh, Czech.. đã xác nhận: “Ngay từ trước Công nguyên, người Việt đã có chữ tượng thanh - loại chữ ghép chữ cái thành từ”. Điều này được thể hiện trên các di chỉ khảo cổ đồ gốm, đồ đồng của thời kỳ Đông Sơn như: lưỡi cày, đặc biệt là trống đồng… cùng các hình vẽ, chữ viết trên đá cổ Sa Pa, Xín Mần, Pá Màng… theo một hệ thống nhất quán, tất cả đều thể hiện đó là những chữ viết cổ từ thời kỳ tiền văn tự, phát triển và hoàn thiện dần thành bộ chữ Khoa Đẩu. Đây là loại chữ lưu truyền từ thời Vua Hùng, có hình dáng như những con nòng nọc. Chính loại chữ Khoa Đẩu này đã được nhiều học giả trong nước khẳng định như: Giáo sư Hà Văn Tấn, Lê Trọng Khánh, Giáo sư Bửu Cầm, Giáo sư Đỗ Quang Vinh…

Huỳnh Hữu Đức

Mộng Xa Nghìn Trùng



Đường chông gai gót mòn chân mỏi
Đời đắng cay không khỏi vướng sầu
Niềm vui níu được bấy lâu?
Chỉ mong quẳng gánh chôn sâu nổi buồn

Mơ về quê có nguồn sông Cửu
Nước ngọt phù sa chứa chan tình
Hương thơm đồng lúa bình minh
Ruộng vườn lam lũ an bình ngày qua

Ngô khoai sắn gạo cà dưa muối
Mắm khô rau quả buổi sáng chiều
Đêm về những khoảng đìu hiu
Vẳng trong tiếng gió sáo tiêu não nùng

Câu ca giọng cổ cùng hò lớ
Sẽ chạnh lòng kẻ bỏ phồn hoa
Dân quê mộc mạc hài hòa
Mộng bình thường ấy cách xa nghìn trùng

Khúc Giang

Thơ Tranh: Góc Khuất


Thơ & Thơ Tranh: Kim Quang

Giữa Một Chiều Mưa



Cơn mưa chiều đổ từ trong bất chợt
Hạt nhanh nhanh gợi ký ức xưa buồn
Ngày tháng nào bên trời cũ quê hương
Từng hạt mưa rơi trên vùng tóc ướt

Có những sớm mai rộn ràng đến lớp
Có những chiều về lất phất mưa giăng
Tà áo dài bay quất quýt lăng xăng
Dáng dấp chim non giữa vùng mưa suốt

Hương tóc ướt thơm vì mưa hong ướp
Mắt môi tươi nhem nhuốc bởi mưa rào
Lá trên cành từng chiếc cuốn lao xao
Mùi đất mới ngạt ngào xông khắp lối

Hồn thiếu nữ thanh tân hồn phơi phới
Mặc mưa giăng vẫn ấm áp xanh màu
Trí tưởng trong lành như ánh trăng thâu
Chân sáo tung tăng trên đường loang nắng

Mưa cứ đổ trên tàn phai nhung gấm
Bấy nhiêu năm mưa cứ đổ theo mùa
Buổi chiều buồn buồn hơn kiếp mưa thưa
Chớp khẽ đôi mi đời cũng vừa nửa phận 

Vĩnh Trinh

Xuồng Xưa - Thơ Anh Tú - Hương Nam Diễn Ngâm



Thơ: Anh Tú
Diễn Ngâm: Hương Nam
Thực Hiện: Khúc Giang

Thứ Hai, 23 tháng 6, 2014

Các Trường Phái Ca Vọng Cổ - Của Các Nam Nghệ Sĩ Thuộc " Thế Hệ Vàng"

       Thập niên 60 đến cuối thập niên 80 của thế kỷ XX là thời kỳ phát triển và hưng thịnh nhất của Cải lương miền Nam. Trong giai đoạn hoàng kim này, có lúc Cải lương lấn át cả Tân nhạc. Theo thống kê, riêng trong thập niên 60 tại vùng Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định đã có tới 39 rạp hát cải lương. Những đoàn hát nổi tiếng được mệnh danh là đại bang gồm: Thanh Minh Thanh Nga của bà bầu Thơ, Dạ Lý Hương của bầu Xuân, Kim Chung (gồm 7 đoàn) của bầu Long, Hoa Anh Đào Kim Chưởng của bà bảy Chưởng, Hương Mùa Thu của soạn giả Thu An… Các nam nghệ sĩ thượng thặng được gọi là “thế hệ vàng” gồm có: Út Trà Ôn, Thanh Hải, Hữu Phước, Hùng Cường, Thành Được, Thanh Tú, Thanh Sang, Tấn Tài, Chí Tâm, Dũng Thanh Lâm, Minh Cảnh, Minh Vương, Minh Phụng…

      Cái hay của các nghệ sĩ tài danh thuộc “thế hệ vàng” này là sự khổ luyện để tìm cho mình một nét riêng trong nghệ thuật ca diễn, để không ai có thể nhầm lẫn giữa một nghệ sĩ này với bất kỳ một nghệ sĩ nào khác được! Và theo sự nhận định của nhạc sư Trần Quang Hải, giọng ca của các nghệ sĩ tài danh này có thể được phân chia thành các trường phái như sau:

1- Trường phái Út Trà Ôn:

Soạn Giã Viễn Châu, Út Trà Ôn

      Tiêu biểu có Thành Được, Thanh Hải, Phương Quang, Thanh Sang. Những nghệ sĩ thuộc trường phái này ca chân phương, mùi mẫn, hùng tráng, âm vực rộng, khi hát họ không ngân mà thường “hơ”. Câu ca được phân nhịp độc đáo, kết hợp nhuần nhuyễn giữa ca và diễn. Đa số là giọng đồng, một số có giọng kim pha thổ. Đây là trường phái ca mẫu mực, không lạng bẻ, kiểu cọ, sang trọng và hay nhưng hơi xưa, so với thời nay. Những giọng ca trẻ ngày nay không theo trường phái này!

2- Trường phái Hữu Phước: 


      Gồm có Út Hiền (mặc dù là đệ tử của Út Trà Ôn), Hà Bữu Tân, Hoài Vĩnh Phúc. Những nghệ sĩ này có giọng ca rất mùi, chín, có hơi ngân như tân nhạc. Phân nhịp trong lòng câu thường là nhịp lẻ, nháy lót khi dứt câu nghe rất hay. Đa số là giọng kim pha thổ. Đây là trường phái có thể thích ứng với lớp trẻ sau này. Lối ca của Hữu Phước có xưa, những hậu duệ của ông theo trường phái này áp dụng cách ngân nga làm cho câu vọng cổ trở nên mùi hơn, êm hơn, mới hơn, ca tân cổ dễ quyến rũ người nghe một cách êm đềm, sâu lắng. Nghệ sĩ Trọng Phúc là đại biểu trẻ nhất của trường phái này.


3- Trường phái Minh Cảnh: 

Nghệ sĩ Minh Cảnh trên sân khấu Kim Chung xưa 

       Gồm có các nghệ sĩ Minh Vương, Minh Phụng, Giang Châu, Linh Vương, Tuấn Anh, Ngân Giang. Đây là trường phái ca mới, tuy là ca với giọng kim, giọng đồng nhưng có nhiều cách tân trong cách ca vọng cổ, khác hẳn hai trường phái trên. Sự xuất hiện của giọng ca Minh Cảnh như một làn gió lạ. Sau nhiều năm thưởng thức nghệ thuật ca chân phương, truyền cảm, trầm hùng, nay khán giả được nghe cách ca vọng cổ bay bổng, lả lướt, ẻo lả, trữ tình, sướt mướt hơn.

      Lúc nghệ sĩ Minh Cảnh mới nổi, những người yêu thích hai trường phái trên cho đây là giọng ca bóng rỗi, không nghệ thuật, không sang trọng, thuộc về khán giả bình dân. Nhưng dần dà, Minh Cảnh đã chứng minh ngược lại, trở thành giọng ca trẻ hay nhất, độc đáo nhất, mới lạ nhất, làm mẫu cho nhiều thế hệ nghệ sĩ cho đến tận bây giờ. Giọng ca của Minh Cảnh cao vút, êm ngọt, sắp nhịp rất hay, thường ca chẻ song lang nhịp 24. Minh Cảnh vừa ca điêu luyện trong cách nhấn nhá, bẻ giọng,lại vừa truyền cảm.

      Nói về ca vọng cổ, chính Minh Cảnh trong thời hoàng kim của mình, đã được sánh như người thay thế vị trí của Út Trà Ôn (tính theo sự ăn khách, ái mộ của khán giả thời ấy). Lối ca hò Huế, ca hơi dài chính là những sáng tạo mà nghệ sĩ Minh Cảnh đã tạo dấu ấn trong cách ca vọng cổ.

4- Trường phái Tấn Tài: 


      Đây là giọng ca lạ mà cho tới bây giờ vẫn chưa có người xứng đáng thay thế! Giọng ca Tấn Tài vừa ngọt, vừa cao, vừa nhẹ. Đặc biệt là khi nhấn dấu sắc rất êm, rất chín, khó bắt chước. Một số nghệ sĩ ca theo lối nhấn dấu sắc này gốm có Dũng Thanh Lâm, Phương Bình, Tài Bửu Bửu, Thanh Tài. Giọng ca Tấn Tài không xưa, vẫn rất hấp dẫn nhưng chỉ riêng Tấn Tài mới có thể đạt được. Trường phái này đang mai một.


5- Trường phái Thanh Tuấn: 


      Vào giữa thập niên 70, sự xuất hiện của giọng ca Thanh Tuấn như luồng gió mới, tổng hợp được những yếu tố của các trường phái trên. Thanh Tuấn có chất giọng đồng ngân vang của Út Trà Ôn, có hơi ngân độc đáo của Hữu Phước, có cách ca dài hơi ngọt ngào, lạng bẻ của Minh Cảnh, dấu sắc chót vót của Tấn Tài và đặc biệt là cách sắp nhịp độc đáo, chín chắn. Thanh Tuấn đã tạo ra một trường phái, một cách ca vọng cổ vừa sang trọng, ngọt ngào mãi mê, vững chắc trên cái nền cũ, bay bổng với những sáng tạo mới. Thanh Tuấn xứng đáng đứng đầu cho một trường phái ca vọng cổ hiện đại.

      Hiện nay, có nhiều nghệ sĩ trẻ đang bắt chước theo giọng ca của Thanh Tuấn, nhưng ca hay và đạt được chất giọng như Thanh Tuấn thì chưa có được ai! Thanh Tuấn có thể hát tình ca lẫn anh hùng ca rất hay. Giữ cao độ rất chuẩn, có thể lên cao vút hoặc xuống thật thấp, luyến láy rất ngọt. Có thể nói ca vọng cổ như Thanh Tuấn là đạt đến trình độ thượng thừa!

6- Trường phái Châu Thanh:

      Hiện nay lối ca này đang gây nhiều tranh cãi, người ủng hộ cũng nhiều vì cách ca mới lạ, phá cách, sử dụng nhiều luyến láy, pha tân nhạc cùng với cách sắp nhịp 128 lạ tai. Được giới trẻ rất yêu thích, nhất là khán giả miền Trung.Tuy ca không giống nhau, nhưng cách tìm hướng đi riêng cho mình của Châu Thanh phần nào giống như trường hợp của Minh Cảnh ngày trước -tìm cái mới-. Tuy nhiên, người trong nghề hay những người yêu thích lối ca chân phương lại không tán đồng cách ca này!

      Thật ra, trường phái này gợi ra một cách ca mới, tránh lập lại lối mòn. Một thực tế không thể phủ nhận là có những giọng ca theo lối chân phương mặc dù ngọt ngào nhưng lại không ăn khách, do có thể sao chép, minh họa lại cái đã có, không mới. Còn lối ca này, đòi hỏi người ca phải có làn hơi phong phú, mạnh mẽ, không rập khuôn, phải luôn tìm cách ca lạ, ngọt ngào, trẻ trung, bay bướm, phá cách. Đây cũng là lối ca khó, phù hợp với lớp khán giả bình dân.

Tín Đức

*Tài liệu tham khảo:
- Nhận định về Cải lương của Trần Quang Hải.

Xuân Tàn Hạ Tới


Mùa Xuân qua, dấu chân hằn cỏ biếc,
Nay Hạ về, nắng rạo rực hồn ta.
Xuyên lá cành, mây trắng dạo lang thang,
Mắt say đắm, trầm tư, vòng tay xiết.

Chim cất tiếng lời hoan ca thánh thót,
Hoa rung rinh, làn gió nhẹ mơn man
Bóng thời gian thúc giục ý mênh mang,
Mong kết chặt mối tình si mật ngọt.

Lời nguyện ước in sâu vào tim óc:
Tình đôi ta tồn tại vượt không gian,
Ánh trăng thề soi rọi cả trăm năm,
Sẽ nhắc nhở mình yêu nhau mãi mãi.

Ôi mùa Hạ, ngày dài, đêm ngắn lạ,
Mộng chưa tàn, nắng sớm đã qua song.
Nay người đi, kẻ ở, sẽ chờ mong,
Thu nhung nhớ, Đông buồn, Xuân trở lại.

Chờ Hạ tới, giao mùa, ta tái ngộ,
Em mang theo báu vật của đời anh
Mầm hiện sinh sẽ nở, sáng long lanh
Trong dáng dấp một Thiên Thần bé nhỏ.

ChinhNguyen/H.N.T. USA, 2012-14

Bên Hồ Than Thở - Hoàng Oanh


Thơ Cảm Tác(Đồi Thông Hai Mộ): Quên Đi
Thơ Tranh& Youtube: Kim Oanh


Sáng Tác: Hồng Vân
Ca Sĩ: Hoàng Oanh

Giọt Mưa Quen


Cơn mưa nhẹ nhàng ào xuống giữa trưa
Màn mưa trắng xóa lưa thưa theo gió
Cây mít trước nhà có con chim nhỏ
Khép cánh cúi đầu dưới tán lá xanh.

Mưa mùa Hạ đến… rồi đi thật nhanh
Bỏ lại bầu trời thiên thanh ngập nắng
Nhớ mãi người xưa trong tà áo trắng
Thướt tha đi qua lẵng lặng mỗi ngày.

Mưa ngày trước – bây giờ, không đổi thay
Chỉ thay đổi không còn em qua ngõ
Luôn nhớ chiều nào em đi sang chợ
Vẫn tung tăng trong hơi thở bây giờ.

Ước gì mỗi ngày mưa đến rồi đi
Cho ký ức kịp quay về kỷ niệm
Thời gian mang theo bóng hình kiều diễm
Nên âm thầm thương nhớ… giọt mưa quen!

Dương Hồng Thủy

Tống Lý Đoan - 送李端 - Lư Luân ( - 773 - )

Lư Luân, thuộc nhóm 10 tài tử thời Đường Đại Lịch cùng với Lý Đoan, Tư Không Thự, nhóm nổi tiếng về thơ đường luật nghiêm chỉnh , ngôn từ diễm lệ, ý tưởng thâm trầm. Tôi ngồi cặm cụi chuyển dịch bài Tống Lý Đoan này chỉ vì mê câu "Nhân quy mộ tuyết thì "(Người về chiều tuyết rơi). PKT 05/26/2014



Tống Lý Đoan
Cố quan suy thảo biến
Ly biệt chính kham bi
Lộ xuất hàn vân ngoại
Nhân quy mộ tuyết thì
Thiếu cô vi khách tảo
Đa nạn thức quân trì
Yểm khấp không tương hướng
Phong trần hà sở kỳ?

Lư Luân ( - 773 - )
* * *
Dịch Xuôi: Tiễn Lý Đoan
PKT 05/26/2014

Cổng ải xưa mọc đầy cỏ dại
Thật là đau buồn khi phải chia tay ỏ đây
Người đi ra vùng mây lạnh
Kẻ về giữa lúc tuyết chiều rơi
Thân côi cút từ nhỏ nên sớm đã phong trần
Hoạn nạn đã nhiều lại thêm biết nhau muộn
Gạt dòng lệ khô nhìn theo bóng nhau đi
Ở cõi đời gió bụi này còn mong gì hẹn gặp

Tiễn Bạn

Ải xưa đầy cỏ dại,
Lâm biệt dạ ngùi ngùi.
Mây lạnh đường quan tái,
Người về chiều tuyết rơi.
Thân côi sớm lận đận,
Phận hẩm muộn quen nhau,
Lệ tiễn mờ sương gió,
Mong gì gặp nữa đâu.

Lời Thêm: Giữ được "chất thơ" nguyên tác khó quá!
Phạm Khắc Trí
27/5/2014
* * *
Kính quý Thầy và các bạn trong "vườn thơ thẩn"
SongQuang gởi đi bài phỏng dịch "Tiển Người" với thể 7 chữ và 8 câu nhưng thấy không ổn và cứ ...hối tiếc vì nghĩ chưa chính chắn mà đã gỏ.Nay SQ xin các bạn cho SQ sửa lại với thể thơ 6 chữ,tự do hơn vì xét thấy phỏng dịch thơ Đường mà thể thơ Đường luật không chỉnh thì e mang lỗi cùng chư vị.

Tiễn Người

Cổng quan tái năm xưa đầy cỏ mọc
Thật đau buồn khi tiển bạn nơi đây!
Người ra đi đến chốn mây gió lạnh
Kẻ trở về,chiều buông tuyết phủ dầy
Thân côi cút lại thêm nhiều lận đận
Phận nạn tai quen biết muộn màng thay
Gạt lệ đổ để nhìn nhau cách biệt
Còn gặp nhau trong cỏi gió sương nầy??
Song Quang

Kính Thầy Trí

Như Thầy viết giữ được "chất thơ" theo nguyên tác thật khó và giữ được trọn ý cùa người xưa cũng không dễ gì.Nhưng vì vui chơi với chữ nghĩa nên SQ cũng xin phỏng...phỏng theo chút chút để mượn lời thăm hỏi nhau trong một góc thơ.

Tiễn Người

Quan ải cổng xưa cỏ mọc đầy
Đau buồn tạm biệt ở nơi đây
Người đi ra chốn miền mây lạnh
Kẻ đến chiều buông tuyết phủ dầy
Ngày trước,thân côi nhiều lận đận
Bây giờ ,quen biết muộn màng thay!
Gạt dòng lệ đổ nhìn xa cách
Còn gặp gở không,cõi bụi nầy??
Song Quang

* * *
Thưa Thầy, Song Quang kính,
Quên Đi cũng cố gắng phỏng dịch "Tống Lý Đoan" cho vui.

Đưa Tiễn Lý Đoan

Cửa ải năm xưa đầy cỏ úa
Chia tay não nuột khó nên lời
Ra đi kẻ lẩn vào mây lạnh
Trở bước người về giữa tuyết rơi
Thuở trước cút côi thân xứ lạ
Muộn màng quen biết bạn trong đời
Nén dòng lệ tiễn hai phương rẽ
Phiêu bạt sông hồ khó hẹn nơi
Quên Đi

* * *
Đỗ Chiêu Đức tham gia với các phần sau đây :

1. NGUYÊN BẢN CHỮ HÁN CỔ CỦA BÀI THƠ :

送李端            TỐNG LÝ ĐOAN

故關衰草遍, Cố quan suy thảo biến,
離別正堪悲。 Ly biệt chính kham bi.
路出寒雲外, Lộ xuất hàn vân ngoại,
人歸暮雪時。 Nhân quy mộ tuyết thì.
少孤為客早, Thiếu cô vi khách tảo,
多難識君遲。 Đa nạn thức quân trì.
掩淚空相向, Yễm lệ không tương hướng,
風塵何處期?   Phong trần hà xứ kì ?
盧綸                 Lư Luân.

2. GIỚI THIỆU TÁC GIẢ:

LƯ LUÂN ( khoảng 737- 799 ), Thi nhân đời Đường, tự Duẫn Ngôn, người Hà Trung đất Bồ ( Thuộc Vĩnh Tế, tỉnh Sơn Tây hiện nay ). Thi Tiến sĩ mãi không đậu, sau được Tễ Tướng Nguyên Tải cất nhắc làm chức Hương Úy đất Hà Nam. Từng nhậm chức Phán Quan trong Nguyên Soái Phủ ở Hà Trung, quan thăng đến chức Kiểm Giáo Hộ Bộ Lang Trung, thuộc một trong mười tài tử thời Đại Lịch ( Đại Lịch Thập Tài Tử ). Thơ ông phần nhiều tả cảnh đưa tiễn, biệt ly và đời sống trong quân ngũ, nhưng đa phần bị thất tán. Trong Toàn Đường Thi Tập chỉ gom góp được 5 chương thơ của ông mà thôi.

3. NGHĨA BÀI THƠ :
ĐƯA TIỄN LÝ ĐOAN
Nơi quan ải cổ xưa khắp nơi cỏ đà héo úa, chia tay nhau trong cảnh trí thế nầy quả thật đáng buồn. Người đi thì ra xa ngoài muôn dặm nơi phủ đầy cả những đám mây mù lạnh lẽo, kẻ ở lại lại quay về trong cảnh trời chiều tuyết đổ. Lúc nhỏ tôi đã sớm mồ côi nên sớm lưu lạc nơi đất khách quê người, gian nan lận đận lắm nên đến bây giờ mới gặp được bạn ( quen biết muộn màng như thế nầy ! ). Giờ lại phải gạt lệ chia tay mà nhìn theo hướng bạn đi xa khuất, trong thời buổi phong trần nhiễu nhương nầy, biết đến bao giờ mới lại gặp được nhau đây ?!

4. DIỄN NÔM :
Thầy đã dịch bằng thơ 5 chữ, Huynh trưởng Song Quang đã diễn bằng thơ 8 chữ, bạn Quên Đi cũng "chơi " luôn bằng một bài Thất ngôn Bát cú. Thôi thì, tôi sẽ dùng thơ 6 chữ nhé !...

Tiễn Lý Đoan

Ải cũ cỏ đà héo úa,
Chia tay vừa lúc lòng nao!
Người đi ngoài xa mây lạnh,
Kẻ về chiều xuống tuyết mau.
Mồ côi sớm đời phiêu bạt,
Gian truân gặp bạn muộn sao.
Gạt lệ bóng người đà khuất,
Tương phùng biết đến thuở nào?!
Đỗ Chiêu Đức 
* * *

Tiễn Lý Đoan

Cửa ải xưa xanh màu cỏ dại
Ngậm ngùi tiễn bạn lúc chia tay
Đường mây lạnh kẻ đi đơn độc
Bông tuyết đầy người bước quắt quay
Côi cút cả đời nương đất khách
Thân sơ dẫu muộn nhớ từng ngày
Lệ lòng kết chặt tình tri kỷ
Mơ gặp một lần mong mỏi thay
Kim Phượng

* * *
Kính thầy và các Anh Chị
Em xin được cùng thầy và anh chị đôi dòng cảm tác 
Em KimOanh

Tiễn Người Đi…

Cỏ bám dầy cửa ải xưa
Sầu dâng thấm thía tiễn đưa một người
Gió lùa mây lạnh chân dời
Trở về giữa lúc tuyết rơi chiều tà
Lận đận thân côi xứ lạ
Trong đời quen bạn ngẫm ra muộn màng
Ngăn dòng chia cách đôi đàng
Long đong vất vã dặm ngàn gặp nhau?
Kim Oanh

Chủ Nhật, 22 tháng 6, 2014

Từ Khi - Thơ Lê Kim Hiệp - Hương Nam Diễn Ngâm



Thơ: Lê Kim Hiệp
Diễn Ngâm: Hương Nam

Từ Khi...

Tiếc thương người con gái Trường Trung Học Pleime - 22/6


Thơ: Lê Kim Hiệp
Thơ Tranh: Kim Oanh

Mãi Mãi Tìm Em


      (Tưởng Nhớ 22/6 Người em gái Pleime)

Anh đâu phải là người mãi mãi
Bỏ tóc xanh con gái Xuân thì
Vỡ lần yêu khi trời cay nghiệt
Vẫn quay về từ miệt miền xuôi

Đêm gió mưa đầy ấp ngậm ngùi
Thương em lạnh oan vùi giấc ngủ
Hình ảnh nàng quyến rũ trong anh
Dẫu ngàn xa canh cánh tơ lòng

Anh về đây ! Em có biết không
Kiếm tìm em ngược mãi dòng sông
Trăng sao rụng trôi dòng tử biệt
Than tiếc người con gái Pleime

Tóc xanh tàn có ai che chở
Hộ giùm tôi cách trở âm dương
Dù mai đây sương gió dặm trường
Thân xác rũ trên đường lặn lội

Tội em tôi giá lạnh lâu rồi !

Pleiku 22-7-2011
Lê Kim Hiệp


Thứ Bảy, 21 tháng 6, 2014

Tiếng Động Ban Đêm (Quốc Văn Giáo Khoa Thư)

      Cùng Bạn,
      Lật bật lại sắp hết tuần, xin gởi đến Bạn một cảm tác của tôi qua bản nhac của Đức Quỳnh cùng một bài tập đọc trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư ngày trước.
      Lâu, lâu lắm rồi, tôi mới đây tình cờ tình nghe lại được bản nhạc Ba Giờ Khuya, bản nhạc mà từ lâu tôi rất mê của Đức Quỳnh do Trần văn Trạch diển tả, tôi thích giọng ca trầm ấm, đặc sệt giọng Nam Bộ của Trần Văn Trạch; tôi vội vàng tìm kiếm lời ca và chép xuống gởi đến các bạn để chia sẻ, chắc cũng có nhiều Bạn thích bản nhạc nầy.


Ba Giờ Khuya

Trời đông lạnh lẽo muôn bề
Buồn nhớ ai đêm dài
Lòng xôn xao vô cùng nhịp theo tiếng chuông

Kìa! ngoài hè gió lạnh băng 
Rồi từng hồi lá vàng rơi 
Như gieo tiếng buồn trong đêm vắng 
Tiếng dế khóc dường oán thương 
Trong sương mờ bóng chim 
Bay đi từng lứa đôi tìm nơi tổ ấm .

Nhìn mây mây bay
Nhìn sương sương rơi 
Lòng em như tơ vò trăm mối 
Chàng ơi hay chăng 
Mỗi đêm em nghe 
Tiếng chuông từ xa lắng ngân 

      Nghe xong bản nhạc, tôi bồi hồi nhớ lại tiếng đờn của cái đồng hồ Tây treo tường của ba tôi ngày xưa. Đêm thinh vắng tiếng đàn ngân nga trầm buồn, man mác thắm tận cõi lòng.Từng tiếng bon bon gõ giờ chậm rãi ,thật chứa chan, thật não nề ,như nhắc ta cái lạnh lùng của thời gian khiến người nghe không khỏi tái tê; tiếng đàn vừa im bặt là tiếp theo tịếng tíc tắc nghe rõ mồn một của cái qủa lắc đong đưa đều đều, buồn thúi ruột! Tôi cũng còn nhớ những đêm Ba tôi khó ngủ, người bắt ghế, mở cánh cửa đồng hồ rồi buộc lại cái qủa lắc (người miền Nam còn gọi là trứng dái đồng hồ)không cho nó dao động nữa, không cho nó đàn địch nữa để dỗ giấc.
      Nơi đây, bây giờ cũng vậy, tôi thường mất ngủ , càng già lại càng khó ngủ và ngủ rât ít, lòng bùi ngùi nhớ lại những đêm ở quê nhà trước 75, tôi nhớ rõ từng tiếng động ban đêm từ trong nhà đến ngoài hè. Nhà tôi ở nữa quê nữa chợ nên nghe tiếng động ban đêm cũng thú vị lắm trong những đêm trằn trọc.


      Nhân đây tôi cũng xin chép xuống bài Tiếng Động Ban Đêm trong bộ sách Giáo Khoa Thư lớp Dự Bị để chúng ta cùng nhớ lại bộ sách đã dạy dỗ, chuẩn bị chúng ta ra đời làm người trong nếp sống luân lý đạo đức của người xưa. Bài đọc ngắn gọn dưới đây khơi dậy trong tôi một niềm cảm xúc miên man thời thơ ấu cũng như thời gian đi dạy học tại một tỉnh lẻ xa xôi miền sông nước.

Tiếng Động Ban Đêm

Một đêm nằm mãi không ngủ được, tôi lắng tai nghe những tiếng động ở nhà.
Ở dưới giường, con mọt nghiến gỗ kèn kẹt như người đưa võng . Ở đầu giường, cạnh cái tủ, chuột chạy sột sạt ( rọt rẹt) đưa cạnh mình, muỗi kêu vo vo. Thỉnh thoảng lại nghe tiếng con mối (thằn lằn) bắt muỗi. Con nắc nẻ (*) bay xè xè trên vách.
Không những ở trong nhà, mà ở ngoài cũng có tiếng động. Cạnh nhà, gió thổi vào những tàu lá chuối, nghe như mưa; ngoài vườn tiếng dế kêu ri rỉ. Trời mới mưa, các chổ trũng (hũm) đầy nước cả, nên cóc và ếch, nhái, đều kêu inh ỏi (vang). Xa xa, thì nghe tiếng chó sủa trăng.

(*) con nắc nẻ :Một thứ côn trùng thuộc loại bướm.

Dạo:
Lại một đêm khó ngủ,
“Giáo Khoa Thư" bài cũ đọc vài trang.
Tiếng động đêm ngày ấy vẫn tiềm tàng,
Đêm viễn xứ miên man trong nỗi nhớ!

Tiếng Đêm Năm Cũ

Trằn trọc mãi, nằm hoài không chợp mắt 
Tôi lắng nghe se sắt tiếng đêm dài 
Muỗi vo ve cứ khuấy nhiễu bên tai
Mọt nghiến gỗ như võng ai kèn kẹt 

Trên đầu tủ chuột tung hoành rọt rẹt 
Một tiếng choang nát bét! tách trà rơi!
Con thằn lằn chắc luỡi tiếc của đời 
Con nắc nẻ xè xè bơi trên vách 

Tiếng dế khóc tỉ tê gần kệ sách 
Như hận đời oán trách kiếp phù du 
Tiếng cú đêm ma quái giữa âm u 
Qua song cửa, vi vu nghe gió thở 

Đêm khó ngủ, tôi mơ màng lăn trở 
Chuối xạc xào cứ ngở tiếng mưa rơi 
Tre bên hè cọt kẹt khiến rợn người 
Xa văng vẳng, buồn ơi nhạc ếch nhái 

Tiếng trẻ khóc, nhà ai thêm tê tái 
Tiếng ầu ơ êm ái lẫn thê lương 
Tiếng chó tru rờn rợn xé đêm trường 
Đồng hồ nhạc trên tường ngân nga điểm 

Linh Sơn Tự, chuông công phu gió quyện 
Lòng buồn buồn theo tiếng súng xa xa 
Cùng tràng ho sù sụ bác bên nhà 
Gà eo óc xót xa bên sông vắng 

Trời gần sáng, một đêm dài thức trắng 
Nhưng hồn đêm còn lắng mãi trong tôi 
Bản đàn đêm chan chứa đã xa xôi 
Đêm đất khách bồi hồi thương đêm cũ 

Mailoc 
Cali 6-18-14
(Nhớ những đêm CaoLãnh)
* * *

Sáng Tác:Nhạc Sĩ  Đức Quỳnh - Tiếng Hát: Ca Sĩ Trần Văn Trạch