Thứ Năm, 7 tháng 1, 2021

Giai Thoại Văn Chương: Thi Phật Vương Duy


一生幾許傷心事, Nhất sinh kỷ hử thương tâm sự,
不向空門何處銷 ? Bất hướng không môn hà xứ tiêu?

Có nghĩa: 
Biết bao nhiêu chuyện thương tâm,
Chẳng nhờ cửa Phật biết trông nơi nào?!

Đó là hai câu thơ tiêu biểu cho Thi Phật Vương Duy trong bài thất ngôn tứ tuyệt Thán Bạch Phát 嘆白髮 của ông làm khi đã về già.

VƯƠNG DUY 王維(701-761)tự là Ma Cật, hiệu là Ma Cật Cư Sĩ, vốn người đất Kỳ Huyện Sơn Tây, sau cha ông thuyên về Bồ Châu (nay là thành phố Vĩnh Tế). Ông cùng với Mạnh Hạo Nhiên hình thành thi phái "Điền Viên Sơn Thủy". Người đời hợp xưng là VƯƠNG MẠNH 王孟. Ông còn là ông Tổ của Họa Phái Sơn Thủy Nam Tông chuyên vẽ tranh thủy mặc. Ông là nhà thơ, nhà hội họa đời Thịnh Đường, xưng hiệu là THI PHẬT, còn lưu lại trên 400 bài thơ đủ loại.
Vương Duy được sinh ra trong một gia đình qúy tộc, cha mất sớm nên chịu ảnh hưởng của mẹ vốn là một người tinh thông Phật học. Ngay cả tên DUY 維 và Tự là MA CẬT cũng từ DUY MA CẬT KINH 維摩詰經 của Phật giáo mà ra. Ông thông minh dĩnh ngộ, nổi tiếng là thần đồng. Năm Công nguyên 715, mới 15 tuổi, ông đã đến kinh thành để tìm chữ công danh. Ở đây ông đã viết 4 bài thất ngôn tứ tuyệt "Thiếu Niên hành" được truyền tụng và nổi tiếng khắp kinh thành.Bài thứ nhất như sau :

新豐美酒斗十千, Tân Phong mỹ tửu đẩu thập thiên,
咸陽遊俠多少年。 Hàm Dương du hiệp đa thiếu niên.
相逢意氣為君飲, Tương phùng ý khí vị quân ẩm,
系馬高樓垂柳邊。 Hệ mã cao lâu thùy liễu biên.

Có nghĩa:

Tân Phong rượu đáng muôn tiền,
Hàm Dương hiệp khách thiếu niên hào hùng.
Gặp nhau ý chí tương đồng,
Cùng say buộc ngựa lầu đông liễu thùy.

Bài thơ đã khắc họa nên hình ảnh rất trung thực của các thiếu niên hiệp khách ý chí tương đồng nên gặp nhau là cứ uống thoải mái buông thả đến say khước mới thôi, thật hào hùng và sảng khoái ! Vương Duy đã nổi tiếng với bài thơ tả thực nầy.
Ngoài thi từ ca phú ra, Vương còn tinh thông thư pháp, hội họa và âm nhạc nữa, lại rất đẹp trai, quả là tài mạo song toàn, nên kết giao với hầu hết những quan viên qúy tộc ở chốn kinh thành. Tiết Trùng Cửu năm 17 tuổi, Vương nhớ đến thân nhân đang ở quê nhà đã cảm khái mà viết nên bài "Cửu Nguyệt Cửu Nhật Ức Sơn Đông Huynh Đệ 九月九日憶山東兄弟" được lưu truyền thiên cổ:

獨在異鄉為異客, Độc tại dị hương vi dị khách,
每逢佳節倍思親。 Mỗi phùng giai tiết bội tư thân.
遙知兄弟登高處, Diêu tri huynh đệ đăng cao xứ,
遍插茱萸少一人。 Thiên tháp thu du thiểu nhất nhân!

Có nghĩa:

Xứ lạ quê người làm khách lạ,
Mỗi lần lễ tết nhớ khôn nguôi.
Anh em mùng chín đăng cao đó,
Đều giắt thù du thiếu một người !

Lục bát:

Đơn thân xứ lạ quê người,
Mỗi khi lễ tiết ngậm ngùi nhớ nhau.
Quê xa huynh đệ đăng cao,
Thù du giắt áo nghẹn ngào riêng ta!

Năm 721, Vương Duy 21 tuổi, ứng tuyển Trạng Nguyên. Tương truyền, lẽ ra Trạng Nguyên khoa đó đã dự trù là em trai của danh sĩ Trương Cửu Linh là Trương Cửu Cao, một tài tử đương thời, sẽ trúng tuyển, nhưng vì Kỳ Vương Lý Phạm đã đem bài tỳ bà khúc là "Úc Luân Bào" của Vương Duy cho Ngọc Chơn Công Chúa xem. Công chúa vừa mến mộ tài hoa vừa nễ tình ông em là Kỳ Vương, nên hết lòng tiến cử cho Vương Duy, vì thế mà Vương đậu ngay Trạng Nguyên khoa đó. Tuổi trẻ tài cao lại thanh vân đắc chí. Lãnh ngay chức Lễ Bộ Thái Lạc Thừa lên đến tận đỉnh vinh quang. Trong khoảng thời gian nầy, những văn thi sĩ ra vào Kỳ Vương phủ như Cao Thích, Lý Qui Niên... hay cùng nhau đàn hát bài ngũ ngôn tuyệt cú TƯƠNG TƯ 相思 của Vương Duy: 

紅豆生南國, Hồng đậu sanh Nam quốc,
春來發幾枝。 Xuân lai phát kỷ chi.
願君多採擷, Nguyện quân đa thái hiệt,
此物最相思。 Thử vật tối tương tư.

Có nghĩa:

Nước Nam có đậu hồng,
Xuân về trổ mấy bông,
Mong người bẻ lấy cất trong...
Áo Xiêm xao xuyến cho lòng nhớ thương !...

Kỳ Vương Lý Phạm 岐王李范 vốn là em trai của Đường Huyền Tông, ông thích kết giao với các văn thi sĩ đương thời. Một lần, khi đã uống say, ông yêu cầu các nghệ nhân biểu diễn "Khúc múa Sư Tử vàng"(Hoàng Sư Tử Vũ 黃獅子舞) là khúc múa chỉ dành riêng cho vua xem, các nghệ nhân bị ông bức ép quá phải biểu diễn khúc múa nầy. Sau đó, chuyện bị đổ bể, ngoài Kỳ Vương ra, tất cả những quan viên có tham gia buổi tiệc hôm đó đều bị tội liên can, và dĩ nhiên là trong đó có cả Vương Duy. 
Từ tột cùng của đỉnh vinh quang, trong chớp mắt đã rơi xuống tận cùng đáy cốc. Vương Duy bị đày đến Tế Châu đất Sơn Đông. Từ Trường An đến Sơn Đông đường xa diệu vợi, vừa đi vừa nghỉ, ngắm phong cảnh sơn thủy trên đường để giải sầu. Khi đi ngang qua Vận Thành của xứ Sơn Tây, cảm hứng vì cảnh trí nơi đây, ông đã làm một bài thơ ngũ ngôn "Đăng Hà Bắc Thành Lâu Tác 登河北城樓作" như sau :

井邑傅岩上, Tĩnh ấp phó nham thượng,
客亭雲霧間。 Khách đình vân vụ gian.
高城眺落日, Cao thành thiếu lạc nhật,
極浦映蒼山。 Cực phố ánh thương san.
岸火孤舟宿, Ngạn hỏa cô chu túc,
漁家夕鳥還。 Ngư gia tịch điểu hoàn.
寂寥天地暮, Tịch liêu thiên địc mộ,
心與廣川閑。 Tâm dữ quảng xuyên nhàn.

Có nghĩa:

Nhà trên vách đá cheo leo,
Khách đình quán dịch sương theo mây mù.
Thành cao ngắm nắng chiều thu,
Xa xa bến nước mịt mù núi xanh.
Thuyền côi leo lét mong manh,
Đèn chài chim tối bay nhanh về đàn.
Tịch liêu trời đất chiều tàn,
Lòng theo sông nước thanh nhàn chảy xuôi. 

Đây có thể xem là bài thơ mở đầu về chủ đề Sơn Thủy đầu tiên của ông trong một loạt thơ SƠN THỦY THI 山水詩 sau nầy. Nhà thơ Tô Đông Pha đời Tống đã khen rằng :" Thơ Sơn Thủy của Ma Cật, trong thơ có họa và trong họa có thơ". 
Sau khi đến Tế Châu, Vương Duy càng cảm thấy buồn bã cô độc hơn, vì công việc mới chẳng qua chỉ tương đương như một người coi kho mà thôi. Từ Trường An nơi phồn hoa đô hội, bị chuyển đến nơi khỉ ho cò gáy. Từ tột đỉnh vinh quang xuống thành một quan sai coi kho, bảo sao Vương nuốt cho trôi. Khó khăn lắm mới qua được 4 năm. Rời khỏi Tế Châu, lại bị thuyên chuyển đến Hà Nam nhậm chức quan ở Kỳ Thượng, và lại phải chịu đựng thêm 2 năm nữa. 

Năm 729, Vương Duy mới được về lại Trường An và bắt đầu học Phật pháp, đồng thời cũng kết giao được với bạn thơ tri kỷ Mạnh Hạo Nhiên. Hai người chính là hai nhân tố chính cho phái thơ "Điền Viên Sơn Thủy" sau nầy. Nhưng Mạnh vì đường công danh trắc trở, thi mãi không đậu, nên quyết định trở về Tương Dương. Lúc chia tay, Vương Duy đã làm bài thơ "Tống Biệt 送別" sau đây :

下馬飲君酒, Hạ mã ẩm quân tửu,
問君何所之 ? Vấn quân hà sở chi ?
君言不得意, Quân ngôn bất đắc ý,
歸卧南山陲。 Qui ngọa nam sơn thùy.
但去莫復問, Đản khứ mạc phục vấn,
白雲無盡時。 Bạch vân vô tận thì !

Có nghĩa:

Xuống ngựa uống rượu bạn,
Hỏi xem bạn đi đâu ?
Bạn rằng bất đắc chí,
Về Nam sơn ẩn cư.
Cứ đi thôi chẳng hỏi,
Mây trắng mãi du du!.

Bạn "Bất đắc chí" về ở ẩn là điều tốt rồi, tôi cũng "Bất đắc chí" mà chưa về ở ẩn được đây. Thôi thì bạn hãy cứ vui với cái thời gian quy ẩn của mình đi, vì nó sẽ thảnh thơi như mây trắng bay mãi ngàn đời... Không như công danh lợi lộc ở trên đời đến một lúc nào đó rồi cũng sẽ chẳng còn chi !

Sau khi đưa tiễn Mạnh Hạo Nhiên, hai năm sau Vương Duy lại gặp phải một đả kích lớn về tinh thần, người vợ đầu ấp tay gối và là thanh mai trúc mã với nhau từ nhỏ, qua đời vì khó sanh. Từ đó ông ở vậy luôn suốt ba mươi năm cho đến khi nhắm mắt lìa đời. Năm 733, Trương Cửu Linh đảm nhiệm chức Tể Tướng, đã tiến cử cho Vương Duy lãnh chức Hữu Thập Di. Nhưng chỉ ba năm sau, năm 736, Trương bị bãi chức, nên Vương cũng chịu họa lây. Năm 737, Vương Duy bị khiển đi sứ đất Hà Tây, tiếng là thay mặt triều đình duyệt xét và khao thưởng ba quân, nhưng thực chất là bị trục xuất đi khỏi Trường An.

Trên đường ra đại mạc tây bắc, trước cảnh sa mạc mênh mông, Vương Duy đã cảm khái viết nên bài thơ "Sứ Chí Tái Thượng 使至塞上" như sau :

單車欲問邊, Đơn xa dục vấn biên,
屬國過居延。 Thuộc quốc quá cư diên.
征蓬出漢塞, Chinh bồng xuất Hán tái,
歸雁入胡天。 Quy nhạn nhập Hồ thiên.
大漠孤煙直, Đại mạc cô yên trực,
長河落日圓。 Trường hà lạc nhựt viên.
蕭關逢候騎, Tiêu quan phùng hầu kỵ,
都護在燕然。 Đô Hộ tại Yên Nhiên !

Có nghĩa:

Xe đơn ra chốn ải biên,
Qua bao thuộc quốc đến miền hoang sơ.
Cỏ bồng vượt Hán cõi bờ,
Trên trời chim nhạn đất Hồ thẳng bay.
Khói trên sa mạc thẳng ngay,
Trường hà mặt nhựt tròn quay nắng chiều.
Tương phùng thiết kỵ ải Tiêu,
Báo tin Đô Hộ đã điều Yên Nhiên!

Bài thơ tả lại quang cảnh tiêu sơ hoang vắng của sa mạc mênh mông, với những làn khói lam chiều lên thẳng, và mặt trời đỏ rực to tròn trên sa mạc lúc nắng chiều, nêu bật được cái hùng tráng nhưng tịch liêu của vùng biên tái. Vì bài thơ nầy mà ông còn được người đời sau xếp vào hàng những nhà thơ biên tái của đời Đường.

Năm 740, Trương Cửu Linh ta thế, bạn thân Mạnh Hạo Nhiên lại qua đời. Liên tiếp hai ba đả kích, tinh thần và tâm lý của Vương Duy chịu ảnh hưởng và hướng về đạo Phật càng nhiều hơn. Cũng trong năm nầy trên đường xuất sai vì công vụ, khi đi ngang qua Tương Dương, Vương đã làm một bài thơ mang đậm ý thiền "Hán Giang Lâm Phiếm 漢江臨泛" sau đây: 

楚塞三湘接, Sở tái tam Tương tiếp,
荊門九派通。 Kinh Môn cửu phái thông.
江流天地外, Giang lưu thiên địa ngoại,
山色有無中。 Sơn sắc hữu vô trung.
郡邑浮前浦, Quận ấp phù tiền phố,
波瀾動遠空。 Ba lan động viễn không.
襄陽好風日, Tương Dương hảo phong nhựt,
留醉與山翁。 Lưu túy dữ sơn ông.

Có nghĩa:

Biên tái Sở, nối ba Tương,
Kinh môn chín khúc thông thương một dòng.
Đất trời sông chảy ngoài không,
Tựa không tựa có mênh mông núi đồi.
Thành trì như nổi bờ khơi,
Sóng xô lay động đất trời xa xa.
Tương Dương cảnh đẹp nắng tà,
Muốn cùng sơn lão la cà say sưa!

Bài thơ là một bức tranh thủy mặc tuyệt tác mang đậm ý thiền, nhất là hai câu "Giang lưu thiên địa ngoại, Sơn sắc hữu vô trung 江流天地外,山色有無中". Có nghĩa : Dòng sông như chảy ra ngoài cả trời đất, và núi non thì ẩn hiện như có như không. Thành trì thôn ấp như nổi như trôi trên bờ sóng, và cả trời nước cũng như đang lay động trước sóng nước mênh mông (Quận ấp phù tiền phố, Ba lan động viễn không 郡邑浮前浦,波瀾動遠空). Cảnh vật chung quanh như chìm như nổi như có như không, không tức thị sắc và sắc tức thị không !

Sau lần công vụ đó trở về, đường công danh của Vương Duy cũng nhạt dần, ông tậu một biệt thự dưới chân núi Chung Nam Sơn nằm ở ngoại ô của Trường An, để sống những ngày nửa đang làm quan và nửa như đang ở ẩn. Gởi lòng cho núi non sông nước, sống tiêu diêu tự tại. Ta hãy nghe ông kể trong bài Chung Nam Biệt Nghiệp 終南別業 sau đây: 

中歲頗好道, Trung tuế phả hiếu đạo,
晚家南山陲。 Vãn gia Nam sơn thùy.
興來每獨往, Hứng lai mỗi độc vãng,
勝事空自知。 Thắng sự không tự tri.
行到水窮處, Hành đáo thủy cùng xứ,
坐看雲起時。 Tọa khan vân khởi thì.
偶然值林叟, Ngẫu nhiên trực lâm tẩu,
談笑無還期。 Đàm tiếu vô hoàn kỳ!

Có nghĩa:

Trung niên đã mộ đạo rồi,
Tuổi già vời đến dưới đồi Nam Sơn.
Đi về tùy hứng tùy cơn,
Vui buồn cảnh đẹp chi sờn lòng ta.
Thủy cùng dạo bước gần xa,
Ngồi xem sương khói tạo ra mây trời.
Ngẫu nhiên gặp lão ông ngồi,
Cười vui thế sự thảnh thơi quên về! 

Hai câu "行到水窮處, 坐看雲起時 Hành đáo thủy cùng xứ, Tọa khan vân khởi thì " Cứ đi đi mãi đi đến nơi tận cùng của dòng nước, rồi ngồi ở đó mà xem mây trời tan hợp, để thấy rằng công danh lợi lộc rồi cũng sẽ có một ngày "sơn cùng thủy tận". Rốt cuộc cũng chỉ là sắc sắc không không như mây nổi tụ rồi lại tan, sao bằng cứ sống theo tự nhiên nhàn nhã như đám mây trắng phiêu diêu bay về tận cuối chân trời.
Những năm cuối đời Đường Huyền Tông, vua thì hôn mê, chính sự đen tối, gian thần chuyên quyền. Vương Duy càng nguội lạnh với quan trường, nên đến năm 744 Vương bán đi biệt thự Chung Nam Sơn mà mua lại Võng Xuyên Biệt Nghiệp lớn hơn ở Lam Điền ngoại ô của thành Trường An. Chính ở nơi nầy Vương Duy đã viết nên rất nhiều bài thơ nhàn nhã mang hơi hướm của thanh tịnh vô vi và cũng thể hiện thế giới sắc không thuần thành của nhà Phật. Ta hãy lần lượt đọc những bài thơ sau đây sẽ rõ :

空山不見人, Không sơn bất kiến nhân,
但聞人語響。 Đản văn nhân ngữ hưởng.
返影入深林, Phản ảnh nhập thâm lâm,
復照青苔上。 Phục chiếu thanh đài thượng.
《鹿柴》 "Lộc Trại"

Có nghĩa:
Núi không chẳng thấy ai,
Nhưng nghe tiếng vọng dài. 
Bóng nắng xuyên rừng thẳm,
Chiếu lên rêu xanh đài.

Cảnh núi non thật vắng lặng, chỉ nghe tiếng vọng mà không thấy người và chỉ có bóng nắng phản chiếu lên các bậc rêu xanh không dấu chân người lai vãng . Yên tĩnh như trong cõi vĩnh hằng ! Ta hãy đọc thêm bài "Điểu Minh Giản 鳥鳴澗" sau đây:

人閑桂花落, Nhân nhàn quế hoa lạc,
夜靜春山空。 Dạ tịnh xuân sơn không.
月出驚山鳥, Nguyệt xuất kinh sơn điểu,
時鳴春澗中。 Thời minh xuân giản trung.

Có nghĩa:
Người nhàn hoa quế rụng,
Đêm lặng núi xuân không.
Trăng mọc chim choàng tỉnh,
Kêu giữa núi khe xuân!

Lục bát:
Nhẹ nhàng hoa quế rụng rơi,
Núi xuân vắng lặng khắp nơi im lìm.
Giật mình trăng mọc tiếng chim,
Oang oang suối vắng lặng im như tờ!

Cảnh đêm yên tĩnh đến độ nghe cả được tiếng hoa quế rụng trong núi xuân vắng vẻ, và ánh trăng dịu dàng mọc lên cũng làm giật mình những con chim núi đang ngủ gà ngủ gật bay vội lên kêu oang oác làm vang động khe núi trong đêm.

Ta thấy trong thơ Vương Duy hay có chữ KHÔNG 空, như "KHÔNG sơn bất kiến nhân", hay "Dạ tĩnh xuân sơn KHÔNG"... KHÔNG là trống không, không có gì cả, là VÔ 無, Vô dục nên vô cầu, vô hận nên vô sầu... con người trở thành một phần tử của thiên nhiên, và vì tâm KHÔNG nên vạn vật cũng KHÔNG!

Những tưởng có thể sống yên thân nhàn tản ở Võng Xuyên Biệt nghiệp suốt đời, nào ngờ năm 755, khi An Lộc Sơn làm loạn ông không kịp chạy theo vua ra đất Thục; bị kẹt lại ở Trường An nên bị ép làm quan cho loạn tướng An Lộc Sơn. Đến khi An Lộc Sơn thất bại, ông bị khép tội phản loạn, may mà nhờ em trai giúp vua dẹp loạn có công nên mới xin cho khỏi tội. Trải qua cơn biến động lớn nầy, lòng Vương Duy lại càng nguội lạnh hơn xưa; ông nhìn nhân sinh bằng ánh mắt vô thường của nhà Phật, và một lòng một dạ hướng về cửa không, như trong bài "Thán bạch Phát 嘆白髮" sau đây:

宿昔朱顏成暮齒, Túc tích chu nhan thành mộ xỉ,
須臾白髮變垂髫。 Tu du bạch phát biến thùy thiều.
一生幾許傷心事, Nhất sanh kỷ hử thương tâm sự,
不向空門何處銷。 Bất hướng không môn hà xứ tiêu?!

Có nghĩa:
Má hồng răng trắng xưa đâu,
Chốc đà lốm đốm mái đầu hoa râm.
Biết bao nhiêu chuyện thương tâm,
Chẳng nhờ cửa Phật biết trông nơi nào?! 

Đó là lý do vì sao Thi Phật Vương Duy một lòng hướng Phật lúc tuổi đã già. Chỉ có cửa Phật mới giải thoát được những ẩn ức của lòng trần, chỉ có giọt nước cành dương mới tưới tắt được mọi đường trần duyên. 

Sau loạn An Lộc Sơn, nhà Đường cũng bắt đầu suy vi, nhất là các vùng biên giới tây vực, loạn quân nổi dậy khắp nơi. Triều đình không ngớt trưng binh và tìm tướng giỏi trấn áp các vùng biên tái. Bài thơ cuối cùng hôm nay cũng là bài thơ đưa tiễn người đi ra vùng giới tuyến xa xôi "Tống Nguyên Nhị Sứ An Tây 送元二使安西", bài nầy còn có tên là "Vị Thành Khúc 渭城曲":

渭城朝雨浥輕塵, Vị thành triêu vũ ấp khinh trần,
客舍青青柳色新。 Khách xá thanh thanh liễu sắc tân.
勸君更盡一杯酒, Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu,
西出陽關無故人。 Tây xuất Dương Quan vô cố nhân.

Có nghĩa:

Vị Thành mưa sớm bụi đường
Xanh xanh quán khách liễu dương buông dài.
Khuyên người hãy cạn chén say,
Dương Quan nơi ấy chẳng ai bạn cùng! 

"Tây xuất Dương Quan vô cố nhân" như là một lời trăn trối, tiếng là tiễn bạn mà cũng là để tiễn mình, vì sau lần tiễn biệt nầy rồi, e rằng sẽ không còn có ngày gặp lại nữa : Một người đi chinh chiến và một người thì sức yếu tuổi già, biết còn có thời gian và không gian để gặp lại hay chăng ?! Vì...

Năm Công Nguyên 761, Thi Phật Vương Duy về cõi niết bàn khi vừa đúng 60 tuổi, cũng là tuổi thọ của thời bấy giờ. Ông còn lưu lại tên 400 bài thơ gồm đủ các thể loại, là một trong những thi nhân sáng tác mạnh mẽ nhất của buổi Thịnh Đường.

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức



Thứ Tư, 6 tháng 1, 2021

Tháng Giêng Và Anh - Ngô Thụy Miên - Vũ Khanh


Sáng Tác: Ngô Thụy Miên
Ca Sĩ: Vũ Khanh
Thực Hiện: Nguyễn Thế Bình


Xuân Về Bên Mái Trường Xưa

Xuân Về Bên Mái Trường Xưa

CHÚC XUÂN HẠNH PHÚC THẦY TRÒ CÙNG VUI

XUÂN về bên mái trường yêu
VỀ nghe những tiếng chim reo đón mừng
BÊN đời xuân đến thong dong
MÁI trường xưa giọt nắng hồng nghiêng chao
TRƯỜNG xưa kỷ niệm ngọt ngào
XƯA là mái ấm xôn xao tiếng trò

CHÚC bừng lên đẹp ước mơ
XUÂN về thịnh vượng gió lùa thênh thang
HẠNH hòa lòng trổ mai vàng
PHÚC tràn mái ấm hân hoan nụ cười
THẦY cô bạn hữu cùng vui
TRÒ xa gần đẹp bước đời ung dung
CÙNG xuân mở cửa cõi lòng
VUI nghiêng tiếng hát nối trùng khơi xa
 Trầm Vân

Tuổi Mộng Mơ


Ngày nào mới biết em,
Em còn là cô bé,
Chơi cát bên góc nhà.
Vậy mà mấy năm sau,
Gặp em anh ngỡ ngàn,
Nhìn em, anh ngại ngùng
Rồi như chàng thư sinh
Gửi tặng em món quà,
Ép vào giữa trang sách 
Những cụm bông hoa vàng
Hoa vàng Mimosa  

Rồi chờ đợi 
Rồi đợi chờ 
Rồi nhận được thư em.
Thư gửi, giấy học trò,
Nét chữ ngây thơ qúa 

Anh à, nhận thư anh,
Ngạc nhiên,em mừng lắm.
Hoa anh gửi khô mất,
Anh có biết vậy không?
Đưa thư cho me đọc,
Me bảo, con lớn rồi 

Rồi mình lại gặp nhau,
Anh nhìn em, say đắm 
Nhìn đôi má ửng hồng,
Nhìn đôi môi mọng ước,
Anh bảo nhỏ em rằng,
Anh mơ ước ngày nào
Anh được ngồi trang điểm,
Cho đôi má bờ môi,
Cho những ngày thơ mộng,
Cho ngày tháng mộng mơ 

Hồ Chung Tú


Đi Mãi


Đi đi mãi con đường xa vạn dặm
Mang theo niềm lưu luyến tháng ngày qua
Đâu bóng dừa cùng nón lá thiết tha?
Tà áo trắng và cánh diều trong nắng

Đi đi mãi bước chân trần cay đắng
Đá trên đường bén cắt gót chân không
Sỏi lao xao những giọt máu tươi hồng
Tim chai đá nghe tiếng cười vang vỡ

Đi đi mãi với niềm đau trăn trở
Người còn đâu và ta có còn đây?
Tháng ngày qua lấp hết nét thơ ngây
Còn chi nữa mà chờ mong ao ước?

Đi đi mãi những con đường khép bước
Lối nào về mái ấm lửa hồng xưa?
Mẹ có còn dõi mắt dưới cơn mưa
Chờ mây tạnh đón con về trong nắng?

Đi đi mãi đời chỉ là chốn vắng
Chẳng còn gì tươi đẹp nữa mà mong
Hãy thắp hương chôn kín vết thương lòng
Hãy quên hết dù ngàn lần vẫn nhớ

Đi đi mãi chẳng bao giờ dừng lại
Bóng bên đường xin tỏa chút từ bi
Nắng trên cao xin nhỏ giọt nhu mì
Và ngọn gió xin làm tan nỗi nhớ

Cung Thị Lan

Ly Café Đậm Đặc

 

Anh cắt điếu thuốc làm hai 
mỗi lần hút
anh hút một nửa-không còn một chút tàn 

Anh chơi đàn thật hay
nhạc cổ điển
Mozart,Betthowen...

Trong căn phòng độc thân
một đêm Đông Đà Lạt
tôi ngồi nghe anh đàn
tiếng đàn thật là hay !!!

Đêm Đông lạnh
anh em tôi không lạnh
ấm -ấm tình bạn thân

Anh sống độc thân
độc thân đúng nghĩa
không Mẹ không Cha

Tôi hút Havva-Tampa
thả hồn theo tiếng đàn
du dương trầm bỗng
đêm Đông năm ấy
hay thật là hay

Đêm Đông năm nay
đươc tin anh tử trận!!!
tôi mất người bạn thân

Tiếng đàn đêm Đông ấy
văng vẳn đâu đây!!....

Hoàng Long
Đêm Đông 1980

Mùa Xuân Đọc Thơ Tiền Chiến

 NGÀY XUÂN ĐỌC THƠ TIỀN CHIẾN


                        Inline image

                                                   Tôi muốn tắt nắng đi,
                                                                                   Cho màu đừng nhạt mất,
                                                                                   Tôi muốn buộc gió lại,
                                                                                   Cho hương đừng bay đi !
                                                                                                          Xuân Diệu

        NGÀY XUÂN ĐỌC THƠ TIỀN CHIẾN là chỉ nói cho "xôm tụ", cho vui thôi, chẳng lẽ đọc Thơ Đường mãi, thay đổi không khí, ta đọc thơ Thời Tiền Chiến nhé. Nhưng nói là đọc thơ Thời Tiền Chiến cho oai thôi, chớ chỉ điểm qua vài bài có vẻ Xuân và hoa Đào hoa Mai của Nguyễn Bính và Jean Leiba mà thôi !

       Nào, bạn đã thấy Xuân về như thế nào chưa ? Nếu chưa, hãy nghe Nguyễn Bính nói đây :

                              Đã thấy xuân về với gió đông,
                              Với trên màu má gái chưa chồng.
                              Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm,
                              Ngước mắt nhìn trời đôi mắt trong !

                           Inline image

       Gợi cảm và làm xao xuyến rạo rực lòng người biết bao với "Gió đông, với màu má gái chưa chồng, và với đôi mắt trong của nàng thiếu nữ !", Mùa xuân như hiển hiện ở màu má màu mắt của cô Xuân nữ tràn đầy nhựa sống của lứa tuổi hoa niên. Mùa xuân mang lại sức sống mới cho tuổi trẻ, mùa xuân cũng mang lại những kỷ niệm khó quên của tuổi xuân thì, khơi lại tình tự mộng mơ của quá khứ làm não nuột lòng người :

                                   Xuân đã đem mong nhớ trở về,
                                   Lòng cô lái ở bến sông kia.
                                   Cô hồi tưởng lại ba xuân trước,
                                   Trên bến cùng ai đã hẹn thề !...

                                  Nhưng rồi ... Người khách tình quân ấy,
                                  Đi biệt chẳng về với nước sông,
                                  Đã mấy lần xuân trôi... trôi mãi ...
                                  Mấy lần cô lái mõi mòn trông !
                                                                 ( Cô Lái Đò )

             Inline image

 
       Não nùng thay, đáng thương thay cho tâm sự của "nàng xuân" trên bến nước ! Thơ Nguyễn Bính thường đi vào lòng ta bằng những hình ảnh thật nhẹ nhàng gợi cảm, tế nhị mà làm xao xuyến lòng người ! Ta hãy nghe ông ví von :

                                       Ai đi chắp lại cánh hoa rơi,
                                       Bắt bóng chim xa tận cuối trời.
                                       Có lẽ ngày mai đò ngược sớm,
                                       Thôi nàng ở lại để ... quên tôi !
                                                               ( Thôi Nàng Ở Lại )

       Rất nhẹ nhàng nhưng cũng có pha chút gì chua xót ! Chua xót như những cánh hoa đào rơi rụng :

                                      Hoa đào từng cánh rơi như tưới,
                                      Xuống mặt sân rêu những giọt buồn.
                                      Như mảnh tim tình tan vỡ ấy,
                                      Nhện già giăng mắc sợi tơ đơn !....

                      Inline image

      Cuối năm, đọc những câu thơ tình của Nguyễn Bính làm cho lòng ta  chùn xuống, xót cho từng cánh hoa đào rơi như những mảnh tim tình tan vỡ, khéo mà ví von làm thương cảm lòng người ! Sau này, khi lưu lạc vào Nam, lúc xuân về Tết đến, Nguyễn Bính vẫn khoắc khoải day dức băn khoăn tự nhủ : 

                                   Xuân này xứ Bắc ra sao nhỉ,
                                   Đào có hây hây ? Cúc có vàng ?
                                   Câu đối có còn ôm đỏ cột, 
                                   Nêu dài tiếng khánh có khua vang ?

  ... và não lòng người làm sao với :

                                  Em ra bến nước trông về Bắc
                                 Chỉ thấy mây trôi chẳng thấy làng !

                            Inline image
                                     Chỉ thấy mây trôi chẳng thấy làng !

        Nguyễn Bính xưng " em " chắc có lẽ thi sĩ đang nhớ đến người chị mà tác giả thường hay nhắc trong thơ :

                         ... Cho đến một hôm em mới nhớ:
                            "Lòng người...." Chị Trúc nhớ hay quên?

                                                                   ( Khăn Hồng )

    ... Chị Trúc là chị TRÚC ĐƯỜNG, một người chị trong thơ, trong mơ, mà Nguyễn Bính không bao giờ với tới, cũng không dám với tới, chỉ nhớ, chỉ mơ rồi ... thơ thẩn, thế thôi ! Mà như thế lại nên thơ hơn, da diết hơn và gợi cảm mơ mộng hơn nhiều ! Và nhờ thế mà ta mới có được những vầng thơ tuyệt diệu của "Lỡ Bước Sang Ngang". Sau này khi lưu lạc giang hồ, trong "Xuân tha hương" và "Xuân vẫn tha hương", Nguyễn Bính đều gửi tâm sự về quê nhà, kể lể nỗi niềm cùng chị Trúc:

                                       Tết này chưa chắc em về được 
                                       Em gửi về đây một tấm lòng 
                                       Ôi chị một em, em một chị
                                      Trời làm xa cách mấy con sông ...
                 và ...
                                      Rượu say nhớ chị hồi con gái 
                                      Thương chị từ khi chị lấy chồng...
           Giờ đây thì ...
                                     Đêm ba mươi Tết quê người cũng 
                                     Tiếng pháo giao thừa dậy tứ phương 
                                       .................................

                                    Đất khách tình dâng nhòa mắt lệ
 
                                    Ôi nhà, ôi chị.. ôi quê hương !

        Khá thương thay tâm sự của kẻ tha hương và cũng ngạc nhiên thay, ngạc nhiên đến thú vị !... Ai đời nhớ quê hương, nhớ nhà lại đi kèm với "nhớ Chị", hẵn người Chị nầy phải vô cùng đặc biệt, đặc biệt đến trở thành ... tự nhiên trong thơ của Nguyễn Bính !


        Hoa Đào là biểu tượng cho hoa xuân ngoài Đất Bắc, còn hoa Mai là biểu tượng của hoa xuân Miền Nam. Ta thường nghe nói Đào Bắc Mai Nam, nhưng hoa mai lại thích ứng cả 2 miền Nam Bắc, ta đã từng biết qua  2 câu thơ của nhà sư Tề Kỷ ở cuối đời Đường đầu đời Tống là :

                            Tiền thôn thâm tuyết lý,    前村深雪裡,
                            Tạc dạ sổ chi khai.            昨夜數枝開。
        Có nghĩa :
                            Đêm trước hôm qua trong tuyết lạnh,
                            Xóm trên lấm tấm mấy cành mai.

                  Inline image

      Bây giờ, thì ta hãy điểm qua bài thơ Mai Rụng của Jean Leiba thời Tiến Chiến nhé :

                              Nụ hồng rải lối, liễu tơ phai, 
                              Vườn cũ rêu lan, cỏ mọc dài, 
                              Bên gốc mai già, xuân vắng vẻ, 
                              Âu sầu thiếu nữ khóc hoa mai...

     " Thiếu nữ khóc hoa mai " như khóc cho thân phận của mình, khóc vì nuối tiếc cho ngày vui đã qua mau, nuối tiếc cho những ngày xuân mà tim hồng rộn rã, khi :

                              Tường đông, xuân ấy gặp tình lang, 
                              Chàng nhủ cùng em nỗi nhớ thương. 
                              Ngơ ngẩn em về, sầu chẳng mối: 
                              Ngây thơ, em mới biết yêu chàng.

       Ôi, đẹp biết bao khi lòng người xuân nữ vừa chớm hương yêu trong lứa tuổi xuân thì !... Nàng  e ngại thẹn thùng bắt đầu làm đẹp, làm dáng và thấy mùa xuân càng đẹp hơn lên khi con tim yêu đang lần đầu tiên rạo rực :

                             Yêu chàng, em cố chuốt hình dong, 
                             Tô cặp môi son, điểm má hồng. 
                             Em thấy xuân nay hoa nở đẹp, 
                             Cảm tình Thanh đế, tạ đông phong !

 

      Hạnh phúc biết bao trong mùa xuân..." hoa nở đẹp ". Thực ra thì xuân nào mà hoa chẳng nở đẹp ?! Nhưng khi đang ngây ngất trong men yêu thì đâu có xuân nào đẹp hơn được nữa ! Nàng Cảm ơn Chúa Xuân, cảm ơn gió Xuân ( Cảm tình Thanh đế, tạ đông phong !), cảm ơn hết những gì mà mùa xuân mang đến ... Nhưng rồi, ngày vui qua mau, mùa xuân cũng chóng tàn, khi :

                             Hoa tặng vừa tàn bông thược dược, 
                            Tìm chàng bỗng vắng, bóng chàng xa...

   ... Và từ đó, cuối xuân sang hạ, hết thu lại đông, nàng sống trong âm thầm chờ đợi mõi mòn, mong ngóng bóng ai kia ở cuối nẽo chân trời ...  

                             Xuân tàn, hạ cỗi, cảnh thu sầu, 
                             Mờ mịt hơi đông ám ngọn lau. 
                             Xuân tới cành đào hoa lại nở, 
                             Mong chàng mỏi mắt, thấy chàng đâu ?! 

       Ủ rủ não nề như người cô phụ trông chồng "Thẩn thờ trâm lệch lỏng vòng lưng eo" đến đổi không còn nhận ra mình trong gương nữa ...

                              Sầu đối gương loan, bóng lạ người, 
                              Chàng không lại nữa, đẹp cùng ai? 
                              Bơ phờ tóc rối, vành khăn lệch, 
                              Ủ rũ hoa gầy, má đỏ phai !
  

                            Inline image

      Qủa là thương cảm cho nàng thiếu nữ khi đã vuột khỏi tầm tay, đánh mất một tình yêu nồng thắm của tuổi xuân thì. Xuân chửa đi qua mà tình yêu đà biền biệt, nên mơ hồ nghi ngại là nàng xuân vẫn còn lẫn khuất đâu đây :

                             Xuân hết, đào phai, lý rụng rồi, 
                             Hoa đình tịch mịch vẻ xuân phai. 
                             Tơi bời ong bướm bay qua ngõ, 
                             Những tưởng màu xuân ở xóm ngoài.
  
       
       Đọc những câu thơ trên lại làm cho ta nhớ đến 2 câu cuối trong bài XUÂN TÌNH của Vương Giá đời Đường :

                        蜂蝶紛紛過牆去,  Phong điệp phân phân qúa tường khứ,
                        卻疑春色在鄰家。  Khước nghi xuân sắc tại lân gia.
Có nghĩa :
                 Lũ lượt bướm ong bay hết qua tường hàng xóm, nên ...  
                 Ngờ rằng hương sắc của mùa xuân còn ở nhà kế bên !!!

                                 Vượt tường ong bướm xôn xao,
                             Ngờ rằng xuân sắc phía rào bên kia.
 
                        Inline image
                                    Tơi bời ong bướm bay qua ngõ, 
                                       Những tưởng màu xuân ở xóm ngoài.
  

       Tình yêu bao giờ cũng là đề tài muôn thuở của nhân sinh, là đề tài không bao giờ cạn kiệt của văn nhân thi sĩ. Tình yêu mang lại sức sống yêu đời, tình yêu nhuộm hồng cuộc sống nhân sinh, mang lại sức sống vui tươi cho mọi lứa tuổi, mọi lứa đôi ... Nhưng tình yêu cũng mang lại sầu thương buồn thảm, đố kỵ ghét ghen, ưu phiền chán nản, làm nhục chí anh hùng, khiến cho bao người không còn thiết tha với cuộc sống, muốn buông xuôi tất cả như Jean Leiba lúc cuối đời, mặc dù ông chỉ mới có 29 tuổi đầu mà thôi :

                                Phù thế đã nhiều duyên nghiệp quá !
                                Lệ lòng mong cạn chốn am không.
                                Cửa thiền một đóng duyên trần dứt,
                                Quên hết người quen chốn bụi hồng !

       Xin được khép lại bài viết về mùa xuân nhưng không được vui như xuân nầy !


                                                                                                         Đỗ Chiêu Đức


Những Dấu Chấm Câu


Có một người chẳng may đánh mất dấu phẩy. Anh ta trở nên sợ những câu phức tạp và chỉ tìm những câu đơn giản. Đằng sau những câu đơn giản là những ý nghĩ đơn giản. 
Sau đó, không may, anh ta lại làm mất dấu chấm than. Anh bắt đầu nói khe khẽ, đều đều, không ngữ điệu. Anh không cảm thán, không xuýt xoa. Không gì có thể làm anh ta sung sướng, mừng rỡ hay phẫn nộ nữa cả. Đằng sau đó là sụ thờ ơ đối với mọi chuyện.

Kế đó, anh ta đánh mất dấu chấm hỏi và chẳng bao giờ hỏi ai điều gì nữa. Mọi sự kiện xảy ra ở đâu, dù trong vũ trụ hay trên mặt đất hay ngay trong nhà mình mà anh ta không biết, anh ta đánh mất khả năng học hỏi. Đằng sau đó là sự thiếu quan tâm với mọi điều.

Một vài tháng sau, anh ta đánh mất dấu hai chấm. Từ đó anh ta không liệt kê được, không còn giải thích được hành vi của mình nữa. Anh ta đổ lỗi cho tất cả, trừ chính mình.

Cứ mất dần các dấu, cuối cùng anh ta chỉ còn lại dấu ngoặc kép mà thôi. Anh ta không phát biểu được một ý kiến nào của riêng mình nữa, lúc nào cũng chỉ trích dẫn lời của người khác. Thế là anh ta hoàn toàn quên mất cách tư duy.

Cứ như vậy, anh ta đi đến dấu chấm hết.

Thiếu những dấu chấm câu trong một bài văn, có thể bạn chỉ bị điểm thấp vì bài văn của bạn mất ý nghĩa, nhưng mất những dấu chấm câu trong cuộc đời, tuy không ai chấm điểm nhưng cuộc đời bạn cũng mất ý nghĩa như vậy.

Mong bạn hãy giữ gìn những dấu chấm câu của mình, bạn nhé!

Hãn Nguyễn Sưu tầm

Thứ Ba, 5 tháng 1, 2021

Mùa Xuân Trên Đỉnh Bình Yên - Nhac Từ Công Phụng - Tiếng Hát Thanh Mai



Nhac Từ Công Phụng
Tiếng Hát Thanh Mai
Thực Hiện: Phan Dam

Bản Ngã



Dẫu tuổi có già vẫn mộng mơ
Chữ tình muôn thuở thật vô bờ
Gặp tài mấy kẻ không ham hố
Thấy sắc bao người chẳng ngẩn ngơ
Suy gẫm nhân gian nầy vốn trọc
Xét ra nẻo đạo quá xa mờ
Thôi thì hãy cứ tuỳ duyên vậy
Lo nghĩ chi nhiều vấy cả thơ. 

Quên Đi