Hiển thị các bài đăng có nhãn Vi Ứng Vật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vi Ứng Vật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 2 tháng 5, 2024

Cửu Nhật (Kim Triêu Bả Tửu Phục Trù Trướng) 九日 (今朝把酒復惆悵) - Vi Ứng Vật (Trung Đường)

 

Vi Ứng Vật 韋應物 (737-792) tự Nghĩa Bác 義博, người Đỗ Lăng, Kinh Triệu, lúc đầu làm Tam vệ lang cho Đường Huyền Tông (712-755), về sau chịu khó đọc sách, đến đời Đức Tông (780-804) làm quan thứ sử Tô Châu có nhiều thiện chính. Ông tính cao khiết, thích đốt hương ngồi một mình. Ông cùng Lưu Trường Khanh được người đương thời gọi là 2 thi nhân đại tự nhiên. Thi tập của ông gồm 10 quyển.

Nguyên bản Dịch âm

九日 (今朝把酒復惆悵) Cửu Nhật (Kim Triêu Bả Tửu Phục Trù Trướng)

今朝把酒復惆悵 Kim triêu bả tửu phục trù trướng,
憶在杜陵田舍時 Ức tại Đỗ Lăng điền xá thì.
明年九日知何處 Minh niên cửu nhật tri hà xứ,
世難還家未有期 Thế nạn hoàn gia vị hữu kỳ.

Chú giải:

Đỗ Lăng: Đất ở đông nam thành Trường An, quê quán của tác giả.
Thế nạn: Năm 783 đời Đường Đức Tông, quan tiết độ sứ Kính Nguyên là Diêu
Lệnh Ngôn làm phản, cử binh đánh chiếm Trường An. Vua phải chạy sang
Phụng Thiên cách Trường An hơn trăm dặm lánh nạn. Tác giả lúc này đang làm
thứ sử Trừ Châu (nay là huyện Trừ, tỉnh An Huy) và làm bài thơ này.

Dịch nghĩa:

Mồng chín (Sáng nay nâng chén lại thấy sầu)
Sáng nay nâng chén rượu lại thấy sầu,
Nhớ khi xưa ở điền xá Đỗ Lăng.
Ngày này năm sau không biết sẽ ở nơi nào,
Thời loạn chưa biết ngày nào mới về nhà.
(Cửu nhật: tiết trùng cửu, hay trùng dương, ngày 9-9).

Dịch thơ:

Mồng Chín (Sáng Nay Nâng Chén Lại Thấy Sầu)

Sáng nay nâng chén lại thấy sầu,
Chẳng nhớ Đỗ lăng điền xá sao!
Năm sau tháng chín nơi nào ở?
Thời loạn hồi hương chả chắc đâu.

Lời bàn:

Thơ của Vi Ứng Vật hầu hết đều giản dị sáng sủa. Ngay cả thất ngôn tứ tuyệt ông cũng không dùng điển (thường thì với số chữ rất hạn chế của thơ thất ngôn tứ tuyệt, các tác giả khác hay dùng điển để tiết kiệm lời). Với bài thơ này ông gói ghém tâm sự của mình trong 28 chữ rất bình dị. Tâm sự của ông như sau: đã lâu lắm mình chưa về thăm quê cũ ở Đỗ Lăng. Hôm nay là ngày trùng cửu (mùng 9 tháng 9), mình định về nhưng vì có giặc nên về không được. Thôi chờ đến ngày trùng cửu sang năm sẽ về… Nhưng trong thời loạn ly thì tính trước sao được? Vậy thì sang năm cũng chưa chắc về được… Nâng chén rượu mà uống chẳng vô…
Rất mộc mạc. Rất tự nhiên. Rất cảm động.

Tái bút:

Tâm trạng của Vi Ứng Vật giống tâm trạng của những Việt kiều cao niên đang sống lưu vong khắp thế giới: Năm nào tới ngày 30 tháng Tư cũng buồn thối ruột; đã gần nửa thế kỷ không dám nghĩ tới việc về sống tại quê hương; năm nay định về nhưng tình hình vẫn chưa ổn; thôi chờ sang năm xem sao. Nhưng
sang năm chắc gì tình hình sẽ ổn và chắc gì mình còn sống. Nâng chén rượu mà nuốt không trôi.

Riêng ÔC, vừa quá tuổi 90 được 1 tháng (sinh ngày 29-3-1934), cảm kích làm thêm 6 câu lục bát này:

Tình Non Nước 

Ai làm Non Nước chia ly,
Để Non xa Nước Nước thì quên Non.
Nước Non phận chẳng vuông tròn,
Non côi xót Nước Nước còn chênh vênh.
Rời Non Nước đổ xuống ghềnh,
Non ôm hận Nước Nước đành phụ Non.

Con Cò
***
Các Bài Dịch Khác:

Mồng Chín

Âu sầu chuốc chén lúc ban mai,
Nhớ Đỗ Lăng nhà đất chốn này.
Mồng chín năm sau đâu chỗ ngụ,
Về quê loạn lạc biết đâu ngày.

Mỹ Ngọc
Apr. 20/2024.
***
Trùng Dương

Sáng nay nâng chén buồn tê tái
Nhà cũ Đỗ Lăng cách biệt lâu
Mồng chín sang năm đâu chốn nghỉ
Về quê thời loạn biết khi nào?

Lộc Bắc
***
Nâng Chén Sầu!

Nâng chén sầu lòng sáng sớm nay
Đỗ Lăng quê cũ nhớ đong đầy
Năm sau mùng chín nơi nào rõ?
Loạn lạc hồi hương khó định ngày!

Kim Oanh
Melb. 30.4.2024
***

***
Ngày Trùng Cửu

Nhấp rượu hôm nay sầu có bay?
Đỗ Lăng vời vợi đã bao ngày
Về đâu Trùng Cửu mùa thu tới!
Loạn lạc nhớ nhà… há hẹn mai

Kiều Mộng Hà
Austin.4.21.24
***
Ngày Mồng Chín

Lòng buồn nâng rượu dạ bùi ngùi
Nhớ cảnh Đỗ Lăng xa hắt hiu
Trùng Cửu năm sau lưu lạc chốn?
Mơ về quê cũ ngập niềm vui

Thanh Vân
***
Bài Cảm Tác:

Một sống, hai chết tìm tự do
Xứ người tị nạn vẫn sầu lo
Dù nhà yên ổn, sinh hoạt tốt
Đất nước quê hương vẫn quanh co

Đồ Cóc

***
Cửu Nhật, Cửu Nguyệt, hay tiết Trùng Cửu, Trùng Dương là một huyền thoại của Trung Hoa từ đời Hậu Hán : Hoàng Cảnh học phép tiên với Phí Trường Phòng trong nhiều năm. Một hôm, Phòng nói với Cảnh “ ngày 9 tháng 9 sắp tới, gia đình nhà ngươi phải gặp tai nạn. Vậy hôm đó, ngươi nên đem cả nhà lên núi cao, mang cành thù du, uống rượu hoa cúc, tối mới trở về.” Cảnh theo lời thầy, khi về nhà thì thấy gà, vịt, heo, chó đều chết cả. Từ đó người Hoa có lệ, vào tiết Trùng Dương thì lên núi tránh nạn.
Đường Thi có nhiều bài về đề tài này, như Cửu Nhật, Cửu Nguyệt Ức Sơn Đông Huynh Đệ của Vương Duy, Cửu Nhật của Đỗ Phủ, và bài của Vi Ứng Vật kỳ này. Anh Giám cho rằng bài thơ của Vi không dính dáng gì tới loạn lạc thời Đường Đức Tông. Thật ra, thời đó, từ năm 781 tới 785, có loạn Tứ Trấn, mà loạn của Lý Hy Liệt là dữ dội nhất. Tôi nghĩ, Vi làm bài thơ vào tiết Trùng Dương, chỉ để than thân mà thôi, không hẳn có ý ám chỉ loạn của Lý, vì còn loạn của 3 trấn nữa, tất cả trong vòng 4 năm.
Lời bàn của ÔC làm BS vô cùng cảm khái… thôi thì anh em mình sẽ như cụ Tôn Thất Thuyết, một ngày nào đó:

Nhất đán hương hồn quy Tượng Quận,
Bách niên tàn cốt ký Long Châu.

Đây là bản dịch của BS:

Ngày Mùng Chín

Sáng nay uống rượu lại thấy sầu,
Nhà ruộng Đỗ Lăng nhớ đã lâu,
Năm sau ngày chín lưu lạc nữa,
Thời loạn, ngày về ai biết đâu.

Bát Sách.
(ngày 22/04/2024)

***
Nguyên tác:        Phiên âm:
九日-韋應物       Cửu Nhật – Vi Ứng Vật

今朝把酒復惆悵 Kim triêu bả tửu phục trù trướng,
憶在杜陵田舍時 Ức tại Đỗ Lăng điền xá thì.
明年九日知何處 Minh niên cửu nhật tri hà xứ,
世難還家未有期 Thế nạn hoàn gia vị hữu kỳ.

 Vi Tô Châu Tập - Đường - Vi Ứng Vật 韋蘇州集-唐-韋應物
 Vạn Thủ Đường Nhân Tuyệt Cú - Tống - Hồng Mại 萬首唐人絕句-宋-
洪邁
 Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石倉歷代
詩選-明-曹學佺
 Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐
詩-清-聖祖玄燁

Ghi chú:

Cửu nhật: ngày 9 tháng 9 còn gọi là ngày Trùng Cửu hay Tết Trùng Dương.
Hai số 9 (cửu cửu) ý nghĩa sống lâu. Vào ngày này người Trung Hoa xưa thường lên nơi cao, mang heo rượu cúc và lá hoặc hột thù du để được may mắn.
Đỗ Lăng: từ trước năm 65, thời Tây Hán, huyện Đỗ Lăng ở Tây An, Thiểm Tây, quê hương của thi nhân
thế nạn: Vi Ứng Vật là quan nhà Đường. Lúc trẻ, ông từng làm thứ sử Giang Châu, rồi Tô Châu nên được gọi Vi Giang Châu và Vi Tô Châu. Đang làm thứ sử Trừ Châu, An Huy, năm 783 ông viết bài thơ trong quan điểm của triều đình, có lẽ khác suy nghĩ của người dân. Vì chiến tranh, vua phải tạm thời di tản, bỏ Trường An chạy qua Phụng Thiên cách hơn 100 dặm, quan không được rời nhiệm sở về thăm quê hương, nói tóm không được vui hưởng Tết Trùng Cửu.

Dịch nghĩa:
Ngày 9 (Năm 783)

Hôm nay thấy buồn khi nâng chén rượu,
Nhớ lại lúc trước khi sống ở nông trại Đỗ Lăng.
Tôi biết sẽ đi đâu vào ngày 9 năm tới,
Thời loạn lạc không biết lúc nào được về nhà.

Dịch thơ:
Ngày Trùng Cửu

Nâng chén hôm nay chỉ thấy sầu,
Đỗ Lăng ngày ấy đã bao lâu.
Năm sau Trùng Cửu dù toan liệu,
Thời loạn thăm nhà chắc được đâu.

九日-韋應物 The Nineth by Wei Ying Wu

今朝把酒復惆悵 I felt sad when lifting the cup of wine today,
憶在杜陵田舍時 Recalling the time living at Du Ling farmhouse.
明年九日知何處 I know where to go next year on Double Nine Festival,
世難還家未有期 In trouble time, you can not be certain when you can visit

Viết thêm:

Năm 785, Vi Ứng Vật có làm một bài Cửu Nhật khác, 5 chữ 4 câu. Tình thần bài thơ này không còn bi quan “thế nạn” như trong bài 7 chữ 4 câu trước đây. Ông không còn quan tâm đến thời tiết, không biết hoa cúc nở tháng 9, không còn nhớ nhà, bận rộn có nhiều quý khách thăm viếng nhờ mới được thăng chức thái thú Ngô Quận, nay là thành phố Tô Châu, Giang Tô.

九日 Cửu Nhật Ngày 9 (năm 785)

一爲吳郡守 Nhất vi Ngô quận thủ Thái thú quận Ngô ta,
不覺菊花開 Bất giác cúc hoa khai Không hay cúc nở hoa.
始有故園思 Thủy hữu cố viên tư Quá nhiều khách viếng tụng,
且喜衆賓來 Thả hỷ chúng tân lai Giờ có nhớ quê nhà.*

*Người dịch hoán chuyển 2 câu 3 và 4 để giữ vận.

Phí Minh Tâm 
 ***
Góp Ý:

Viết về ngày Cửu nhật:

九日=cửu nhật là một lối gọi 重陽節九日=trùng dương tiết, hay tiết trùng cửu, khi người Tàu ngày xưa có tâp tục leo núi, đeo nhánh sơn thù du và uống rượu cúc để ngừa tai họa. Ngày này cũng là dịp du hí cuối cùng trong năm trước mùa đông. Vi Ứng Vật làm bài thơ trong ngày Trùng Cửu nhưng không nói gì đến chuyện leo núi hay uống rượu cúc mà lại than vì thế nạn!

Vi Ứng Vật làm thứ sử thời Đường Đức Tông. Sáu năm đầu thời Đức Tông luôn luôn loạn lạc vì các phiên trấn thay nhau, hay hùa nhau, nổi loạn. Tháng 8 năm Kính Nguyên thứ tư (783), tiết độ sứ Lý Hi Liệt tấn công Tương Thành, tháng 9 Đức Tông sai tiết độ sứ Diêu Lệnh Ngôn phản công. Diêu đem 5000 quân vào Trường An trong mùa đông giá lạnh; lính đói thay vì được thưởng nên nổi loạn. Những biến cố này xảy ra sau tiết Trùng Củu và không có liên hệ gì với bài thơ Cửu Nhật.

Huỳnh Kim Giám

Chủ Nhật, 31 tháng 3, 2024

Ký Lý Đảm, Nguyên Tích 寄李儋元錫 -Vi Ứng Vật (Trung Đường)


(Nhóm LT21 Chúc mừng Sinh Nhật Thượng Thọ 90 của Ông Cò)

Vi Ứng Vật 韋應物 (737-792) tự Nghĩa Bác 義博, người Đỗ Lăng, Kinh Triệu, lúc đầu làm Tam vệ lang cho Đường Huyền Tông (712-755), về sau chịu khó đọc sách, đến đời Đức Tông (780-804) làm quan thứ sử Tô Châu có nhiều thiện chính. Ông tính cao khiết, thích đốt hương ngồi một mình. Ông cùng Lưu Trường Khanh được người đương thời gọi là 2 thi nhân đại tự nhiên. Thi tập của ông gồm 10 quyển.

Nguyên bản        Dịch âm

寄李儋元錫        Ký Lý Đảm, Nguyên Tích

去年花裡逢君別 Khứ niên hoa lý phùng quân biệt,
今日花開又一年 Kim nhật hoa khai hựu nhất niên.
世事茫茫難自料 Thế sự mang mang nan tự liệu,
春愁黯黯獨成眠 Xuân sầu ảm ảm độc thành miên.
身多疾病思田里 Thân đa tật bệnh tư điền lý,
邑有流亡愧俸錢 Ấp hữu lưu vong quý bổng tiền.
聞道欲來相問訊 Văn đạo dục lai tương vấn tấn,
西樓望月幾回圓 Tây lâu vọng nguyệt kỷ hồi viên.

Chú giải

茫 茫 mang mang: mênh mang
愧 quý: hổ thẹn
問訊 vấn tấn: người trên hỏi người dưới, hỏi thăm với ý mách bảo điều gì.

Dịch nghĩa

Gửi Lý Đảm và Nguyên Tích

Năm ngoái khi hoa nở, chính là lúc cùng các ông chia tay,
Năm nay hoa lại nở, đã một năm rồi!
Việc đời man mác, khó tự liệu tính trước được,
Trong mối sầu xuân ảm đạm, hãy cố tạo nên giấc ngủ.
Thân nhiều bệnh tật thì nên nghĩ tới vườn ruộng,
Trong ấp có kẻ lưu vong, mình hổ thẹn còn lãnh bổng lộc.
Nghe nói các ông muốn đến đây vấn an tôi,
Trên lầu tây, tôi trông ngóng trăng, đã nhiều lần rồi!

Dịch thơ

Gửi Lý Đảm, Nguyên Tích

Ngắm hoa năm ngoái ta từ biệt,
Hoa nở hôm nay đúng một niên.
Thế sự mênh mang khôn tự liệu,
Xuân sầu ảm đạm ngủ chưa yên.
Thân nhiều tật bệnh ưa vườn ruộng,
Ấp lắm lưu vong thẹn bổng tiền.
Nghe nói quí ông sang dạy bảo,
Lầu tây vọng nguyệt đã nhiều đêm.

Lời bàn 

Đây là một bức thư Vi Ứng Vật viết cho hai ông Lý Đảm và Nguyên Tích (không rõ lai lịch). Lời thơ rất lễ phép đại ý nói rằng mình nhiều bệnh tật nên ở nơi đồng ruộng cho mát mẻ (câu 5); Câu 6 diễn tả ý nghĩ của một kẻ sĩ khiêm nhượng lúc hưu trí (Ấp lắm lưu vong thẹn bổng tiền): Ấp mình đang trú ngụ có nhiều người lưu vong (những người này phải làm lụng cực nhọc mới có đồng tiền) nên mình lấy làm thẹn khi ngồi không mà lãnh tiền hưu bổng quá nhiều; Câu 7 & 8 tả thái độ thường tình của mấy cụ cao niên hưu trí: Hằng ngày chả có việc gì làm, nghe nói hai ông sẽ tới thăm hỏi, kẻ hèn này đã từng đứng ở lầu tây ngóng trăng nhiều lần rồi (ngóng các ông nhiều tháng rồi).

Tái bút

ỐC soạn bài này nhân dịp sinh nhật thứ 90 của mình:
Câu 3 & 4:
Việc đời đã đổi thay nhanh hơn và nặng hơn là mình dự liệu.
Câu 5:
Thân nhiều tật bệnh ưa vườn ruộng, Nhiều bệnh không tên (bệnh của tuổi già) chỉ vì cơ thể suy nhược; thực ra chúng không phải là bệnh, chỉ là một giai đoạn tất yếu của cuộc đời (sinh, trưởng, lão, tử).
Câu 6:
Ấp lắm lưu vong thẹn bổng tiền. Trộm nghĩ rằng công lao chỉ ở mức bình thường mà sau 24 năm hưu trí, tiền bổng lộc vẫn dư xài trong khi chung quanh mình có nhiều người cao niên lưu vong mà nếu hôm nay không làm việc thì ngày mai có thể sẽ đói.
Câu 7 & 8:
Nghe nói quý ông sang dạy bảo, Lầu tây vọng nguyệt đã nhiều đêm. Hoàn cảnh của mình cũng tương tự như giống như họ Vi nhưng có lẽ mình may mắn hơn, còn được các ACE yêu cổ thi, từ bốn phương, góp ý, bàn luận hàng tuần qua internet. Mình chỉ mơ ước có được một lần gặp mặt họ trước khi lìa đời để mời nhau một ly rượu nhạt.

Con Cò
***
Kính chúc: Ông Cò NGUYỄN VĂN BẢO Sinh Thần THƯỢNG THỌ sức khỏe An Khang Thân An Tâm Lạc.

Gửi Tặng Lý Đam - Nguyên Tích

Năm trước hoa khai, ta giã biệt
Hôm nay hoa nở đúng tròn năm
Chuyện đời bao quát đâu cần quản
Xuân đến sầu thêm ngủ chẳng an
Bệnh hoạn thân gầy, xây uyển mộng
Trong thôn viễn khách ước xa xăm
Nghe tin bạn quý toan thăm viếng
Mong ngóng lầu tây vọng nguyệt thầm

Kiều Mộng Hà
Austin.3.23.24
***
Gửi Lý Đam Nguyên Tích

1/
Mùa hoa năm ngoái bạn chia tay,
Tròn một năm, nay lại nở đầy.
Việc thế rối bời sao liệu trước,
Xuân buồn giấc ngủ một mình say.
Thân nhiều bệnh tật vườn quê nhớ,
Xóm lắm dân di lộc thẹn thay.
Nghe nói thăm nhau anh sắp tới,
Trăng tròn mấy độ ngóng lầu tây.

2/
Chia tay dưới dàn hoa năm ngoái,
Một năm tròn nay lại nở đầy.
Việc đời định trước khó thay,
Xuân buồn chỉ muốn ngủ say một mình.
Nhớ vườn ruộng thân hình nhiều bệnh,
Dân tha phương tự thẹn bổng cao.
Nghe anh định đến thăm nhau,
Lầu tây chờ đón biết bao trăng tròn.

Mỹ Ngọc 
Mar. 23/2024.
***
Gởi Lý Đam Và Nguyên Tích.

Hoa đào bừng nở năm nao,
Phút giây ly biệt - lệ trào ướt mi.
Tròn niên thấm thoát sầu bi,
Tri âm vắng bóng từ khi bỏ làng.
Đa mang thế sự võ vàng,
Dễ đâu liệu trước ngút ngàn về sau.
Xuân sang, ảm đạm ngập sầu,
Tự mình dỗ giấc - canh thâu lạnh lùng.
Thân mang bệnh hoạn vô chừng,
Điền viên khuây khỏa - mịt mùng ngày qua.
Tha phương cầu thực gần xa,
Khối người trong ấp kêu ca phận đày.
Riêng ta túy lúy cuồng say,
Của tiền bổng lộc - thẹn thay gào trời...
Bạn bè tít tận ngàn khơi,
Nhắn thơ muốn viếng - đôi lời hỏi thăm.
Tây lâu hiu hắt âm thầm,
Bao lần vọng nguyệt - lũi lầm cao niên.

Khánh-Hưng
***
Kính chúc sức khỏe và trường thọ đến Ông Cò nhân dịp sinh nhật 90 tuổi.

Thư Gởi Lý Đam Và Nguyên Tích

Hoa nở năm rồi giã biệt nhau
Khoe màu hoa lại nở năm sau
Đời người ai biết chuyện gì đến
Ảm đạm mùa xuân dỗ giấc sầu
Bệnh tật nghĩ về nơi ruộng cũ
Hưởng nhiều bổng lộc thẹn thùng sâu
Nghe tin bạn đến thăm nhà tớ
Trông ngóng lầu tây đã bấy lâu.

Thanh Vân
***
Gởi Lý Đam, Nguyên Tích

Mình giã biệt dưới hoa năm ngoái
Đến bây giờ nở lại tròn năm
Chuyện đời đâu dễ tính thầm
Nỗi sầu cô độc ôm cầm giấc xuân
Nhớ vườn ruộng, bệnh vào thân
Lưu vong bổng lộc lương tâm thẹn cùng
Nghe tin bạn muốn tương phùng
Bao mùa trăng ngóng cùng chung mái lầu

Kim Oanh
***
Gởi Lý Đam, Nguyên Tích

Năm ngoái ngắm hoa mình giã biệt
Năm nay hoa nở đã tròn năm
Chuyện đời mù mịt khôn trù tính
Ảm đạm sầu xuân độc chiếc nằm
Bệnh tật mang nhiều vườn ruộng nhớ
Lưu vong đầy xóm, thẹn lương tâm
Nghe tin các bạn mong thăm viếng
Vọng nguyệt lầu tây biết mấy tầm!

Viết thêm:

Hoàn cảnh của mình cũng tương tự như giống như họ Vi nhưng có lẽ mình may mắn hơn, còn được các ACE yêu cổ thi, từ bốn phương, góp ý, bàn luận hàng tuần qua internet. Mình chỉ mơ ước có được một lần gặp mặt họ trước khi lìa đời để mời nhau một ly rượu nhạt. Con Cò thơ

Nhân ngày sinh nhật 29/03 của đàn chủ, thư ký viết tặng Ống Cò một bài thơ.

Tự Bạch (dùm)

Bấm đốt tay hôm nay chín chục.
Thầm nhủ mình lắm phúc ơn trời
Tha hương nương tựa nửa đời
Thẹn nhiều bổng lộc, xót người lưu vong
Thân già lão, chẳng mong sống mãi
Nợ văn chương tứ hải kết thân
Cầu mong gặp mặt một lần
Mời chung rượu nhạt, “đằng vân” giã từ!

Lộc Bắc
29/03/2024
***
Góp Ý :

ÔC đưa bài này vào ngày sinh nhật thứ 90 của mình khiến BS càng thêm ngưỡng mộ, vì ngày xưa, thất thập cổ lai hy, mà ÔC tới cửu thập vẫn còn đi chơi lung tung, soạn bài, dịch thơ rất uy tín. Mong ÔC cứ tiếp tục như vậy thêm nhiều năm nữa để đàn em noi theo.

Thi Viện thì ghi họ Vi sinh năm 737, mất 792.
Theo Trần Trọng San, là 736-830.
Theo Trương Đình Tín thì 737-780, giống như sách của Nguyễn Đức Lân.
Theo Chi Điền Hoàng Duy Từ: 755-835.
Tại sao lại có sự khác biệt nhiều như vậy? Phải nhờ anh Giám mò giùm.
Sau khi đọc góp ý của anh Giám, BS thấy có gì lấn cấn:
# Nguyên Tịch thì không ai biết tông tích, tiểu sử rõ ràng.

# Lý Đảm, viết với bộ Nhân, có thể đọc là Đam, theo anh Giám, (?-762) là Việt Vương Lý Hệ. Theo Chử Nhân Hoạch, và Wikipedia thì Đường Túc Tông có nhiều con trai lắm, 3 người theo cha đi dẹp loạn An Lộc Sơn từ năm 755 là Quảng Bình Vương Lý Thục, Thái Tử; Triệu Vương Lý Hệ (728-762) và Kiến Ninh Vương Lý Đảm (?-757). Đảm vì bất hòa với Lý Phụ Quốc và Trương Hoàng Hậu, bị vu cáo là có mưu cướp ngôi thái tử nên bị Túc Tông ép tự sát năm 757.

Nếu Lý Hệ sinh năm 728, thì Đảm có thể sinh năm 729 hay 730, thì lớn hơn Vi Ứng Vật cỡ 7, 8 tuổi thôi. Không hiểu hai người quen nhau lúc nào? Khi Đảm chết năm 757 thì Vi mới 20 tuổi. Theo ý bài thơ thì nó được làm lúc Vi đã già, về hưu rồi, sống “lưu vong”, mà Đảm còn hẹn đến thăm, thì Lý Đảm chắc là một người nào khác, không phải Kiến Ninh Vương Lý Đảm, con Túc Tông.

Đây là bàn chơi sau khi đọc bài của các anh Tâm và Giám, không có ý tranh cãi với hai anh có tài truy tìm tài liệu.

Sau đây là bài dịch thoát của BS.

Gửi Lý Đam, Nguyên Tích.

Dưới hoa năm ngoái lúc chia tay,
Hoa nở hôm nay năm đã đầy,
Thế sự mang mang sao liệu được,
Xuân sầu ảm đạm cố ngủ say,
Thân nhiều bệnh tật thương vườn cũ,
Thẹn chốn lưu vong được bổng dầy,
Nghe quý đàn anh cùng tới gặp,
Lầu tây vọng nguyệt đã bao ngày.

Bát Sách.
(ngày 27/03/2024)
***
Bạn Tri Âm

Xuân trước chúng ta giả biệt nhau
Năm nay hoa nở nhớ chia tay
Việc đời thay đổi đâu biết trước
Giấc ngũ chập chờn chẳng được say
Bệnh tật thường xuyên vườn ruộng cũ
Gian nan lắm kẻ dạ buồn thay
Bạn hiền sắp đến nhà thăm hỏi
Khách quý trông chờ ngóng gác tây


Văn Ngọc
7-4-2024
***
Nguyên bản: Phiên âm:

寄李儋元錫 Ký Lý Đam Nguyên Tích
韋應物 Vi Ứng Vật

去年花裏逢君別 Khứ niên hoa lý phùng quân biệt
今日花開已一年 Kim nhật hoa khai dĩ nhất niên
世事茫茫難自料 Thế sự mang mang nan tự liệu
春愁黯黯獨成眠 Xuân sầu ảm ảm độc thành miên
身多疾病思田里 Thân đa tật bệnh tư điền lý
邑有流亡愧俸錢 Ấp hữu lưu vong quý bổng tiền
聞道欲來相問訊 Văn đạo dục lai tương vấn tấn
西樓望月幾回圓 Tây lâu vọng nguyệt kỷ hồi viên

Sách của Vi Ứng Vật và sách đời Thanh cho văn bản như bên trên với chữ dĩ 已=quá trong câu 1 và dị bản hốt hốt 忽忽=lơ là thay vì ảm ảm 黯黯=buồn thảm trong câu 4:

Vi Tô Châu Tập - Đường - Vi Ứng Vật 韋蘇州集-唐-韋應物
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐詩-清-聖祖玄燁

Các sách đời Tống Nguyên Minh xài chữ hựu又=vừa trong câu 1 và không chép dị bản của bài nguyên thủy:

Ký Toản Uyên Hải - Tống - Phan Tự Mục 記纂淵海-宋-潘自牧
Doanh Khuê Luật Tủy - Nguyên - Phương Hồi 瀛奎律髓-元-方回
Đường Thi Phẩm Vị - Minh - Cao Bính 唐詩品彙-明-高棅
Bài thơ Đường luật tuyệt hảo bảy chữ tám câu này được chọn đăng trong Thiên Gia Thi 寄李儋元锡 cũng như trong Đường Thi Tam Bách Thủ 唐诗三百首 bài 192. Bài thơ luật bằng, vần bằng, đúng niêm vận, tiết tấu, bố cục và đối xứng.

Vi Ứng Vật được Đường Đức Tông bổ nhiệm Thử sử Trừ Châu năm 783. Cuối xuân năm này, ông rời bạn bè và Trường An. Ông làm bài thơ gởi bạn vào mùa xuân năm 784.

Ghi chú:

Lý Đam: ( ? -762) bạn thân của thi nhân, từng là người hầu trong cung. Theo Trung Quốc Lịch Đại Nhân Danh Đại Từ Điển 中國歷代人名大辭典, Lý Đam là con trai thứ hai của Đường Túc Tông, bị giết chết năm 762 khi âm mưu cùng Trương hoàng hậu giết hoạn quan Lý Phụ Quốc (李辅国) nhưng thất bại.

Nguyên Tích: ( ? -839?), người Hà Nam, tự Quân Huống, bạn thơ của tác giả khi ông sống ở huyện Trường An. Theo Trung Quốc Lịch Đại Nhân Danh Đại Từ Điển, ông làm quan giữ chức Thứ sử Tô Châu thời Hiến Tông Nguyên Hòa, đi đến đâu đều đạt được thành tựu chính trị; 10 năm sau đến Phúc Kiến làm Quan Sát sử; 14 năm sau đến trấn Tuyên Châu làm Thư ký và Giám sát; sau đó bị giáng chức đi Bích Châu vì tội tham ô những lạm. Toàn Đường Văn 全唐文·卷六百九十三 , xác nhận Nguyên Tích có làm việc ở Tô Châu vào năm Nguyên Hóa thứ 9, và sau cùng làm Thứ sử Cù Châu.


Nhiều nơi (5000yan.com, chinesewords.org/poetry…) cho Lý Đam và Nguyên Tích là một người: Lý Đam: tự Nguyên Tích, Vũ Uy (kim chúc Cam Túc) nhân, tằng nhâm điện trung thị Ngự sử, thị tác giả đích bằng hữu 李儋: 字元錫, 武威 (今屬甘肅) 人, 曾任殿中侍御史, 是作者的朋友 Lý Đam: tự Nguyên Tích, người Vũ Uy (Cam Túc ngày nay), từng làm Ngự sử trong cung, và là bạn thân của tác giả. Điều này có vẻ hợp lý theo thời điểm của bài thơ sáng tác năm 784 khi Vi Ứng Vật làm Thứ sử Trừ Châu, 22 năm sau khi Lý Đam, Việt vương Lý Hệ bị giết chết.

Tuy nhiên, ngoài bài Ký Lý Đam, Nguyên Tích 寄李儋,元錫, Vi Ứng Vật còn có làm rất nhiều bài thơ tặng riêng cho Lý Đan như: Tặng Lý Đam Thị Ngự 贈李儋侍禦, Tống Lý Đam 送李儋, Ký Biệt Lý Đam 寄別李儋, Thù Lý Đam 酬李儋, Tặng Lý Đam 贈李儋… hoặc tặng riêng cho Nguyên Tích như: Quận Trung Đối Vũ, Tặng Nguyên Tích Kiêm Giản Dương Lăng 郡中對雨,贈元錫兼簡楊淩, Tống Nguyên Tích, Dương Lăng 送元錫,楊淩, Đồng Nguyên Tích Đề Lang Gia Tự 同元錫題琅琊寺.

Dấu phẩy trong các tựa bài thơ là sáng kiến mới, được ctext.org thêm vào giúp người ngày nay dễ hiểu, không có trong văn bản (mộc bản) nguyên thủy. Ký Lý Đam, Nguyên Tích 寄李儋,元錫 trong mộc bản là Ký Lý Đam Nguyên Tích 寄李儋元錫. Tống Nguyên Tích, Dương Lăng 送元錫,楊淩 trong mộc bản là Tống Nguyên Tích Dương Lăng 送元錫楊淩.

Trong cổ thi Trung Hoa, mình phải hiểu thêm bối cảnh, ẩn dụ, điển tích… mới mong hiểu được ý tác giả, một thách thức đôi khi quá lớn với mình. Mình chỉ có thể chắc chắn là Lý Đam trong bài thơ là một nhân vật khác không phải Việt Vương Lý Hệ và Lý Đam và Nguyên Tích là hai nhân vật khác nhau.

Xuân sầu: nỗi buồn do sự xuất hiện của mùa xuân gây ra
Tư điền lý: nhớ ngôi làng bình dị, ý là muốn sống ẩn dật.

Ấp hữu lưu vong: đề cập đến những người phải sống lưu vong trong khu vực, những người nghèo vô gia cư (đang thời loạn lạc)
Quý bổng tiền: xấu hổ vì nhận lương bổng (từ người dân đóng thuế) mà không làm gì được giúp cho người nghèo đói
Vấn tấn: thăm viếng hỏi han

Dịch nghĩa:

Gởi Lý Đam và Nguyên Tích

Năm ngoái khi bông hoa nở là lúc chúng ta chia tay và nói lời tạm biệt,
Năm nay hoa lại nở, chúng ta đã xa nhau quá một năm rồi.
Việc đời mênh mang, làm sao có thể đoán trước được số phận của mình,
Mùa xuân ảm đạm, khiến cảm thấy cô độc mất ngủ.
Thân nhiều bệnh tật nên nghĩ muốn trở về đồng ruộng quê nhà,
Nhìn những người nghèo đói trong ấp, mà thấy hổ thẹn lãnh bổng lộc.
Nghe nói bạn muốn đến đây gặp thăm,
Tôi đã lên lầu tây bao lần trông ngắm trăng mong chờ.


Dịch thơ:

Gởi Bạn

Hoa nở năm rồi khi tạm biệt,
Giờ hoa lại nở chưa đoàn viên.
Khó khăn cuộc sống không toan trước,
Buồn bực đêm xuân khó ngủ yên.
Già bịnh ước mơ về sống ruộng.
Đói nghèo đầy thẹn nhận lương tiền,
Vui nghe bạn nói sẽ thăm viếng,
Lên gác chờ trăng nhiều tối liền.

Nhớ Bạn

Năm rồi đào nở chia tay,
Giờ đào lại nở mới hay năm tròn.
Việc đời thật khó liệu toan,
Mùa xuân ảm đạm cô đơn đêm trường.
Già bịnh càng nhớ quê hương,
Thẹn nhận bổng lộc, nhiễu nhương bao người.
Vui nghe bạn muốn đến chơi,
Đêm đêm nhắn gởi vài lời cùng trăng.

To Li Dan, My Friend Yuanxi by Wei Yingwu
Translation by Betty Tseng

Last year we gathered and parted when flowers were still in bloom,
Now comes this year's blossom, a year has since passed by.
Unpredictable is the indefinite and unfathomable world around us,
This spring I sleep in solitude with a glum and gloomy mind.
Stricken with illnesses I long to hometown retire to,
I feel undeserving of my salary as on the streets the destitute strive to survive.
I hear mention of your intention to visit here,
Here I await you in the west chamber wondering how many moons before you arrive.

To My Friends Li Dan And Yuanxi by Wei Yingwu
Translation by Witter Bynner

We met last among flowers, among flowers we parted,
And here, a year later, there are flowers again;
But, with ways of the world too strange to foretell,
Spring only brings me grief and fatigue.
I am sick, and I think of my home in the country-
Ashamed to take pay while so many are idle.
In my western tower, because of your promise,
I have watched the full moons come and go.

Phí Minh Tâm

***
Góp Ý:

... hai ông Lý Đảm và Nguyên Tích (không rõ lai lịch).

李儋=Lý Đam (không phải Đảm), ?-762, là Việt vương Lý Hệ (越王李係) con trai thứ nhì của Đường Túc Tông, bị giết khi âm mưu cùng Trương hoàng hậu giết hoạn quan Lý Phụ Quốc (李辅国) và nội thị Trình Nguyên Chấn (程元振) bại lộ.

元锡(Nguyên Tích, ?- 825)thuộc dòng vua Tiên Ti (Thát Đạt), quan lớn triều Đường qua nhiều đời, cuối đời bị biếm làm Bích Châu thứ sử vì tội tham ô.

Bài thơ phải được làm trước khi Việt vương Lý Hệ bị giết năm 762 và lúc đó có lẽ Nguyên Tích đang còn nhỏ tuổi; nhưng năm 762 thì họ Vi mới có 25, và đây là thời điểm cuối của loạn An-Sử (755-763), lúc họ Vi làm tham quân (từ tuổi 15) và sống không câu thúc ở các vùng quê. Lý Đam và Nguyên Tích tính chuyện đển thăm họ Vi khi nào? Hai chữ lưu vong (流亡) có thể chỉ hoàn cảnh của họ Vi trong thời loạn nhưng trong hoàn cảnh đó mấy ai muốn đi thăm ai, nhất là hai người có thể với tuổi khác nhau cả nửa thế kỷ?

Huỳnh Kim Giám
***
Phí Minh Tâm bổ túc thêm:

Lý Đam: bạn thân của thi nhân, từng là người hầu trong cung. Theo Trung Quốc Lịch Đại Nhân Danh Đại Từ Điển 中國歷代人名大辭典, Lý Đam là con trai thứ hai của Đường Túc Tông, bị giết chết năm 762 khi âm mưu cùng Trương hoàng hậu giết hoạn quan Lý Phụ Quốc (李辅国) nhưng thất bại.

Nguyên Tích: ( ? -839), người Hà Nam, tự Quân Huống, bạn thơ của tác giả khi ông sống ở huyện Trường An.

Nhiều nơi (chinesewords.org/poetry, arteducation.com.tw …) cho Lý Đam và Nguyên Tích là một người: Lý Đam, tự Nguyên Tích, Vũ Uy (kim chúc Cam Túc) nhân, tằng nhâm điện trung thị Ngự sử, thị tác giả đích bằng hữu 李儋, 字元錫, 武威 (今屬甘肅) 人, 曾任殿中侍御史, 是作者

的朋友 Lý Đam, tự Nguyên Tích, người Vũ Uy (Cam Túc ngày nay), từng làm Ngự sử trong cung, và là bạn thân của tác giả. Điều này hợp lý theo thời điểm của bài thơ sáng tác năm 784 khi Vi Ứng Vật đang làm Thứ sử Từ Châu, 22 năm sau khi Lý Đam, Việt vương Lý Hệ bị giết chết. pmt

Huỳnh Kim Giám viết thêm:

Cám ơn anh Tâm.

Tôi đồng ý, căn cứ theo thời điểm thì Việt vương Lý Hệ không thể là Lý Đam trong bài thơ. và tôi không nghĩ rằng Vi Ứng Vật dám dùng tên cúng cơm của Việt vương trong tựa đề thơ.

Nhưng bảo rằng Lý Đam và Nguyên Tích là một người thì có lẽ cũng không đúng. Theo trang 李儋元锡非一人 [Lý Đam, Nguyên Tích không phải là một người] này thì Nguyên Tích không thể là tự của Lý Đam theo quy tắc đặt biểu tự (表字) thời xưa (tác giả cũng nhấn mạnh rằng 儋 phát âm là đam/ dān). Năm 783, họ Vi làm bài thơ 赠李儋侍御 (Tặng Lý Đam thị ngự) trong đó có hai câu:

風光山郡少 Phong Quang san quận thiếu
來看廣陵春 Lai khán Quảng Lăng xuân

cho người đọc thấy rằng năm đó Vi Ứng Vật và Lý Đam đang ở Quảng Lăng; và ta có thể hiểu rằng năm sau (建中=Kiến Trung 4, 784) làm bài thơ nhớ bạn. Trong Vi Ứng Vật Tập có các bài thơ 善福寺阁对雨寄李儋幼遐=Thiện Phúc tự các đối vũ ký Lý Đam ấu hà, 同元锡题琅琊寺=đồng Nguyên Tích đề Lang Da tự và các tựa đề này cho ta thấy có hai người tên Lý Đam và Nguyên Tích. Rất tiếc rằng vì ta không biết năm sinh của Nguyên Tích, ta không rõ người này là bạn thế nào với họ Vi, chỉ biết ông ta mất sau họ Vi 34 năm.

Phí minh Tâm viết thêm:

Cám ơn anh Giám đã cung cấp thêm nhiều tài liệu cho thấy Lý Đam và Nguyên Tích là hai người khác nhau, Ngoài bài Ký Lý Đam Nguyên Tích 寄李儋,元錫, Vi Ứng Vật có làm rất nhiều bài thơ tặng riêng cho Lý Đan như: Tặng Lý Đam Thị Ngự 贈李儋侍禦, Tống Lý Đam 送李儋, Ký Biệt Lý Đam 寄別李儋, Thù Lý Đam 酬李儋, Tặng Lý Đam 贈李儋… hoặc tặng riêng cho Nguyên Tích như: Quận Trung Đối Vũ, Tặng Nguyên Tích Kiêm Giản Dương Lăng 郡中對雨,贈元錫兼簡楊淩, Tống Nguyên Tích, Dương Lăng 送元錫,楊淩, Đồng Nguyên Tích Đề Lang Gia Tự同元錫題琅琊寺.

Trong cổ thi Trung Hoa, mình phải hiểu thêm bối cảnh, điển tích, ẩn dụ… mới mong hiểu được một phần ý tác giả, một thách thức đôi khi quá lớn với mình.



Thứ Bảy, 2 tháng 7, 2022

Tống Dương Thị Nữ 送楊氏女 - Vi Ứng Vật

(Vi Ứng Vật)

Vi Ứng Vật là người Tường An (nay là Tây An, thủ phủ tỉnh Thiểm Tây)
Đời Đường Huyền Tông (ở ngôi: 712-756), ông được bổ làm chức Tam vệ lang, được ra vào cung cấm. Sau ông thi đỗ tiến sĩ, được cử làm Thứ sử Trừ Châu, Giang Châu rồi Tô Châu; được dân chúng rất mến phục . Năm 792, đời Đường Đức Tông (ở ngôi: 780-805), Vi Ứng Vật mất, lúc ấy ông khoảng 55 tuổi.

Nguyên tác Dịch âm

送楊氏女 Tống Dương Thị Nữ

永日方慼慼 Vĩnh nhật phương thích thích,
出行復悠悠 Xuất hành phục du du.
女子今有行 Nữ tử kim hữu hành,
大江泝輕舟 Đại giang tố khinh chu
爾輩苦無恃 Nhĩ bối khổ vô thị,
撫念益慈柔 Phủ niệm ích từ nhu.
幼為長所育 Ấu vi trường sở dục,
兩別泣不休 Lưỡng biệt khấp bất hưu.
對此結中腸 Đối thử kết trung trường,
義往難復留 Nghĩa vãng nan phục lưu.
自小闕內訓 Tự tiểu khuyết nội huấn,
事姑貽我憂 Sự cô di ngã ưu.
賴茲託令門 Lại từ thác lệnh môn,
仁卹庶無尤 Nhân tuất thứ vô vưu.
貧儉誠所尚 Bần kiệm thành sở thượng,
資從豈待周 Tư tòng khởi đãi chu.
孝恭遵婦道 Hiếu cung tuân phụ đạo,
容止順其猷 Dung chỉ thuận kỳ du.
別離在今晨 Biệt ly tại kim thần,
見爾當何秋 Kiến nhĩ đương hà thu.
居閑始自遣 Cư nhàn thuỷ tự khiển,
臨感忽難收 Lâm cảm hốt nan thu.
歸來視幼女 Quy lai thị ấu nữ,
零淚緣纓流 Linh lệ duyên anh lưu.

Dịch nghĩa

Tiễn Con Gái Họ Dương

Đã nhiều ngày lo ngay ngáy,
Đến lúc ra đi buồn dằng dặc.
Con gái hôm nay lên đường,
Dùng thuyền nhỏ đi trên sông lớn.
Con đã khổ vì thiếu tình mẫu tử,
Ta càng phải thương yêu và mềm dẻo hơn. (6)
Nuôi dạy con từ nhỏ tới lớn,
Lúc xa nhau cùng khóc không dứt.
Nhưng cũng phải để trong lòng,
Việc gái về nhà chồng không thể giữ lại được.
Từ nhỏ con đã thiếu sự dạy dỗ của người mẹ,
Ta e con chưa được chỉ bảo cách hầu hạ mẹ chồng.
Con về làm dâu nhà này,
Nhân từ khoan dung không đâu bằng.
Nhà nghèo phải chuộng sự cần kiệm,
Trông cậy ở của hồi môn há đủ sao! (16)
Con phải hiếu thảo và cung kính theo đúng đạo làm vợ,
Dung nhan và cử chỉ cũng phải theo phép tắc.
Sáng nay ta xa nhau rồi,
Biết đến thu nào mới được gặp lại?
Sống nhàn rồi ta cũng tự biết cách,
Lúc này cảm xúc khó mà nén được.
Trở về nhà thấy em của con còn nhỏ,
Nước mắt ta lại ứa ra lăn trên dải mũ.

Chú thích

Dương thị, là con gái nhà họ Dương, không rõ là họ hàng hay bạn bè của tác giả Vi Ứng Vật. Chẳng may cha mẹ mất sớm, để lại hai đứa bé gái bơ vơ. Ông mang cả về nhà nuôi cho khôn lớn. Hôm cô chị lớn về nhà chồng, ông viết bài thơ này tiễn biệt...

Dịch thơ

Tiễn Con Gái Họ Dương

Ngày đi lo ngay ngáy,
Phút đi dằng dặc buồn.
Con gái nay xuất giá,
Sông lớn ngồi thuyền con.
Con khổ vì mất mẹ,
Ta cần mềm dẻo hơn. (6)
Nuôi dạy con từ nhỏ,
Lúc tiễn biệt đau buồn.
Nhưng phải kềm trong dạ,
Con hiểu lòng ta không?
Thiếu giáo dục mẹ đẻ,
Khó phục dịch mẹ chồng.
Con làm dâu nhà ấy,
Rất nhân từ khoan dung.
Nhà nghèo phải cần kiệm,
Đừng cậy của hồi môn. (16)
Nên hiếu thảo cung kính,
Dung ngôn phải ôn tồn.
Sáng nay ta xa cách,
Thu nào gặp lại con?
Sống nhàn ta tự hiểu,
Cảm súc khó nén hơn.
Trở về nhìn em gái.
Lệ ta sẽ trào tuôn.

Con Cò
***
Tiễn Con Gái Họ Dương

Mới suốt ngày lo lắng
Lúc đi lại buồn rầu
Nay con phải xuất giá
Thuyền nhẹ ngược sông sâu
Con khổ vì không mẹ
Ta nuông chiều biết bao
Nuôi con từ lúc nhỏ
Nên khóc lúc xa nhau
Vì nghĩa không đành giữ,
Nhưng lòng vẫn quặn đau
Ấu thơ thiếu giáo huấn
Gia mẫu lo vụng hầu
Gửi thân nhà nền nếp
Bao dung nhân ái giàu
Nghèo nên chuộng tiết kiệm
Cần đủ hồi môn đâu
Dung chỉ giữ đạo vợ
Hiếu cung đúng phận dâu
Sáng nay phải tạm biệt
Gặp lại biết thu nào?
Ta tự sống nhàn được
Cảnh này khó nén đau
Quay về thấy gái nhỏ
Dải mũ đẫm dòng châu

Mỹ Ngọc 
 Nov.13/2021

Thứ Bảy, 30 tháng 4, 2022

Điều Tiếu Lệnh 調笑令 - Vi Ứng Vật


Lời phi lộ

“Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang” là đề tài của một bài hát cùng tên của Phạm Duy & Ngọc Chánh mà Con Cò giao duyên với bài từ 調笑令 Điều Tiếu Lệnh của Vi Ứng Vật.

1/ Bài hát Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang  - Phạm Duy & Ngọc Chánh

Lời của bài hát

Ngựa hoang nào dẫm nát tơi bời
Đồng cỏ nào xanh ngát lưng trời
Ngựa phi như điên cuồng
Giữa cánh đồng dưới cơn giông
Vì trên lưng cong oằn
Những vết roi vẫn in hằn

Một hôm ngựa bỗng thấy thanh bình
Thảm cỏ tình yêu dưới chân mình
Ân tình mở cửa ra với mình
Ngựa hoang bỗng thấy mơ
Để quên những vết thù

Ngựa hoang muốn về tắm sông nhẫn nhục
Dòng sông mơ màng mát trong thơm ngọt
Ngựa hoang quên thù oán căm
Từ nơi tối tăm về miền tươi sáng

Ngựa hoang về tới bến sông rồi
Cởi mở lòng ra với cõi đời
Nhưng đời ngựa hoang chết gục
Và trên lưng nó ôi
Còn nguyên những vết thù

Bài hát được sáng tác vào khoảng cuối thập niên 1960, lúc cuộc nội chiến ở thời kỳ ác liệt nhất. Nghĩa bóng của lời ca rất hàm súc, được hiểu tùy theo suy tư của mỗi người. Con Cò nghĩ rằng có lẽ tác giả ví vết thù trên lưng ngựa hoang với vết thương trên lưng dân Việt, một vết thương, cho đến khi chết, sẽ không thể nào lành được.

 
 
2/ Bài thơ  調笑令 Điều Tiếu Lệnh - Vi Ứng Vật

Sơ lược tiểu sử & văn nghiệp của Vi Ứng Vật

Vi Ứng Vật là người Trường An (nay là Tây An, thủ phủ tỉnh Thiểm Tây) Đời Đương Huyền Tông (ở ngôi: 712-756), ông được bổ làm chức Tam vệ lang, được ra vào cung cấm. Sau ông thi đỗ tiến sĩ, được cử làm Thứ sử Trừ Châu, Giang Châu rồi Tô Châu; được dân chúng rất mến phục. Năm 92 đời Đường Đức Tông (ở ngôi: 780-805), Vi Ứng Vật mất, lúc ấy ông khoảng 55 tuổi.

Sinh thời, tính ông chuộng nghĩa hiệp, có lúc cuồng phóng, nhưng cũng rất cao khiết, mỗi lần đi đến đâu, ông cũng cho quét sạch đất, đốt hương rồi mới ngồi. Ông không thích giao du rộng, bạn thơ chỉ có Lưu Trường Khanh, Cổ Hướng, Thích Hiệu Nhiên; và ông thường ví mình với Đào Tiềm. Theo học giả Nguyễn Hiến Lê, thì Vi Ứng Vật thuộc phái "tự nhiên" trong lịch sử thi ca đời Đường.
Thi tập của ông (đều lấy tên là Giang Châu hoặc Tô Châu) gồm 10 quyển, hiện còn lưu truyền.

Vi Ứng Vật có cuộc sống khá khác thường, lúc đầu thì buông thả, về sau lại nhún nhường, ham đọc sách, rồi trở thành một viên quan thanh liêm, hiểu thấu nỗi cực khổ của dân. Hai lối sống cực đoan đó đã ảnh hưởng tới tính phức tạp trong tư tưởng và nghệ thuật thơ ca của ông .

Nguyên bản     Dịch âm

調笑令              Điều Tiếu Lệnh*

胡馬 胡馬         Hồ mã, Hồ mã,
遠放燕支山下  Viễn phóng Yên Chi sơn hạ.
咆沙咆雪獨嘶  Bào sa bào tuyết độc tê,
東望西望路迷  Đông vọng tây vọng lộ mê.
迷路迷路          Mê lộ, mê lộ.
邊草無窮日暮 Biên thảo vô cùng nhật mộ…

Chú giải

* Điều tiếu lệnh: Là một thể Từ đặc biệt (Từ phẩm) thường có 6 câu. Câu đầu có 4 chữ. 3 câu kế có 6 chữ. Câu thứ 5 có 4 chữ. Câu kết có 6 chữ. Những thi hào thời Đường như Vương Kiến, Đái Thúc Luân, Phùng Duyên Kỷ, Tần Quán… cũng có thơ dưới tiêu đề này.
Yên Chi: Tên vùng núi ở Nội Mông, nơi biên phòng trọng yếu của Trung quốc thời cổ.
Bào: gầm thét, gầm gừ.
Độc: một mình.
Tê=tư: hí (ngựa)
Vọng: trông ngóng.
Mê: lạc lối.

Dịch nghĩa
Điều Tiếu lệnh

Ngựa Hồ. ngựa Hồ
Phóng xa tắp trong vùng núi Yên Chi
Hí vang dội trên sa mạc tuyết phủ
Ngóng đông ngóng tây như lạc đường
Lạc đường, lạc đường
(Trên) Đồng cỏ nơi biên thuỳ mênh mông lúc chập tối

Dịch thơ
Điều Tiếu lệnh

Ngựa Hồ. ngựa Hồ
Vùng núi Yên Chi xoải vó
Hí vang sa mạc tuyết phủ
Ngóng đông ngóng tây lạc đường
Lạc đường, lạc đường,
Đồng cỏ biên thùy chiều đổ…

Bài từ thuộc thể tỷ, rất súc tích và tượng hình.
Nghĩa đen:
Tác giả thương cho số kiếp của ngựa Hồ; suốt đời xoải vó trong vùng núi Yên Chi; gầm gừ trên sa mạc phủ đầy tuyết; lúc cuối đời (nhật mộ: cuối ngày), thì ngóng đông ngóng tây, rồi lạc đường trên đồng cỏ mênh mông nơi biên thùy Hồ - Hán.

Nghĩa bóng:
Tác giả muốn nói tới những người lính trấn giữ biên cương giữa trung quốc và Rợ Hồ (các nước mãn Châu, Mông Cổ, Tân Cương). Họ sống suốt đời tại một vủng chỉ có đồi núi, gió cát và tuyết, rồi tới cuối đời thì bơ vơ trên những đồng cỏ rộng mênh mông (Chiến tranh tại nơi đó kéo dài triền miên trong hai ngàn năm)

Con Cò
***
Các Bài Dịch Khác:

Nguyên tác:     Phiên âm:
調笑令-韋應物 Điều Tiếu Lệnh - Vi Ứng Vật

胡馬,胡馬,   Hồ mã, Hồ mã,
遠放燕支山下.  Viễn phóng Yên Chi sơn hạ.
咆沙咆雪獨嘶   Bào sa bào tuyết độc tê,
東望西望路迷.  Đông vọng tây vọng lộ mê.
迷路,迷路,  Mê lộ, mê lộ.
邊草無窮日暮.  Biên thảo vô cùng nhật mộ.

Vi Ứng Vật làm bài Điều Tiểu Lệnh với 2 kỳ như được đăng trong sách:

Ngự Định Toàn Đường Thi Quyển 28 Tạp Khúc Ca Từ 御定全唐詩卷二十八 雜曲歌辭
Ngự Định Toàn Đường Thi Quyển 890 Lý Cảnh Bá Nhất Thủ Hồi Ba Nhạc 御定全唐詩卷八百九十李景伯一首囘波樂.

Kỳ 2:

河漢,河漢,     Hà hán, hà hán,
曉掛秋城漫漫  Hiểu quải thu thành mạn mạn.
愁人起望相思, Sầu nhân khởi vọng tương tư,
塞北江南別離. Tắc bắc giang nam biệt ly.
離別,離別,  Ly biệt, ly biệt,
河漢雖同路絕. Hà hán tuy đồng lộ tuyệt.

Ghi chú:

Điều tiếu lệnh: còn được gọi là Cung Trung Điều Tiếu 宫中调笑. Chỉ có 3 thi nhân thời Đường làm từ thể này là Đới Thúc Luân, Vi Ứng Vật với 2 kỳ, và Vương Kiến với 4 kỳ. Phùng Duyên Kỷ, người thời Ngũ Đại và Tần Quán, người BắcTống cũng có làm từ thể đặc biệt này. Thể bài có 32 chữ chia 6 câu. Ngoài số chữ nhất định trong mỗi câu (4, 6, 6, 6, 4 và 6), thể này còn có một số đặc điểm:

Câu 1 và 5 có 2 chữ kép lập lại
Hai chữ trong câu 5 là đảo ngược hai chữ cuối của câu 4
Câu 1 và 2 vần trắc
Câu 3 và 4 vần bằng
Câu 5 và 6 vần trắc.

Với thể từ đặc biệt, ta không ngạc nhiên có rất ít người làm và là một thử thách lớn cho ai muốn dịch theo thể nguyên thủy.
Hồ: thời cổ đại chỉ các dân tộc vùng Tây Bắc Trung Hoa
Hồ mã: ngựa nuôi ở đất Hồ, quân lính của người Hồ. Ẩn dụ cho lòng thương nhớ quê hương vì ngựa Hồ, mỗi khi gió bắc thổi, thì ngẩng cao đầu hí dài thảm thiết.
Viễn phóng: tự do, không bị kềm chế
Yên Chi: tên ngọn núi ở Nội Mông. Vào thời nhà Đường, nơi đây giáp với người Đông Thổ và là nơi biên phòng trọng yếu, gần Vạn Lý Trường Thành cổ, nay thuộc huyện Sơn Đan, thành phố Trương Dịch, tỉnh Cam Túc.

Ngựa Hồ được thi nhân dùng để nói lên hình ảnh người lính biên thùy. Cả ngày người và ngựa sống trong cảnh cô đơn, gian khổ, buồn chán… Ngày tháng năm trôi qua. Xuân thu cát bụi, hè cỏ xanh, đông tuyết phủ…

Ngựa Hồ đây không phải là ngựa của người Hồ hay ngựa hoang. Chúng là ngựa chiến được thả rong khi không có chiến tranh và khi cỏ tốt tươi.

Dịch thơ:
Ngựa Hồ

Ngựa Hồ, ngựa Hồ lừng danh!
Yên Chi đồng cỏ bao quanh núi đồi.
Cát bay, tuyết phủ, hý thôi!
Nhìn qua nhìn lại, ôi thôi! mịt mờ.
Lạc đường, đường lạc đâu ngờ,
Ngày tàn, biển cỏ giấc mơ tuyệt vời.

Phí Minh Tâm
***
Bài Nhạc ÔC chọn kỳ này là Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang, thật hay và gợi nhiều cảm xúc.
Lời bản nhạc, theo BS, thì vết thù trên lưng ngựa chính là vết thù trên lưng người dân miền Nam, do đám xăm lược gây nên... Đám dân lành này thường mơ một ngày thanh bình, nhưng ngày đó lại chính là ngày đau thương, tang tóc... Bài nhạc như một lời tiên tri cho số phận của miền Nam.

Ngựa Hồ, ngựa Hồ,
Nơi núi Yên Chi soải vó,
Gào cát, gào tuyết một mình,
Ngóng đông, ngóng tây lạc lối,
Lối lạc, lối lạc,
Bờ cỏ mênh mông chiều tối.

Bát Sách

***
Điều Tiếu Lệnh Kỳ 1

1-

Hồ mã, Hồ mã
Dưới núi Yên Chi rong thả
Gào cát, gào tuyết hí vang
Đông ngó, tây ngó lạc đường
Đường lạc, đường lạc
Bạt ngàn cỏ biên, ngày nhạt!

2-

Ngựa Hồ cõi bắc thong dong
Yên Chi dưới núi thả rong lũng vàng
Cát gào, tuyết thét hí vang
Đông dòm, tây ngó lìa đàn bơ vơ
Lạc đường, mê lộ sững sờ
Cỏ biên bát ngát sương mờ chiều buông!

Điều Tiếu Lệnh Kỳ Nhị

Hà hán, hà hán,
Hiểu quải thu thành mạn mạn.
Sầu nhân khởi vọng tương tư,
Tắc bắc giang nam biệt ly.
Ly biệt, ly biệt,
Hà hán tuy đồng lộ tuyệt.

Điều Tiếu Lệnh Kỳ 2

Sông Hán, sông Hán
Thành thu sáng treo tản mạn
Người buồn khởi biết tương tư
Sông Nam, ải Bắc biệt ly
Ly biệt, ly biệt
Sông Hán tuy cùng, đường tiệt

Vi Ứng Vật làm 2 bài từ theo thể Điều Tiếu Lệnh, bài kỳ 1 đã dịch như trên; nay nhân lúc hưỡn dịch luôn bài kỳ 2 theo bản của anh Phí Minh Tâm đã dẫn:

 Điều Tiếu Lệnh Kỳ Nhị

Hà hán, hà hán,
Hiểu quải thu thành mạn mạn.
Sầu nhân khởi vọng tương tư,
Tắc bắc giang nam biệt ly.
Ly biệt, ly biệt,
Hà hán tuy đồng lộ tuyệt.

 Điều Tiếu Lệnh Kỳ 2

Sông Hán, sông Hán
Thành thu sáng treo tản mạn
Người buồn khởi biết tương tư
Sông Nam, ải Bắc biệt ly
Ly biệt, ly biệt
Sông Hán tuy cùng, đường tiệt


Điều Tiếu Lệnh của Vương Kiến:

Cũng theo anh Tâm thì Vương Kiến có làm 4 bài Điếu Tiểu Lệnh mà cách đây hơn hai năm LB đã phỏng dịch được hai bài Đoàn Phiến (kỳ 1) và Hồ Điệp (kỳ 2)

Điều tiếu lệnh 調笑令: tên từ điệu, tên khác là Cung trung điều tiếu宮中調笑, Chuyển ứng khúc 轉應曲, Tam đài lệnh 三臺令. Hai bài từ này của Vương Kiến còn gọi là Cổ Điều Tiếu 古調笑, khác với Điều Tiếu Lệnh của Tống từ sau này.

Điều Tiếu Lệnh, Vương Kiến kỳ 1 & 2:

1/
Đoàn phiến,
Đoàn phiến,
Mỹ nhân bệnh lai già diện.
Ngọc nhan tiều tụy tam niên,
Thùy phục thương lượng quản huyền.
Huyền quản,
Huyền quản,
Xuân thảo chiêu dương lộ đoạn.

Kỳ I

Cây quạt
Cây quạt
Giai nhân yếu đau che mặt
Ba năm tiều tụy dung nhan
Ai đâu bàn đến sáo đàn
Đàn sáo
Đàn sáo
Chiêu Dương đường đầy xuân thảo!!


2/
Hồ điệp,
Hồ điệp.
Phi thượng kim chi ngọc diệp,
Quân tiền đối vũ xuân phong.
Bách diệp đào hoa thụ hồng.
Hồng thụ,
Hồng thụ.
Yến ngữ oanh đề nhật mộ.

Kỳ II

Bướm đẹp,
Bướm đẹp
Lượn trên cành vàng lá biếc
Hầu vua, múa đối gió lay
Đào hoa trăm lá đỏ cây
Cây đỏ
Cây đỏ
Yến oanh ngày tàn kêu rộ


Lộc Bắc
***
Ngựa Hồ

Ngựa Hồ, ngựa hỡi,
Vùng núi Yên Chi phóng tới,
Bốc cát, vượt tuyết hí dài,
Ngó đông nhìn tây lối sai.
Sai lối, sai lối,
Cỏ tái mênh mông chập tối.

Mỹ Ngọc 
Apr. 24/2022.

Sông Hán

Sông Hán, sông Hán,
Sớm chiếu thành thu sáng lạn.
Người buồn cảm thấy nhớ nhau,
Ải bắc sông nam biệt sầu,
Sầu biệt sầu biệt,
Sông Hán đường cùng lối kiệt.

Mỹ Ngọc
Apr. 24/2022
***
Bầy ngựa chiến ruổi rong mài miệt
Hí vang trời bão tuyết âm u
Đồng hoang cát thổi ù ù
Đông tây vọng ngóng mịt mù lối đi
Chiều tà cỏ ngút biên thùy


Yên Nhiên

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2015

U Cư - Vi Ứng Vật


U cư 

Quý tiện tuy dị đẳng, 
Xuất môn giai hữu dinh. 
Độc vô ngoại vật khiên, 
Toại thử u cư tình. 
Vi vũ dạ lai quá, 
Bất tri xuân thảo sinh. 
Thanh sơn hốt dĩ thự, 
Điểu tước nhiễu xá minh. 
Thời dữ đạo nhân ngẫu, 
Hoặc tùy tiều giả hành. 
Tự đương an kiển liệt, 
Thùy vị bạc thế vinh. 

Vi Ứng Vật

Chú thích: Năm 779 tác giả Vi Ứng Vật đang làm huyện lệnh huyện Hộ, bị đổi đi làm huyện lệnh huyện Lịch Dương. Ông cáo bệnh không đi và từ quan luôn, ở ẩn. Ông làm bài này trong giai đoạn đó. 
 Dịch nghĩa:  

Ở Ẩn 

Quý phái và bần tiện tuy hai đẳng cấp khác nhau, 
nhưng đã ra khỏi cửa đều phải mưu cầu dinh dưỡng. 
Chỉ mình ta không bị ngoại vật trói buộc, 
nên thỏa tình sống nơi vắng vẻ an nhàn. 
Đêm qua vừa có trận mưa phùn, 
chẳng cần biết cỏ xuân tươi tốt. 
Nắng bỗng bừng trên núi xanh, 
chim chóc bay quanh nhà đua hót. 
Đôi khi bạn cùng đạo sĩ, 
hoặc đi theo tiều phu [vào rừng]. 
Tự yên lòng làm thân thấp kém; 
[vì coi ] đạm bạc, vinh hoa trên đời có là cái gì đâu. 

 Bản dịch của Mai Lộc 

Ở Ần

Tuy khác biệt nghèo hèn – sang trọng 
Ra khỏi nhà cái sống lo toan 
Riêng ta ngoại vật chẳng màng 
Sống nơi thanh vắng an nhàn lòng ưa 

Đêm vừa qua cơn mưa lất phất 
Đâu cần hay cỏ ngát xuân tươi 
Núi xanh bỗng rực sáng ngời 
Chim muông lảnh lót đến chơi quanh nhà 

Có khi đến lân la đạo sĩ 
Khi cùng tiều thủ thỉ rừng sâu 
Yên lòng thấp kém bản thân 
Giàu sang-đạm bạc để tâm làm gì?

Mailoc