Hiển thị các bài đăng có nhãn Hàn Dũ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hàn Dũ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 29 tháng 9, 2025

Thu Hoài Kỳ 4 秋懷其四 - Hàn Dũ (Trung Đường)

Hàn Dũ 韓愈 (768-824) tự là Thoái Chi 退之, sinh quán ở Nam Dương nay thuộc tỉnh Hồ Bắc. Tổ phụ là người huyện Xương Lê nên ông thường tự xưng là Hàn Xương. Ông sinh năm 768, mất năm 824 và do đó được xếp vào những tác giả của Trung Ðường. Mồ côi cha mẹ từ năm ba tuổi, thuở nhỏ ông có một cuộc sống rất cực khổ, sống chung với anh và khi anh chết thì ông được người chị dâu dưỡng dục cho đến khi thành tài. Tình cảm sâu đậm giữa ông và gia đình người anh sau này đã được ông kể lại trong bài Tế thập nhị lang văn bất hủ. Ông rất thông minh, mới hai mươi bốn tuổi đã đỗ tiến sĩ. Hoạn lộ bắt đầu bằng chức Thôi quan cho các Tiết độ sứ, rồi được gọi về triều giữ chức Tứ môn bác sĩ, sau thăng lên Ngự sử. Không rõ vì lẽ gì, ông bị Dục Tông biếm đi làm huyện lệnh ở một huyện nhỏ nhưng chỉ ít lâu sau lại được triệu về kinh giữ chức Quốc tử giám bác sĩ. Khi tể tướng Bùi Ðộ và Lý Sóc (Lý Tố) vâng lệnh cầm quân dẹp loạn Hoài Tây, ông cũng đi theo giữ chức Hành quân tư mã. Dẹp loạn thành công, Ðường Hiến Tông sai ông viết bài văn Bình Hoài Tây bi. Bài văn làm tăng thêm sự rạn nứt giữa Bùi Ðộ và Lý Sóc vì Hàn cho rằng tất cả công lao đều thuộc về Bùi Ðộ. Ðiều này có lẽ cũng dễ hiểu vì giữa hai phái bảo thủ và cách tân đang dằng co giữa triều đình lúc bấy giờ, Hàn là người của phe bảo thủ. Ông được thăng Hình bộ thị lang sau đó.

Ðường Hiến Tông vào những năm cuối đời rất tin đạo Phật. Nghe nói trong Pháp Môn Tự có thờ một đốt ngón tay của đức Phật trong một toà tháp, cứ 30 năm mới mở ra một lần cho mọi người vào chiêm bái, Hiến Tông lập tức cho người rước đốt xương đó vào cung thờ phụng, sau lại rước ra chùa cho mọi người xem. Những cuộc đưa rước, chiêm bái của ông hết sức linh đình, xa xỉ. Vua tin thì quan viên cũng hùa theo, một phong trào sùng bái xương Phật lan tràn khắp nơi, người giàu thì đua nhau quyên tiền hương hỏa, người nghèo thì chầu chực xin những nén hương trong chùa tự đốt phỏng thân thể để chứng tỏ lòng thành kính.

Hàn Dũ phóng bút viết bài Gián nghinh Phật cốt biểu (còn gọi là Luận Phật cốt biểu) dâng lên can gián Hiến Tông, lời lẽ rất đanh thép, cứng rắn, có đoạn khuyên vua nên ném xương Phật vào nước lửa, Phật có giáng tội ông xin chịu hết. Hiến Tông vô cùng thịnh nộ, đã định đem ông ra chém, may nhờ có nhiều người can gián ông mới thoát chết, chỉ bị đày đến Triều Châu, thuộc Quảng Tây ngày nay. Ðây cũng chính là nơi ông để lại bài Tả thiên chí Lam Quan thị điệt tôn Tương và bài Tế ngạc ngư văn nổi tiếng. Tế ngạc ngư văn đã khiến ông được Hiến Tông phục chức cho trở lại kinh đô giữ chức Quốc tử giám tế tửu, sau thăng Binh bộ thị lang.

Với bài Luận Phật cốt biểu, ta phải nghĩ rằng những chuyện mê tín dị đoan chắc chẳng thể nào vào tai Hàn. Nhưng ông lại chết vì uống thuốc trường sinh. Có lẽ đây là do ảnh hưởng của người cháu là Hàn Tương, một tín đồ của Ðạo gia, mà truyền thuyết cho rằng là một trong Bát Tiên.

Về mặt văn học, Hàn để lại ít thơ nhưng là một văn gia kiệt xuất của Ðường triều. Là người đứng đầu trong Ðường Tống bát đại văn gia, ông chủ trương từ bỏ lối văn biền ngẫu lời đẹp mà ý rỗng. Ông viết rất nhiều bài văn gây ảnh hưởng lớn trong văn đàn thời đó. Bài Tống Lý Nguyện quy Bàn Cốc tự và bài Tế thập nhị lang văn của ông được dùng để làm ví dụ về văn phong giản dị, ý tứ chân thành, trong nhiều tuyển tập cổ văn Trung Việt.

Đầu đề là cảm hoài mùa thu nhưng chỉ nhân cảnh thu mà than cho thân phận bị thất sủng của mình và hận những kẻ đã đẩy mình vào tình trạng này.

Nguyên tác Dịch âm

秋懷其四 Thu Hoài Kỳ 4 

秋氣日惻惻 Thu khí nhật trắc trắc,
秋空日凌凌 Thu không nhật lăng lăng.
上無枝上蜩 Thượng vô chi thượng dăng,
下無盤中蠅 Hạ vô bàn trung lăng.
豈不感時節 Khởi bất cảm thời tiết?
耳目去所憎 Nhĩ mục khứ sở tăng.
清曉卷書坐 Thanh hiểu quyến thư toạ,
南山見高棱 Nam sơn kiến cao lăng.
其下澄湫水 Kỳ hạ trừng lưu thuỷ,
有蛟寒可罾 Hữu giao hàn khả tăng.
惜哉不得往 Tích tai bất đắc vãng,
豈謂吾無能 Khởi vị ngộ vô năng!

Chú giải:

Hàn Dũ làm thơ này năm 806. Lúc đó, ông đang bị đày đi Dương Sơn làm huyện lệnh, hết hạn được gọi về triều giữ chức quốc tử bác sĩ, một chức mà ông coi là nhàn hạ, không xứng với tài năng của ông.

Nam sơn: Tức núi Chung Nam ở phía nam kinh thành Trường An, cách khoảng 50 dặm.

Giao: Là con thuồng luồng, trong bài ám chỉ các tiết độ sứ được vua cho trấn thủ một vùng nào đó, bèn coi như lãnh thổ riêng, chống lại triều đình.

Dịch thơ

Mùa Thu Hoài Cảm kỳ 4

Khí thu nghe nằng nặng.
Trời thu trông cao cao.
Trên cành vắng ve sầu.
Dưới bàn không ruồi nhặng.
Ta vô cảm hay sao?
Mắt tai như mất hứng.
Sáng gấp sách ngồi ngắm,
Núi nam rừng lăng tươi,
Trong cây nước lạnh trôi,
Có thuồng luồng săn mồi.
Rất tiếc không tới được,
Bởi vì ta vô tài.

Lời bàn

Đây là nỗi lòng của một trung thần vừa mãn hạn đi đày vì lời nói ngay thẳng.

Bốn câu đầu:
Cảnh thu lạnh lẽo, cao ráo; trên cành không còn ve sầu, dưới bàn không còn ruồi nhặng (mùa hè đã hết, không thấy ve sầu và ruồi nhặng nữa). Nghĩa bóng: Ta nay đã già rồi, bị đày ở nơi đây, cách xa bọn tham quan ô lại.

Sáu câu 5, 6, 7, 8, 9 & 10:
Có lẽ ta đã trở thành vô cảm, không còn hứng nghe và nhìn thấy những gì đẹp đẽ nữa; buổi sáng gấp sách ngồi ngắm rừng lăng tươi ở núi nam, thấy có thuồng luồng đang săn mồi (kẻ phản nghịch đang tiếm đất của triều đình ở nơi xa).

Hai câu kết:
Nay ta đã bất lực, không còn sức sửa trị bọn tham quan nữa.
Bài thơ ngũ ngôn trường thiên 12 câu có nhịp địệu day dứt, ân hận, buồn rầu.

Con Cò
***
Nhớ Mùa Thu.

Hương thu ngày càng đậm,
Trời ngày càng cao sâu.
Trên cành vắng ve sầu,
Dưới khay chẳng nhặng bâu.
Có lẽ ta vô cảm?
Tai mắt thấy buồn rầu.
Sáng ngồi xếp sách lại,
Ngắm Nam Sơn đỉnh cao.
Dưới, suối trong lành chảy,
Có cá sấu giăng câu.
Tiếc rằng không tới được,
Ta vốn có tài đâu.

Mỹ Ngọc phỏng dịch.
Sept.20/2025.
***
Nhớ Thu

Thu về cảnh buồn thiu
Lạnh lẽo ngày hắt hiu
Cây cao ve không thấy
Dưới đất ruồi biến tiêu
Thời tiết thay đổi mặc
Hờn giận cũng giảm nhiều
Sáng dậy cầm quyển sách
Ngắm non đỉnh cao nghiêu
Hồ mát trong bên dưới
Bắt cá thú dữ liều
Ta không đến trừ ác
Đức tài đã tiêu điều

Thanh Vân
***
Nhớ Thu Kỳ 4

Khí thu ngày thảm thảm
Trời thu ngày trong trong
Trên cành ve chẳng có
Ruồi nhặng dưới khay không

Há không cảm thời tiết?
Tai mắt thoát côn trùng
Sớm mai ngồi cuộn sách
Núi Nam thấy cao tầng

Dưới có hồ sâu mát
Nơi đặt vó thuồng luồng
Tiếc thay không tới được
Hay mình thiếu khả năng?

Khí sắc thu ngày thêm se sắt
Bầu trời thu ngày rất cao cao
Trên cành chẳng có ve sầu
Dưới khay không thấy ruồi trâu bám đầy

Cảm thời tiết? Mắt tai không bận
Sớm mai ngồi sách cuộn, núi cao
Thuồng luồng nước mát vó câu
Tiếc ta không tới, lẽ nào… thiểu năng?

Lộc Bắc
***
Bối cảnh 11 bài Thu Hoài của Hàn Dũ:

Nhân vùng Quan Trung bị hạn hán kéo dài, Hàn Dũ đang làm Giám Sát Ngự Sử, đã dâng biểu "Ngự sử đài thượng luận thiên hạn nhân cơ trạng 御史臺上論天旱人饑狀”, thẳng thắng luận tội hoàng thân Lý Thực, nên ông bị biếm làm huyện lệnh Dương Sơn (Ngày nay chính trường có thể còn tệ hơn xưa vì khi nói chạm đến người thân của chế độ thì cũng bị hăm dọa, mất việc…). Hàn Dũ làm chùm thơ này năm 806 lúc ông đang bị đày nên giọng buồn thảm và mỉa mai. Hết hạn được gọi về triều giữ chức quốc tử bác sĩ, một chức mà ông coi là nhàn hạ, không xứng với tài năng của mình.

Bài thơ ngũ ngôn cổ phong Thu Hoài Kỳ 4 có thể chia làm 3 phần theo ý:

Phần 1 gồm 4 câu đầu, miêu tả thu ảm đạm, lạnh lẽo, không ve sầu cũng vắng ruồi nhặng.
Phần 2 gồm 4 câu kế tiếp, thu ảnh hưởng đến tình cảm của thi nhân. Giảm bớt khó chịu về nhiều chuyện mắt thấy tai nghe. Nhàn hạ ngắm Nam Sơn, như non sông gấm vóc.
Phần 3 gồm 4 câu cuối, vài nơi trên đất nước còn có các thế lực gian tà. Thi nhân tiếc là không dẹp được hết, nhưng tự hỏi phải chăng là vì mình thiếu tài đức.

Dịch nghĩa:

Thu Hoài Kỳ 4 Nhớ Thu Kỳ 4

Thu khí nhật trắc trắc
Vẻ thu ngày càng ảm đạm buồn bã,
Thu không nhật lăng lăng
Trời thu ngày càng lạnh lùng
Thượng vô chi thượng điêu
Không có ve sầu trên các cành cao,
Hạ vô bàn trung dăng
Cũng không có ruồi nhặng bu trên chén dưới đất.
Khởi bất cảm thời tiết
Ta chẳng cảm xúc khi thời tiết thay đổi sao?
Nhĩ mục khứ sở tăng
Sự chán ghét một số điều nghe thấy cũng giảm.
Thanh hiểu quyến thư toạ
Sáng sớm ngồi cầm quyển sách,
Nam Sơn kiến cao lăng
Và ngắm các đỉnh núi cao của dãy Chung Nam.
Kỳ hạ trừng tưu thủy
Hồ nước trong mát bên dưới,
Hữu giao hàn khả tăng
Dường như có thuồng luồng (các thế lực tà ác) sẵn sàng bắt cá (hại dân).
Tích tai bất đắc vãng
Tiếc thay ta không tới đó được (diệt trừ tà ác),
Khởi vị ngô vô năng
Đâu phải vì ta không đủ tài sức!

Autumn Memories No. 4 by Han Yu

The autumn air grows increasingly bleak, the high sky clear and cold.
There are no cicadas chirping in the branches, no flies buzzing in the bowls on the ground.
Don't you have a sense of profound emotion as the seasons change, and with them, your aversion to certain things you hear and see dissipates?
In the morning, I sit quietly, holding a book, gazing out at the towering peaks of Chungnan ridge.
The clear waters of the lake below seem to harbor cold dragons (evil forces), ready to catch fish (harm people).
What a pity! I can't go and explore. How can I say I'm powerless?

Dịch thơ:

Nhớ Thu Kỳ 4

Ảm đạm bầu trời thu,
Lạnh lùng tiết khí thu.
Trên cành ve chẳng hót,
Dưới đất ruồi không bu.
Cảm xúc với thời tiết,
Bớt đi chuyện ghét thù.
Sớm mai cầm sách ngắm,
Các đỉnh dãy Chung Nam.
Dưới hồ nước trong mát,
Thuồng luồng bắt cá ăn.
Tiếc ta không đến đó,
Diệc ác với tài năng.

Phí Minh Tâm
25-9-2025
***
Góp ý:

Bài thơ trông thì đơn giản với từng câu năm chữ có vẻ dễ hiểu nhưng hiểu cho được ý của thi nhân họ Hàn lại là chuyện khác. Có một điểm nhỏ có lẽ ít người thấy là 3 từ với bộ 虫=trùng (蜩=điêu, 蠅=đăng, 蛟=giao); mùa thu trên núi cao thì dĩ nhiên là không có ve sầu và ruồi nhưng con giao làm gì trong bối cảnh này? Người Tàu có chừng 30 từ chỉ con ve sầu và lý do là có nhiều loài ve và mỗi địa phương gọi chúng một tên khác nhau.

下無盤中蠅=hạ vô bàn trung dăng. Chữ 盤=bàn, dùng bộ 皿=mãnh, trong câu này không có nghĩa là cái bàn mà là một cái khay để chưng bày thức ăn; từ âm bàn này người Việt có cái lồng bàn để đậy thức ăn ngừa ruồi. Lồng là âm Hán Việt hóa của 籠=lộng, nhưng người Tàu không có từ kép 籠 盤.

Người Việt dịch 蛟=giao thành thuồng luồng nhưng thuồng luồng là một quái vật của huyền thoại và khó mà bắt được bằng lưới (有蛟寒可罾=hữu giao hàn khả tăng). Người Tàu xem giao là một biến thân của con 虺=hủy, một loài rắn độc (huyền thoại!) đã sống trên 500 năm (rồi thêm 500 năm nữa thì biến thành 角龍=giác long, rồng có sừng) và dĩ nhiên cũng khó mà hình dung cảnh dùng lưới vớt rồng! Các nhà nghiên cứu chữ Hán cũng đã đi đến những kết luận chỉ cá sấu, cá mập, những loài thủy sinh không sống trên núi. Và có một thuyết cho rằng giao không phải là sản phẩm của trí tưởng tượng của người Hán mà là con vật huyền thoại của nhóm Bách Việt, trong đó có người Giao Chỉ. Nếu không thể nào dùng lưới bắt con giao (有蛟寒可罾) thì phải chăng câu này có nghĩa là người ở ẩn xem mình như loài giao long sống theo lối sử dụng sơn hào hải vị? Và nếu hiểu như thế thì dịch giao thành thuồng luồng không xuôi tai.

南山=Nam sơn là một lối gọi núi Chung Nam, chừng 40km hướng nam của Tràng An. Núi này là cứ điểm của Lão giáo từ thời Hán và của phái Toàn Chân. Cho dù Phật giáo cũng có cơ sở trên Chung Nam, nói đến Nam sơn là nói đến Lão giáo và chuyện ở ẩn hay tu tiên, nơi không có ruồi nhặng quấy nhiễu, nơi nhà vua có sai người đi tìm cũng khó thành công. Không có ruồi đã đành nhưng cũng không có luôn ve sầu, biểu tượng của may mắn, biến thái và trường sinh bất lão. Phải chăng 上無枝上蜩=thượng vô chi thượng tiêu muốn nói là không thấy tiên đâu cả vì tu tiên chỉ là chuyện … huyễn?

Từ 棱=lăng, mặc dù viết với bộ 木, không phải là tên cây và hình như trên đời không có cây lăng! Nghĩa nguyên thủy của 棱 là một mảnh gỗ hình vuông rồi sau đó có thêm nghĩa giao điểm của hai bề mặt, và nghĩa sống núi (ridge/crête) nên câu 南山見高棱=nam san kiến cao lăng có nghĩa là thấy sống dãy núi Nam (một đỉnh của Chung Nam cao hơn 2,600 m.). Ngồi ở Tràng An thì đỉnh Chung Nam trông không xa lắm, cũng tựa như ở Huế hay Hội An thấy dãy Trường Sơn.

Hai câu cuối tả cảm tưởng của Hàn Dũ, vừa được vua ân xá, cho trở về kinh đô thay vì bôn ba tiếp tục lo việc tiến thân thì lại ngồi nhìn thánh địa của Lão giáo và phân vân có phải mình không thể lên Chung Nam tu tiên vi mình thiếu khả năng thành … tiên? Đã đành rằng từ 能 chỉ có thể dịch thành (khả) năng, khả năng làm gì, hay làm được gì, thì lại là chuyện khác. Tại sao vừa được gọi trở về triều và được vào lại Quốc Tử Giám (Hàn luôn luôn muốn cải tổ thể chế thi cử và nâng đỡ thí sinh), văn/thi nhân họ Hàn lại thấy mùa thu buồn da diết và trời cao vòi vọi (秋氣日惻惻, 秋空日凌凌)?

Đây không phải là tâm sự của một chính trị gia với mộng kinh bang tế thế mà là của một người sa cơ thất thế nghĩ chuyện lên núi ẩn cư.

Huỳnh Kim Giám

Thứ Ba, 9 tháng 9, 2025

Thanh Thanh Thủy Trung Bồ kỳ 1, 2 & 3 青青水中蒲其一二 & 三 - Hàn Dũ (Trung Đường)

 

Hàn Dũ 韓愈 (768-824) tự là Thoái Chi 退之, sinh quán ở Nam Dương nay thuộc tỉnh Hồ Bắc. Tổ phụ là người huyện Xương Lê nên ông thường tự xưng là Hàn Xương Lê. Ông sinh năm 768, mất năm 824 và do đó được xếp vào những tác gia của Trung Ðường. Mồ côi cha mẹ từ năm ba tuổi, thuở nhỏ ông có một cuộc sống rất cực khổ, sống chung với anh và khi anh chết thì ông được người chị dâu dưỡng dục cho đến khi thành tài. Tình cảm sâu đậm giữa ông và gia đình người anh sau này đã được ông kể lại trong bài Tế thập nhị lang văn bất hủ. Ông rất thông minh, mới hai mươi bốn tuổi đã đỗ tiến sĩ. Hoạn lộ bắt đầu bằng chức Thôi quan cho các Tiết độ sứ, rồi được gọi về triều giữ chức Tứ môn bác sĩ, sau thăng lên Ngự sử. Không rõ vì lẽ gì, ông bị Dục Tông biếm đi làm huyện lệnh ở một huyện nhỏ nhưng chỉ ít lâu sau lại được triệu về kinh giữ chức Quốc tử giám bác sĩ. Khi tể tướng Bùi Ðộ và Lý Sóc (Lý Tố) vâng lệnh cầm quân dẹp loạn Hoài Tây, ông cũng đi theo giữ chức Hành quân tư mã. Dẹp loạn thành công, Ðường Hiến Tông sai ông viết bài văn Bình Hoài Tây bi. Bài văn làm tăng thêm sự rạn nứt giữa Bùi Ðộ và Lý Sóc vì Hàn cho rằng tất cả công lao đều thuộc về Bùi Ðộ. Ðiều này có lẽ cũng dễ hiểu vì giữa hai phái bảo thủ và cách tân đang dằng co giữa triều đình lúc bấy giờ, Hàn là người của phe bảo thủ. Ông được thăng Hình bộ thị lang sau đó.

Ðường Hiến Tông vào những năm cuối đời rất tin đạo Phật. Nghe nói trong Pháp Môn Tự có thờ một đốt ngón tay của đức Phật trong một tòa tháp, cứ 30 năm mới mở ra một lần cho mọi người vào chiêm bái, Hiến Tông lập tức cho người rước đốt xương đó vào cung thờ phụng, sau lại rước ra chùa cho mọi người xem. Những cuộc đưa rước, chiêm bái của ông hết sức linh đình, xa xỉ. Vua tin thì quan viên cũng hùa theo, một phong trào sùng bái xương Phật lan tràn khắp nơi, người giàu thì đua nhau quyên tiền hương hỏa, người nghèo thì chầu chực xin những nén hương trong chùa tự đốt phỏng thân thể để chứng tỏ lòng thành kính.

Hàn Dũ phóng bút viết bài Gián nghinh Phật cốt biểu (còn gọi là Luận Phật cốt biểu) dâng lên can gián Hiến Tông, lời lẽ rất đanh thép, cứng rắn, có đoạn khuyên vua nên ném xương Phật vào nước lửa, Phật có giáng tội ông xin chịu hết. Hiến Tông vô cùng thịnh nộ, đã định đem ông ra chém, may nhờ có nhiều người can gián ông mới thoát chết, chỉ bị đày đến Triều Châu, thuộc Quảng Tây ngày nay. Ðây cũng chính là nơi ông để lại bài Tả thiên chí Lam Quan thị điệt tôn Tương và bài Tế ngạc ngư văn nổi tiếng. Tế ngạc ngư văn đã khiến ông được Hiến Tông phục chức cho trở lại kinh đô giữ chức Quốc tử giám tế tửu, sau thăng Binh bộ thị lang.

Với bài Luận Phật cốt biểu, ta phải nghĩ rằng những chuyện mê tín dị đoan chắc chẳng thể nào vào tai Hàn. Nhưng ông lại chết vì uống thuốc trường sinh. Có lẽ đây là do ảnh hưởng của người cháu là Hàn Tương, một tín đồ của Ðạo gia, mà truyền thuyết cho rằng là một trong Bát Tiên.

Về mặt văn học, Hàn để lại ít thơ nhưng là một văn gia kiệt xuất của Ðường triều. Là người đứng đầu trong Ðường Tống bát đại văn gia, ông chủ trương từ bỏ lối văn biền ngẫu lời đẹp mà ý rỗng. Ông viết rất nhiều bài văn gây ảnh hưởng lớn trong văn đàn thời đó. Bài Tống Lý Nguyện quy Bàn Cốc tự và bài Tế thập nhị lang văn của ông được dùng để làm ví dụ về văn phong giản dị, ý tứ chân thành, trong nhiều tuyển tập cổ văn Trung Việt.

Ba bài ngũ ngôn tứ tuyệt dưới đây tóm lược nỗi lòng sâu thăm thẳm của người vợ sống xa chồng ở tuổi đôi mươi. Mời các bạn thưởng thức và góp ý. 


Nguyên tác          Dịch âm

青青水中蒲其一 Thanh Thanh Thủy Trung Bồ kỳ 1


青青水中蒲 Thanh thanh thuỷ trung bồ,
下有一雙魚 Hạ hữu nhất song ngư.
君今上隴去 Quân kim thượng Lũng khứ,
我在與誰居 Ngã tại dữ thuỳ cư?

青青水中蒲其二 Thanh Thanh Thủy Trung Bồ kỳ 2

青青水中蒲 Thanh thanh thủy trung bồ,
長在水中居 Trường tại thuỷ trung cư.
寄語浮萍草 Ký ngữ phù bình thảo,
相隨我不如 Tương tuỳ ngã bất như.

青青水中蒲其三 Thanh Thanh Thủy Trung Bồ kỳ 3

青青水中蒲 Thanh thanh thuỷ trung bồ,
葉短不出水 Diệp đoản bất xuất thuỷ.
婦人不下堂 Phụ nhân bất hạ đường,
行子在萬里 Hành tử tại vạn lý.

Chú giải:

Ba bài này Hàn Dũ viết lúc 25 tuổi gửi tặng vợ, tỏ niềm thông cảm với nỗi cô quạnh của nàng. Bồ: Cỏ bồ, thứ cỏ rất nhẹ.

Dịch thơ

Cỏ Bồ Xanh Trong Nước kỳ 1


Bồ trong nước xanh rờn
Cặp cá lội an nhàn
Nay chàng ở đất Lũng
Thiếp phải sống cô đơn.

Cỏ Bồ Xanh Trong Nước kỳ 2

Bồ trong nước xanh rờn
Bồ nước tợ keo sơn
Nhắn cánh bèo trôi nổi
Ta theo chẳng kịp chàng

Cỏ Bồ Xanh Trong Nước kỳ 3

Bồ trong nước xanh rờn,
Lá ngắn chẳng bỏ nước.
Nữ nhi không xuống đường
Theo chàng vạn dặm được!


Lời bàn

Chỉ cần đọc ba bài này cũng đủ biết chân tình của Hàn Dũ đối với vợ. Ông là thi sĩ thời Đường, sau Lý Thương Ẩn và Nguyên Chẩn, làm nhiều thơ ca tụng vợ; rất may vợ ông đã dẫn ông đi trọn đường đời. (Không bạc như bà Cò, đã để ÔC đi một mình trên một đoạn đường có thể dài tới 20 năm).
Rất thương mến. Rất chân thành. Rất keo sơn.
 
 Con Cò
***
Cỏ Bồ Xanh Trong Nước.

Kỳ 1


Trong nước bồ xanh lơ,
Dưới đôi cá lượn lờ.
Chàng nay lên đất Lũng,
Thiếp ở với ai cơ?


Kỳ 2.

Bồ trong nước xanh mầu,
Nhà ở đây từ lâu.
Nhắn gửi bèo trôi nổi,
Theo nhau có được đâu.


Kỳ 3.

Bồ xanh xanh dưới nước,
Lá ngắn không ngoi được.
Vợ chẳng thể xa nhà,
Chàng muôn dậm cất bước.

Mỹ Ngọc phỏng dịch.
Aug. 30/2025.
***
Góp ý của Bát Sách:

Góp Ý Cho Bài THANH THANH THUỶ TRUNG BỒ Của Hàn Dũ.

Ba bài thơ của Hàn Dũ, đều bắt đầu bằng cái tựa: thơ ngũ ngôn, rất dễ thương, không có chữ khó, nói về nỗi lòng của người vợ khi phải xa chồng.

Cỏ Bồ có 2 loại chính là Hương Bồ (hay Thuỷ Hương Bồ) và Xương Bồ.
* Thủy Hương Bồ không thơm vì hoa mà vì củ.
- Hương Bồ, Typha Ceae, cỏ lác, bồn bồn.
- Hương Bồ lá hẹp, Typha Angustifolia, thủy hương, bồ hoàng.
- Hương Bồ lá rộng, Typha Latifolia, cũng gọi là bồn bồn.

*Xương Bồ, có
-Thuỷ Xương Bồ (Acorus Calamus và Acorus Verus)
-Thạch Xương Bồ (Acorus Gramineus)

Mấy loại này không biết mình gọi là gì.

Trong bài thơ Nguyên Chẩn tặng Tiết Đào có câu “Xương Bồ hoa phát ngũ vân cao “. Bồ này chắc Thủy Xương Bồ.
Trong truyện Thạch Nữ Giá Bồ Lang của Hư Chu, kề về cuộc hôn nhân của cô gái họ Thạch với chàng trai họ Bồ trên núi Tản Viên, thì Bồ này chắc Thạch Xương Bồ.

Cây Bồ trong thơ của Hàn Dũ, mọc dưới nước, phải là Thuỷ Hương Bồ hay Thủy Xương Bồ, nhưng không có loại nào chìm trong nước vì lá ngắn như trong bài 3.

Ba bài thơ này, BS dịch theo lục bát, coi êm tai và lãng mạn hơn.

Cỏ Bồ Xanh Xanh Trong Nước

Kỳ 1:

Cỏ bồ trong nước xanh xanh,
Có đôi cá lượn loanh quanh vui vầy,
Nay chàng đi tới Lũng tây,
Ai người cùng thiếp ở đây bây giờ?

Kỳ 2:

Cỏ bồ trong nước xanh xanh,
Cả đời phải chịu ngâm mình một nơi,
Nhắn lời với đám bèo trôi,
Rằng ta chẳng thể theo người được đâu.

Kỳ 3:

Cỏ bồ trong nước xanh xanh,
Lá kia quá ngắn nên đành chìm sâu,
Đàn bà không thể đi đâu,
Chàng xa vạn dặm tìm nhau được nào.

Bát Sách.
(Ngày 02/09/2025)

***

Bồ Bồ Xanh Trong Nước

Kỳ 1

Bồ bồ trong nước mọc xanh
Đôi cá thanh thản bơi quanh lượn lờ
Lũng Tây chàng ngụ bây giờ
Còn em ở lại bơ vơ một mình


Kỳ 2

Bồ bồ trong nước xanh tươi
Đã sống sung mãn bao mươi năm dài
Rong bèo trôi dạt miệt mài
Như ta không giống hình hài với mi


Kỳ 3

Bồ bồ trong nước mọc xanh
Ngắn lá nên chỉ mỏng manh là là
Phận gái không ra khỏi nhà
Chàng thì vạn dặm cách xa muôn trùng


Thanh Vân
***

Thủy hương bồ (Typha augustifolia, tên thông tục quen biết với người xứ Huế là bồn bồn.)
Cỏ Bồ là loại cỏ hoang dại mọc ở bãi bùn mé sông, ao hồ, ruộng; mọc ở nhiều nơi trên thế giới. Gần đây cây này được dùng như một loại rau có giá trị được nhiều người trong nước ưa chuộng và được trồng tỉa. Ở Canada nhiều người ở ven sông cũng thích và tìm kiếm loại cỏ này làm thực phẩm.

Xin mời xem 2 clips theo links sau đây:
https://www.youtube.com/watch?v=2ZPfZIXCjF8
https://www.youtube.com/watch?v=2vFNQh-sMn8

Giống như hoa sen cỏ bồ mọc trong bùn nhưng không ‘hôi tanh mùi bùn’. Qua bài này Hàn Dũ mượn cỏ bồ để tự ví mình

Phỏng dịch ba bài Thanh thanh thủy trung bồ của Hàn Dũ:

Xanh xanh trong nước cỏ bồ


Kỳ 1


Trong nước xanh cỏ bồ
Phiá dưới lượn song ngư
Nay chàng đi đất Lũng
Sống cùng ai bây giờ?


Kỳ 2


Trong nước xanh cỏ bồ
Luôn tại sông gần bờ
Nhắn với lục bình nổi
Trôi theo chẳng được như!


Kỳ 3


Trong nước xanh cỏ bồ
Lá ngắn khôn rời nước
Phụ nữ chẳng ra đường
Người thì muôn dặm lướt


Lộc Bắc

***
Cỏ Bồ Xanh Trong Nước

Kỳ 1

Cỏ Bồ trong nước xanh xanh
Tung tăng đôi cá lượn quanh lững lờ
Nay chàng đất Lũng mịt mờ
Còn thiếp ở lại bơ vơ ai cùng.

Kỳ 2

Cỏ Bồ trong nước xanh màu
Trầm mình sống đã từ lâu nơi này
Nhắn với bèo dạt trôi hoài
Ta đây chẳng thể miệt mài như ngươi.

Kỳ 3

Cỏ Bồ trong nước xanh xanh
Lá ngắn không vượt thôi đành náu nương
Nữ nhi chẳng thể lên đường
Có tìm nhau được dặm trường chàng xa

Kim Oanh
***
Nguyên tác:     Phiên âm:                          Dịch thơ:

青青水中蒲     Thanh Thanh Thủy Trung Bồ


三首-韓愈 Tam Thủ - Hàn Dũ Bồ             Bồ Xanh Trong Nước

其一 Kỳ 1

青青水中蒲 Thanh thanh thủy trung bồ      Bồ bồ xanh trong nước,
下有一雙魚 Hạ hữu nhất song ngư              Đôi cá lội khoan thai.
君今上隴去 Quân kim Thượng Lũng khứ   Chàng đã đi Thượng Lũng,
我在與誰居 Ngã tại dữ thùy cư                   Em biết sống cùng ai?

其二 Kỳ 2

青青水中蒲 Thanh thanh thủy trung bồ   Bồ bồ xanh trong nước,
長在水中居 Trường tại thủy trung cư      Năm tháng sống nơi này.
寄語浮萍草 Ký ngữ phù bình thảo          Nhắn với bèo trôi dạt,
相隨我不如 Tương tùy ngã bất như         Hãy cùng ở lại đây.


其三 Kỳ 3

青青水中蒲 Thanh thanh thủy trung bồ     Bồ bồ xanh trong nước,
葉短不出水 Diệp đoản bất xuất thủy         Lá ngắn nước không vượt.
婦人不下堂 Phụ nhân bất hạ đường          Đàn bà không bỏ nhà,
行子在萬里 Hành tử tại vạn lý                  Vạn dặm chàng đi xa.

Đây là ba bài ngũ ngôn theo thể nhạc phủ mà Hàn Dũ viết năm 793 khi còn trẻ, sống xa vợ, bày tỏ sự thông cảm với nỗi cô đơn của nàng. Mộc bản bài thơ có chép trong các sách:
Biệt Bổn Hàn Văn Khảo Dị - Đường - Hàn Dũ 别本韩文考异-唐-韩愈
Đông Nhã Đường Xương Lê Tập Chú - Đường - Hàn Dũ 东雅堂昌黎集注-唐-韩愈
Nhạc Phủ Thi Tập - Tống - Quách Mậu Thiến 乐府诗集-宋-郭茂倩

Ghi chú:

Bồ蒲 còn gọi là bồ bồ hay thủy xương bồ, tên khoa học Acorus Calamus, một giống cây thân cỏ, mọc trong ao và đầm lầy, cao đến 2 mét, lá dài và nhọn, nở hoa màu vàng nâu (còn được gọi là cattail) vào mùa hè.
Thanh thanh: lấy cảm hứng từ hình ảnh những cây bồ bồ xanh mướt trong nước.
Song ngư: ngày xưa, hai con cá được dùng để tượng trưng cho thư tín, ẩn dụ cho nỗi cô đơn khi vợ chồng xa cách nhau.
Thượng Lũng: địa danh trên dãy núi Lũng Sơn, xưa là nơi biên giới phía Tây của Trung Hoa, nay là Lũng Châu tỉnh Cam Túc, có nơi nói là Lũng Tây tỉnh Thiểm Tây.
Ký ngữ: nói ẩn dụ, bèo rong dưới nước có thể ở bên nhau và nương tựa vào nhau
Phù bình: chỉ loại bèo rong xanh nổi trôi trên mặt nước
Tương tùy: đồng hành, tùy thuộc nhau.
Bất như: không giống nhau, không thể so sánh được.
Diệp đoản: lá ngắn chỉ lá ngắn của cây bồ bồ, không thể mọc trên mặt nước, ẩn dụ cho việc không thể cùng chồng ra khỏi nhà.
Xuất thủy: ra khỏi mặt nước, ở đây ý nói rời bỏ cuộc sống trong nước.
Phụ nhân: người phụ nữ, đàn bà.
Bất hạ đường: không thể rời gian nhà chính, không đi ra khỏi nhà một mình.
Hành tử: người đàn ông đang đi xa nhà.

Dịch nghĩa:

Thanh Thanh Thủy Trung Bồ  Bồ Bồ Xanh Trong Nước

Kỳ 1

Thanh thanh thủy trung bồ      Cây bồ xanh xanh mọc trong nước,
Hạ hữu nhất song ngư             Bên dưới có một cặp cá bơi.
Quân kim Thượng Lũng khứ  Nay chàng đã đi Lũng Tây,
Ngã tại dữ thùy cư                  Em ở lại nhà biết sống cùng ai?

Kỳ 2

Thanh thanh thủy trung bồ    Cây bồ xanh xanh mọc trong nước,
Trường tại thủy trung cư       Sống lâu dài tại đây.
Ký ngữ phù bình thảo           Nhắn với cánh bèo trôi dạt,
Tương tùy ngã bất như         Ta chẳng nổi trôi như ngươi được.

Kỳ 3

Thanh thanh thủy trung bồ    Cây bồ xanh xanh mọc trong nước,
Diệp đoản bất xuất thủy        Lá ngắn không ra khỏi nước được.
Phụ nhân bất hạ đường         Đàn bà không được ra khỏi nhà,
Hành tử tại vạn lý                 Người ra đi giờ xa ta vạn dặm.

Green Calamus by Han Yu

Green calamus grows in the water, and beneath it swims a pair of fish.
Now you are traveling far to Longzhou, with whom shall I live here?
Green calamus grows in the water, and it has always lived here.
A message to the drifting duckweed: I would rather you stay with me all the time
Green calamus grows in the water, its leaves so short that they cannot leave the surface of the water.
Women often find it difficult to leave the house, and the one who travels is thousands of miles far away.

31-8-2025
Phí Minh Tâm
***
Góp ý:

青青水中蒲 Thanh thanh thuỷ trung bồ


Bồ là ... cái chi chi? (vì Cò nhắc tới vợ đã quá cố trong một bài về thơ của Hàn Dũ, người ni cũng viết lạc đề về một huyền thoại cho tên sông Hương để nhắc đến quê hương của các người thân sinh.)

Người ni đã đọc nhiều bài xã luận, nghiên cứu về nguồn gốc tên sông Hương và thấy rằng đa số tác giả hoặc sao chép lẫn nhau, hoặc cương ẩu về nguồn gốc tên Hương. Họ bảo rằng hương-mùi thơm đến từ tên cỏ thạch xương bồ - Acorus gramineus, tên Hán là 石菖蒲/thạch xương bồ - mọc đâu đó bên bờ sông Hương. Thậm chí có người còn lên tận A Lưới nhờ thổ dân bản xứ đi tìm loài cỏ này, y như thể nó hiếm lắm; hiếm đến nỗi hình như không người dân xứ Huế biết đời có cỏ này! Hình chụp ở dưới đến từ sách của Phạm Hoàng Hộ.


Tại sao người Việt lại dùng tên Hán-Việt của một loài cỏ/thuốc của người Tàu đặt tên cho sông của ta? Các bạn có thể để ý rằng PHHộ chua tên Việt là bồ bồ nhưng không có chữ 'hương', và không nói đến nhưng chính người Tàu cũng cho ta biết rằng chỉ củ của xương bồ mới có mùi thơm. Và người ni chưa hề nghe ai khen sông Hương thơm cả, cho dù nó chưa bị ô nhiễm, ít nhất ngày xưa.

形似菖蒲, ...; 根莖細長, 具氣味 (根 莖有特化的精油細胞 (aromatic oil cell)) 。hình tự xương bồ, ...; căn hành tế trường, cụ khí vị (căn hành hữu đặc hóa đích tinh du tế bào (aromatic oil cell)). [trích từ zn.Wikipedia]

Mời các bạn nhìn hình không ảnh của Huế-Thừa Thiên.


và sẽ thấy có nhiều địa danh với tên bắt đầu bằng Hương, kể cả huyện Hương Trà phía tây của Huế (trong vòng chấm đỏ ngoằn ngoèo.) Biên giới hướng bắc của Hương Trà là con sông tên ... Bồ. Bút hiệu của thân phụ tôi là Bồ Nam; ngày xưa tôi nghe nói bút hiệu đứng cho 'sông Bồ, núi Nam' nhưng tôi tìm mãi không ra một núi nào tên Nam ở Thừa Thiên nên giờ suy ra rằng bút hiệu muốn nói 'hướng nam của sông Bồ'. Sông Bồ là phụ lưu chính của sông Hương và đổ vào sông Hương ở Thanh Phước, 2.5 km hướng bắc của Huế.

Từ bồ này không đến từ cỏ thạch xương bồ mà từ cây thủy sinh hương bồ (Typha angustifolia, 香蒲, quen thuộc ở Mỹ dưới tên cattail và ở Pháp dưới các tên quenouille, massette, và dưới các tên bồn bồn, bồ hoàng, thủy hương ở Việt Nam.)


Dưới đây là hình của thủy hương/hương bồ bên bờ sông.


Phải chăng các tên thủy hương hay hương bồ là gốc hợp lý hơn cho tên sông Hương?

葉短不出水 Diệp đoản bất xuất thuỷ

Theo người ni biết thì lá của các cây hương bồ rất dài, quanh một mét và không có chuyện chỉ mọc chìm dưới nước, và không có mùi thơm. Và vì từ bồ trong bài thơ đứng cho ít nhất ba loài cây khác nhau. Acorus sp. và Typha sp., ta chỉ có thể đoán rằng cây bồ của Hàn Dũ có thể là thủy xương bồ (A. calamus) hay hương bồ (T. angustifoilia), những cây mọc bờ nước.

***
Bát Sách:
Anh Giám góp ý rất nhanh, giải thích về chữ BỒ, là một loài cỏ. Đọc xong thì BS cũng rối mù, phải đọc thêm Wikipedia, rồi cố sắp xếp cho gọn.

Kim Giám:
Bát Sách 'rối mù' là phải vì các tên cây chỉ khác nhau bởi phụ âm h và x, nhưng nhận ra những điểm chính có thể giúp ta định loại cây 蒲=bồ của Hàn Dũ và nguồn gốc tên sông Hương. BS không biết người Việt có tên cho 石菖蒲=thạch xương bồ (Acorus gramineus) chăng, và Phạm Hoàng Hộ cho ta biết là nó có tên bồ bồ, thường trồng ở non bộ. Vì đã gặp nhiều thuốc ta với tên toàn Hán-Việt, tôi nghĩ ngay rằng thạch xương bồ là một tên thông dụng cho thuốc bắc và phân vân tại sao người Việt lại dùng một tên thuốc bắc đặt tên cho con sông Hương như các huyền thoại nói. Nếu thật sự thạch xương bồ là một loài cỏ có mùi thơm để làm sông Hương nổi tiếng thì người dân Huế đã phải biết nhưng tôi chưa hề nghe nói đến loài cỏ này cho dù thân phụ tôi thích xây non bộ và đã có thể trồng thạch xương bồ để trang trí. Tôi chỉ tìm thấy những bài viết gán tên thạch xương bồ cho sông Hương từ sau '75 nên nghĩ rằng chúng là những hư cấu của con cháu cán ngố.

Vì là người xứ Huế và lớn lên bên cạnh hai con sông Hương và Bồ, dĩ nhiên tôi nghĩ rằng hương bồ có thể là nguồn gốc của các địa và thủy danh. Không như thạch/thủy xương bồ không có ở Việt Nam, hương bồ (Typha sp.) thì lại mọc khắp thế giới. Hai hình dưới với thạch xương bồ bên trái và thủy hương bồ bên phải:


cho ta thấy nguồn gốc của cái tên bồ: bồ là tên chung của các loài cây có hoa đặc thù như trong hình, (spadix-spadice trong Anh/Pháp ngữ, và tên Hán là 肉穗花=nhục tuệ hoa.) Mặc dù hoa của thạch xương bồ nhỏ xíu, nó cũng cấu trúc như hoa của thủy hương bồ (Typha augustifolia, tên thông tục quen biết với người xứ Huế là bồn bồn) bên bờ sông trong bài trước. Và BS cũng viết đúng khi nói rằng thạch xương bồ không thể là cây bồ của Hàn Dũ vì nó không mọc chìm dưới nước.

Vì dược tính của nó Acorus calamus (水菖蒲=thủy xương bồ) được nghiên cứu nhiều nhưng cũng nhờ thế tôi tìm ra rằng cả thạch lẫn thủy xương bồ không có gốc ở VN và PHH không liệt kê thủy xương bồ, nên thủy xương bồ cũng không thể là nguồn gốc của tên sông Hương, và có thể là cây bồ của Hàn Dũ, cho dù tôi cũng thắc mắc như BS rằng tại sao họ Hàn lại nói 葉短不出水=diệp đoản bất xuất thủy? Phải chăng ông ta cương ẩu cho hợp tình ý của người chinh phụ?

Huỳnh Kim Giám



Thứ Bảy, 31 tháng 10, 2020

Sơn Thạch 山石 - Hàn Dũ


Nguyên tác         Dịch âm

山石                     Sơn Thạch 

山石犖確行徑微 Sơn thạch lạc xác hành kính vi,
黃昏到寺蝙蝠飛 Hoàng hôn đáo tự biển bức phi.
升堂坐階新雨足 Thăng đường toạ giai tân vũ túc,
芭蕉葉大支子肥 Ba tiêu diệp đại chi tử phì.
僧言古壁佛畫好 Tăng ngôn cổ bích phật hoạ hảo,
以火來照所見稀 Dĩ hoả lai chiếu sở kiến hy.
鋪床拂席置羹飯 Phô sàng phất tịch trí canh phạn,
疏糲亦足飽我饑 Sơ lệ diệc túc bão ngã cơ.
夜深靜臥百蟲絕 Dạ thâm tĩnh ngoạ bách trùng tuyệt,
清月出嶺光入扉 Thanh nguyệt xuất lĩnh quang nhập phi.
天明獨去無道路 Thiên minh độc khứ vô đạo lộ,
出入高下窮煙霏 Xuất nhập cao hạ cùng yên phi.
山紅澗碧紛爛漫 Sơn hồng giản bích phân lạn mạn,
時見松櫪皆十圍 Thì kiến tùng lịch giai thập vi.
當流赤足蹋澗石 Đương lưu xích túc tháp giản thạch,
水聲激激風吹衣 Thủy thanh kích kích phong xuy y.
人生如此自可樂 Nhân sinh như thử tự khả lạc,
豈必局束為人鞿 Khởi tất cục thúc vi nhân ky.
嗟哉吾黨二三子 Ta tai ngô đảng nhị tam tử,
安得至老不更歸 An đắc chí lão bất cánh quy.
                            Hàn Dũ
***
Dịch nghĩa
Đá Núi 

Đá núi gồ ghề, đường đi nhỏ hẹp,
Đến chùa vào lúc xế chiều, dơi bay về tổ.
Tới ngồi trên thềm, mưa đầu mùa vừa tạnh,
Lá chuối lớn, hột cây dành dành béo.
Sư bảo có bức tranh Phật cổ đẹp treo trên vách,
Đem đèn lại xem thì thấy không được bao nhiêu.
Sư chỉ giường nằm, phủi chiếu, dọn cháo ăn,
Cháo gạo lớn sơ sài cũng đủ làm ta no bụng đói.
Đêm đã khuya, ngủ yên, côn trùng im bặt,
Trăng ló khỏi đỉnh núi chiếu ánh sáng qua cửa.
Trời sáng, một mình ra đi, không theo đường có sẵn,
Vào ra, lên xuống trong sương khói thấp.
Núi hồng, suối biếc sáng tưng bừng,
Có lúc thấy cây thông cây lịch vây quanh.
Chính vào lúc đang đi, chân trần đạp trên đá suối,
Tai nghe tiếng nước róc rách, gió mát luồn trong áo.
Ta thấy kiếp người được như thế này là vui sướng rồi,
Há chẳng đang bị những trói buộc bởi cơm áo sao?
Thương thay cho hai ba người trong bọn ta,
Cứ an vui bị trói buộc cho đến hết đời, không biết quy ẩn.

Chú giải:

Giác: đá nhọn. Lao giác: lởm chởm. Kính: lối đi tắt. Vi: nhỏ. Sở: đại danh từ chỉ người hay vật. Biên bức: con dơi. Giai: bực thềm. Ba chi tử: cây dành dành. Ba tiêu: cây chuối. Trí: dựng lên. Sơ: sơ lược. Ky(cơ): đói. Cơ bão: đói no. Lĩnh: đỉnh núi. Phi: cánh cửa. Phi: lả tả (mưa hay tuyết rơi). Phân: lộn xộn. Lạn: sáng sủa. Mạn: đầy tràn. Phân lạn mạn: ánh sáng đầy tràn. Lịch: cây lịch. Vi: vây (chu vi). Xích túc: chân trần. Kích kích: mau, gấp. Cục xúc: điều nhỏ nhen. Khởi: chữ dùng để hỏi (như chữ hà). Ky: bó buộc, kiềm chế. Ta: tiếng than. Tai: lời than (thay). An: trợ ngữ (sao?). Chí: đến (thậm chí)

Dịch thơ

Đá Núi

Đường đèo đá nhọn khó đi thay,
Tới chùa ác lặn dơi loạn bay.
Lên thềm ngồi nghỉ mưa vừa ngớt.
Chi tử xum xuê lá chuối dài.
Vách xưa tranh Phật sư khen đẹp,
Đèn mờ ngắm mãi thấy gì đây!
Dọn giường giải chiếu tô cháo trắng,
No trong cơn đói bữa ăn chay.
Nằm nghỉ đêm sâu giun dế nín,
Đỉnh núi dòm song ánh nguyệt đầy.
Tảng sáng ra đi đường chẳng rõ,
Quanh co khấp khểnh sương sa dầy.
Núi hồng khe biếc lung linh nắng.
Tùng lịch người ôm chưa tròn cây.
Chân trần dẫm đá men dòng suối.
Nước réo gió ru tà áo bay.
Thú vui hiện hữu đời tự mãn,
Hà tất nhỏ nhen vẩn lòng này?
Thôi nhé bạn mình hai ba đứa,
Già rồi sao chẳng ẩn qui ngay?


Con Cò
***

Đá Núi

Đá núi ngổn ngang lối hẹp te
Đến chùa chiều xế lũ dơi về
Thềm hoang ngồi nghỉ mưa vừa tạnh
Chuối cây lá lớn, hạt dành khoe

Sư bảo trên tường tranh Phật đẹp
Đem đèn lại chiếu chẳng hay gì
Quét giường, phủi chiếu, bày tô cháo
Gạo tấm sơ sài đỡ đói khi!

Đêm vắng ngủ yên trùng nín bặt
Trăng thanh ló núi ánh len khe
Sáng lìa, bước lẻ đường không lối
Lên xuống, vào ra lớp khói che.

Núi hồng, suối biếc tưng bừng chiếu
Chỉ thấy thông sồi lớp lớp vây
Đương bước chân trần va đá suối
Nước nghe róc rách, áo tung bay

Kiếp người như vậy bao sung sướng!
Áo cơm trói buộc để làm chi?
Thương thay bè bạn dăm ba kẻ
An vui khú đế chẳng lui về!


Lộc Bắc
***

Phụ bản

Thác Yellow-Stone 

Lúc hoàng hôn gần tắt, thác Yellow-Stone có vẻ đẹp diệu kỳ, một vẻ đẹp Liêu Trai. Dẫy núi cao, không cây cỏ, chỉ có đá muôn mầu, nghiêng dốc xuống vực sâu. Thác ló ra giữa hai đỉnh núi bị mây che phủ trông giống như đổ xuống từ trên mây. Giai nhân váy ngắn không còn được ưa nhìn trước cảnh hớp hồn của thiên nhiên!

Gió nín thinh nghe thác đổ.
Mây xếp khăn nhuộm đỏ nắng chiều.
Rặng núi cao cẩm thạch mỹ miều,
Ngồi phơi nắng quấn mây kín cổ.
Thác ló ra từ vành mây đó,
Lăn xuống vực sâu, nguồn nước đổ,
Thành giải lụa trắng ngần,
Vắt trên lưng nàng núi khỏa thân,
Không lá hoa cây cỏ,
Chỉ có đá muôn màu rực rỡ,
Và tuyệt đỉnh cao sang.
Mây nhung thác bạc núi vàng,
Kim cương hạt nắng soi nàng thiên nhiên.
Này cô em!
Chắn lối ta vắy ngắn,
Áo lụa đào thiếu vải để lưng trần.
So với thác cô thua xa lắm!
Hãy xõa tóc che thân.
Hãy giữ mình im lặng.
Gác máy hình và gỡ kính râm.
Thác đang thủ thỉ thì thầm.
Núi đang xối nuớc tắm vầng Thái Dương.
Mây đang lơ lửng lên đường.
Màu đang thay áo dễ thương cực kỳ.
Mở tròn đôi mắt mê si,
Máy hình chả chụp đuợc gì cô ơi.
Hồn non hồn nuớc hồn trời,
Thơ không tả xiết ý thời nhỏ nhen.
Huống chi tấm ảnh nghèo hèn!


Mùa hè năm1988
Con Cò