Hiển thị các bài đăng có nhãn Trường Kỳ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trường Kỳ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 9 tháng 9, 2023

Chút Kỷ Niệm Với Ðan Thọ: Nhìn Từ Những Buổi Chiều Tím Của Cuộc Đời! - Trường Kỳ

(Hình: Đan Thọ và Trường Kỳ)

*Chút cuộc đời và sự nghiệp nhạc sĩ Đan Thọ

-Hầu như người Việt, thập niên 60, 70, ai cũng thuộc lới bãn nhạc này: “Chiều tím chiều nhớ thương ai, người em tóc dài Sầu trên phím đàn, tình vương không gian Mây bay quan san, có hay? Đàn nhớ từng cánh hoa bay, vầng trăng viễn hoài Màu xanh ước thề, dòng sông trôi đi Lúc chia tay còn nhớ chăng? Ai nhớ... mắt xanh năm nào Chiều thu soi bóng, nắng chưa phai màu Kề hai mái đầu nhìn mây tím... nhớ nhau...”

Đan Thọ được nhiều người thưởng ngoạn âm nhạc trước năm 1975 biết đến là một nhạc sĩ đa tài, ông là cha đẻ của bản nhạc “Chiều Tím” lời ca Đinh Hùng bất hủ cùng những nhạc phẩm khác như : Tình Quê Hương (phổ nhạc từ thơ Phan Lạc Tuyên), Bóng Quê Xưa, Vọng Cố Đô (viết cùng nhạc sĩ Nhật Bằng) hay Xa Quê Hương (viết cùng nhạc sĩ Xuân Tiên),… Nhạc của ông được nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn nhận xét là : “… nhạc của ông, vui hay buồn đều chừng mực, lãng mạn nhưng không có vẻ ủy mị, đắm đuối, và nhất là luôn toát ra vẻ lịch sự, sang trọng”. Ngoài sáng tác nhạc, nhạc sĩ Đan Thọ còn chơi được nhiều loại nhạc cụ khác nhau, nhưng trong đó ông иổi tiếng nhất với ngón đàn violin điêu luyện và tiếng kèn saxophone điệu nghệ đã làm mưa làm gió một thời tại các phòng trà ca nhạc và vũ trường của Sài Gòn trước năm 75.

( Nhạc Sĩ Đan Thọ)

Đan Thọ tên thật là Đan Đình Thọ, sinh ngày 21 tháng 6 năm 1924 tại Nam Định.
Ông được học nhạc từ khá sớm, vào năm 1936 đến năm 1941 Đan Thọ theo học tại trường Saint Thomas D’Aquin dòng Lasan.

Năm 1942 – 1945, Đan Thọ được học hòa âm và sáng tác cùng với các giáo sư Tạ Phước và Vũ Đình Dự.

Năm 1945, ông bắt đầu đi làm thêm tại phòng trà Thiên Thai của nhạc sĩ Hoàng Trọng ở Nam Định với vai trò là một tay chơi đàn violin. Cũng trong năm này, Đan Thọ lập gia đình với một thiếu nữ Hà Nội mới 16 tuổi, hai người quen biết nhau qua sự giới thiệu của cнíɴн người em họ của vợ ông mà ông quen biết trước. Cho dù gia đình của cô gái có phần e ngại khi biết con gái sắp kết hôn cùng với một nghệ sĩ nhưng thời gian đã chứng minh tất cả, sau bao thăиg trầm của cuộc sống thì ông bà vẫn sống với nhau cho tới ngày nay “răиg long đầu bạc”, cùng nuôi dạy nên người một cậu con trai và ba cô con gái.

Năm 1948 – 1954, Đan Thọ gia nhập Ban quân nhạc Đệ Tam Quân Khu Hà Nội cùng với các nhạc sĩ tên tuổi khác như: Văи Phụng, Nguyễn Hiền, Nhật Bằng, Nguyễn Túc, Nguyễn Cầu,… Trong thời gian hoạt động tại đây, Đan Thọ được quân nhạc trưởng Schmetzler hướng dẫn về cách dùng Saxophone, từ đó ông chơi sành cả hai loại nhạc cụ là violin lẫn Saxophone tenor. Ngoài tham gia những hoạt động trong ban quân nhạc, Đan Thọ cùng nhạc sĩ Nguyễn Túc từng trình diễn tại nhiều phòng trà ở Hà Nội.

Năm 1952, Đan Thọ cho ra đời hai nhạc phẩm đầu tay được ông sáng tác chung với nhạc sĩ Nhật Bằng mang tên “Bóng Quê Xưa” và “Vọng Cố Đô”.

Lê văи Thiện và Đan Thọ thời kỳ thành viên ban nhạc Đại Nam
Từ trái: Lê văn Thiện (Piano), Đan Thọ. (Saxo Tenor & Violon) Nguyễn văn Hạnh (Bass). Văn Ba (Trumpet), Huỳnh Anh (Trống)

Khoảng giữa năm 1954, Đan Thọ cùng ban quân nhạc ᴅι cư vào Nha Trang rồi sau đó đặt chân đến Sài Gòn vào năm 1956. Giai đoạn này, ông đã sáng tác ca khúc “Tình Quê Hương” được phổ từ một bài thơ của nhà thơ Phan Lạc Tuyên.

Sau khi vào Nam, ông tiếp tục theo học kèn với nhạc sĩ Mano Umali người Phi Luật Tân. Với sở trường sử dụng thành thạo hai nhạc khí là Violin và Saxophone, Đan Thọ cộng tác với nhiều chương trình nhạc trên các đài phát thanh, truyền hình và phòng trà, vũ trường ở Sài Gòn.

Bên cạnh đó, ông còn là trưởng ban nhạc nhẹ của đài Ðài Phát Thanh Tiếng Nói Quân Ðội trong khoảng một thời gian dài từ năm 1956 – 1965, gồm các nhạc sĩ иổi danh như: Xuân Tiên, Xuân Lôi, Văи Ba, Nguyễn Ích, Canh Thân,… và đặc biệt là trong ban nhạc này có một người nhạc sĩ người Philippines tên Alano Badin soạn hòa âm cho những nhạc phẩm Việt Nam thu thanh, nhờ đó đã mang lại cho người nghe những âm thanh mới lạ.

Năm 1956 và 1961, Đan Thọ cùng ban nhạc của mình được cử vào phái đoàn nghệ sĩ của miền Nam, đi trình diễn tại Bangkok và Manila và đã gặt hái được nhiều thành côɴԍ đáng kể.

Năm 1962, khi có lệnh cấm khiêu vũ thì một ban nhạc của vũ trường Đại Nam tiên phong đổi qua trình diễn nhạc Jazz gồm các nhạc sĩ иổi danh như: Đan Thọ, Văи Hạnh, Lê Văи Thiện, Huỳnh Anh,… Riêng cá nhân Đan Thọ đã có dịp trình diễn cho khán giả Việt Nam lúc bấy giờ thưởng thức tiếng kèn Saxophone quyến rũ của ông qua dòng nhạc Jazz tương đối mới mẻ với người thưởng ngoạn.

Khoảng cuối thập niên 1960, Đan Thọ tham gia vào ban Shotguns của nhạc sĩ Ngọc Chánh và tiếp tục trình diễn tại nhiều phòng trà, vũ trường cho đến năm 1975.

Trong thời gian làm việc ở Sài Gòn, ngoài việc trình diễn, Đan Thọ còn sáng tác nhiều nhạc phẩm đặc sắc. Những bản tình ca ông viết mang âm điệu nhẹ nhàng, tha thiết, lời ca trong sáng như: Chiều Tím (thơ Đinh Hùng), Xa Quê Hương (viết chung với nhạc sĩ Xuân Tiên), Mimosa Thôi Nở (thơ Nhất Tuấn). Trong đó đặc biệt nhất là ca khúc “Chiều Tím”, đây có thể được xem là một trong những ca khúc đặc sắc nhất của nền tân nhạc Việt Nam. Theo một số tài liệu cho rằng nhạc phẩm “Chiều Tím” được nhạc sĩ Đan Thọ phổ nhạc cho thơ của nhà thơ Đinh Hùng. Nhưng theo tài liệu của Tạp chí Thế Giới Nghệ Sĩ thì viết rằng: “Chiều Tím, cнíɴн nhạc sĩ Đan Thọ cho biết, có lời ca do nhà thơ Đinh Hùng viết chứ không phải là thơ phổ nhạc, theo tác giả Nguyễn Đình Toàn ghi lại. Đan Thọ kể lại rằng, trong một bữa uống cà phê tại La Pagode, Đan Thọ đã đưa bản nhạc vừa viết xong của mình cho Đinh Hùng và Thanh Nam coi. Đinh Hùng nói, “moi biết chơi mandoline, để moi viết lời ca cho”. Khi Đinh Hùng viết xong lời ca, ba người gặp lại nhau, Thanh Nam đề nghị đặt tên là Chiều Tím. Ca sĩ trình bày Chiều Tím đầu tiên trên làn sóng điện là Anh Ngọc”.

Sau năm 1975, Đan Thọ cộng tác với ban nhạc của Đoàn Kịch Nói Kim Cương và cùng ban nhạc đi lưu diễn nhiều nơi như: Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết, vv… Lúc đó trong đoàn kịch ông làm việc chung với nhiều nhạc sĩ иổi danh trước năm 75 khác như Xuân Tiên, Lâm Thoại Nguyên, Ngọc Chánh, Lê Văи Thiện, Đài Trang, Đặng Văи Hiền, vv…

Năm 1980, Đan Thọ cùng với Đoàn Kịch Nói Kim Cương ra Hà Nội trình diễn trong vòng một tháng và được côɴԍ chúng đón nhận nồng nhiệt.

Tuy nhiên sau đó, ông quyết định xin nghỉ và dành cả thời gian của mình cho gia đình cùng với thú nuôi chim yến của ông.
Thế nhưng, tuy không còn đi lưu diễn nhưng Đan Thọ chưa thể xa rời sân khấu, ông cùng với nhạc sĩ Cao Phi Long và một số nhạc sĩ khác như Trí, Hòa,… được mời cộng tác với vũ trường Maxim’s ở trên lầu. Tại đây, Đan Thọ và các nhạc sĩ trong ban đã khiến khán giả thích thú với nghệ thuật trình bày loại nhạc Zigane, trong số có rất nhiều khán giả người ngoại quốc rất yêu thích chương trình nhạc của ông.

Năm 1985, Đan Thọ cùng gia đình rời Việt Nam đến định cư tại Hoa Kỳ. Sau khi định cư tại đây, dù lúc này tuổi cũng đã ngoài 60 nhưng vợ chồng ông vẫn cần mẫn ʟái xe hàng ngày từ Quận Cam lên Van Nuys và làm việc cho côɴԍ ty General Ribbon chuyên hãng sản xuất “ruy-băиg” cho máy điện toán. Và vào những đêm cuối tuần, ông lại chơi nhạc tại vũ trường Ritz của nhạc sĩ Ngọc Chánh.

Đến năm 1995, Đan Thọ chính thức tuyên bố giải nghệ. Tối ngày 30 tháng 6 năm 1995, ông tổ chức một đêm nhạc tại vũ trường Ritz để từ giã bạn bè tại California và xem như đánh dấu quá trình hoạt động âm nhạc cuối cùng của ông.

Sau đó, Đan Thọ về Louisiana đoàn tụ với gia đình con gái Đan Tâm và con rể là bác sĩ Mùi Quý Bồng. Ca khúc sau cùng được Đan Thọ sáng tác là “Dương Cầm” viết dựa trên ý thơ của Mùi Quý Bồng, cảm hứng được lấy từ lúc ông thấy bàn tay nhỏ nhắn xιɴh xắn của cháu gái đang lướt nhẹ trên các phím dương cầm.

Giờ đây, nhạc sĩ Đan Thọ đang sống yên bình và hạnh phúc với cuộc sống viên mãn của mình bên người vợ hiền, họ đang tận hưởng những chuỗi ngày nhàn hạ, nương tựa nhau trong tuổi xế chiều tại Houston và con cháu cũng thường xuyên qua lại thăm ông bà, cho đến ngày Ông qua đời!

(Qua Trường Kỳ)


Thứ Tư, 24 tháng 11, 2021

Vũ Hối: Thi Ca Và Thư Họa


Bốn tháng trước khi bị ám sát, tổng thống John.F. Kennedy đã mời một họa sĩ người Việt Nam vào tòa Bạch Ốc vẽ chân dung cho ông vào ngày 21 tháng 07 năm 1963. Bức chân dung khổ lớn vẽ bằng sơn dầu đó có thể coi như bức chân dung cuối cùng của vị tổng thống thứ 35 của Hoa Kỳ. Người thực hiện tác phẩm hội họa có tính cách lịch sử cho tổng thống Kennedy chính là Vũ Hối, được biết đến nhiều về nghệ thuật Thư Họa của ông. Hiện bức tranh này theo Vũ Hối cho biết đang được trưng bầy tại Kennedy Center ở Boston, sau khi đã được triển lãm ở rất nhiều nơi. Cùng trong dịp đó, Vũ Hối đã thực hiện một bức chân dung cho bà Jacqueline Kennedy. Vinh dự này đã được dành cho Vũ Hối sau khi ông chiếm giải khôi nguyên về hội họa tổ chức tại Hoa Kỳ trong số những họa sĩ của trên 32 quốc gia...

Và hình như Vũ Hối có số gặp những vị nguyên thủ quốc gia. Nên vào năm 1995 ông đã được tổng thống Tiệp Khắc Vacla Havel - được coi là người hùng của cuộc “cách mạng nhung” – mời sang tham dự cuộc triển lãm tranh tại thủ đô Praha vào ngày 05 tháng 09. Lý do ông được tổng thống Tiệp biết tới vì tên ông cùng những thành tích của ông được ghi trong Tự Điển Danh Nhân Thế Giới, xuất bản tại Anh Quốc. Ông cũng từng được coi là “Nhân Vật Trong Năm” ( Man Of The Year ) vào năm 1994 của học viện Cambridge, Luân Đôn. Cũng tại thủ đô Tiệp Khắc, Vũ Hối đã trao tặng một bức hoạ của ông nhan đề “Giấc Mộng Hoà Bình” ( “Peace Dream “) cho tổng thống Vacla Havel. Cùng trong năm 1994, họa sĩ Vũ Hối còn được vinh danh tại Đại Hội Mỹ Thuật Thế Giới tại thành phố Atlanta.

Coi Vũ Hối như một họa sĩ cũng chưa đúng. Mà phải nhìn nơi ông như một nhà nghệ sĩ có khả năng đa dạng. Vì ông còn là một nhà thơ có nhiều tác phẩm, một tay nhiếp ảnh nhiều đam mê và nhất là một người được xếp vào hàng đầu trong nghệ thuật Thư Họa.

Vũ Hối là tên thật của người nghệ sĩ có 10 đầu ngón tay với những hoa tay nở đều và giống hệt nhau cùng với một ngôi sao nằm giữa lòng bàn tay. Vũ Hối không để ý đến những chi tiết này cho đến khi ông gặp bác sĩ Lê Văn Lân, một nhà biên khảo tên tuổi, trong dịp sang Philadelphia triển lãm tranh

Nghệ sĩ Vũ Hối sinh năm 1932 tại Quảng Nam. Tuy là một nơi đồng khô cỏ cháy, nhưng là nơi địa linh anh kiệt được vua Thành Thái ban cho danh hiệu “:Ngũ Phụng Tề Phi” sau khi đất Quảng Nam có được 5 người cùng đậu tiến sĩ một lượt. Ông là con út trong một gia đình có 6 người con. Ông mồ côi mẹ từ khi lên 12 tuổi, sau đó ông từ Quảng Nam ra Huế học tại trường Phan Chu Trinh. Khi Vũ Hối bước vào lớp tuổi trưởng thành thì thân phụ ông cũng qua đời trong đợt Cải Cách Ruộng Đất. Trong khi đó bốn anh chị của ông đều bị cộng sản ám sát. Ông chỉ còn lại người anh là giáo sư Vũ Ký hiện sống ở Bruxelles., thủ đô Bỉ Quốc. Giáo sư Vũ Ký từng bị tù tại Tiên Lãnh và đã được quốc vương Bỉ bảo lãnh qua thẳng quốc gia này. Tài sản của thân phụ Vũ Hối để lại cho ông không có gì ngoài một cái nghiên và một cây bút trong thời gian gia đình lâm vào một hoàn cảnh cực kỳ khó khăn. Ông tâm sự “Mình thì dốt chữ nho, không biết làm gì với cái nghiên cái bút đó, thì mình cũng hí hoáy hí hoáy viết thành chữ Việt”. Đó chính là sự khởi đầu cho nghệ thuật Thư Họa của ông sau này. Một phần khác, ngay ở bậc tiểu học ông đã luôn được thầy cô khen ngợi về nét chữ rất đẹp.

Vũ Hối một thân một mình vào Sài Gòn năm 1950. Là một người có nhiều khả năng bẩm sinh về nghệ thuật, nên ông đã tự học tất cả những bộ môn khiến ông nổi tiếng sau này. Sau khi hết bậc trung học, Vũ Hối bị động viên và theo ngành truyền tin dưới thời Pháp. Sau khi giải ngũ, ông bắt đầu dấn thân vào những hoạt động văn học nghệ thuật. Khởi đầu bằng viết, kế đó là thơ, họa và nhiếp ảnh.

Trong lãnh vực thơ văn, Vũ Hối bắt đầu làm thơ từ khi 22 tuổi. Ông sáng tác đủ thể loại như lục bát, thất ngôn, ngũ ngôn, v.v.… với đề tài phần lớn về tình yêu đất nước, quê hương. Vì ông cho biết trong tâm hồn mình luôn có những trăn trở về quê hương, mặc dù cuộc sống của ông hiện nay đã tạm ổn định trên xứ người.

Đến năm 1958, Vũ Hối cho phát hành tập thơ đầu tiên của mình là “Mùa Giao Cảm”. Kế đó là tập Vần Thơ Màu Trắng vào năm 1960. Tập thơ này đã được phiên dịch ra Anh và Pháp Ngữ. Đến năm 1963, ông cho phát hành tập truyện ngắn Những Dấu Chân Đi. Ra đến hải ngoại, ông tiếp tục xuất bản thi tập Chiêm Bao Trở Giấc vào năm 1997. Thêm vào đó ông còn phối hợp các thi phẩm của mình với nghệ thuật thư hoạ trong các tập Nghìn Thương Đất Mẹ và Mây Ngàn ( thơ Anh, Việt, Pháp ) vào năm 2000 và 2002. Một số thi phẩm của Vũ Hối cũng đã được đưa vào 2 CD: Thơ Vũ Hối ( 1998 ) và CD Thơ Nhạc Trong Tranh, phát hành năm 2001, gồm những bài thơ được phổ nhạc bởi các nhạc sĩ Đức Quỳnh, Trần Thiện Thanh, Song Ngọc, Nguyễn Hữu Tân, v.v... Gần đây nhất, ông đã sử dụng nghệ thuật Thư Họa sắc sảo của mình trong tập Thư Hoạ Truyện Kiều Nguyễn Du, xuất bản năm 2003.

Về hội họa, từ nhỏ Vũ Hối đã khám phá ra năng khiếu của mình, như ông nói:” Hồi nhỏ thì vẽ đẹp lắm. Mà hồi đó đâu có mầu có mè gì . Có cái cây gì mầu xanh thì mình giã ra . Rồi như là màu tím thì lấy những cây mầu tím giã ra viết thôi chứ ở nhà quê cũng khổ lắm!”

Khi lớn lên, ông từng vẽ nhiều tranh cũng như dạy hội họa ở Cần Thơ. Tuy nhiên sau này từ khi ra hải ngoại, do sự khó khăn vì chỉ còn sử dụng được một mắt nên khả năng của ông đã bị hạn chế rất nhiều. Đó là kết quả sau một thời gian dài bị biệt giam trong tình trạng thiếu ánh sáng.

Vũ Hối là người đã sáng tạo ra trường phái được ông đặt tên là Luân Vũ Họa, tức “Painting In Motion” được hiểu một cách giản dị là “tranh quay” như ông trình bầy. Bức Luân Vũ Họa của ông đã được trưng bầy tại Đại Hội Mỹ Thuật Thế Giới vào năm 1994. Giải thích rõ hơn về nguồn gốc của Luân Vũ Họa, Vũ Hối cho biết đã dựa trên sự xoay chuyển của trái đất và nhất là muốn đưa triết lý Đông Phương vào hội họa trừu tượng của Tây Phương.

Còn về bộ môn nhiếp ảnh, Vũ Hối có chân trong một hội nhiếp ảnh từ khi sang Mỹ, và trước đó ở Việt Nam từng có thời gian hoạt động với những nhiếp ảnh gia tên tuổi...

Sau năm 75, Vũ Hối gần như không còn hoạt động gì, ngoài việc sáng tác một số bài thơ, được phổ biến trong giới văn nghệ sĩ quen biết, được ông gọi là thi “chui”.. Một số đã được nhạc sĩ Lê Thương và Đức Quỳnh phổ nhạc và cũng chỉ được phổ biến rất hạn chế.

Một thời gian sau biến cố tháng 4 năm 75 ông bị bắt cùng một đợt với các văn thi sĩ Vũ Hoàng Chương, Doãn Quốc Sỹ, vv...và bị giam tại nhà tù Phan Đăng Lưu. Mãi đến năm 1992, trong khi còn bị giam, ông may mắn được thượng nghị sĩ Bob Dole thuộc đảng Cộng Hòa và là người từng tranh cử tổng thống Hoa Kỳ với ông Gerald Ford vào năm 1976, bảo lãnh sang My. Cùng đi với ông có vợ và 2 người con lúc đó còn độc thân trong số tất cả 6 người con của ông. Gia đình Vũ Hối được đưa thẳng tới thủ đô Washington và cư ngụ tại đây cho đến nay. Vừa đặt chân xuống phi trường, Vũ Hối đã nhận được sự đón tiếp nồng nhiệt của các tổ chức văn học nghệ thuật tại hải ngoại vốn vẫn dành cho ông nhiều cảm tình. Cùng một lúc ông đã bắt tay ngay vào việc sửa soạn cho một cuộc triển lãm tranh tại Washington, D.C. vào năm 1993 với một số tranh mang từ Việt Nam sang và một số mới vẽ sau khi đến Mỹ. Cuộc triển lãm này do ông David Jones, một trong những người trong hội đồng giám khảo cuộc thi Khôi Nguyên Hội Họa vào năm 1963, bảo trợ. Đến nay Vũ Hối đã đứng ra bảo lãnh được một người con, cũng từng dạy hội họa ở Sài Gòn cùng một cháu nội sang đoàn tụ. Ông hiện cũng đang tiến hành thủ tục bảo lãnh cho 3 người con còn lại, trong số có người con cả cũng là người viết Thư Hoạ như ông.

Với nghệ thuật Thư Hoạ, Vũ Hối đã hãnh diện nhận mình là người sáng tạo ra bộ môn này. Còn riêng về danh từ Thư Họa đặt cho bộ môn ông có khả năng rất vững vàng, Vũ Hối cho biết do nhà học giả Nguyễn Quốc Tuân đặt ra để phân biệt với bộ môn Thư Pháp đã có từ trước...

Về những người nối tiếp ông trong nghệ thuật Thư Họa là nghệ thuật hiện nay gắn liền với tên tuổi ông, Vũ Hối cho biết ở Việt Nam hiện nay có không ít người theo đuổi, tuy nhiên còn mang nặng ảnh hưởng lối viết hán tự, chưa lột tả được cái hồn của ngôn ngữ Việt...

Với tài nghệ độc đáo về Thư Họa, Vũ Hối cho đến nay tuy tuổi đã cao và thị giác bị hạn chế, nhưng vẫn thường xuyên được mời đi đó đây để biểu diễn về nghệ thuật này. Đặc biệt là vào những dịp tết, ông thường được mời đóng vai thầy đồ, viết câu đối bằng nghệ thuật Thư Họa tại những Hội Chợ Tết ở hải ngoại. Trong số có Hội Chợ Tết San Jose mà thầy đồ Vũ Hối đã có mặt để thảo những nét chữ như rồng bay phượng múa liên tiếp từ 10 năm nay và “ bây giờ thành cái huyền thoại nhà nào có chữ Vũ Hối là nhà đó làm ăn khá! , như lời ông nói.

Vũ Hối viết Thư Hoạ theo nhiều lối được ông phân chia thành Trúc Tự, Thủy Tự, Vân Tự, Hỏa Tự. Những lối này được ông giải thích:”lối viết chữ tùy theo cái cảm hứng của mình. Với lại tùy nội dung câu thơ như thế nào thì mình viết tùy theo lối mình chế ra Thí dụ như Trúc Tự là như câu “gió đưa cành trúc la đà…”, Rồi Thủy Tự là viết như nước chảy thí dụ như câu “Thuyền ra giữa bến thuyền dừng, ai đi thương nước nửa chứng lại thôi” là thơ của mình. Vân Tự thì viết như mây bay. Hỏa Tự là viết như lửa cháy.phừng phực...!”

Nhiều người cho như vậy ông đã bị ảnh hưởng nhiều lối viết của Trung Hoa. Nhưng Vũ Hối khẳng định hoàn toàn không có sự vay mượn ở bất cứ đâu. Và nhất là không hề bị lai căng chữ Tầu, chữ Nhật hay Đại Hàn.

Năm nay tuy Vũ Hối đã 73 tuổi nhưng niềm đam mê của ông về Thư Họa có vẻ càng ngày càng lớn như tuổi tác của ông mà không theo một tỷ lệ nghịch. Ông cũng vẫn còn những dự định để theo đuổi. Trước mắt, ông sẽ cùng nhà văn Nguyễn Hữu Nhật ( chồng nhà văn Nguyễn Thị Vinh ) ở Na Uy thực hiện một tuyển tập gồm 300 thi phẩm hay nhất của Việt Nam thể hiện bằng nghệ thuật Thư Họa của ông. Và ông hy vọng sẽ hoàn thành trong năm 2006...

Trường Kỳ(2005)