Thứ Tư, 14 tháng 1, 2026

Như Lá Vàng Rơi - Sáng Tác: Nguyễn Tâm Hàn - Trình Bày: Hạ Quyên


Sáng Tác: Nguyễn Tâm Hàn
Trình Bày: Hạ Quyên

Đón Xuân Về







ĐÓN XUÂN VỀ.

Nhìn lịch mùa Xuân lại đến rồi

Thêm một mùa Xuân ở quê người

Xuân ơi tôi có bao kỷ niệm

Tôi nhớ Xuân xưa tiếc một thời.



Tuổi mười lăm mười bảy tôi chờ

Tết đến đẹp như một giấc mơ

Cánh thiệp đầu Xuân trao thương mến

Pháo đỏ mai vàng trong câu thơ.



Dù đất nước trong thời chiến tranh

Miền Nam vẫn sống trong no lành

Cánh thiệp đầu Xuân ra tiền tuyến

Chúc Xuân chiến sĩ, mộng thái bình.



Bây giờ trên quê hương thứ hai

Quê hương thứ nhất đã xa xôi

Nhưng trong lòng tôi còn có tết

Tết theo người Việt đi khắp nơi.



Ở đây cũng mây trắng trời xanh

Dù trời còn lạnh chút gió đông

Tháng Hai mùa Xuân chưa kịp đến

Hoa vẫn nở đón chào mùa Xuân.



Ở đây dù tuyết vẫn còn rơi

Ngoài kia những bận rộn cuộc đời

Nhưng tôi người của mùa Xuân cũ

Ấm lòng mình khi Tết đến nơi.



Chào Tết nhé. Hãy bước vào nhà

Tôi đón Tết đón một món quà

Tôi yêu Xuân cũ và Xuân mới

Ở quê này và ở quê xa.

Nguyễn Thị Thanh Dương
( December, 2025)

Lữ Khách Ơi



Lữ khách ơi ngại gì buông oán kết
Đời trăm năm cũng chỉ thoáng tà dương
Nghiệp tận duyên tàn thả theo khói hương
Nhè nhẹ thở để lòng ôm mây trắng

Cõi trần gian thiếu gì cơn mưa nắng
Níu tâm thiền giữa chốn bụi lao xao
Giun dế kêu rên cuồng loạn xiết bao
Trầm hương cháy bên tách trà tịch mặc

Lữ khách ơi giữ hồn đừng hiu hắt
Vạn pháp vô thường tuôn chảy vô biên
Khởi khúc hoan ca tiêu dao thung triền
Con chữ lăn tăn quên đi bèo bọt

01.09.2025
Lê Diễm Chi Huệ


Hỏi Mong Chi?

 

"Thất thập cổ lai hy"
Già rồi chẳng thiết chi,
Vu vơ thơ mấy chữ,
Mong giữ chút xuân thì.
***
Tuổi già chầm chậm cứ lôi đi.
Ngày tháng trôi qua ao ước gì:
Con cháu thường về vui mấy bữa,
Bạn bè luôn gặp đủ vài ly.
Khi buồn thơ thẩn đôi dòng chữ,
Lúc hứng lù khù những vận thi.
Cũng đủ tự mình cho trẻ lại,
Đó là hạnh phúc, hỏi mong chi?


Hoàng Dũng

Đi Cho Biết Đó, Biết Đây


Jordan & Egypt. Nov. 2025

Chuyến du hành cuối đời tưởng hên mà xui. Hên là con lớn cho tiền, nhưng bất hạnh triền miên đổ lên đầu, bắt đầu từ ngày thứ hai, FAA đã hủy bỏ không biết bao nhiêu là chuyến bay, trong đó có chuyến bay của chúng tôi đi NY. Cháu lớn đã nhanh chóng tìm giải pháp, trong khi đó hai người bạn tốt là chị Mai Anh và anh Vũ An Thanh cũng tìm cách giúp đỡ, như khuyến khích đi Amtrak lên NY hay nhờ Uber Việt Nam, đắt đỏ tí chút nhưng giải quyết được công việc. Thời may, văn phòng du lịch đã sắp xếp cho chúng tôi đi trước một ngày thay thế cho chuyến máy bay bị hủy bỏ ngày hôm sau.

Thăm Jordan: Ngày N (November 11, 2025)

Đoàn chúng tôi thật ngon lành, cho dù là Mỹ giấy, chúng tôi vẫn được tiếp đón ân cần. Một người từ bộ ngoại giao cổ cồn cà vạt trịnh trọng chào mừng, ông ta thu hết “passports” đi làm thủ tục, chúng tôi chả bị khám xét gì cả, ông ta dẫn đi phăng phăng qua các cửa ngõ quan thuế, đến một cái “Carousel” đang chạy vòng vòng lấy hành lý, Ra khỏi phi trường đích thân ông ta lên chung cái xe “bus” thênh thang, trả
lại thông hành, giới thiệu, người tài xế, người dẫn đường tên Mohamed và một cảnh sát viên sắc phục mang súng tiểu liên bên hông. Đến hotel, người hướng dẫn nói tiếng Anh rổn rảng rõ ràng, anh bắt đầu chỉ dẫn, lo giấy tờ và phòng ốc, hành lý, trong khi người cảnh sát lo an ninh điều hành xe cộ.
Trước khi chúng tôi lấy chìa khóa lên phòng, người đại diện chính quyền chào từ giã chúng tôi và nói đùa:”
- Quý vị được đối đãi tử tế vì anh Thắng đây đã là công dân nước Jordan”. Sự thực ra thì anh Thắng cho biết:”
- Du lịch là một trong những kỹ nghệ lớn của Jordan, hàng triệu du khách tới đây hàng năm, do vậy họ đặc biệt lo an ninh, nhất là người Mỹ và người Nhật Bản là chính quyền phái cảnh sát đi bảo vệ ngày đêm trong suốt những ngày ở Jordan, trên xe bus, các nơi thăm viếng và ngay cả trong hotel.

Tôi trộm nghĩ đoàn chúng tôi toàn mít, làm gì có Mỹ mà cần bảo vệ, nhưng nghĩ lại, bé cái lầm, Mít chúng tôi ở Mỹ lâu năm, nói tiếng Anh, đi đứng trật tự, kỷ luật trong đám đông, không dành giật khi ăn uống, có khi quân khủng bố lại lầm là người Nhật mà chúng xơi tái đi thì cũng chết. Thôi thì chúng có tưởng là Mỹ hay Nhật cũng vô hại, luôn luôn có cảnh sát bảo vệ ngày đêm cho những công dân ở hai quốc gia này.

Ngày (N+2), chúng tôi dời hotel chung với “tour guide” và cảnh sát, anh Thắng chỉ còn là trưởng đoàn lo giờ giấc, điểm danh. Mohammed đã xử dụng âm thanh trên xe, nói về lịch sử, cái hay cái lạ của Jordan cho du khách. Anh ta nhắc lại cuộc chiến 6 ngày với Do Thái đã làm Jordan mất đi thành phố Jerusalem, làm tôi nhớ lại năm 1967, Tổng thống Anwar Sadat của Ai Cập đã đầu nậu liên minh nhiều nước, trong đó có Jordan bất ngờ tấn công Do Thái, vào lúc đó thủ tướng Do Thái đã đặt ông Moshe Dayan, tướng độc nhãn (Một Mắt) làm tổng trưởng quốc phòng, nhưng táo bạo nhất là trung tướng Ariel Sharon, đã đơn phương dẫn nguyên một sư đoàn thiết giáp vượt sông tấn công bất ngờ vào liên minh Ai Cập, chỉ trong sáu ngày trời, sư đoàn thiết giáp của Ariel Sharon đã dẹp tan liên quân, chiếm luôn bán đảo Sinai và Jerusalem của Jordan. Sự thật tướng Moshe Dayan là người quá nổi tiếng, nên báo chí truyền thông đề cao, trên thực tế là sự liều lĩnh của Sharon đã tạo một thế quá bất ngờ, khối Ả Rập trở tay không kịp, bị tổn thất nặng nề và Tổng Thống Anwar Sadat mất đi 1 người con trai yêu dấu và Quốc Vương Jordan mất đi một địa danh nổi tiếng là Jerusalem.

Trở lại thực tại là tôi đang đi trên quốc lộ chạy dài từ thủ đô Amman toàn là xe hơi chen chúc, không có một chiếc xe gắn máy nào chạy trên đường, tuyệt nhiên không có Honda, Suzuki, TWN hay Harley. Rồi tất cả nhà cửa hai bên đường tôi cũng không hề thấy một căn nhà riêng rẽ (single home”) tất cả toàn những chung cư xây rải rác suốt dọc hai bên quốc lộ, bên trong là sa mạc mênh mông, không thấy một cọng cỏ. Tôi đem những thắc mắc này ra hỏi Mohamed thì anh nói rằng:”

- Cái lý do không có có nhà riêng trong thành phố, và nhiều nơi trong quốc gia Jordan vì đất đai ở đây vô cùng mắc mỏ, 1,000 thước vuông đất ở đây giá cả triệu USD ( đô la), do đấy không thể xây nhà riêng mà phải cất lên chung cư cho nhiều gia đình cùng ở.
Khí hậu vùng sa mạc, ngày nóng, đêm lạnh nên luật lệ Jordan là phải xây nhà bằng một loại đá vôi (Limestone) cản nhiệt ban ngày và chống chống lạnh ban đêm
Có một điều chúng tôi thắc mắc, tự hỏi mãi sau mới tự tìm ra là tại sao người ta xây những cao ốc mà rất ít cửa sổ? Toàn những tưởng kín mít, sau rồi mới vỡ lẽ ra là sa mạc hay có bão cát, cửa sổ sẽ làm cho bão thổi vỡ cửa kính phủ cát đầy nhà nguy hiểm tới tính mạng.

Nhà không cửa sổ

Những loại xe gắn máy ở Jordan không phải là phương tiện giao thông mà là xa xỉ, chỉ những người giàu có mới xin được giấy phép mua và chạy chơi.

Trên con đường hun hút chạy sâu vào lãnh thổ Jordan, nhà cửa thì toàn chung cư ảm đạm, không màu không sắc, không đèn đường. Có những đoạn trên xa lộ tôi thấy hàng đàn gia súc đi theo hàng dọc, không có một cọng cỏ mà gặm, không có miếng nước mà uống, nhưng loài vật đói khổ không thấm lòng ta, nhưng khi qua một khúc quanh trong thành phố, tôi đã thấy một đoàn dân du mục (Gypsies), giăng lều, mắc võng sống tạm bợ bên lề đường, đồ đạc, chăn nồi, chiếu


gối la liệt trong những cái lều bằng vải cũ mèm rách nát, họ sống như vậy, ban ngày chịu mưa băm, nắng đốt. Ban đêm thì gió lạnh buốt từng cơn chui vào da thịt trong cái khí hậu sa mạc bất ưng. Chúng tôi cũng là con người, sống ở Mỹ, tuy không đẻ bọc điều, mà còn đã đau khổ trong chiến tranh, nhà tan cửa nát ở VN, có cái may đến Mỹ, vùng đất hứa, làm việc cần cù, cuối đời có tí tiền mà đi du lịch tới nơi này. Bỗng lòng tôi tự hỏi, liệu có bao giờ, những người du mục bất hạnh kia có được phút mở mặt, mở mày như chúng tôi, hay sống âm thầm trong đói khổ, chết trong bệnh tật, tối tăm? Tôi nhủ lòng, thương người, nhưng không thể làm gì để giúp, một khi thấy người khổ đau, vợ chồng tôi đều bảo nhau giúp họ tí chút để gọi là an ủi, và nhắc mình là cũng đã khốn nạn như người ta mà nay mát mặt thì làm ngơ sao đành!

Ngày (N+2), Chúng tôi dời khách sạn, thông thường thì trong chuyến đi này chúng tôi đi quá nhiều chỗ, ở quá nhiều nơi, cho nên một ngày đi là một ngày không trở lại.

Đến thành phố Madaba nổi tiếng về đá khảm (mosaic), chúng tôi vào một xưởng làm tranh, thảm, nghệ thuật vô cùng tinh xảo, Mohammed dắt vô ngay “workshop” công việc làm thật là phức tạp, cầu kỳ. Từng bước một, đầu tiên họ họa trên vải một

bức hình, một di tích lịch sử hay một bông hoa với đầy đủ màu sắc, sau đấy những người thợ chuyên môn, cần cù phải dùng kìm bấm, cắt từng miếng đá nhỏ như hột gạo, hình màu nào thì đá màu đó, xong rồi cho keo dán lên mặt vải, công việc tỉ mỉ, kiên nhẫn vì những cục đá hạt gạo phải được xếp vô cùng khéo léo, nghệ thuật. Cả

một xưởng có đến mấy chục người, từ họa sĩ, chuyên viên và nhân viên, ai ai cũng im lặng chăm chú vào công việc, không ồn ào, không đùa bỡn. Bước sang phòng triển lãm mới thấy, công việc làm đầy công phu và nghệ thuật, giá cả không rẻ, nhưng vừa túi tiền du khách, từ những món đồ ít tiền tới những bức tranh nghệ thuật giá lên tới trên mười ngàn US đô la.

Tảng đá tạc tượng Mose

Khi du khách đã lên xe, điểm danh thì thiếu vợ tôi, người đàn bà thích nghệ thuật nhưng lại muốn mua hàng giá rẻ, nên cứ cò kè bớt một thêm hai làm cả xe phải ngồi chờ. Riêng tôi thì trộm nghĩ, các cụ ngày xưa, đâu cần trèo đèo cao, núi thẳm tìm thầy học đạo Nhẫn, cứ xin vô đây làm nhân viên, sau 10 năm thì đã học được đạo VẠN NĂNG ở đời rồi. Còn gì nhẫn hơn là ngày lại ngày kiên trì cắt những miếng đá, nhỏ bằng hạt gạo, hình dáng vuông vức, đều đặn sắp xếp hàng ngàn hàng vạn miếng nhỏ li ti thành một bức tranh nghệ thuật.

Trên đường đi đến Mount Nebo là nơi Kinh Thánh có ghi là Mose và đoàn người Do Thái đi tìm Đất Hứa đã dừng chân. Một khung cảnh thiên nhiên, hùng vĩ, một khối đá to sừng sững ngay trên đường đi, tạc bức tượng tưởng niệm (Memorial of Mose), ông này là người duy nhất được Thiên Chúa chọn để nói chuyện với ngài, và qua Mose Thiên Chúa đã chỉ vùng đất hứa cho người Do Thái, nơi màu mỡ, có thung lũng sông Jordan, Biển Chết (Dead Sea),, Jericho và đồng ruộng, tiếc thay nhà tiên tri Mose đã thấy, mà không đến được, ông đã chết trên con đường đi tới đó vì ông đã già tới 120 tuổi. Tưởng cũng nên nhắc lại tí chút về ông,

Mose là người mang dòng máu Do Thái, bà mẹ không nỡ giết con vì lệnh vua (Pharaon) Ai Câp, bà đã thả đứa bé trôi sông, được một công chúa Ai Cập cứu sống, trở thành một hoàng gia Ai Cập, khi lớn lên ông lỡ tay giết người nên phải trốn đến bán đảo Sinai, Mose là người có tài tổ chức quân lính, nhưng sau ông nghe được lời gọi của thiên chúa, mặc khải chỉ dẫn cho ông trở về Ai Cập, để dẫn dắt đàn dân Do Thái của ông đi tìm vùng đất hứa, ông đã cùng đoàn người Do Thái đi qua bán đảo Sinai vào vùng hoang vu trong sa mạc và ở đó cả 40 năm trước khi đến được thung lũng Beth Peor. Đặt chân tới đây, khung cảnh mà từ trước tới giờ, du khách chỉ tìm thấy qua sách vở, phim ảnh, nay hiện ra trước mắt những di tích lịch sử của cả ba, bốn ngàn năm, thì niềm hân hoan không sao kể siết. Chưa hết, khi lên tới đỉnh Nebo, một ngôi giáo đường to lớn Byzantine được xây dựng cũng được đặt tên “Moses Memorial Church”. Trước mặt giáo đường là một di tích lịch sử. Một nghệ sĩ người Ý Đại Lợi đã làm một cây thánh giá, có con rắn bằng đồng quấn quanh (Serpentine cross), Cây thánh giá tượng trưng cho chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thập tự giá, con rắn bằng đồng tượng trưng cho câu chuyện huyền thoại về Mose, đã cho làm con rắn để cứu sống những người bị rắn độc cắn trên đường đi tìm đất hứa. Điểm lôi cuốn du khách đến vùng này như bị hút vào khung cảnh của hàng ngàn năm, từ những di tích còn hiện hữu , cho đến khung cảnh hoang sơ như thuở khai thiên lập địa đã dẫn dắt du khách như bước vào vùng quá khứ mà mơ hồ tưởng mình hiện hữu trong thiên niên lịch sử.

Serpentine cross

Thuận buồm xuôi gió, chúng tôi tiếp tục xuôi Nam, theo dòng xe cộ đến Petra, vùng kỳ quan thiên nhiên của Jordan, là một vùng núi đồi nằm về phía nam, nối liền giữa hai biển Hồng Hải (Red Sea ) và biển Địa Trung Hải (Mediterranean), đồng thời Petra cũng gần như là điểm nối liền của hai lục địa Á Châu (Miền Trung Đông) và Phi Châu (Bán đảo Sinai), nhờ vào vị trí thuận tiện như vậy, thời đó Petra trở thành giao điểm liên lạc văn hóa, thương mại hết sức quan trọng vào đầu thế kỷ trước công nguyên (First Century BC). Với vị trí quan trọng, Petra đã là nơi mà các đế quốc tranh chấp, dành quyền chiếm giữ, cho đến hai ngàn năm sau (2001), Thụy Sĩ (Swiss) nêu tên Petra là một trong 7 kỳ quan của thế giới.

Petra nằm trong một hẻm núi, hình dáng cong tròn cho du khách thấy đường đi của gió qua mấy chục ngàn năm, là người bị đau đầu gối tôi không thể lết hai cái chân què, chống gậy mà theo đoàn, một người cảnh sát đi hộ tống đã đẩy tôi lên một chiếc xe, may thay trên xe chỉ có một cặp vợ chồng, lợi dụng xe vắng, tôi đã chi rất ngọt cho người tài xế, anh ta đã không chạy phăng phăng trên đường, mà chậm rãi, ngừng lại những khúc quanh, những hang động, những bức tượng từ ngàn năm do thổ dân khắc lên núi đá để thờ, những ngôi mộ hình thành do những tảng đá đục đẽo vuông vắn.

Điểm tân kỳ mà người lái xe đã chỉ cho tôi là một cái rãnh ở dưới triền núi. người ta từ bao ngàn năm trước đã biết đục đá làm thành một cái rãnh như máng xối, chạy theo núi đá thiên nhiên, dẫn nước mưa từ trên những ngọn núi, chạy theo thung lũng dẫn đến một ngôi đền thờ, từ 5 ngàn năm mà kiến trúc của người Ai Cập đã hiện diện tại đây, du khách đã kinh hoàng khi thấy một cái nhà mồ khổng lồ đại đã được đục đẽo vào núi để làm mồ chôn hoàng đế của dân Nabatacan, nhưng rồi sau đó dân chúng đã biến nó thành một cái đền(Temple), quanh đó một cái rạp hát ngiài trời với khán đài hình vòng cung được đục đá làm thành, vẫn vững vàng trước mưa gió hàng ngàn năm, rải rác chung quanh là những hang đá bên trong là những nhà ở của người dân, một con đường dài hun hút mà người ta tin tưởng rằng từ thế kỷ 1 trước công nguyên, con đường này là huyết mạch buôn bán của những thổ dân thời đó, tới nơi đây du khách có cảm tưởng được hiện diện tại một vùng đất tồn tại qua hàng bao thế kỷ trước . Chúng tôi thật lưu luyến dời một di tích vô cùng cổ kính, để đi thăm vùng

Công trình này khắc đá vô núi từ 5000 năm trước

biển chết (Dead Sea), cũng vẫn nằm trong lãnh thổ Jordan, nó là một biển thiên nhiên rất mặn, ngày nay là biên giới của hai quốc gia Do Thái và Jordan. Biển Chết không rộng lắm, khoảng 600 cây số vuông, và nó bắt đầu cạn dần, trong khoảng trăm năm nữa, nếu không có kế hoạch, thì biển sẽ bị khô đi không còn nước, Điều đặc biệt là nước biển rất mặn, có một tỷ trọng rất cao, cơ thể chúng ta nhẹ hơn nên khi xuống nước nó cứ nổi lình bình mà không chìm. Khi hãng du lịch nói là du khách nên mang "sandal" đi tắm biển, lời nói mơ hồ làm tôi nghĩ mình có thể đi đất, không cần giày dép. Thật là sai lầm khi bước xuống, những nước biển đã hòa lẫn với đá sạn biến thành những cục đá muối trong veo bén nhọn như thủy tinh, cắt đứt chân tôi, máu chảy ròng ròng, đã đến đây thì không thể không tắm, bất chấp chân đau, trời lạnh, Trâm vợ tôi giúp cho đôi dép, tôi cố gắng lê đôi dép nhật mà men theo bờ xuống nước, gặp hôm gió lớn, tuy là biển chết, nhưng nó trông cũng mênh mông, sóng vỗ dạt dào. Một cơn sóng nhẹ làm tôi văng đôi dép, và từ đó tôi ngã lăn xuống nước, đã được dặn dò từ trước, tôi giữ mình nằm ngửa, không cho nước vào mắt vào mồm và cứ thế, thân mình tôi dập dình theo con sóng, nổi lình bình trên mặt nước, không làm sao quay sấp mình lại để bơi vào bờ, tôi cố gắng cách nào cũng vô vọng, may phúc mà người ta đã tiên liệu việc này, họ cho chăng giây, nếu không thì gió đưa sóng đẩy đã trôi tôi ra khơi mà bất lực với nước biển ở đây.


Qua nhiều phút kinh hoàng, tôi bắt đầu bình  tĩnh trở lại, biết mình sống nổi, không chìm, tôi bèn nương theo sóng, rồi tay múa, chân đạp, tôi đã vô được bờ, nhờ đám đá sạn, tôi đã dựa cái lưng vô đó, chịu đau, chịu chảy máu mà ngồi dậy được, đôi dép đã mất rồi, chân đau buốt không thể đi trên muối, trên đá sạn, may sao một người an ninh đã thấy, anh ta nhảy xuống lấy đôi dép đang dập dình sát bờ, đi vào chân giúp tôi đi lên, tiện thể, anh ta trát bùn vào người tôi kín mít, phơi khô tí chút rồi lấy nước ngọt tắm rửa cho tôi, tôi bị thương tích và trầy trụa khắpngười, nhưng cũng đã khám phá ra rằng những gì người “tour guide” nói là trúng, cái giá phải trả là đã không nghĩ là nước biển ở đây đã giữ được con người không cho xoay sở lăn lộn mà phải trôi theo giòng.

Trở lại Amman thủ đô Jordan, ngay trung tâm thành phố có một rạp hát cổ xưa ngoài trời, một rạp hát xây hình vòng cung kỳ lạ, có một điểm người ta đánh dấu trên sân, nếu bạn đứng ngay đó mà phát ngôn, thì âm thanh sẽ vang ra cả hội trường, không cần máy. Tôi bèn thử liền miệng tôi như cái lệnh vỡ, hô vang một tiếng mà âm vang cả khoảng không gian của rạp hát, bên cạnh đó chúng thăm thêm thần thờ thần Hercules, người có sức khỏe siêu phàm gốc Greek,


Ngày N+6. 

Dời phi trường Amman chúngtôi bay qua Cairo thủ đô Ai Cập, một nước có nền văn mình tối cổ với 130 triệu dân số. Riêng thủ đô Ai Cập cũng đã có đến 12 triệu dân. Là một nước sống trong vùng sa mạc, do đấy toàn bộ quốc gia Ai Cập tập trung dọc theo sông Nile, một con sông dài hơn sáu ngàn cây số bắt đầu từ Phi Châu chảy qua 11 quốc gia, qua Ai Cập và đổ vào biển Địa Trung Hải. Chúng tôi bắt đầu cuộc hành trình đi đến thành phố đầu tiên là Alexandria phía nam. Trên hơn bốn tiếng đồng hồ di chuyển trên đường, khác hẳn với Jordan, cây cối, gia súc, vườn cây đã xuất hiện hai bên đường, dân tình sống rất xô bồ, nghèo nàn, có một điều lạ là xe gắn máy, xe ba bánh như loại xe Lam VN trước 75 chạy nhan nhản rước khách trông thật vui mắt.

Xe cộ thì khỏi chê, xa lộ hay đường phố chỗ nào cũng chật ních, thi nhaubóp còi inh ỏi, bộ hành muốn qua đường tiểu lộ cũng như đại lộ cứ phục ngay lề đường, vãn xe cộ thì đắt nhaut ừ từ len lỏi chặn đầu xe mà qua. Một điều đáng nói ở đây, khi chúng tôi đến hotel Cecile ở Alexandria Egypt, thì quả thật thiên đàng địa ngục hai bên, nơi vườn hoa, những người nghèo khó ngủ bờ ngủ bụi, dân chúng buôn bán như VN trước 75, người nghèo thì nướng bắp, bán nước, bán bánh kẹo.

Dưới vỉa hè thì người qua lại tấp nập. trên bờ tường, nhiều gia đình, nhiều cặp tình nhân ngồi tình tứ cùng nhìn ra biển đen ngòm hưởng cái mát của mùi gió biển. Bên kia đường giữa dòng xe cộ với ánh đèn và tiếng còi bóp liên hồi là những nhà hàng bán đồ bách hóa, sách vở, âm nhạc..v.v. tạo cho tôi niềm nhớ về Saigon Bonard Lê Lợi năm nào..thuở mà tôi cũng nghèo khó như những người dân ở đây, đi bát phố ngắm cảnh, ngắm người, sao tôi giống họ thế!. Nhưng khi bước vô hotel trong phòng tiếp khách khang trang rộng lớn, khung cảnh thật khác, người tôi cũng như tỉnh mộng trở về thực tại, quên đi những khổ đau của dĩ vãng xa xưa, đoàn chúng tôi thong dong với sự hộ tống của hai người cảnh sát, Thủ tục “check in” lại êm đềm diễn ra, người “tour guide” làm việc, phát chìa khóa, và dặn dò nhân viên mang hành lý, Chúng tôi chỉ việc khoan thai như những người thượng lưu, vô thang máy lên phòng nghỉ ngơi cho cuộc hành trình kế tiếp.

Kim Tự Tháp

Ngày N+8 trở lại Cairo, niềm háo hức của chúng tôi là được đi thăm Kim Tự Tháp Ai Cập, một di tích lịch sử của nhân loại, những dãy kim tự tháp này không nằm cách xa thủ đô, từ xa xa, chúng tôi đã thấy ba cái kim tự tháp lừng lững giữa trời. Nền văn minh cổ Ai Cập đã có chữ viết từ 7 ngàn năm trước, nhưng rồi liên tiếp bị cai trị bởi các đế quốc sừng sỏ như Ba Tư, Hy lạp. La Mã và Ả Rập, nên dần dần, chữ viết cổ truyền bị thất lạc cả 2000 năm, cho đến thời kỳ Napoleon đại đế đem quân chiếm Ai Cập vào năm 1798, người ta mới tìm thấy lại những mẫu chữ viết cổ của Ai Cập, do đấy các nhà khảo cứu đã có cơ hội giải đoán mà đọc được những chữ cổ này. Ai Cập luôn luôn là miếng mồi ngon cho cá siêu
 cường mãi cho tới năm 1952 có cuộc đảo chính quân sự đưa Nasser lên cầm quyền, vào năm 1954. Nasser đã quốc hữu hoá kênh đào Suez.

Thủ đô Cairo nay có khoảng 20 triệu dân, đời sống vô cùng sầm uất, khi chiếc xe bus rẻ khỏi thành phố đi vào sa mạc nơi có nhiều Kim Tự Tháp và không thể tưởng tượng nổi, du khách trên toàn thế giới đã tập trung nơi đây, đời sống nhộn nhịp trong ánh nắng chói chang và nóng nực của khí hậu sa mạc. Những kim tự tháp này cũng được nằm trong 7 kỳ quan của thế giới. Có chứng kiến tận mắt mới thấy, tài năng văn minh của những người Ai Cập cổ xưa, Hơn 3,500 năm qua, những kim tự tháp này vẫn bền vững với thời gian, mưa gió, nhất là những trận bão cát tàn bạo liên tiếp thổi đến từ sa mạc.

Không biết bằng cách nào, tính toán ra sao mà họ đặt để những phiến đá khổng lồ sắp xếp lên nhau, gọn gàng thẳng tắp thành hình Pyramids, Ngay cả thời đại “computer” tân tiến ngày nay, người ta cũng phải vất vả lắm để mà hình thành nó. Thế mà Ai Cập đã biết làm từ nhiều ngàn năm qua. Từ bãi đậu xe, đoàn du khách phải đi bộ xuyên qua những bãi cát nóng cháy để di chuyển đến chân kim tự tháp, Một cảnh tượng ngổn ngang màu sắc đã đập vào mắt du khách là hàng đàn lạc đà, cổ dài ngoẵng, lắc qua lắc lại, ngồi la liệt nghêu ngao đợi khách.


Chúng tôi được nhanh chóng chỉ định, mỗi người một con để leo lên lưng nó, con lạc đà ngoan ngoãn nằm yên, xếp bốn cái chân dài ngoẵng gập lại gọn gàng chụm vào nhau. Tuy vậy thân nó cũng cao, lưng nó lắc lư, chòng chành, leo được lên lưng nó cũng khá vất vả, tôi thì một chân đau, một chân què, không làm sao vắt cái chân qua lưng con lạc đà, loay hoay mãi, tôi vã mồ hôi, gần bỏ cuộc thì người cảnh sát đi hộ vệ đã nhanh chóng bẻ ngang cái chân muốn gãy cho tôi leo lên. Con lạc đà chân cao cả hơn hai thước, nó nhón hai cái chân sau dọn mình đứng lên, làm cho toàn thân người ngồi, chúi về phía trước như muốn lộn nhào. Trâm vợ tôi bị ép buộc phải leo lên, đã sợ gần chết, đến khi nó bật người đứng dậy và hai chân trước nó chống lên để lấy thế đứng, làm cả thân mình người ngồi trên lưng nó lại bật ngửa ra sau, bà vợ sợ hãi hét tướng lên như muốn rung chuyển cả kim tự tháp, nhưng may mắn thay khi con lạc đà được người nài dẫn đi, người sợ nhất là Trâm lại được kéo đi hàng đầu. Thế là một đoàn lạc đà được dắt đi theo dọc kim tự tháp, cho du khách một cảm giác như những người lữ hành xa xưa đi buôn bán thồ hàng trên sa mạc cát lửa nóng cháy.

Một chuyện đáng được nhắc nhở là du khách phải mang “mask” khi vô bãi sa mạc vì những trận gió đã có thể đưa những hạt cát li ti chui qua hơi thở mà chạy vô phổi. Qua ngày hôm sau, hơn chục người ho hen sặc sụa vì cát đã phải ở lại hotel, một nửa còn lại đi thăm Citadel đền thờ lớn nhất Hồi Giáo này do Muhammad Ali (Đền Thờ Citadel) thành lập bên cạnh một thành trì kiên cố tới giờ cũng vẫn còn tồn tại. Bên trong không có hình tượng gì cả, chỉ là tộ toà lâu đài trống rỗng. Duy nhất có bảng viết chữ.. người đạo Hồi hướng theo đó mà cầu nguyện. Vị vua này có phần nào dân chủ khi cho người đàn bà được vô chung trong đền, trước kia chỉ có đàn ông được vô đền, còn đàn bà thì cầu ở ngoài đường hay phía sau của dền mà thôi. Có một số biểu tượng cần để ý, là khi vô nhà thờ thiên chúa thì có tượng Đức Chúa bị treo trên cây thánh giá. Khi vô nhà thờ tin lành, thì chỉ có duy nhất hình cây thánh giá, mà không có tượng chúa và vô nhà thờ đạo Hồi, thì chỉ thấy những hàng chữ mà không có hình ảnh gì cả. Nguyên nhân là Muhammad Ali là 1 danh tướng đại tài của triều đại Ottoman, đánh đâu thắng đó, theo “tour guide” kể mà không phối kiểm là trong chiến trận này người Hồi đã chiến thắng Thập Tự Quân của Công Giáo một trận rất lớn ở đây. Hoàng đế Ottoman đã phong cho Muhammad Ali làm vua ở xứ Ai Cập và vua Mohammed Ali đã cai trị dân chúng Ai Cập là cứ hai năm đổi sang luật mới một lần, liên tiếp đời này qua đời khác cho đến năm 1952 đế quốc Ottoman tan vỡ thu hẹp lại là nước Turkey, theo đà nước Ai Cập cũng chậm dứt triều đại Muhammad Ali. Giòng họ Ali đã tri vi từ 1802 tới 1952. Ra khỏi nhà thờ Citadel, số người còn lại cũng ho hen, mệt mỏi vì thở phải không khí có cát ở sa mạc hôm qua. Ai cũng muốn tan hàng về hotel nghỉ ngơi chung với số người năm nhà, nhưng rồi anh Thắng trưởng đoàn nói rằng, vấn đề ở đây không phải là đa số mà nếu chỉ có một người không đồng ý, thì chương trình vẫn đi tiếp. Có một người phản đối, thế là không ai được về nghỉ, phải tiếp tục chương trình đi tiếp. Thời đại, một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ, nay không còn nữa, mà một con ngựa không đau, thì cả tàu ngựa đau phải ăn cỏ!.

Ngày N+8 là một ngày dài nhất trong chuyến đi. Bắt đầu từ 6:30 sáng phái đoàn đã xuống ăn sáng và lên đường đi thăm những nơi vô cùng thú vị như Đền thờ Ramses II, Mãi cho đến năm 1813 hai người khảo cổ người Âu Châu mới tìm thấy ngôi đền thờ Ramses II, nó đã bị chôn vùi hơn ba ngàn năm trong cát, có thể vì bị bão cát vùi dập nên cho dù thử thách với biết bao khí hậu khắc nghiệt và bão cát, ngôi đền thờ đã được khai quật còn nguyên vẹn. Và cũng theo chuyện kể thì gần trên ba ngàn năm trước Triều đại Ai Cập thứ 19 có một vị đại đế tên Ramses II là vị vua lớn mạnh nhất trong các “Pharaon” thời Ai Cập cổ, Hoàng đế Ramses II trị vì lâu nhất và cũng là vị vua có nhiều công trình xây cất nhiều nhất trong tất cả vương triều cổ của Ai Cập.

Tượng vua Ramses

Ông đã xây đền đài cho chính ông và người vợ thân yêu là Nefertari Queen. Tượng hoàng đế Ramses 2, đã có cách đây ba ngàn năm, sau này người Anh đã tìm thấy bực tượng này khi mặt nhà vua úp xuống bùn, nhờ vậy bức tượng quý giá còn nguyên vẹn và cũng vì nó nặng cả trên 80,000 pounds, người Anh không thể chuyên chở về nước, mà nhờ vậy bức tượng này mới còn ở Ai Cập. Khi ta thấy tượng nhà vua uy dũng đừng thẳng hai tay nắm hai cây gậy chứng tỏ uy lực. Có nghĩa là dân chúng đẽo tượng khi vua còn sống, Còn Vị vua nào mà hai tay chéo lên ngực là vua đã chết mới đức tượng. Riêng hoàng đế (Fahron) Ramses 2 là một vị hoàng đế sáng giá của Ai Cập, ông đã xây dựng không biết bao nhiêu là đền đài, cung điện để lại cho hậu thế. Ngày N+9 phái đoàn đi thăm bảo tàng viện Giza là bảo tàng khảo cổ học lớn nhất thế giới, chính phủ Ai Cập đã bỏ ra hơn 1 tỷ US dollars để hoàn tất. Một bảo tàng viện mênh mông, đi rạc cả cẳng ra mà cũng không thể xem hết những di tích lịch sử cả bảy tám ngàn năm người đem ra và trưng bày tại đây.

Bêta Bảo tàng viện

Duy nhất chỉ có ngôi mộ ông vua này là còn nguyên, ngoài ra tất cả những ngôi mộ của những vua khác đều bị đào xới ăn cắp hết vàng bạc châu báu. Người Ai Cập văn minh, không tàn ác, không giết đi những người là mộ, nên chính những người này đã biết đường đi nước bước mà đào lên ăn trộm hết. Người Tàu thì khác, những nhân công lính tráng làm mộ xong là bị giết nghéo đi hết, thế là không còn ai sống sót để biết đường trộm cắp. Một câu chuyện tình cờ sau này có một cái xe lừa sụp hố, trúng ngay một cái giếng cạn, từ đó người ta đã phanh phui ra một cái hầm mồ, chôn toàn những người quý tộc thuở xưa. Cái miệng giếng tròn đã đưa xuống cái hầm như một lâu đài dưới đất. Liên hệ tư tưởng làm tôi nhớ lại chuyện Bí mật rùng rợn về mả Tào Tháo, khi quan tể tướng biết mình sắp chết cũng làm ộ cái nhà mồ cho mình vô cùng bí mật, đường xuống cũng là một cái giếng, người ta gọi cái giếng ấy là vô để tinh, tức là không có đáy, khi ném một vật gì xuống để dò đường, thì không nghe âm thanh dội ngược, như vậy có nghiã cái lỗ giếng này đã đi sâu xuống tận trung tâm quả đất, không ai dám xuống, mà có gan để xuống thì cũng mất hút, không bao giờ trở lại. 
Sau này những nhà mạo hiểm đã khám phá ra chỉ là cái giếng sâu, sở dĩ người ta ném đá mà không thấy dội lại vì đại gian hùng Tào Tháo đã giết chết hết những người xây cất xong, ông cho giăng một loại giây bền vững chống thời gian làm võng. Khi một hòn đá ném xuống, thì cái võng giây nay hứng lấy, và theo chiều dốc, nó lăn tuốt xa tít vào trong sâu nên không có tiếng vang dội lại, kẻ nào liều mạng cùng mình thả giây đi xuống là bị hàng loạt mãng xà vương rắn độc làm thịt cho chết mất xác, nên mộ Tào Tháo trở nên huyền bí với đời. Cho hay người Á Đông thì tàn ác và mưu lược hơn người Trung Đông, khi chúng ta khảo sát những điều trên.

Buổi trưa đáng lẽ được nghỉ ngơi, thì anh trưởng toán cuống cuồng cho người tìm kiếm chúng tôi, tập họp ra phi trường gấp, khẩn cấp như người chạy loạn. Nhiều người bỏ cả ăn, cả uống, lếch thếch chạy ra lộ, tìm cách lên xe bus ra phi trường, kẻo quá trễ, lý do bất ngờ tổng thống Ai Cập vô công rồi nghề đã đến thăm bảo tàng viện, và an ninh, cấm đường tứ tung, thế là cả đoàn lên xe bus không kịp, đành phải dàn hàng ra bên đường đón chào tổng thống Ai Cập. may thay, phái đoàn tổng thống cũng giản dị, đàn xe mau chóng đi qua, và đường xá lại thông thương, thế là chuyến bay đã kịp thời, cho chúng tôi đến tỉnh Aswan, thăm thú thành phố, đến đêm được ngủ ở một hotel vô cùng sang trọng nằm trong một cái đảo nhỏ giữa dòng sông Nile. Sáng hôm sau, phái đoàn lại lục tục lên cruise trên sông Nile đi trong ba ngày trời. Chúng tôi lên tàu trong đêm tối, một bữa tiệc huy hoàng trên sông với màn múa bụng rung rinh, du khách ngồi đó như thấy mình được dự tiệc của thời đại vua chúa năm nào.


Qua buổi chiều hôm sau, trời chưa tắt nắng, một chiếc taxi nước đã ghé chiếc cruise ship, đón chúng tôi đi thăm đền đài cung điện dọc sông Nile, con sông rộng mênh mông nhưng cũng tương đối sạch sẽ, ít rác rưởi, điều lạ lùng với du khách là hai bên bờ, những trẻ con đã đợi sẵn, thấy thuyền du khách, là chúng nhào ra bơi nhanh như rái cá, ôm chặt vào thành thuyền ca hát vang trời, chúng tôi chẳng hiểu gì về bài hát nhưng có cảm tưởng, được nghe tiếng hát của những nhân ngư trên dọc dòng sông. Những đứa trẻ được tiền tip, là cùng nhau dời thuyền vẫy vùng trên sóng nước, đó cũng là lúc thuyền cập bến, hàng ngàn du khách lên bờ, thì có hàng ngàn con lạc đà nằm phục mình trên mặt đất đợi khách, lần này chúng tôi lên lưng lạc đà với lòng khoan khoái, không còn sợ hãi. Đoàn lạc đà dắt du khách đi suốt một giải sông Nile dài cả cây số, qua làng mạc chùa chiền, chợ búa, người buôn kẻ bán tấp nập, vợ chồng tôi ngồi thung dung thoải mái kẻ đi trước người đi sau trên lưng con lạc đà cao ngất ngưởng, thấy mình quả thật có được những phút vui tươi hạnh phúc trong đời người. Đoàn lạc đà đã dừng lại tại một cái quán mộc mạc, bên trong là những hồ cá sấu, to nhỏ bắt ở trên sông cho du khách coi, du khách đến là tiếng nhạc nổi lên, một sân khấu thô sơ với nhạc cụ địa phương rầm rĩ, chúng tôi đã nhảy điên cuồng chung với đủ mọi sắc dân và  tưởng như sống lại trên rừng trong thời chiến tranh ở những buôn mường mán với những bản hát như “Tiếng Chày trên sóc Măm Bô”. Trên dòng sông Nile mênh mông êm đềm, hàng chục chiếc du thuyền nương theo gió chạy trên sông, ban ngày trông như một hạm đội ngoài khơi, ban đêm trên đoàn thuyền, đốt đèn đủ màu, đủ sắc lướt trên dòng sông phẳng lì, mặt nước phía trên như một đoàn tàu khổng lồ diễn hành trong ngày hội lớn, dưới nước phản chiếu như một thành phố ngầm với vạn ánh đèn màu. Điểm vui nhất là tới mỗi bến là đoàn tàu cặp bờ hàng loạt, cái nọ đậu song song với cái kia, kỷ luật,ngay hàng thẳng lối, du khách cứ tự tiện chuyển từ tàu này qua tàu kia mà nối đuôi nhau lên bờ. Ngày trước thì trên bờ hàng ngàn con lạc đà nằm đợi, ngày sau thì hàng ngàn xe ngựa kiểu Hoàng gia, người nài phía trước với một chiếc ghế bành rộng rãi phía sau, hàng hàng lớp lớp xếp hàng dài dằng dặc trên đường chờ khách. “tour guide”của từng đoàn du khách đã xếp đặt, cứ đoàn này chaỵ thì doàn ngựa khác lại tiếp nối, cứ như thế, mới rạng đông mà cả thành phố đã thức giấc ồn ào ầm ỹ với tiếng vó ngựa, tiếng bánh xe lăn cồng cộc trên đường. Trên con đường đến đền thờ Edfu Temple và trở lại sông Nile, nài ngựa nào cũng sải roi trên lưng ngựa, cho xe chạy thật mau đưa khách đến, rồi lại nhanh chóng trỏ về đón người khách đi. Đời sống đầy phấn đấu, cam go, để tranh dành đu khách lấy tiền công và lấy tiền tip. 

Đoàn ngựa chạy ào ào trên lộ, tránh xe hơi, lách bộ hành thật hãi hùng như ra đấu trường vậy. Ngày vui nào cũng tàn, cuộc chơi nào cũng có lúc phải chấm dứt. Tóm lại, chúng tôi đã đi trong 16 ngày, ngày N +16 là ngày 26 tháng 11, 2025. Tổng cộng 7 chuyến bay gồm hai chuyến đi về (21 giờ bay xuyên đại lục) và 5 chuyến bay ngắn trong nội địa, ngủ trong 12 hotels khác nhau. Thăm thú những cảnh vật, dân tình và những kỳ quan của hai quốc gia, Jordan và Egypt. Viếng Kim tự tháp và không biết bao nhiêu là đền thờ, cung điện, đi qua không biết bao nhiêu là địa danh lịch sử, đền đài, có những lúc tưởng mình như sống lại trong sáu bảy ngàn năm của lịch sử với đủ loại vua chúa thần thánh, có nhiều cái, nghe qua thật hoang đường, nhưng những câu chuyện hoang đường ấy đều được chứng minh bằng lầu đài lăng tẩm. Những kim Tự Tháp, những nhà mồ đều là chỗ chôn của những người quý tộc vua chúa thời xa xưa. Tất cả cho tôi thấy hai điều là khi so sánh với Ai Cập và Việt Nam thì cái khác biệt là những huyền thoại người ta kể ra tuy không thể tin được trong thế giới khoa học hôm nay, nhưng nó chứng minh được phân nào sự thật là nó có, những đền thờ lăng tẩm từ cả nhiều ngàn năm, gián tiếp cho rằng những chuyện huyền thoại kia dường như có thật. Còn Việt Nam tuy có bốn ngàn năm văn hiến, nhưng những chuyện từ thời vua Hùng Vương. Cho đến chuyện Tiên Rồng đẻ ra trăm trứng v.v. Tất cả chỉ là chuyện, không có một mấu chốt gì chứng minh những câu chuyện thần thoại đó là lịch sử, hay hoang đường. Những vua chúa và nhà giàu thời xa xưa của Ai Cập lo sống thì ít lo đào hang, khóet núi để làm mồ mình thì nhiều, làm mồ xây mả nhiều hơn là cải tiến đời sống người dân, giống như người VN chúng ta thường có câu. Sống vì mồ vì mả. Không ai sống bằng cả bát cơm. Bài viết trên đây chỉ là phiến diện, cần bỏ nhiều thời gian năm tháng nhiều hơn nếu muốn hiểu nền văn minh tối cổ của nước Ai Cập, đã có đến bảy ngàn năm văn hiến, và đưọc chứng minh bằng những hình ảnh, đền thờ và tượng đá.

Viết xong đêm Giáng Sinh Dec. 2025. 

Đinh Hùng Cường, ngọc Trâm.


Thứ Ba, 13 tháng 1, 2026

Tháng 10 Hội Thảo Ở Thượng Viện Pháp


Tháng 10 vừa qua, có một cuộc hội thảo ở Thượng Viện Pháp mà Thanh Vân được mời tham dự. Xin gởi vài hình ảnh
Cuộc hội thảo diễn ra trong một căn phòng rất đẹp và cổ kính trong khuôn viên của Thượng Viện Pháp (Le Sénat)

Chương trình buổi Hội thảo

Thanh Vân ngồi cạnh bà đang chống cằm
Trên danh sách Thanh Vân đứng hàng thứ 53
Giữa buổi họp là bữa ăn trưa, Thanh Vân chỉ gởi món tráng miệng, không gởi những món khác vì sợ nặng
Chụp hình kỷ niệm với bà
Buổi chiều lại họp nhau ở một phòng khác để ăn nhẹ

Và thưởng thức biểu diễn dương cầm.

Một ngày từ sáng đến tối, được mở mang kiến thức, được ăn uống ngon, được thưởng thức nhạc cổ điển. Một ngày tuyệt vời! Xin chia sẻ cùng quý Thân Hữu.

Thanh Vân

Giữ Chánh NiệmTrong Tâm

 

Thơ & Trình Bày: Minh Lương

Mai Hoa Dẫn 梅花引 - (Tưởng Tiệp 蔣捷)


Bài Tống Từ Chú Giải

梅花引 - 蔣捷 Mai Hoa Dẫn - Tưởng Tiệp

荆溪阻雪         Kinh khê trở tuyết


白鷗問我泊孤舟, Bạch âu vấn ngã bạc cô châu,
是身留, Thị thân lưu,
是心留? Thị tâm lưu?
心若留時, Tâm nhược lưu thời,
何事鎖眉頭? Hà sự tỏa mi đầu?
風拍小簾燈暈舞, Phong phách tiểu liêm đăng vựng vũ,
對閒影, Đối nhàn ảnh,
冷清清、憶舊遊。 Lãnh thanh thanh, Ức cựu du.

憶舊遊。 Ức cựu du.
舊遊今在不? Cựu du kim tại phầu?
花外樓, Hoa ngoại lâu,
柳下舟。 Liễu hạ châu.
夢也夢也, Mộng dã mộng dã,
夢不到、寒水空流。Mộng bất đáo, hàn thủy không lưu.
漠漠黃雲, Mạc mạc hoàng vân,
溼透木棉裘。 Thấp thấu mộc miên cừu.
都道無人愁似我, Đô đạo vô nhân sầu tự ngã,
今夜雪, Kim dạ tuyết,
有梅花、似我愁。 Hữu mai hoa, tự ngã sầu.

Chú Thích

1- Mai hoa dẫn 梅花引: tên từ bài. Bài này của Tưởng Tiệp còn được gọi là “Giang thành mai hoa dẫn 江城梅花引” vì tương cận với điệu “Giang thành tử 江城子”. Bài này có 88 chữ, dùng bình vận. Đoạn trước và đoạn sau đều có một điệp vận 疊韻. Cách luật:

T B T T T B B vận
T B B vận
T B B điệp vận
B T B B cú
B T T B B vận
B T T B B T T cú
T B T cú
T B B, T T B vận

T T B điệp vận
T B B T B vận
B T B vận
T T B vận
T T T T cú
T T T, B T B B vận
T T B B cú
T T T B B vận
B T B B B T T cú
B T T cú
T B B, T T B vận

B: bình thanh; T: trắc thanh; cú: hết câu; vận: vần; điệp vận: nhắc lại vận

2- Bạch âu 白鷗 = bạch lộ 白鹭: cò trắng
3- Cô chu 孤舟: con thuyền đơn độc.
4- Thân lưu 身留: bị trở ngại gì đó nên phải lưu lại.
5- Tâm lưu 心留: tự mình muốn lưu lại.
6- Tỏa 鎖: nhăn, nhíu.
7- Đăng vựng vũ 燈暈舞: ánh đèn mờ ảo dao động.
8- Nhàn ảnh 閒影 = ảnh 影: hình bóng.
9- Lãnh thanh thanh 冷清清: thê lương tịch mịch.
10- Cựu du 舊遊: chỉ những cuộc đi chơi với bạn bè khi xưa.
11- Phầu 不 hoặc 否: dùng ở cuối câu biểu thị ý tưởng chưa quyết hẳn. Kim tại phầu 今在不: bây giờ có còn chăng?
12- Mạc mạc 漠漠: dầy đặc.
13- Hoàng vân 黄雲: mây vàng lúc hoàng hôn.
14- Mộc miên cừu 木棉裘: áo bông.

Dịch Nghĩa

Bị tuyết trở ngại ở Kinh Khê.


Chim âu trắng (dường như) hỏi tôi đậu thuyền đơn chiếc ở đây?
Là do (bị sương tuyết trở ngại) phải đậu lại?
(Hay) là do tự ý muốn đậu lại?
Nếu như tự nguyện đậu lại,
Vì sao lại cau mày?
Gió đập vào cái màn nhỏ, ánh đèn lắc lư như múa,
(Chỉ một mình) đối với cái bóng (của mình),
(Trong) cái lạnh thê lương tịch mịch, lại nhớ tới những cuộc du ngoạn xưa.

Nhớ những cuộc du ngoạn xưa.
(Những người bạn trong) cuộc đi chơi xưa nay tại dâu?
(Khi đó) hoa nở ngoài lầu,
liễu rủ xuống (mui) thuyền (đậu trên bến).
Mộng ơi! (Hãy mộng đến nơi du ngoạn xưa),
Mộng không đến (nơi xưa), (trước mắt) nước lạnh vẫn trôi.
Mây vàng giăng mắc,
(Tuyết rơi) làm ướt xuyên áo bông.
Mọi người đều nói không ai sầu như tôi,
Đêm nay (trời đổ) tuyết,
Có hoa mai sầu như tôi.

Phỏng Dịch

1 Mai Hoa Dẫn - Nhớ Cựu Du


Chim âu hỏi tớ đậu thuyền câu,
Bởi thân lưu,
Bởi tâm lưu?
Do ý lưu thì,
Sao phải nhíu mi đầu?
Gió đập trướng màn đèn nhẩy múa,
Đối hình bóng,
Lạnh thê lương, nhớ cựu du.

Nhớ cựu du,
Cựu du nay tại đâu?
Hoa trước lầu,
Liễu rủ châu.
Mộng ới mộng ới,
Mộng chẳng đến, Nước lạnh trôi mau.
Giăng mắc mây vàng,
Ướt thấu áo bông sâu.
Người nói không ai sầu giống tớ,
Đêm phủ tuyết,
Có hoa mai, tựa mình sầu.


2 Nhớ Cựu Du

Bạch âu hỏi tớ đậu thuyền,
Bởi thân bởi ý, ước nguyền thì sao.
Cớ chi nhíu chặt mi đầu?
Gió lay màn nhỏ đèn dầu múa may.

Đối không hình bóng đêm nay,
Thê lương lạnh lẽo nhớ ngày cựu du.
Nhớ cựu du, nay mịt mù,
Trước lầu hoa nhánh thuyền du liễu cành.

Mộng hồn ơi mộng không thành,
Mộng bay không đến trôi nhanh thủy hàn.
Bầu trời giăng mắc mây vàng,
Áo bông ướt đẫm, người bàn vào ra.

Không ai sầu muộn như ta,
Đêm nay tuyết phủ, mai hoa lúc này.
Tựa mình ôm mối sầu vây.


HHD 
***
Mai Hoa Dẫn
Kinh khê tuyết cản

1-

Chim âu hỏi mỗ đậu thuyền câu
Do thân lưu
Do lòng lưu?
Nếu tâm lưu thì
Sao lại mày cau?
Gió đập mành con, đèn nhảy múa
Đối hình bóng
Lạnh thê lương. Nhớ cựu du

Nhớ cựu du
Cựu du nay nơi đâu?
Hoa ngoài lầu
Dưới liễu câu
Mộng ơi, mộng hỡi
Mộng chẳng đến, nước lạnh trôi mau
Giăng mắc mây vàng
Ẩm thấu áo bông sâu
Thảy nói: không ai sầu như mỗ
Đêm nay tuyết
Có hoa mai tựa mỗ sầu


2- Nhớ bạn xưa

Chim âu hỏi: vì sao thuyền đậu
Do tuyết ngăn, muốn náu thả câu?
Ý tự nguyện. Sao mày cau?
Mành con gió thổi đèn màu lung linh
Cô đơn mình đối bóng hình
Thê lương tịch mịch nhớ tình bạn xưa

Nhớ bạn xưa, đò đưa tìm bến?
Hoa ngoài lầu, liễu bén thuyền câu
Mộng ơi, mộng hỡi nơi nao?
Mộng không đến được, trôi mau lạnh dòng

Mây vàng giăng, áo bông thấm lạnh
Chẳng có ai cô quạnh như ta
Đêm nay tuyết đổ sương sa
Có Mai tri kỷ cũng qua muộn sầu!


Lộc Bắc
Dec25

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2026

So Sánh Múi Giờ Của Mỗi Loài

   
Trong khu vườn của vũ trụ, không có bông hoa nào nở sai mùa. Hoa hồng nở vào mùa hạ, hoa cúc chờ gió thu, còn hoa mai đợi những ngày đông lạnh mới toả hương. Mỗi loài đều có lịch trình thiêng liêng của riêng nó. Không gọi hoa mai là ‘đến muộn’ và cũng chẳng ai bảo hoa hồng ‘đi trước thời gian’. Tất cả đều nở - đúng lúc, đúng nơi, đúng Duyên.

Vậy mà trong khu vườn của cuộc sống, con người lại là loài hoa hay vội vã nhất.

Ta nhìn sang luống hoa bên cạnh, thấy người khác đã nở rộ, còn mình vẫn chỉ là một nụ xanh, bèn lo lắng. Và tự hỏi mình có ‘đang tụt lại phía sau?’. Rồi ta cố gắng ép mình nở sớm hơn, cố đốt cháy giai đoạn bằng so sánh, áp lực và sợ hãi bị lãng quên.

Nhưng không có bông hoa nào lớn nhanh nhờ bị kéo cánh, và cũng chẳng ai thật sự trưởng thành khi cứ cố sống theo nhịp của người khác.
Nếu ta chịu ngồi xuống trong tĩnh lặng, ta sẽ nghe được một lời thì thầm dịu dàng từ đất trời: ‘Con đang ở trong múi giờ của riêng con’.

Một linh hồn là một múi giờ riêng biệt của vũ trụ, không ai đi trước, cũng chẳng ai đi sau. Mỗi người đều đang đi đúng nhịp trong hành trình tỉnh thức của chính mình.

Có người nở hoa rực rỡ ở tuổi đôi mươi. Có người mãi đến tuổi bốn mươi mới nhận ra được hướng đi thật sự của đời mình. Có người phải đi qua cả nửa cuộc đời mới nhìn thấy một mùa xuân trong tâm hồn. Không có ai ‘đến trễ’ trong tiến trình của vũ trụ cả - chỉ có những người đang đi với vận tốc khác nhau.

Thời gian không chạy qua ta. Nó trôi trong ta.

Và ta chỉ cần một điều duy nhất: tin vào mùa của chính mình.

Khi nhìn sâu ta sẽ thấy, cái khiến ta mệt mỏi không phải vì con đường quá dài, mà vì ta cứ so sánh với người đang đi bên cạnh. Ta so năm tháng của mình với thành công của họ, ta so trái xanh của mình với hoa rực rỡ của người khác, và ta quên rằng, không ai đang đi cùng một lộ trình (1)
Vũ trụ không bao giờ để hai bông hoa nở cùng một cách, cùng một giờ. Bởi vì nếu tất cả đều nở cùng lúc, thì ai sẽ tỏa hương cho những ngày còn lại?

Có những người tưởng như nở muộn, nhưng chính họ lại giữ được hương lâu nhất. Bởi vì khi gió của đời đã bớt ồn ào, hương hoa của họ mới được lắng nghe.
Sự chậm rãi không phải là thua kém, mà là một dạng trí tuệ. Còn sự vội vã, đôi khi, lại là một dạng của vô minh.

Người biết tin vào Duyên, họ không gấp gáp. Bởi họ hiểu, khi nhân duyên chưa chín, mọi sự cố gắng chỉ là cưỡng cầu. Và khi Duyên đã đủ, dù không hề chuẩn bị, hoa vẫn sẽ nở.

Không có sự trễ hẹn nào trong vũ trụ (2).

Chỉ có những cuộc gặp gỡ diễn ra khi tâm ta đã sẵn sàng để nhận ra điều thiêng liêng được gửi đến (3)

Vì vậy, chỉ thôi nhìn quanh xem ai đang đi nhanh hơn. Hãy quay về chăm sóc khu vườn tâm hồn của chính mình.
Hãy tưới tẩm bằng lòng biết ơn, bón bằng niềm tin và kiên nhẫn. Hãy để nắng của tử tế và mưa của thấu hiểu nuôi dưỡng bạn từng ngày.
Việc của bạn không phải là nở trước ai, mà là nở thật trọn vẹn khi mùa của mình đến.

Khi ấy, dù chỉ là một bông hoa nhỏ bên đường, bạn vẫn đủ sức làm dịu lòng người qua lại. Bởi vì, không có gì rực rỡ hơn một bông hoa đúng mùa, và không có gì mạnh mẽ hơn một người biết chờ đợi thời điểm của mình. Và nếu hôm nay bạn cảm thấy mình đang ‘đi chậm’, hãy hít một hơi thật sâu, mỉm cười và tự nói:
“Tôi đang ở đúng nơi, đúng thời điểm, đúng múi giờ của mình. Tôi không hề đến trễ - tôi chỉ đang nở theo nhịp của Duyên”.

Bởi hạnh phúc không nằm ở việc nở sớm hay muộn, mà ở chỗ bạn tin rằng mọi thứ - kể cả mình - đều đang diễn ra đúng giờ.

Nếu bạn biết ai đó đang vội vàng, đang tự trách mình ‘đến muộn’, hãy gửi bài viết này đến họ như một lời nhắc dịu dàng:

‘Trong múi giờ của riêng bạn, Duyên vẫn đang đúng hẹn".
Nguồn “Trạm Dừng Của Tâm”

Lời bình

(1) không ai đang đi cùng một lộ trình

Tôi đi bằng nhịp điệu 1,2,3,4,5. Anh đi bằng nhịp điệu: 6,7,8,9,10 (Trịnh Công Sơn). Cuộc sống mỗi người đều khác nhau, không thể sao chép theo một khuôn mẫu của người khác bằng cách áp dụng một phương pháp hay hệ thống,

điều này làm khô chết sự vận hành biến đổi sinh - hoá, hoá - sinh của sự sống. Thấy rõ, tỉnh thức cuộc sống muôn màu muôn vẻ của dòng chuyển hoá của mỗi người chính là sự sáng tạo của cuộc sống.

(2) Không có sự trễ hẹn nào trong vũ trụ.

Vũ trụ luôn hoàn hảo trong từng khoảnh khắc. Vì không nhận ra được những khoảnh khắc tròn đầy, sống động nên con người đi tìm sự hoàn hảo theo tư kiến tư dục và hậu quả là chuốc lấy khổ đau, phiền muộn.

(3) khi tâm ta đã sẵn sàng để nhận ra điều thiêng liêng được gửi đến

Trong kinh Thánh, Tin Mừng Gioan 14:6 Chúa cho biết:‘Ta là đường đi, là sự thật, là sự sống. Không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Ta’.

Ta trong câu nói của Chúa không phải là thân xác, hình hài của Chúa. Hàm ý sâu sắc của Ta chính là Chân lý, là điều mà nếu con người không trực nhận được sẽ không đến được với Chúa Cha.
Tương tự, trong Khải Huyền, Chúa cho biết:‘Ta đến như kẻ trộm. Phúc cho những ai tỉnh thức"
Ý nghĩa câu này cũng không phải theo nghĩa đen, mà mang tính biểu tượng thiêng liêng.

Khi một người thường cảm nhận thái độ, cách sống, phản ứng của mình, đến một lúc nào đó, chân lý (Ta), điều phi thời, thực tại, sự thật, cái không biết (điều thiêng liêng) sẽ xuất hiện đột ngột, bất chợt. Đây là phúc lành cao thượng dành cho người sống trong tỉnh thức. 

Trong đạo Phật, dưới góc nhìn của tuệ giác (chân đế), khi cái nhìn của tưởng tri, thức tri chấm dứt, nghĩa là khi mọi mong cầu, mọi sở đắc, mọi sở tri, mọi khái niệm, mọi phương pháp… đều vắng bặt, bản tâm chiếu sáng (Pabhassara Citta) mới xuất hiện bất chợt trong khoảnh khắc (Ta đến như kẻ trộm).

Nói về chân lý (On Truth) trong buổi nói chuyện tại Rajahmundry, Krishnamurti cho biết (tóm tắt - Mộc Nhiên biên dịch):

“Chân lý là điều chưa biết, và một tâm trí tìm kiếm chân lý sẽ không bao giờ tìm thấy, bởi vì lúc đó tâm trí được tạo ra từ cái đã biết, là kết quả của quá khứ, thành quả của thời gian... Chân lý không thể tìm mà có được; nó tự đến với chúng ta. Khi tâm trí không bị dày vò bởi điều đã biết, bởi ảnh hưởng của điều đã biết, chỉ lúc đó chân lý mới tự hiển lộ...

Chân lý trong từng chiếc lá, trong mỗi giọt nước mắt; nó được nhận biết từ khoảnh khắc này đến khoảnh khắc khác...

Chân lý luôn luôn mới: Cũng nụ cười ấy nhưng thấy rằng ấy là nụ cười tinh khôi; cũng con người ấy nhưng thấy rằng ấy là con người tinh khôi; thấy được hàng cây đong đưa kia tinh khôi, gặp gỡ được cuộc sống tinh khôi...”

PAD


Thuở Theo Nhau - Sáng Tác: Hoàng Chính Nghĩa & Hoàng Quốc Bảo - Trình Bày: Thái Hiền & Mai Hương


Sáng Tác: Hoàng Chính Nghĩa & Hoàng Quốc Bảo
Trình Bày: Thái Hiền & Mai Hương
Thực Hiện: Hoàng Khai Nhan

Tuổi Hoàng Hôn 3

 

(Tư trào)

(...79/89/99) năm nay độ tuổi vàng
Trung bình sức khoẻ tạm an khang
Hàng ngày thể duc vài ba bận
Sáu tháng T-scan chỉ một lần
Trí óc tâm hồn luôn sảng khoái
Nhân thân dáng điệu vẫn thênh thang
An nhiên tự tại nào hơn thế
Hạnh phúc là đây tựa Niết Bàn

ChinhNguyen/H.N.T.
Sinh nhat 2026

Hằng Nga Và Kim Oanh


(Chị Tặng Kim Oanh - Chữ đầu ghép lại là tên của em)

Lung linh huyền ảo trăng ngà
Êm êm làn gió lòa xòa tóc mây

Thuyền trôi trên những bóng cây
Hương thơm nhè nhẹ ngất ngây tâm hồn
Im sâu vang vọng trong lòng

Khen ai khéo vẽ chị Hằng thiên nhiên
In bao nét đẹp thanh hiền
Mảnh mai nhẹ gót lướt xuyên qua cành

Oh hay tiên nữ giáng trần
Ao xuân cá ngẩn ngơ nhìn đắm say
Nắng ơi đừng vội vén mây
Hướng dương lay động tiên bay về trời


Dương Việt-Chỉnh 
Ngày 9/1/2026     

Lời Gọi Của Dòng Sông



Dòng sông tôi đến như lời gọi
Từ xa xôi một áng mây trời
Tôi gặp anh sóng lòng phiêu lãng
Một chiều trên bến nước thu sơ

Một chiều nào bước chân lữ thứ
Dòng Potomac chợt ngừng trôi
Hoa đô đang lấp lánh tươi cười
Nét son môi một thời rực rỡ

Dòng sông tôi đến như lời gọi
Đáy nước in sâu một ước thề
Thuyền xa đã chậm xuôi làn sóng
Nhấp nhô tình mấy thuở còn xanh

Bên kia sông bóng nước xây thành
Potomac bến lòng lơi lả
Điệu nhạc ru hồn một khúc ca
Tiếng hát bổng trầm đưa êm ả

Bờ liễu tóc xanh gầy lướt gió
Hoa đào như thiếu nữ chờ xuân
Tôi đứng giữa một dòng lưu thuỷ
Bóng nước trôi lờ lững mây ngàn

Tà dương sóng dâng mờ khói thuốc
Lên đôi môi giọt nắng hanh vàng
Như tiếng nói lòng chưa kịp thốt
Cánh buồm nâu thấp thoáng trường giang

Dòng sông tôi đến như lời gọi
Đêm trời mắt biếc tựa trăng tan
Cánh chim thiên lý ngàn xa gửi
Hoa gấm quê xưa bóng một thời

Lê Mỹ Hoàn
12/25/2025
Cảm tác tuyển tập “Viết Bên Dòng Potomac 1975-2025“


Xuân Tráng Sĩ - X. Y. Thái Dịch Lý Đông A

 

Tráng sĩ hãy ngâm câu:

“ Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”.


Cũng bởi vì:

Lòng quyết tử tiến lên đường gió bụi,
Hai bàn tay thề phục lại sơn hà.
Thái Bình Dương lấp san bằng sầu nhục tủi,
Lấy máu đào rửa sạch máu yêu ma.


Thế cho nên:

Tráng sĩ hãy cùng ta tay cầm tay,
Thu Năm Hồ dốc lại một hồ say
Ðêm Xuân đầu với rượu nồng pháo nổ
Hãy vui cho đỡ buồn xa đất tổ.
Rồi ngày mai, từ ngày mai.
Lý tưởng Việt như trời Xuân sáng tỏ,
Chép sử Việt ánh dương phơi máu đỏ
Tráng sĩ cầm thanh gươm của ông cha,
Phấn hồn xưa giết giặc đòi lại nhà.


Tráng sĩ hãy lên:

Những xâm lược, bóc lột hại sinh linh.
Những buôn dân bán nước cầu tư vinh.
Hãy giết sạch chớ gờm tay sợ ác.
Cho trong trắng nòi con Hồng cháu Lạc.


Rồi ngày kia:

Một ngày kia Thắng Nghĩa ca
Sẽ vang lừng đây đó quốc gia.


Và lúc đó:

Tráng sĩ sẽ lại cùng ta
Ta cầm tay cùng hát câu
Sát Thát Bình Ngô của ông cha từ thuở nọ.
“ Ðoạt sáo Chương Dương độ
Cầm hồ Hàm Tử Quan”
Súng nổ ran
Pháo nổ ran
Cùng hân hoan
.

X. Y. Thái Dịch Lý Đông A (22 Tuổi )
Liễu Châu 4821 T.V (1942)
--------------
Nhà Cách Mạng Nguyễn Hữu Thanh tức Cụ X. Y. Thái Dịch LÝ ĐÔNG A 
đã viết bài thơ " Xuân Tráng Sĩ" vào dịp Tết đầu tiên khi Cụ Lý Đông A "lưu vong" tại Liễu Châu (Quảng Đông)
(Trần Trọng Nhân chuyển)
 

Từ Hà Nội Đến Sài Gòn 1954

(Chùa Một Cột)

Tôi xa Hà Nội vào năm 1954 khi được 5 tuổi.
Tuy nhiên những hình ảnh của Hà Nội khi đó vẫn còn trong ký ức.

Đối với tôi, Hà Nội thời gian đó sạch sẽ và nên thơ, trước khi di cư vào Sài Gòn, Ba tôi đã đưa anh em chúng tôi đi thăm Chùa Một Cột, đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc.
Chùa Một Cột thuộc quận Ba Đình, nằm ngay sau Phố Ông Ích Khiêm gần Quảng Trường Ba Đình. Chùa được xây dựng theo hình tượng của một đóa hoa sen nở trên mặt nước, tượng trưng cho sự tinh khiết và cao quý của Phật Pháp *

Theo Wikipedia chùa Một Cột có tên ban đầu là Liên Hoa Đài với lối kiến trúc độc đáo: một điện thờ đặt trên một cột trụ duy nhất được xây vào thời vua Lý Thái Tông cuối năm 1049 và hoàn thiện vào năm 1105 nhưng sau đó bị Pháp phá hủy khi rút khỏi Hà Nội cuối năm 1954. Đến năm 1955 mới được dựng lại theo kiến trúc từ thời Nguyễn

( Đền Ngọc Sơn)

Hồi ba tôi còn đi học, ông ở trọ nhà Bác tôi ở số 32 Phố Nhà Thương Khách, tức là Phố Hòe Nhai (tại phố này có nhà thương của người Tàu nên hay được gọi là Phố Nhà Thương Khách). Lâu lâu Mẹ tôi lại đưa chúng tôi ra Hà Nội thăm Ba. Anh em chúng tôi hay ra Vườn Hoa Hàng Đậu chơi, vườn hoa cách nhà khoảng 300 mét, từ nhà đi xuống phía nam chừng hơn một trăm mét gặp Phố Phan Đình Phùng quẹo trái, đi thêm một đoạn nữa là đến Vườn Hoa Hàng Đậu với bãi cỏ xanh mướt.

Năm 1954, trước khi di cư, gia đình tôi ở tạm nhà một người anh họ tại Phố Châu Long. Cũng như mọi ngày, hôm đó Mẹ bận nấu cơm, anh tôi và tôi có bổn phận trông em, chúng tôi chia nhau hai đứa ngồi hai bên đầu cầu thang, gác chân qua nhau không cho em đi nhưng vì mải nói chuyện với hai người cháu cùng tuổi nên em đã lách và đi xuống lúc nào không biết.

( Cầu Thê Húc tại Hồ Hoàn Kiếm, nối từ bờ hồ đến 1 hòn đảo nhỏtrên đó có Đền Ngọc Sơn)

Khi Mẹ tôi ở dưới bếp lên hỏi “em đâu?”, chúng tôi mới biết em đã đi mất rồi.
Tôi theo Mẹ đi dọc đường Cổ Ngư để tìm em, mẹ sợ em vì thích nghịch nước nên có thể đi đến bờ hồ rồi trượt chân ngã xuống hồ chăng!
Đường Cổ Ngư là một con đường nhỏ nằm giữa Hồ Tây bao la và Hồ Trúc Bạch nên thơ ( hình như bây giờ đường Cổ Ngư đã bị đổi tên thành đường Thanh Niên).

Mẹ dẫn tôi đi qua mấy con phố thì bỗng thấy một đám đông từ xa, khi lại gần thì mừng quá, em tôi ngồi trên xe đạp của một ông cảnh binh, ông vừa đi vừa rao xem con ai đi lạc. Mẹ tôi vội đi lại phía ông, em tôi vừa thấy Mẹ thì òa lên khóc đòi Mẹ. Sau đó ông trao em cho Mẹ tôi rồi bảo: con bé đi lang thang, có một bà bế cháu vào cho ăn cho uống, nó cứ hát líu lo, đến khi cho cháu đi tiểu, bà phát hiện là con gái nên không muốn giữ đem ra giao cho chúng tôi.

Ba anh chị em trên tàu há mồm từ Hải Phòng đến cảng Sài Gòn

Thật là may, nếu là con trai bà ấy sẽ giữ nuôi, chắc gia đình tôi sẽ kẹt lại ngoài Bắc vì không tìm được em.
Giã từ Hà Nội, Ba Mẹ tôi đưa anh em chúng tôi lên xe lửa ra Hải Phòng, ở tạm nhà của người quen để đợi ngày lên tàu di cư vào miền Nam.
Tại đây, tôi quen và chơi thân với Lề Mình, cháu nội của bà chủ nhà, gia đình bà là người gốc Hoa, cũng sửa soạn di cư vào Nam trong chương trình “Passage To Freedom”


Sau mấy ngày lênh đênh trên biển, tàu đến bến Sài Gòn. Tôi đi cùng Bà Nội, hai bà cháu còn say sóng nên đi đứng loạng choạng, một thanh
niên trẻ thấy vậy nắm tay tôi dẫn đi, khi xuống đến bến anh bỏ tay tôi sau khi đã nhận tấm giấy từ nhân viên Hội Hồng Thập Tự cho nạn nhân tị nạn của tôi.
Khi leo lên xe đò về trại tị nạn, ba tôi hỏi giấy của tôi đâu, lúc đó cả nhà mới biết người thanh niên đã lấy tấm giấy và đi mất rồi, thế là mất toi 700 đồng!

Đó là một kỷ niệm buồn trong tôi khi di cư vào Nam!

Ngọc Hà