Ôi cho ghê quá, ôi ghê quá Cảm thấy hồn tôi ớn lạnh rồi Đêm qua trăng vướng trong cành trúc Cô láng giềng bên chết thiệt rồi Trinh tiết vẫn còn nguyên vẹn mới Chưa hề âu yếm ở đầu môi.
Xác cô thơm quá thơm hơn ngọc Cả một mùa xuân đã hiện hình
Thinh sắc cơ hồ lưu luyến mãi Chết rồi - xiêm áo trắng như tinh.
Có tôi ñây hồn phách tôi đây Tôi nhập vào trong xác thịt này Cốt để dò xem tình ý lạ
Trong lòng bí mật ả thơ ngây
Biết rồi, biết rồi! Thôi biết cả Té ra Nàng sắp sửa yêu ta Bao nhiêu mơ ước trong tim ấy Như chưa xuân về thổ lộ ra.
Hàn Mặc Tử
***
Bài Dịch:
The Virgin
Oh horror, O horror of horrors I felt my soul aquiver already. The moon got caught in the bamboo last night. The girl next door has really died. Her virginity remaining intact, She had never been kissed on the lips, in fact. Her body smells so good, better than jade. The spring season has its grand entrance made. Its splendor seems to linger to eternity. In death her clothes are white as purity. Here I am, and here is my soul. I am entering this flesh-and-blood body whole To find out if any strange thoughts Lay hidden within this chaste girl's heart or not. I know, I know! I know it, see. It turned out she was going to love me; The many dreams living in her heart know How to wait for springtime to show.
Từ giã gia đình, biệt cố hương Tâm tư trĩu nặng, bước lên đường Một thân lận đận đời ly khách Mấy nẻo phiêu bồng nơi viễn phương Nợ nước đêm ngày luôn ấp ủ Tình nhà năm tháng mãi tơ vương Tay không, dẫu chẳng còn gươm súng Mà vẫn chưa nguôi hận chiến trường!
Bước tới đèo Ngang bóng xế tà Cỏ cây chen đá, lá chen hoa Lom khom dưới núi, tiều vài chú Lác đác bên sông, rợ mấy nhà Nhớ nước đau lòng con quốc quốc Thương nhà mỏi miệng cái gia gia Dừng chân đứng lại, trời non nước Một mảnh tình riêng, ta với ta
Bà Huyện Thanh Quan ***
Đọc Bài Thơ " Qua Đèo Ngang Tức Cảnh" của Bà Huyện Thanh Quan, mượn vận đời xưa viết chuyện nay.
Các Bài Thơ Họa:
BÀI 1:
Chiều Cuối Tháng Tư
Trời lặng. Mây xa nhuộm ánh tà Mùa xuân. Cành biếc trĩu muôn hoa Giục còi xe lửa vùng tuôn khói Lộng gió chiều hôm chạnh nhớ nhà Đất khách ngậm ngùi niềm cố quốc Xứ người thấm thía nỗi ly gia Vời trông bóng xế qua đồi núi Hiu hắt tình quê, ai thấu ta?
Thiên Tâm
BÀI 2:
Trung Thu Cảm Vịnh
Vẫn nghĩ rồi đây chính thắng tà Nhưng tà như rắn độc mai hoa Chúng khinh khi tổ, ô danh nước Họ đọa đày dân, loạn phép nhà Chủng tộc suy tàn không bảo quốc Nhân tâm ly tán chẳng hồi gia Trăng thu vằng vặc soi đêm tối Lặng lẽ sau vườn đối bóng ta
Thiên Tâm
BÀI 3:
Bao Giờ?
Bao giờ chính nghĩa thắng gian tà Hạnh phúc thanh bình lại nở hoa ? Mấy chục năm làm thân khác xứ Phần tư kiếp sống cảnh xa nhà Yêu nòi nên nhớ hờn vong quốc Thương nước đừng quên hận phá gia Sao được muôn lòng chung một dạ? Giải trừ tai họa núi sông ta!
Thiên Tâm
BÀI 4:
Mần Thơ Đường Luật
Mần thơ Đường luật cứ tà tà Nhắp rượu, trà ngon, bút vẽ hoa Nghe gió lang thang lùa ngập phố Nhìn trăng bàng bạc chiếu xiên nhà Thường nhân nào sánh hàng cao sĩ ? Tài tử đâu so bậc đại gia! Tâm sự bồi hồi đeo đẳng mãi Ngâm nga than thở một mình ta
Thiên Tâm
BÀI 5:
Sinh Hoạt Gia Đình
Đi cày từ sớm đến chiều tà Bải hoải toàn thân, mắt lại hoa Bụng đói chân run lăn xuống bếp Cơm no lòng vững bước lên nhà Hàn huyên với vợ, vai "ông xã" Âu yếm cùng con, chức "lão gia" Chờ ngủ ngon rồi, đi rón rén Chong đèn lên net trải lòng ta
Thiên Tâm
BÀI 6:
Mong Ước
Thơ như bom đạn diệt yêu tà Bút tựa thần công bắn vãi hoa Mỗi chữ bừng bừng non khạc lửa Từng câu sạt sạt biển lôi nhà Nghiêng trời căm giận bầy khuynh quốc Lệch đất đau hờn bọn táng gia Sức mạnh văn chương mà được vậy Cùng nhau đuổi giặc, cứu dân ta
Hôm nay tôi thấy tôi vừa Khởi đầu chặng cuối của mùa yêu đương Một đời thương, một đời vương Băng sương cũng lắm, trầm hương cũng nhiều Hỏi lòng: lòng còn tin yêu? Lòng thưa: lòng vẫn sớm chiều sắt son Hôm nay tôi thấy tôi còn Ôm trăng mười tám vào hồn cao niên Vẫn xuân dẫu tuổi xuân chìm Vẫn trăn trở một nỗi niềm không tên Hôm nay tôi thấy tôi hiền Chẻ ưu làm củi, ươm phiền làm rơm Đốt lên hơ ấm tâm hồn Bao phen ủng lạnh nỗi buồn bao la Hôm nay tôi thấy tôi là Tôi là bóng nắng của tà dương tôi
Thuở Mẹ sanh tiền, quê hương khói lửa Phận làm trai, con chống giữ non sông Không được sống cận kề bên Từ Mẫu Để sớm hôm con ấp lạnh, quạt nồng Đền đáp phần nào công ơn dưỡng dục.
Ngày bỏ quê hương, tình hình thôi thúc Con ra đi không từ giã Mẫu Thân Vì nhớ thương con, Mẹ già trước tuổi Tháng, Năm dài không có một ngày vui.
Khi con nhận được hung tin Mẹ mất Con đang ở xa nửa vòng trái đất Không vuốt mắt Mẹ vào phút lâm chung Suốt đời con, con hối hận vô cùng!
Tâm thư nầy con viết bằng nước mắt Xin trân trong kính dâng lên Từ Mẫu Ước mong được Mẹ bao dung, tha thứ Cho lòng con vơi bớt nỗi ưu tư.
Trần Hậu Chủ 陳後主 tên thật là Trần Thúc Bảo 陳叔寶 (553–604, trị vì 582–589), , thụy hiệu Trường Thành Dương công (長城煬公), tên tự Nguyên Tú (元秀), tiểu tự Hoàng Nô (黃奴), là vị hoàng đế cuối cùng của triều đại Trần thời Nam-Bắc triều trong lịch sử Trung Quốc. Tại thời điểm ông đăng cơ, Trần đã phải chịu áp lực quân sự từ triều Tùy bấy giờ là Tùy Văn Đế. Theo các sử gia truyền thống, Trần Thúc Bảo là một quân chủ bất tài, ham mê văn chương và tửu sắc hơn là việc chính sự. Năm 589, quân Tùy do Tấn Vương Dương Quảng cầm đầu, tấn công chiếm kinh thành Kiến Khang và bắt giữ Trần Thúc Bảo, kết thúc triều Trần và thời kỳ Nam-Bắc triều phân liệt, thống nhất Trung Hoa. Sau đó, Trần Thúc Bảo bị đưa đến kinh thành Trường An của Tùy, được đối đãi tử tế cho đến khi qua đời vào năm 604.(Qua cách cư xử của Tùy Văn Đế với Trần Hậu chủ, chúng ta thấy cách nay gần 1500, kẻ chiến thắng đối với người bại trận rất tình người. Trong chiến tranh ai vì chúa nấy, sau chiến tranh chẳng phân biệt ta và địch....!!!)
Bài thơ Ngọc Thụ Hậu Đình Hoa do Trần Hậu Chủ sáng tác và soạn thành khúc nhạc cho các ca vũ nữ trong cung múa hát. Người đời sau gọi đây là khúc nhạc mất nước.
玉樹後庭花 Ngọc Thụ Hậu Đình Hoa 陳後主 Trần Hậu Chủ
麗宇芳林對高閣 Lệ vũ phương lâm đối cao các 新裝豔質本傾城 Tân trang điểm chất bản khuynh thành 映戶凝嬌乍不進 Ánh hộ ngưng kiều sạ bất tiến 出帷含態笑相迎 Xuất duy hàm thái tiếu tương nghinh 妖姬臉似花含露 Yêu cơ kiểm tự hoa hàm lộ 玉樹流光照後庭。 Ngọc thụ lưu quang chiếu hậu đình.
宇 Vũ: mái hiên 戶 Hộ: cửa chỉ có một cánh 帷 Duy: tấm màn
Dịch Nghĩa:
Cây Ngọc Ở Vườn Hoa Sau Cung Cấm
Phía trước lầu cao, dưới mái hiên đẹp đẽ là một rừng hương thơm Nhan sắc vốn nghiêng thành vừa mới tô điểm Ánh sáng nơi cửa như ngưng đọng khi người đẹp chợt dừng lại Qua tấm rèm nàng mỉm cười chào nhau. Người cung nữ trẻ đẹp mặt tươi như đóa hoa ngậm sương, Nàng như cây ngọc chiếu sáng cả phía sau cấm cung
Dịch Thơ:
Ngọc Thụ Hậu Đình Hoa
Rừng thơm mái đẹp lầu thanh Điểm tô nhan sắc khuynh thành càng xinh Dáng kiều trước cửa lung linh Vén rèm nở nụ cười tình chào thay Mặt hoa lóng lánh sương mai Như cây ngọc sáng đêm dài cấm cung
Quên Đi
*** Ngọc Thụ Hậu Đình Hoa
Lầu cao hiên trước cả rừng hương Nhan sắc điểm tô đẹp lạ thường Áng sáng đọng ngưng khi dừng gót Rèm bên mỉm chào nét ung dung Mặt hoa dường thể ngậm sương ấy Khác nào cây ngọc sau cấm cung
Quý đồng hương đã từng sống ở miền Nam nước Việt, đã từng sống một khoảng đời tương đối dễ chịu trong một xã hội tương đối tự do no ấm dưới chế độ ít nhiều rộng rãi thoải mái. Miền Nam này là vùng Đồng Nai Cửu Long, hay cũng gọi là Nam Kỳ Lục Tỉnh. So với đất Bắc Hà và nền văn hóa Thăng Long, vốn đã có từ hơn bốn ngàn năm trước, đất Nam Kỳ Lục Tỉnh và văn hóa Đồng Nai Cửu Long là vùng đất với nền văn hóa rất mới, thành hình chưa được 400 năm. Vùng đất và nền văn hóa rất mới này mang những tính chất đặc biệt của nó ít nhiều khác biệt với nền văn hóa gốc. Gốc Việt Nam vẫn còn đó phần lớn, nhưng pha trộn với những giống người khác, nhất là người Trung Hoa (theo chân Trần Thắng Tài, Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch, Mạc Cửu vào định cư ở vùng Đồng Nai Cửu Long), và sự va chạm với những văn hóa Chàm, Khmer, Xiêm đã ít nhiều biến đổi nền văn hóa truyền thống Việt Nam đem vào từ Thăng Long và Đàng Trong, làm cho nó trở thành nền văn hóa đặc biệt của xã hội ít nhiều tạp chủng này. Đồng Nai Cửu Long đối với Thăng Long, về phương diện văn hóa xã hội, cũng tương tự như Hoa Kỳ đối với Anh Cát Lợi. Miền Nam trù phú với đời sống tương đối dễ dãi, không quá ràng buộc với những nghi thức cổ truyền đã là cái khung cho những tính tình tư tưởng đặc biệt của người Nam.
Đất Đồng Nai Cửu Long là đất chiêu hiền đãi sĩ, là đất hứa của nhiều người đến từ những vùng đất khác. Nó là cảnh “đất lành chim đậu” cho rất nhiều người. Nó là đất khá lý tưởng cho sự định cư của nhiều đợt người Việt di cư từ Miền Trung và Miền Bắc từ xưa đến giờ. Đợt di cư lớn thuở xưa có lẽ là nhóm người từ Miền Trung theo gót công chúa Ngọc Vạn vào định cư ở Miền Nam. Tiếp nối những người này là đợt người theo chân Nguyễn Hữu Cảnh, và từ đó hết lớp này đến lớp khác lục tục vào Nam khai khẩn đất hoang, làm ăn sinh sống. Đợt di cư lớn nhất gần đây nhất là đợt di cư năm 1954 với hơn một triệu người từ Miền Bắc vào. Thật ra thì tất cả những người Nam Kỳ hiện giờ đều có nguồn gốc cha ông từ Trung và Bắc vào hoặc từ lâu hoặc mới đây. Trong xã hội có nhiều đợt người mới đến định cư, Đồng Nai Cửu Long phải có khả năng đồng hóa khá mạnh. Những người sinh trưởng từ các miền khác vào đây sinh sống một thời gian đều hội nhập vào xã hội Miền Nam, hay nói một cách nôm na là đều trở thành Nam Kỳ không ít thì nhiều. Tính Nam Kỳ có nhiều điểm dễ thương mà những người từ vùng khác đến đều rất thích như tính rộng rải, chất phác, nói thẳng, thành thật, không màu mè gì cả. Quý đồng hương dù gốc ở đâu mà đã có cơ hội sinh sống làm ăn ở vùng Đồng Nai Cửu Long một thời gian chắc không thể không thấy mình ít nhiều gần gũi với người Nam Kỳ nhiều hơn là với người ở chỗ gốc, và nhất là không thể không thấy mình gắn bó rất nhiều với vùng đất Đồng Nai Cửu Long này. Sống ở đây một thời gian, hay qua một thế hệ là người ta trở thành người Nam Kỳ, gắn bó với đất Nam Kỳ thật nhiều. Từ ruộng vườn sum xuê cây trái, đến sông rạch chằng chịt đầy cá tôm nơi đồng quê, đến đường sá ngang dọc phố xá đông đúc chốn thị thành, không nơi nào không để lại lòng người sống ở đây những luyến thương mến tiếc nếu có lúc nào đó người ta phải xa lìa nó.
“Ăn trái nhớ kẻ trồng cây”, dân ta thường nói vậy. Chúng ta đã sống ở vùng đất mới của Đồng Nai Cửu Long, chúng ta không thể không ghi nhớ công ơn của bao nhiêu người đã đổ rất nhiều công lao khai phá, xây dựng, phát triển vùng đất trù phú này mà chúng ta đã có một thời gian thừa hưởng. Từ công chúa Ngọc Vạn, đến Thống Suất Nguyễn Hữu Cảnh, đến Thượng Công Lê Văn Duyệt, đến Thoại Ngọc Hầu, Phan Thanh Giản, Pétrus Ký... biết bao anh hùng liệt sĩ, biết bao nhân sĩ, nhà văn hóa, nhà kinh doanh đã góp phần mở mang vùng đất này về các phương diện xã hội, kinh tế, văn hóa. Sống ở đây một thời gian, dù thời gian đó ngắn hay dài, chúng ta cũng thấy có những lưu luyến với môi trường xã hội, và có ít nhiều những tình cảm mang ơn những người đã có công xây đắp nên môi trường sinh sống đó.
Thương tiếc và nhớ ơn đòi hỏi chúng ta phải tìm hiểu nhiều hơn về vùng đất, xã hội, văn hóa cũng như con người từ trước đến giờ ở vùng đất này. Xưa nay cũng đã có một ít học giả, văn nhân thi sĩ làm công việc đó. Trịnh Hoài Đức, Pétrus Ký, Vương Hồng Sển, Lê Ngọc Trụ, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Minh, và một ít học giả khác đã có để công tìm tòi nghiên cứu về xã hội/văn hóa Miền Nam. Công trình của họ rất đáng kể nhưng không thể coi là đầy đủ. Nhìn chung những người bỏ công nghiên cứu về văn hóa (bao gồm những sinh hoạt thường ngày, những tập tục, lối sinh sống, tư tưởng, tín ngưỡng, văn chương, nghệ thuật...) của vùng Đồng Nai Cửu Long thật hết sức hiếm hoi so với những học giả làm công việc này đối với văn hóa Miền Bắc. Sau đây là một thí dụ cho thấy sự nghèo nàn về những công cuộc nghiên cứu dành cho vùng Đồng Nai Cửu Long. Trong lãnh vực văn học, theo sự ghi nhận của nhà văn Võ Phiến thì “những nhà văn các miền ngoài, nhất là ngoài Bắc. Ở đó, cái biết về các hoạt động văn học trên phần đất Nam Kỳ cũ rất là sơ sài. Theo sự phát giác của Nguyễn văn Trung gần đây, bộ môn tiểu thuyết xuất hiện ở trong Nam sớm hơn ngoài Bắc chừng ba, bốn chục năm. Vũ Ngọc Phan không hề biết; ông nói về Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn... nhưng những người đi tiên phong, mà không kể đến những Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắc, Trương Duy Toản, Trần Chánh Chiếu, vân vân. Sau lớp tiên phong đến lớp nhà văn tiền chiến các cây bút trong Nam cũng không được chú ý bao nhiêu. Trong bộ Nhà Văn hiện đại có 79 tác giả, gốc Nam Kỳ cũ được 4 người (Ở hai quyển 4 và 5, nói về các bộ môn sáng tác, thì không có người Nam nào). Trong Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân có 46 tác giả, người Nam chỉ được một cặp ông bà Đông Hồ. Sau 1945, miền Bắc chỉ quan tâm đến những cây bút đã gia nhập vào hàng ngũ chính trị của họ.” (bài Giới Thiệu Tuyển Tập Bình Nguyên Lộc, trang XIV-XV).
Để phần nào bổ khuyết cho những thiếu sót đó, chúng ta có bổn phận nối tiếp những công việc của những người như Pétrus Ký, Vương Hồng Sển, Lê Ngọc Trụ, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, v.v... để hoặc đem thêm hiểu biết hay cái nhìn mới về xã hội/văn hóa vùng này hoặc bảo tồn /phát huy những nét đặc thù của văn hóa Đồng Nai Cửu Long.
(Lăng Ông Bà Chiểu)
Nói đến sự thành hình của xã hội có cai trị và được phát triển mạnh mẽ của Miền Nam chúng tôi thấy không thể không xem Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt là người dẫn đầu công trạng về nhiều phương diện. Và khi đi tìm một vật làm biểu tượng cho văn hóa xã hội vùng này chúng tôi nghĩ tới “LĂNG ÔNG BÀ CHIỂU.”
Lăng Ông Bà Chiểu được xem là biểu tượng của Miền Nam vì nhiều lý do: Nằm ngay tại Sài Gòn Gia Định, thủ đô của Miền Nam từ lúc Miền này được thành hình, Lăng Ông Bà Chiểu là một di tích lịch sử quan trọng của nền văn hóa Việt Nam. Cơ sở khang trang nằm trên long mạch rất tốt về phương diện phong thủy, lại được dân chúng bồi đắp tu bổ săn sóc luôn nên càng ngày càng uy nghiêm hùng tráng. Đông đảo dân chúng, người Việt cũng như người Hoa vùng Sài Gòn Gia Định và các tỉnh lân cận rất sùng bái Đức Thượng Công (mà người Hoa xưng tụng là Phò Mã Da Da), thường tới Lăng Ông xin xăm, cầu nguyện, lễ bái. Sự linh hiển của Đức Thượng Công cũng như sự linh thiêng của Lăng Ông luôn được dân chúng Miền Nam nhắc nhỡ. Một hội tế tự cũng đã được thành hình từ nhiều năm nay dưới danh xưng “Hội Thượng Công Quý Tế” để lo việc bảo tồn di tích lịch sử cũng như truyền thống tế tự đặc biệt tại Lăng Đức Thượng Công. Nhiều nhân vật quan trọng của Việt Nam Cộng Hòa đã từng đến đây lễ bái, thăm viếng. Trong sổ vàng của Hội Thượng Công Quý Tế, hiện còn bút tích của TT Nguyễn Văn Thiệu, TT Trần Thiện Khiêm và nhiều nhân vật quan trọng khác nữa của VNCH.
Nhưng lý do quan trọng nhất để người dân Miền Nam chọn lựa Lăng Ông làm biểu tượng của Miền này là NHÂN CÁCH, ĐỨC ĐỘ, CÔNG ƠN của Đức Thượng Công cũng như TẤM LÒNG của Ngài đối với người dân và vùng GIA ĐỊNH xưa tức là cả vùng ĐỒNG NAI-CỬU LONG và nhất là CHÍNH SÁCH CAI TRỊ VÔ CÙNG SÁNG SUỐT VÀ KHÔN KHÉO của Ngài (đối ngoại cũng như đối nội).
Ngài hết lòng phò vua Gia Long, đánh Nam dẹp Bắc, giúp Gia Long thống nhất giang san lập nên Nhà Nguyễn. Ngài là một trong những “ĐỆ NHẤT CÔNG THẦN” của Nguyễn triều, được hưởng đặc quyền vào chầu vua không phải lạy, và được quyền tiền trảm hậu tấu ở biên cương. Ngài luôn giữ dạ trung thành đối với Nhà Nguyễn dù sau này Ngài không ưa thích kính phục vua Minh Mạng. Ngài giàu lòng từ thiện nhân ái đối với những kẻ yếu đuối cô thế, lúc nào Ngài cũng sẵn sàng đem hết tài sức mình ra giúp đỡ bảo vệ họ, chống lại sự chèn ép, hà hiếp, áp bức của những kẻ mạnh, ỷ quyền, cậy thế. Ngài vốn hết sức thanh liêm, đi tới đâu là thẳng tay trừng trị bọn quan lại tham tàn bốc lột, bức hiếp dân lành tới đó. Ngài không lòn cúi nịnh bợ ai bao giờ, Ngài rất ghét đám quan lại đội trên đạp dưới. Ngài rất sáng suốt trong chánh sách trị loạn. Ngài biết rõ sở dĩ dân lành phải nổi loạn vì họ không còn sống nổi dưới ách cai trị áp bức tàn nhẫn của bọn quan lại tham lam ích kỷ cho nên muốn bình định cho hữu hiệu thì phải quét sách hết đám quan lại tham nhũng kia đi. Ngài đến đâu là đem lại sự an bình thịnh vượng cho người dân đến đó.
Công lao lớn nhất của Ngài mà người dân Đồng Nai Cửu Long đời đời mang ơn tôn kính là công khai phá, mở mang, phát triển vùng đất Gia Định xưa chạy dài từ Bình Thuận đến Cà Mau nơi Ngài đã từng hai lần làm Tổng Trấn.
Xin nhắc lại là khi vừa thành hình trong thập niên 1770 và bắt đầu phát triển chưa được bao lâu thì Miền Nam bị quân Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ trên đường rượt đuổi Nguyễn Ánh, tàn phá cước bóc tan tành. Dân chúng vô cùng khốn khổ với những cuộc nội chiến tàn phá này. Sơn Nam trong quyển “Lịch Sử Khẩn Hoang Miền Nam” ghi lại như sau, căn cứ trên Gia Định Thông Chí:
“Trước năm 1776, thương cảng lớn nhất của Miền Nam là cù lao Phố. Năm 1776 và 1777 quân Tây Sơn tràn vào Gia Định, đánh cù lao Phố, chiếm dỡ lấy phòng ốc, gạch đá, tài vật chở về Qui Nhơn.”
Nông Nại Đại Phố tức là thương cảng cù lao Phố suy sụp luôn, thương gia Hoa Kiều bèn kéo nhau xuống vùng Chợ Lớn ngày nay để lập chợ Sài Gòn, sát với chợ Tân Kiểng thành hình từ trước 1770.
Thương cảng Sài Gòn (nên hiểu là Chợ Lớn ngày nay) thành hình và phát triển nhanh từ năm 1778.... Nhưng 4 năm sau, 1782, Nguyễn Nhạc tới 18 Thôn Vườn Trầu, bị phục kích thua thảm hại, hộ giá Ngạn của Tây Sơn tử trận. Nhạc nhận ra bọn phục kích là đạo binh Hòa Nghĩa gồm nhiều người Tàu theo giúp Nguyễn Ánh. Nhạc bèn giận lây, phàm người Tàu không kể mới cũ đều giết cả hơn 10.000 người. Từ Bến Nghé đến sông Sài Gòn, tử thi quăng bỏ xuống sông làm nước không chảy được nữa. Cách 2, 3 tháng người ta không dám ăn cá tôm dưới sông (tr. 41-43).
Chợ phố lớn Mỹ Tho, nhà ngói cột chạm, đình cao chùa rộng, ghe thuyền ở các ngả sông đến đậu đông đúc làm một đại đô hội rất phồn hoa huyên náo. Từ khi Tây Sơn chiếm cứ, đổi làm chiến trường, đốt phá gần hết, tuy nói trù mật nhưng đối với lúc xưa chưa được phân nửa.” (tr. 45- 46)
Cuộc nội chiến đã gây bao nhiêu tàn phá đổ vở cho Miền Nam trên đường phát triển, gây trở ngại lớn lao cho dân chúng Miền Nam trên đường gầy dựng sự nghiệp. Đâu đâu dân chúng cũng mong đợi cảnh hòa bình, cuộc trị an, cơ hội thuận lợi để làm ăn xây dựng lại cuộc đời, xây dựng lại nền an ninh thịnh vượng cho xứ sở. Những mong ước chính đáng đó của người dân Đồng Nai Cửu Long đã được đáp ứng sau khi Gia Long thống nhất đất nước và nhất là khi Đức Thượng Công Lê Văn Duyệt hai lần vào làm Tổng Trấn Gia Định.
(Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt)
Có thể nói trong lịch sử của Miền Nam từ trước tới giờ chưa ai có được tấm lòng nhân, có tinh thần nhân bản, có sự sáng suốt trong việc cai trị bằng Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt. Ở địa vị Tổng Trấn Gia Định (xem như một Phó Vương cai quản cả Miền Nam nước Việt), với tất cả quyền hành trong tay, Ngài đã đem lại cho người dân Miền Nam một nền hòa bình thịnh vượng chưa từng có trong lịch sử nước nhà. Đối ngoại Ngài đã giúp đỡ, bảo vệ cho Cao Miên làm cho nước này phải chịu thần phục triều đình Nhà Nguyễn. Ngài làm cho Xiêm La nể sợ không còn dám dòm ngó phá phách Việt Nam. Ngài chấp nhận giao thương với các nước Tây phương cũng như Trung Hoa, Miến Điện chớ không nhắm mắt theo lệnh triều đình đóng cửa rút cầu không cho người ngoại quốc vào nước mình buôn bán. Ngài không thi hành lệnh cấm đạo của Minh Mạng, làm ngơ để cho các giáo sĩ được tự do truyền giáo ở trong Nam. Ngài chủ trương tôn giáo nào cũng tốt, cũng có nền đạo đức luân lý giúp con người sống lành mạnh tốt đẹp. Ngài bảo “Đạo Thiên Chúa nước nào không có. Người ta đâu có ngăn cấm, sao nước mình lại đặt ra cái chỉ dụ kỳ cục vậy. Gây cảnh nồi da xáo thịt lại mang tội với đời sau.” Thay vì bế môn tỏa cảng theo lệnh của triều đình thì Ngài lại sẵn sàng đón nhận các phái bộ ngoại quốc đến xin tiếp xúc giao thương. Thay vì xem nhẹ việc buôn bán (theo quan niệm sắp xếp thứ tự sĩ nông công thương của nho gia), Ngài lại khuyến khích thương mại để đem nhiều quyền lợi về cho quốc gia dân tộc. Đối nội Ngài làm cho dân chúng được yên ổn làm ăn, lại tạo ra cơ hội để người dân góp phần phát triển kinh tế trong vùng. Ngài cho đào kinh, làm đường sá để cho sự giao thông trong nước cũng như giữa Việt Nam và Cao Miên được dễ dàng. Ngài khuyến khích người dân khẩn hoang lập ấp, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp. Ngài tạo điều kiện tốt cho các giống dân (Trung Hoa, Miên, và người ngoại quốc khác) sống ở đây hội nhập vào xã hội Việt Nam mới này để cùng chung sức làm cho đất nước được phồn thịnh. Về xã hội, nghĩ đến những người đã hy sinh vì nước để vợ con bơ vơ thiếu thốn, Ngài cho thiết lập hai cơ quan từ thiện là “Anh Hài” và “Giáo Dưỡng” để lo cho vợ con các chiến sĩ vị quốc vong thân. Tuy xuất thân là một võ quan, Ngài vẫn chú trọng đến việc phát triển văn hóa. Ngài dùng tiền do triều đình ban thưởng cho cá nhân Ngài để xây Văn Thánh Miếu khích lệ việc học của các sĩ tử. Ngài quả thật là người có đủ tinh thần NHÂN BẢN, DÂN TỘC, và KHAI PHÓNG mà ngày nay chúng ta thường đề cao.
Tấm lòng của Ngài đối với vùng đất Gia Định và người dân Đồng Nai Cửu Long thật như trời biển. Ngài đúng là bậc cha mẹ dân luôn luôn thương dân như con đẻ. Có thể nói đối với Ngài “dân vi quí, xã tắc thứ chi”. Ngài thương dân Gia Định cũng như đất Gia Định vô cùng. Ngài đã đem tất cả tài sức giúp dân, giúp quê hương xứ sở. Tấm lòng của Ngài đối với dân Đồng Nai Cửu Long và mảnh đất thân yêu này thật là vô bờ bến. Chính vì vậy mà người dân Gia Định mang ơn Ngài, tôn sùng Ngài hơn cả vua chúa, hơn cả những vị anh hùng dân tộc thường được lịch sử ca tụng từ trước đến giờ.
Trong lần hội kiến với Ngài tại Gia Định thành, Phan Thanh Giản đã hết sức kính phục thố lộ:
“Gia Định này thật có phúc mới gặp được một Tổng Trấn như đai quan. Tôi ở Kinh Thành, ở Bắc Thành vào Gia Định thấy như đi qua một nước khác. Ở dọc sông thì trên bến dưới thuyền, ghe thuyền san sát, lúa gạo nghìn nghịt. Vải vó, đồ thau, đồ đồng, đồ sứ, đồ gốm, thảo mộc quý, quế, trầm, hồi thật là không thiếu thứ gì. Trên đất liền, nhà cửa phố xá san sát, khang trang. Đường đi lại lát gạch, lát đá sạch sẽ mát mắt. Cảnh dân theo đạo Thiên Chúa trốn chui trốn nhủi như ở ngoài Bắc Thành, Kinh Thành, ngoài Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, vào đây không thấy. Cha truyền giáo vẫn đi lại bình thường trên đường phố. Tôi thật mừng. Mình làm quan thấy dân vui là mình vui. Làm quan chỉ biết vui phần mình thật đáng trách.”
Năm 1822 một phái đoàn Anh do ông Crawfurd dẫn đầu có đến yết kiến Ngài Tổng Trấn. Trong dịp này Crawfurd thú nhận:
“Đây là lần đầu tiên tôi tới Saigun (Sài Gòn) và Pingeh (Bến Nghé). Và tôi bất ngờ thấy rằng nó không thua gì kinh đô nước Xiêm. Về nhiều mặt trông nó còn sầm uất hơn, không khí mát mẻ hơn, hàng hóa phong phú hơn, giá cả hợp lý hơn và an ninh ở đây rất tốt, hơn nhiều kinh thành mà chúng tôi đã đi qua. Tôi có cảm giác như đây là một vương quốc lý tưởng...Dinh Tổng Trấn khá đồ sộ và uy nghiêm. Các thành trì nằm ở bờ sông An Thông hà. Nơi đây buôn bán sầm uất. Dân xiêu tán tới đây được Tổng Trấn cho nhập hộ tịch, qua một hai đời đã trở thành người Gia Định. Đông nhất nơi đây là dân Trung Hoa. Các dân tộc nơi đây được nhà nước bảo hộ và họ đều có nghĩa vụ như nhau. Tất cả đều được sống trong bầu không khí an lành. Trộm cướp không có. Người ăn mày rất hiếm. Tổng trấn rất nhân từ, tha cả bọn giặc, bọn phỉ, bọn trộm cướp ăn năn . Nhưng ông lại rất tàn bạo với bọn cố tình không chịu quy phục triều đình. Chưa ở đâu kỷ cương phép nước được tôn trọng như ở đây... Ở đây chúng tôi mua được rất nhiều lúa gạo, ngà voi, sừng tê giác, các hàng tơ lụa, đũi thật đẹp. Từ các nơi, dân đi thuyền theo các kênh rạch lên bán cho chúng tôi. Nhìn dân chúng hân hoan vui vẻ, chúng tôi biết dân no đủ. Nhiều người rất kính trọng vị Tổn Trấn của họ.
Con người này ít học. Nhưng lạ lùng thay là có được cái nhìn cởi mở hơn nhiều những đại thần và cả nhà vua học rộng, làu thông kinh sử của Khổng giáo. Ngài sống thanh liêm, muốn mở mang đất Gia Định này trù phú hơn mọi quốc gia khác ở trong vùng biển Đông.”
Sống đã vậy mà khi mất đi rồi vẫn tiếp tục bảo bọc phù hộ con dân của mình. Thác rồi Ngài trở thành một vị thần hiển linh mà người dân Gia Định hết lòng tín ngưỡng phụng thờ. Đây là một tín ngưỡng dân gian rất quan trọng về phương diện văn hóa. Người ta đồn Ngài rất linh hiển. Những người làm việc cho chính quyền, có đầu óc vô thần, tỏ vẻ xấc láo với thần linh trước miếu thờ Đức Thượng Công đều bị Ngài trừng phạt nặng nề. Người dân Nam tin rằng Ngài luôn luôn trừng phạt kẻ gian, kẻ trộm cướp, kẻ xấc láo vô lễ, kẻ thề thốt man trá trước lăng miếu của Ngài. Người ta hay nói đến những trường hợp bị “Ông vật”, “Ông bẻ cổ” hay “Ông bắt hộc máu,” để chỉ những trừng phạt đó. Trước đây các cơ quan hay hãng sở có vụ án bí ẩn không tìm ra manh mối thì người ta thường đưa các đương sự đến “Lăng Ông” cho thề trước đền thờ Ngài. Ngược lại, nhiều người thường dân làm ăn lương thiện hay đến cầu xin Ngài giúp cho họ sự bình yên, thành công trong việc làm, thi cử đổ đạt, thành tựu trong việc cưới xin, bệnh hoạn chóng khỏi, v.v...hầu hết đều được Ngài chứng tri giúp đỡ. Tiếng đồn về việc Đức Thượng Công hiển linh thường hay thi ân, giáng họa được truyền tụng mỗi lúc một lan xa trong dân chúng từ xưa đến giờ và mãi mãi về sau này. Tin Đức Thượng Công cũng là một tín ngưỡng dân gian của vùng Đồng Nai Cửu Long quan trọng chẳng kém gì lòng tin của con người trong những tôn giáo khác ở vùng này. Lăng Ông Bà Chiểu rất xứng đáng làm biểu tượng cho vùng Đồng Nai Cửu Long vậy.
Nếu người dân Đồng Nai Cửu Long xưa kia may mắn có được một nhà cai trị khôn ngoan, nhân đức, sáng suốt, biết thương dân thương nước như Đức Thượng Công khi Ngài còn tại thế thì ngày nay dân chúng Miền Nam cũng vô cùng hãnh diện và may mắn có vị thần bảo hộ hết sức hiển linh như Đức Tả Quân. Tiếc rằng dân Việt Nam nói chung không được cái may mắn đó vì triều đình Minh Mạng cũng như đa số các đại thần của triều đình này không có được cái khôn ngoan nhân đức và lòng thương nước thương dân của Ngài Chưởng Tả Quân Bình Tây Tướng Quân Quận Công. Nếu như triều đình và các đại thần của triều đình này cũng khôn ngoan, thấy xa, hết lòng vì dân vì nước, áp dụng chính sách cai trị khôn khéo, cởi mở của Đức Thượng Công đã áp dụng trong Miền Nam thì cả nước Việt Nam đã sớm trở thành một nước tiến bộ hùng cường như Nhật Bản từ đầu thế kỷ XX rồi, và người dân Việt Nam đã được ấm no hạnh phúc như những người dân trong các xã hội tiến bộ khác từ lâu rồi. Người đời sau nếu thật lòng thương dân thương nước, nếu thật lòng muốn cho xã hội tiến bộ, dân chúng ấm no hạnh phúc, thì nên học hỏi chính sách cai trị khôn ngoan sáng suốt cởi mở của Đức Thượng Công cũng như tấm lòng nhân và tinh thần nhân bản của Ngài. Ngài thật vô cùng xứng đáng làm tấm gương cho người làm chính trị sau này, xứng đáng được sự nhớ ơn đời đời cũng như sự tin tưởng phụng thờ và sùng bái ngàn năm của người dân Nam Việt.
Nhằm biểu tả tình luyến lưu cũng như lòng mang ơn nói trên một cách chân thực hơn, anh em chúng tôi xin phép thành lập Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt Foundation. Hội này sẽ cố gắng xúc tiến xây dựng một đền thờ Đức Tả Quân Lê văn Duyệt ở tại đây. Trong đền thờ này chúng tôi cũng sẽ dành một nơi để thờ chung những anh hùng liệt sĩ có lòng yêu nước nồng nhiệt, đã hy sinh thân mình cho núi sông, có công bảo vể, phát triển Miền Nam từ xưa đến giờ như Võ Trường Toản, Phan Thanh Giản, Pétrus Ký, Trương công Định, Nguyễn trung Trực, Nguyễn an Ninh, Phan Văn Hùm, Trần Văn Hương, Nguyễn Văn Bông, Nguyễn Ngọc Huy, v.v...Bên cạnh đền thờ chúng tôi cũng mong thiết lập một trung tâm sinh hoạt văn hóa để một mặt nghiên cứu theo dõi bước tiến của tổ tiên trong việc thành hình xã hội/văn hóa Đồng Nai Cửu Long, và mặt khác tổ chức những sinh hoạt bảo tồn và phát huy những nét đặc thù của nền văn hóa đó. Tờ Đặc San Đồng Nai Cửu Long cũng như tờ đặc san “Tiền Giang Hậu Giang là hai cơ quan văn hóa nói lên nỗ lực chung của anh em chúng tôi trong mục đích trên. Chúng tôi hết sức mong mỏi sự tận tình cũng như sự yểm trợ mạnh mẽ của quý đồng hương trên tất cả mọi phương diện cho các tập san ĐNCL, TGHG và cho sự hình thành đền thờ Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt.
Hòa nghe, tức ấm ức trong lòng. Nhất là khi anh chàng sửa câu hò, nhái giọng Hòa: O muộn chồng thì thậm khộ, Tui muộn vợ cụng thậm khộ. Hòa chỉ còn biết vùng vằng rời khỏi phòng ti-vi, dù đang háo hức chờ xem phim Sabrina, có Audrey Hepburn thủ vai chính, cô đào khả ái Hòa đã say mê bao lâu nay. Chắc tại Hòa có tật giật mình. “Hắn” có hề kêu tên Hòa đâu. Ủa, đích danh chớ sao không, cả trường nội trú của Trung Tâm Đức Ngữ mấy chục người Việt, chỉ có mấy chị em Hòa được gọi là gia đình Huê kỳ thôi mà. Mấy chị của Hòa có bồ, giờ này rút hết về phòng, viết thư tình. Tự nhiên, Hòa đâm mủi lòng. Có đứa em gái út ít, mấy chị đành đoạn, để mình cô đơn nơi phòng ti-vi, bị người ta chọc ghẹo như vầy. Hồi giờ, chị Thục lúc nào cũng nhanh gọn lẹ vãn hồi trật tự, mỗi khi nhận thấy ý đồ “xâm lược” của ngoại nhân. Cỡ nào chị cũng chém đẹp. Mà bây giờ, chị bận ngồi nơi cửa sổ mơ mộng, nghĩ tới người dưng khác họ đâu đâu.
Nhớ tuần trước, có lớp mới vào. Cứ mỗi ba tháng, lớp Đức ngữ trung cấp 2 ra trường, đồng thời nhóm mới vào lớp sơ cấp 1. Hòa vào trường được 4 tháng, đang ở lớp sơ cấp 2. Mấy chị em Hòa thành đàn chị, dẫn dắt những người mới đến. Công việc chẳng có chi oai phong lẫm liệt. Chị Thục đã xí ngay chân postman cho cả trường. Tại chị viết thư, nhận thư số lượng thuộc hàng… buôn sỉ. Chị lại có tài nhận mặt chữ. Thấy chữ của người gởi một lần, lần sau chị không cần nhìn tên, vẫn trao thư trúng phóc người nhận. Hai chị lớn, hướng dẫn người mới những việc trí thức cao cấp hơn, như nhận sách, làm thẻ thư viện. Phần Hòa, được giao trọng trách chỉ cho “tân binh” nhà bếp ở đâu, chia mỗi người một ngăn tủ, tùy nghi sử dụng. Khi nhận danh sách do bà thư ký trường đưa, Hòa cẩn thận viết tên rồi dán lên những ngăn tủ. Chiều đó, Hòa trổ tài nấu cà-ri cho cả nhà, mua nguyên con gà đàng hoàng, đầu tháng nên có đại yến. Giữa tháng, mấy chị em chỉ chuyên ăn lưng- cánh- cổ- gà hầm rau thập cẩm. Hòa đang chăm chú vớt váng mỡ gà, “hắn” đứng bên cạnh hồi nào không hay:
-Cô gì ơi, làm ơn chỉ cho tôi tủ của tôi ở đâu? Giật mình, Hòa quay qua: -Ủa, mắc chi phải chỉ. Bà Becker đưa danh sách, theo đó, dán tên mấy người trên cánh cửa tủ. Tên ai ở tủ nào, xài tủ đó. -Cô gì ơi, cô có ghi, nhưng cô ác quá, viết chữ nhỏ xíu. Tôi đâu đọc được. Mắt kính cận của tôi bị bể, chưa biết bao giờ mới có kính mới. Hòa thấy hơi bực bực, đã làm ơn cho văn phòng, mà bị người khác kêu ác nữa. -Mặc kệ. Mà … không phải tên “gì” đâu nghe. -Tôi nào dám hỏi tên cô, sợ đường đột quá. Trông cô hiền hòa, tôi nghĩ tên Hòa hợp với cô. Tôi gọi cô là Hòa nhé. Hắn kéo dài chữ nhé. Hòa mím môi. Người gì mà xạo quá trời. -Hòa ơi, nhờ Hòa dắt tôi tới chỗ tủ của tôi nhé. Thấy người hoạn nạn thì thương đi mà. Hòa cảm thấy rân ran cả mặt. Mấy “cha” Bắc kỳ mồm mép dữ lắm. Hòa dằn mạnh cái vá trong nồi. Tắt bếp, ngúng nguẩy rời nhà bếp. Tiếng “cha” Bắc kỳ cười đuổi theo: -Còn tôi hả, thấy người đẹp đẹp lại càng thương hơn.
Hòa đi gần như chạy về phòng, tức nghẹn cổ. Hòa sẽ méc chị Thục, để chị trị hắn một trận. Mấy chị em hắn mới tới mà nổi lắm. Mấy bà chị lớn của hắn hạp tính ngay với mấy bà chị Hòa. Gia đình hắn đề nghị nhà trường tổ chức du ngoạn, bữa tiệc bỏ túi để người cũ, người mới làm quen với nhau. Hòa tức mình ghê, sáng kiến gì của nhà hắn, cũng được cả trường hưởng ứng. Kể ra, từ ngày lớp hắn đến, trường bỗng dưng nhộn hẳn lên. Trời sắp vào hè, nhiều ngày nắng đẹp rực rỡ, hắn chắc bị hói đầu, tứ mùa ra đường đội mũ. Chị Thục nói, hắn đội mũ bê-rê coi hay hay, ngồ ngộ. Thấy hắn, cứ nghĩ tới mấy anh chàng nghệ sĩ Tây, đứng ở khu chợ Montmartre Paris vẽ tranh. Hòa trề môi, xì, tây gì, tây đui, tui đây hả, hổng giống ai.
Nhà hắn tình cờ hay ăn cơm trùng giờ với nhà Hòa. Một hôm, bà chị lớn của hắn vui vẻ mang qua mời mấy chị em Hòa dĩa lòng phá lấu, đầy đủ hương vị. Nghe đâu phải quen biết với hàng thịt, chớ thời đó người ta không bán lòng heo. Mấy chị em Hòa chia nhau, thòm thèm, xuýt xoa, lòng phá lấu ngon vô hậu. Chị Thục tủm tỉm:
-Rứa là họ muốn lấy lòng gia đình mình. Bữa nào mình phải đáp lễ chớ.
Hôm sau, phiên chị Thục nấu cơm, chị đãi món tráng miệng, dâu tươi ăn với kem sữa. Chị mang một tô dâu đỏ thắm, nổi bật trong kem sữa trắng ngà, xăm xăm qua bàn bên kia:
-Mấy chị em Huê kỳ xin biếu dâu cả nhà ăn lấy thảo.
Hòa nóng cháy cả tai khi nghe tiếng mấy chị em cười cám ơn. Giọng hắn như reo:
-Cám ơn chị Thục đã thấu lòng em. Gia đình em, nhất là em, thích dâu lắm.
Hắn còn nhấn mạnh mấy chữ chị, em. Xì, bẻ sừng làm nghé, hắn hơn tuổi chị Thục chớ bộ. Thường, hắn gọi chị Thục bằng tên, xưng tôi, mà bữa nay, cố ý gọi chị, để xin được làm em chớ gì.
Ăn cơm xong, Hòa lo dọn dẹp, làm nhiệm vụ “lái dĩa bay”. Tình cờ, hắn cũng đứng rửa chén bên cạnh. Hắn hát, chắc tưởng mình là giọng chính của ban hợp ca Thăng Long… "Chốn đây ngàn phương, có ba giòng sông cuốn xuôi biển Đông nhắc câu chờ mong …"
-Hòa ơi, anh thích Hội Trùng Dương dễ sợ. Mà anh mê nhất Tiếng Sông Hương.
Hòa không trả lời, chỉ nghĩ thầm, ai thích nhạc chi thì thích, chớ mắc mớ chi tới ai. Ủa, khi không sao xưng anh với mình tỉnh bơ vậy. Hòa cúi xuống chăm chú rửa chén. Chén bát hôm nay sao mà nhiều, rửa hoài không hết. Đứng đây một hồi, không biết còn nghe tâm sự chi nữa đây. Khi không, đầu óc Hòa cứ nghĩ tới mấy câu hát "Vẩn vơ nắng quái vương trên phù sa… ngày qua trai gái sống chung một miền…" Úp nồi lên rổ, Hòa chợt nhận ra, chị Thục nấu nướng chi gọn gàng vầy hè, mới rửa quẹt quẹt mấy cái, xong xuôi hết rồi. Hòa muốn liếc qua, coi thử ai đã rửa xong chén chưa, mà không dám. Hòa nấn ná, sửa sửa mấy cái muỗng cho ngay ngắn. Nếu bây giờ ai hỏi Hòa thích bài nào trong trường ca thì Hòa sẽ khen, bài Tiếng Sông Hồng cũng hay mê ly, thiệt đó. Chẳng nghe ai hỏi, Hòa rón rén rời nhà bếp. Không biết ai có nhìn theo chăng, Hòa tưởng như lời hát "Ai là qua là thôn vắng nghe sầu như mùa mưa nắng của ai quấn quít chân mình."
Giao tình của hai gia đình càng ngày càng thắm thiết. Hỏi ra, mới biết anh của anh cũng đi du học cùng năm với anh cả của Hòa. Bố của anh cũng trải qua gần 10 năm ở trại cải tại như Ba Hòa. Những buổi gặp gỡ bạn bè người Việt, không phải chỉ anh và Hòa đồng thanh tương ứng, mà các anh chị em của hai bên cũng đồng khí tương cầu. Góc này em trai anh đang đệm đàn, hai đứa em Hòa đang vui hát 'Hãy ngồi xuống đây vai kề sát vai…" Góc kia, mấy chị đang nhớ đến những bài thơ tình làm mấy chị ngẩn ngơ gần thập niên trước, bây giờ nhắc lại vẫn cứ bâng khuâng nhè nhẹ hỏi long, Mình nhớ ai mà buồn chi lạ! Ô! dễ hiểu quá, nghĩ ngợi chi xa xôi, rắc rối, môn đăng hộ đối là như vậy. Anh nghiêng qua, ngọt ngào rót vào tai Hòa… Thương em từ thuở Mạ về là về với Ba… Hòa cảm nhận niềm hạnh phúc thật cụ thể, rõ ràng như cảnh êm đềm thân yêu trước mặt. Hạnh phúc bàng bạc, chan hòa trong không khí hai đứa đang thở.
Hôm lễ đính hôn của chị Thục, hai đứa tính toán lung lắm, coi đóng góp món chi để chung vui. Cuối cùng anh đề nghị làm món bánh tôm. Khoai lang xắt sợi nhé, tôm lựa loại vừa vừa, vỏ mềm. Pha bột, cho khoai dính vào nhau, như cái tổ chim, xong đặt hai con tôm lên, chụm đầu nhau, như đôi uyên ương hay như đôi sam đấy. Chiên lên, dòn rụm. Cuốn lá rau xà lách, kèm vài lá tía tô, húng quế, chấm nước mắm chanh ớt. Nghe anh diễn tả, món bánh ngon tới trời. Anh nhẩn nha bằng giọng Bắc, người ta gọi là Bắc di cư. Thật ra, chỉ có Bố Mẹ và chị cả của anh di cư. Chớ phần anh, vẫn luôn mơ ngày tận mắt thấy nơi quê mẹ của mình. Khi bắt tay vô việc mới thấy… đời không là mơ. Chẳng hiểu sao, con tôm đầu đi đằng đầu, đuôi đi đằng đuôi. Khoai lang thấy không giống tổ chim, mà bẹt nhẹt chẳng ra hình dáng gì. Hai đứa quýnh quáng, nhà bếp như bãi chiến trường:
-Anh làm món ni mấy lần rồi?
Anh cười tẽn tò:
-Anh ăn nhiều lần, làm, chỉ nghe kể thôi, chớ chưa làm lần nào. Quả thật, ngôn dị hành nan.
Hòa chép miệng:
-Ai chẳng biết nói dễ làm khó. Ở đó còn xổ nho, xổ táo. Chừ như ri làm răng mà dọn?
Hôm ấy, món trứ danh của hai đứa vẫn phải đem trình làng. Thằng Duy kiện tụng:
-Anh chị làm món chi lạ ghê, em gắp ba lần, tổng cọng được 3 cái đầu tôm, bự xà lự.
Thằng Tuân bỏ nhỏ:
-Mấy miếng có tôm thứ thiệt dọn ở phía người lớn, còn góc tụi mình toàn là sứt cùi, gãy gọng. Mi còn hên lắm đó. Tao gắp phải miếng đen thùi lui, chỉ có râu tôm thôi.
Anh cười cầu tài với hai thằng em cưng của Hòa:
-Ở nhà vườn, phải ăn cau sâu. Chịu khó vậy. Mai anh dẫn ra phố, đãi ăn phủ phê. Mỗi đứa nửa con gà nướng hẳn hoi đấy nhé.
Tiệc cưới chị Thục, đông vui quá trời. Bạn từ hồi học Đức ngữ, bạn ở trường trung học. Bận rộn bao nhiêu khách khứa, Hòa chưa có thì giờ nghĩ vẩn vơ. Sau đám cưới, hai chị em về lại trường nội trú, đi học như trước. Những chiều trời đẹp, hai chị em ra sân chơi vũ cầu. Thỉnh thoảng, bạn bè rủ nhau đi rạp xi-nê làng coi những phim xưa lắc, xưa lơ như Cuốn Theo Chiều Gió, Vĩnh Biệt Tình Em. Nhưng buổi tối, chị Thục thức khuya hơn, không phải học bài, mà viết thư cho chàng. Đó, chị bây giờ “xuất giá tòng phu”, chị đang xa dần, Hòa tấm tức khóc. Hai chị em sát tuổi nhau, thân nhau lắm. Hòa vừa buồn, vừa hờn chị Thục. Khi không, chị đi theo người khác, rồi đâm ra “lạt lẽo” với Hòa. Càng nghĩ, nước mắt, nước mũi chan hòa, chị Thục mằn mằn tóc Hòa:
-Cái con ni, khóc chi vô duyên ộn.
-Chớ chị bây giờ theo người khác rồi rồi… bỏ em. Hòa nấc lên.
Tiếng chị Thục cười nhỏ:
-Hòa ơi, coi nì, hai chị em mình vẫn ở cùng phòng cho đến khi thi tú tài luôn. Có chi khác đâu.
-Thi xong, chị về nhà họ chớ bộ. Chỉ có em về Ba Mạ. Thôi, mai mốt em không lấy chồng.
-Ừ, ai bắt mi lấy chồng. Mi lấy Trung thôi. Mà mai mốt thì chưa được. Một năm Ba Mạ chỉ gả một đám thôi.
Chị Thục chọc Hòa để đánh trống lảng. Hòa mắc cỡ quá chừng, may, đang quay mặt vô vách tường, chớ chị Thục thấy mặt, chắc ốt dột lắm. Hoà thương anh lắm, không kể sao cho hết. Mà nghĩ đến ngày nào đó, mình thành “con người ta”, rồi xa Ba Mạ, Hòa thấy buồn quá chừng quá đỗi. Hồi nhỏ, hai chị em đã bí mật hẹn nhau, ở với Ba Mạ suốt đời. Vậy mà, bây giờ chị Thục đã quên “lời thề xưa”.
* * *
Rồi hai đứa xe tơ kết tóc. Giữa tiệc cưới, chú rể tung ra lời đề nghị bất ngờ: tất cả những chàng nào từng ngắm nghé cô dâu, hôm nay, dịp may cuối cùng, lên trình diện. Nếu cô dâu nghĩ lại, vẫn còn có thể sắp xếp được. Vậy là các chàng ào ào kéo nhau lên sân khấu. Mấy anh bạn của mấy chị còn diễu, tay ẵm con nhỏ, tay dắt con lớn, láo nháo dành chỗ. Anh hỏi, tha thiết:
-Sao? Em thấy sao?
Ngày trọng đại như vầy, mà anh còn chọc giỡn nữa. Hòa cúi đầu, không nói, nhưng chắc anh nghe được những ý nghĩ của Hòa. Nghĩ lui, nghĩ tới, ngó bốn phương, tám hướng chi cũng chỉ thấy, chỉ “chộ” mình anh thôi. Anh nghiêm chỉnh:
-Cám ơn các bạn rất can đảm, thành thật tỏ lộ lòng ưu ái với cô dâu. Nhưng rất tiếc, cô dâu, vợ tôi, -Anh kéo Hòa sát vào anh- chỉ chọn tôi mà thôi.
Ba đứa con cách đều nhau hai tuổi, cùng ra đời vào tháng Năm, tháng đẹp nhất của đất trời nơi đây. Hai vợ chồng cùng làm việc nơi cơ quan trực thuộc chính quyền địa phương. Công việc xem như ổn định, hai vợ chồng tính đến chuyện mua nhà. Hòa tỏ ý thích ông bà Ngoại ở chung với mấy cháu. Anh đồng ý ngay:
-Mình tìm nhà nào lớn, có đất, để Ba Mạ làm vườn. Liệu cơm gắp mắm. Tất nhiên, mình phải tìm nhà cũ mới kham nổi. Nhưng chả sao. Nhà đông anh em, lại nhiều bạn bè, cứ xúm lại, mỗi người một tay.
Hai vợ chồng tìm được ngôi nhà ở ngoại ô, khá cũ, nhưng rộng rãi, còn đủ chỗ cho hai cậu em của Hòa nữa. Đám con sống gần ông bà Ngoại, nên nói giọng Huế, xem ra còn bún bò, bánh nậm hơn cả mẹ. Hai đứa con gái, đứa nào cũng là con gái rượu của anh. Thằng cu út, anh gọi là cù lũ. “Em biết không? chơi xì phé, cù lũ là nước bài anh thích nhất, đối với anh tuyệt nhất”. Mấy bố con nói chuyện với nhau, nghe đám con ríu rít Bộ ơi, Bộ ơi, sao du dương êm đềm trong tai Hoà, réo rắt mãi hoài như bài tình ca muôn thuở.
Anh hay bảo Hòa rủ các anh chị em về tụ họp cho Ba Mạ vui. Anh để ý những sở thích từng người. Nghe gia đình anh Khánh sẽ về, anh ghé chợ, mua phô mai loại Alte Kaase, ít nho loại Red Globe, thể nào anh Khánh cũng đem chai rượu đỏ, mấy anh em nhâm nhi với nhau. Nghe gia đình chị Thục sắp đến, biết tính chị thích hoa lá cành, anh chiết sẵn bụi dạ điệp cho chị, cắt mấy cành Forsythia đem chưng phòng khách, cười cười:
-Hoa sao xuân của chị Thục đấy.
Tự sáng sớm, Hòa không một phút nghỉ ngơi. Dù cả nhà cùng nhau, mỗi người một tay nhưng Hòa vẫn là “nhạc trưởng”. Hò hét đám con thức dậy, dọn cất đồ chơi bừa bãi lung tung. Mấy thùng áo quần Hòa đã chia sẵn, thùng đồ màu trắng, thùng đồ màu sặc sỡ, thùng đồ màu đen. Hòa đã bao lần hướng dẫn, mà nói như nước chảy lá môn. Mở ra, thùng nào cũng lẫn lộn xanh đỏ tím vàng. Mấy cậu cháu sao mà hợp nhau vậy. Hai thằng em nhăn răng cười trừ:
-Tại tụi em bị loạn sắc. Đâu phân biệt trắng đen gì đâu.
Hòa thở dài:
-Xui cho con gái nhà ai gặp phải tụi bây.
Duy đứng trước gương vuốt vuốt đầu tóc bờm xờm:
-Nhiều cô muốn xui để rước tụi em, mà mấy đứa nhỏ không cho tụi em lấy vợ. Cậu cháu quyến luyến nhau quá, nên tụi em cứ phải vui đời độc thân bên đám cháu.
Bàn phòng khách ngổn ngang mấy ly bia, dĩa vỏ đậu phụng. Tối qua, mấy anh em lại coi đá banh đến khuya, rồi chén anh, chén em chứ gì. Hòa tính cự nự, nhưng chợt nghĩ lời của Duy. Cháu mến cậu cũng có, nhưng anh và hai đứa em vui vẻ với nhau, nếu anh mặt quạu, mày quọ với tụi nó, chắc tụi nó đi mất đất rồi, chứ có phải chờ lấy vợ mới dọn ra riêng. Hòa dịu giọng:
-Bưng ly chén trên phòng khách xuống, tao rửa luôn. Mấy anh em bây, thiệt tình, bày chi mà hàng ngang, hàng dọc, thấy bắt mệt.
Anh khuân vô lủ khủ năm túi, bảy túi, táo, nho, bưởi, quýt, thịt bò, thịt heo và con cá hồi to như kình ngư.
Hòa ngán ngẩm:
-Anh mua vậy, chứa đâu cho hết?
-Nhà đông người, vui miệng, ăn một nhoáng là sạch sẽ.
Hòa gắt um:
-Con cá voi đó hả, em đầu hàng. Lần trước em đã sợ rồi, làm xong con cá là bải hoải chưn tay.
Tuân lên tiếng, nó hay binh vực anh, đứng về phe anh, trách Hòa:
-Chị Hòa sao khó tính thiệt! Ảnh đã có lòng đi chợ. Mua bây nhiêu đó, quần trong chợ cả nửa ngày. Chắc mệt đứt hơi, chị không khen cho một tiếng. Cá Lachs phải to như vậy ăn mới ngon, chớ lí tí như cá cơm đâu được. Để con cá em lãnh, chiều em sẽ giao cho chị phi-lê, bảo đảm không có thủ vĩ bì cốt chi hết, chị tha hồ trổ tài món chả cá Lã Vọng.
Hôm nay đón Mạ ở bệnh viện về. Mạ bị té nứt xương chậu, phải giải phẫu. Mạ còn phải dùng nạng một thời gian nữa, song song với việc tập thể dục. Ở nhà rộn ràng. Đám con nít vẽ tranh trang trí mừng bà Ngoại bình phục. Nhà bếp dao thớt nhịp nhàng, đủ các món sơn hào hải vị. Ai nấy đã vào bàn. Ba hỏi:
-Trung mô rồi? Đứa mô kêu Trung vô bàn đi?
Hòa bực bực:
-Thiệt tình. Anh không để ý chi hết. Cả nhà phải chờ có mình anh.
Duy chạy ra sân, rồi trở vô ngay:
-Cả nhà cứ bắt đầu từ từ đi. Con ra phụ anh Trung một chút. Anh đang làm lở dở cái ghế đặc biệt cho Mạ. Cũng gần xong rồi.
Mạ rơm rớm nước mắt:
-Mạ mừng lắm, Trung hắn lo cho Mạ như rứa thiệt không chi bằng. Hôm ở trong bịnh viện, hắn cứ săm soi cái ghế, lui cui đo đạc, nói nghiên cứu bắt chước đóng cái ghế cho Mạ, để Mạ ngồi cho tiện.
Ba tiếp lời:
-Ba Mạ vô cùng sung sướng trong tuổi già. Được con cháu thương yêu săn sóc như ri. Ba Mạ không ao ước chi hơn.
Hòa đứng dậy, cảm thấy có lỗi vì đã có ý bực bội anh. Hòa ra sân, mình sẽ nói xin lỗi anh, dù anh chẳng hiểu vì sao. Mình sẽ ôm choàng ngang lưng anh, sẽ nói thương anh vô cùng trời đất. Kể anh nghe, rằng chị Thục hay la Hòa, nhắc Hòa đừng gắt gỏng với anh. Nhắc Hòa phải quý tấm lòng anh dành cho Ba Mạ và gia đình. Đó không phải là điều đương nhiên trong cuộc sống. Mà là phúc, là đức. Đâu phải chờ khi chị Thục nhắc, Hòa hiểu điều này lắm chứ. Anh chị lớn, ai cũng thương Ba Mạ. Nhưng xa xôi, nên con trai, con gái chi, cũng thành con người ta. Hòa cám ơn Ba Mạ đã sinh ra Hòa. Hòa cám ơn Bố Mẹ đã sinh ra anh. Cám ơn những duyên, những số đã cho hai đứa gặp nhau. Nhớ những mùa đông, khi thấy tuyết, anh rủ Hòa đi dạo. Hòa giãy nãy, rằng còn phải dọn dẹp nhà cửa, rằng phải nhắc nhở mấy đứa nhỏ tắm rửa, rằng lạnh lẽo lắm. Anh năn nỉ, để nhà cửa bừa bộn một chút cũng được, mấy đứa nhỏ ở dơ một bữa chẳng sao, hai đứa mình, tay trong tay đi dạo tuyết, tình tứ lắm chứ. Rồi Hòa cứ hẹn lần, hẹn hồi. Mùa đông năm nay, đợt tuyết đầu tiên, Hoà nhất định sẽ “lãng mạn”, rủ anh đi dạo. Hòa sẽ nói nhỏ vào tai anh:
-Anh yêu, anh thương ơi, em muốn cải biên câu ca dao xưa, con rể mới thiệt mẹ cha đem về.