Thứ Ba, 13 tháng 1, 2026

Mai Hoa Dẫn 梅花引 - (Tưởng Tiệp 蔣捷)


Bài Tống Từ Chú Giải

梅花引 - 蔣捷 Mai Hoa Dẫn - Tưởng Tiệp

荆溪阻雪         Kinh khê trở tuyết


白鷗問我泊孤舟, Bạch âu vấn ngã bạc cô châu,
是身留, Thị thân lưu,
是心留? Thị tâm lưu?
心若留時, Tâm nhược lưu thời,
何事鎖眉頭? Hà sự tỏa mi đầu?
風拍小簾燈暈舞, Phong phách tiểu liêm đăng vựng vũ,
對閒影, Đối nhàn ảnh,
冷清清、憶舊遊。 Lãnh thanh thanh, Ức cựu du.

憶舊遊。 Ức cựu du.
舊遊今在不? Cựu du kim tại phầu?
花外樓, Hoa ngoại lâu,
柳下舟。 Liễu hạ châu.
夢也夢也, Mộng dã mộng dã,
夢不到、寒水空流。Mộng bất đáo, hàn thủy không lưu.
漠漠黃雲, Mạc mạc hoàng vân,
溼透木棉裘。 Thấp thấu mộc miên cừu.
都道無人愁似我, Đô đạo vô nhân sầu tự ngã,
今夜雪, Kim dạ tuyết,
有梅花、似我愁。 Hữu mai hoa, tự ngã sầu.

Chú Thích

1- Mai hoa dẫn 梅花引: tên từ bài. Bài này của Tưởng Tiệp còn được gọi là “Giang thành mai hoa dẫn 江城梅花引” vì tương cận với điệu “Giang thành tử 江城子”. Bài này có 88 chữ, dùng bình vận. Đoạn trước và đoạn sau đều có một điệp vận 疊韻. Cách luật:

T B T T T B B vận
T B B vận
T B B điệp vận
B T B B cú
B T T B B vận
B T T B B T T cú
T B T cú
T B B, T T B vận

T T B điệp vận
T B B T B vận
B T B vận
T T B vận
T T T T cú
T T T, B T B B vận
T T B B cú
T T T B B vận
B T B B B T T cú
B T T cú
T B B, T T B vận

B: bình thanh; T: trắc thanh; cú: hết câu; vận: vần; điệp vận: nhắc lại vận

2- Bạch âu 白鷗 = bạch lộ 白鹭: cò trắng
3- Cô chu 孤舟: con thuyền đơn độc.
4- Thân lưu 身留: bị trở ngại gì đó nên phải lưu lại.
5- Tâm lưu 心留: tự mình muốn lưu lại.
6- Tỏa 鎖: nhăn, nhíu.
7- Đăng vựng vũ 燈暈舞: ánh đèn mờ ảo dao động.
8- Nhàn ảnh 閒影 = ảnh 影: hình bóng.
9- Lãnh thanh thanh 冷清清: thê lương tịch mịch.
10- Cựu du 舊遊: chỉ những cuộc đi chơi với bạn bè khi xưa.
11- Phầu 不 hoặc 否: dùng ở cuối câu biểu thị ý tưởng chưa quyết hẳn. Kim tại phầu 今在不: bây giờ có còn chăng?
12- Mạc mạc 漠漠: dầy đặc.
13- Hoàng vân 黄雲: mây vàng lúc hoàng hôn.
14- Mộc miên cừu 木棉裘: áo bông.

Dịch Nghĩa

Bị tuyết trở ngại ở Kinh Khê.


Chim âu trắng (dường như) hỏi tôi đậu thuyền đơn chiếc ở đây?
Là do (bị sương tuyết trở ngại) phải đậu lại?
(Hay) là do tự ý muốn đậu lại?
Nếu như tự nguyện đậu lại,
Vì sao lại cau mày?
Gió đập vào cái màn nhỏ, ánh đèn lắc lư như múa,
(Chỉ một mình) đối với cái bóng (của mình),
(Trong) cái lạnh thê lương tịch mịch, lại nhớ tới những cuộc du ngoạn xưa.

Nhớ những cuộc du ngoạn xưa.
(Những người bạn trong) cuộc đi chơi xưa nay tại dâu?
(Khi đó) hoa nở ngoài lầu,
liễu rủ xuống (mui) thuyền (đậu trên bến).
Mộng ơi! (Hãy mộng đến nơi du ngoạn xưa),
Mộng không đến (nơi xưa), (trước mắt) nước lạnh vẫn trôi.
Mây vàng giăng mắc,
(Tuyết rơi) làm ướt xuyên áo bông.
Mọi người đều nói không ai sầu như tôi,
Đêm nay (trời đổ) tuyết,
Có hoa mai sầu như tôi.

Phỏng Dịch

1 Mai Hoa Dẫn - Nhớ Cựu Du


Chim âu hỏi tớ đậu thuyền câu,
Bởi thân lưu,
Bởi tâm lưu?
Do ý lưu thì,
Sao phải nhíu mi đầu?
Gió đập trướng màn đèn nhẩy múa,
Đối hình bóng,
Lạnh thê lương, nhớ cựu du.

Nhớ cựu du,
Cựu du nay tại đâu?
Hoa trước lầu,
Liễu rủ châu.
Mộng ới mộng ới,
Mộng chẳng đến, Nước lạnh trôi mau.
Giăng mắc mây vàng,
Ướt thấu áo bông sâu.
Người nói không ai sầu giống tớ,
Đêm phủ tuyết,
Có hoa mai, tựa mình sầu.


2 Nhớ Cựu Du

Bạch âu hỏi tớ đậu thuyền,
Bởi thân bởi ý, ước nguyền thì sao.
Cớ chi nhíu chặt mi đầu?
Gió lay màn nhỏ đèn dầu múa may.

Đối không hình bóng đêm nay,
Thê lương lạnh lẽo nhớ ngày cựu du.
Nhớ cựu du, nay mịt mù,
Trước lầu hoa nhánh thuyền du liễu cành.

Mộng hồn ơi mộng không thành,
Mộng bay không đến trôi nhanh thủy hàn.
Bầu trời giăng mắc mây vàng,
Áo bông ướt đẫm, người bàn vào ra.

Không ai sầu muộn như ta,
Đêm nay tuyết phủ, mai hoa lúc này.
Tựa mình ôm mối sầu vây.


HHD 
***
Mai Hoa Dẫn
Kinh khê tuyết cản

1-

Chim âu hỏi mỗ đậu thuyền câu
Do thân lưu
Do lòng lưu?
Nếu tâm lưu thì
Sao lại mày cau?
Gió đập mành con, đèn nhảy múa
Đối hình bóng
Lạnh thê lương. Nhớ cựu du

Nhớ cựu du
Cựu du nay nơi đâu?
Hoa ngoài lầu
Dưới liễu câu
Mộng ơi, mộng hỡi
Mộng chẳng đến, nước lạnh trôi mau
Giăng mắc mây vàng
Ẩm thấu áo bông sâu
Thảy nói: không ai sầu như mỗ
Đêm nay tuyết
Có hoa mai tựa mỗ sầu


2- Nhớ bạn xưa

Chim âu hỏi: vì sao thuyền đậu
Do tuyết ngăn, muốn náu thả câu?
Ý tự nguyện. Sao mày cau?
Mành con gió thổi đèn màu lung linh
Cô đơn mình đối bóng hình
Thê lương tịch mịch nhớ tình bạn xưa

Nhớ bạn xưa, đò đưa tìm bến?
Hoa ngoài lầu, liễu bén thuyền câu
Mộng ơi, mộng hỡi nơi nao?
Mộng không đến được, trôi mau lạnh dòng

Mây vàng giăng, áo bông thấm lạnh
Chẳng có ai cô quạnh như ta
Đêm nay tuyết đổ sương sa
Có Mai tri kỷ cũng qua muộn sầu!


Lộc Bắc
Dec25

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2026

So Sánh Múi Giờ Của Mỗi Loài

   
Trong khu vườn của vũ trụ, không có bông hoa nào nở sai mùa. Hoa hồng nở vào mùa hạ, hoa cúc chờ gió thu, còn hoa mai đợi những ngày đông lạnh mới toả hương. Mỗi loài đều có lịch trình thiêng liêng của riêng nó. Không gọi hoa mai là ‘đến muộn’ và cũng chẳng ai bảo hoa hồng ‘đi trước thời gian’. Tất cả đều nở - đúng lúc, đúng nơi, đúng Duyên.

Vậy mà trong khu vườn của cuộc sống, con người lại là loài hoa hay vội vã nhất.

Ta nhìn sang luống hoa bên cạnh, thấy người khác đã nở rộ, còn mình vẫn chỉ là một nụ xanh, bèn lo lắng. Và tự hỏi mình có ‘đang tụt lại phía sau?’. Rồi ta cố gắng ép mình nở sớm hơn, cố đốt cháy giai đoạn bằng so sánh, áp lực và sợ hãi bị lãng quên.

Nhưng không có bông hoa nào lớn nhanh nhờ bị kéo cánh, và cũng chẳng ai thật sự trưởng thành khi cứ cố sống theo nhịp của người khác.
Nếu ta chịu ngồi xuống trong tĩnh lặng, ta sẽ nghe được một lời thì thầm dịu dàng từ đất trời: ‘Con đang ở trong múi giờ của riêng con’.

Một linh hồn là một múi giờ riêng biệt của vũ trụ, không ai đi trước, cũng chẳng ai đi sau. Mỗi người đều đang đi đúng nhịp trong hành trình tỉnh thức của chính mình.

Có người nở hoa rực rỡ ở tuổi đôi mươi. Có người mãi đến tuổi bốn mươi mới nhận ra được hướng đi thật sự của đời mình. Có người phải đi qua cả nửa cuộc đời mới nhìn thấy một mùa xuân trong tâm hồn. Không có ai ‘đến trễ’ trong tiến trình của vũ trụ cả - chỉ có những người đang đi với vận tốc khác nhau.

Thời gian không chạy qua ta. Nó trôi trong ta.

Và ta chỉ cần một điều duy nhất: tin vào mùa của chính mình.

Khi nhìn sâu ta sẽ thấy, cái khiến ta mệt mỏi không phải vì con đường quá dài, mà vì ta cứ so sánh với người đang đi bên cạnh. Ta so năm tháng của mình với thành công của họ, ta so trái xanh của mình với hoa rực rỡ của người khác, và ta quên rằng, không ai đang đi cùng một lộ trình (1)
Vũ trụ không bao giờ để hai bông hoa nở cùng một cách, cùng một giờ. Bởi vì nếu tất cả đều nở cùng lúc, thì ai sẽ tỏa hương cho những ngày còn lại?

Có những người tưởng như nở muộn, nhưng chính họ lại giữ được hương lâu nhất. Bởi vì khi gió của đời đã bớt ồn ào, hương hoa của họ mới được lắng nghe.
Sự chậm rãi không phải là thua kém, mà là một dạng trí tuệ. Còn sự vội vã, đôi khi, lại là một dạng của vô minh.

Người biết tin vào Duyên, họ không gấp gáp. Bởi họ hiểu, khi nhân duyên chưa chín, mọi sự cố gắng chỉ là cưỡng cầu. Và khi Duyên đã đủ, dù không hề chuẩn bị, hoa vẫn sẽ nở.

Không có sự trễ hẹn nào trong vũ trụ (2).

Chỉ có những cuộc gặp gỡ diễn ra khi tâm ta đã sẵn sàng để nhận ra điều thiêng liêng được gửi đến (3)

Vì vậy, chỉ thôi nhìn quanh xem ai đang đi nhanh hơn. Hãy quay về chăm sóc khu vườn tâm hồn của chính mình.
Hãy tưới tẩm bằng lòng biết ơn, bón bằng niềm tin và kiên nhẫn. Hãy để nắng của tử tế và mưa của thấu hiểu nuôi dưỡng bạn từng ngày.
Việc của bạn không phải là nở trước ai, mà là nở thật trọn vẹn khi mùa của mình đến.

Khi ấy, dù chỉ là một bông hoa nhỏ bên đường, bạn vẫn đủ sức làm dịu lòng người qua lại. Bởi vì, không có gì rực rỡ hơn một bông hoa đúng mùa, và không có gì mạnh mẽ hơn một người biết chờ đợi thời điểm của mình. Và nếu hôm nay bạn cảm thấy mình đang ‘đi chậm’, hãy hít một hơi thật sâu, mỉm cười và tự nói:
“Tôi đang ở đúng nơi, đúng thời điểm, đúng múi giờ của mình. Tôi không hề đến trễ - tôi chỉ đang nở theo nhịp của Duyên”.

Bởi hạnh phúc không nằm ở việc nở sớm hay muộn, mà ở chỗ bạn tin rằng mọi thứ - kể cả mình - đều đang diễn ra đúng giờ.

Nếu bạn biết ai đó đang vội vàng, đang tự trách mình ‘đến muộn’, hãy gửi bài viết này đến họ như một lời nhắc dịu dàng:

‘Trong múi giờ của riêng bạn, Duyên vẫn đang đúng hẹn".
Nguồn “Trạm Dừng Của Tâm”

Lời bình

(1) không ai đang đi cùng một lộ trình

Tôi đi bằng nhịp điệu 1,2,3,4,5. Anh đi bằng nhịp điệu: 6,7,8,9,10 (Trịnh Công Sơn). Cuộc sống mỗi người đều khác nhau, không thể sao chép theo một khuôn mẫu của người khác bằng cách áp dụng một phương pháp hay hệ thống,

điều này làm khô chết sự vận hành biến đổi sinh - hoá, hoá - sinh của sự sống. Thấy rõ, tỉnh thức cuộc sống muôn màu muôn vẻ của dòng chuyển hoá của mỗi người chính là sự sáng tạo của cuộc sống.

(2) Không có sự trễ hẹn nào trong vũ trụ.

Vũ trụ luôn hoàn hảo trong từng khoảnh khắc. Vì không nhận ra được những khoảnh khắc tròn đầy, sống động nên con người đi tìm sự hoàn hảo theo tư kiến tư dục và hậu quả là chuốc lấy khổ đau, phiền muộn.

(3) khi tâm ta đã sẵn sàng để nhận ra điều thiêng liêng được gửi đến

Trong kinh Thánh, Tin Mừng Gioan 14:6 Chúa cho biết:‘Ta là đường đi, là sự thật, là sự sống. Không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Ta’.

Ta trong câu nói của Chúa không phải là thân xác, hình hài của Chúa. Hàm ý sâu sắc của Ta chính là Chân lý, là điều mà nếu con người không trực nhận được sẽ không đến được với Chúa Cha.
Tương tự, trong Khải Huyền, Chúa cho biết:‘Ta đến như kẻ trộm. Phúc cho những ai tỉnh thức"
Ý nghĩa câu này cũng không phải theo nghĩa đen, mà mang tính biểu tượng thiêng liêng.

Khi một người thường cảm nhận thái độ, cách sống, phản ứng của mình, đến một lúc nào đó, chân lý (Ta), điều phi thời, thực tại, sự thật, cái không biết (điều thiêng liêng) sẽ xuất hiện đột ngột, bất chợt. Đây là phúc lành cao thượng dành cho người sống trong tỉnh thức. 

Trong đạo Phật, dưới góc nhìn của tuệ giác (chân đế), khi cái nhìn của tưởng tri, thức tri chấm dứt, nghĩa là khi mọi mong cầu, mọi sở đắc, mọi sở tri, mọi khái niệm, mọi phương pháp… đều vắng bặt, bản tâm chiếu sáng (Pabhassara Citta) mới xuất hiện bất chợt trong khoảnh khắc (Ta đến như kẻ trộm).

Nói về chân lý (On Truth) trong buổi nói chuyện tại Rajahmundry, Krishnamurti cho biết (tóm tắt - Mộc Nhiên biên dịch):

“Chân lý là điều chưa biết, và một tâm trí tìm kiếm chân lý sẽ không bao giờ tìm thấy, bởi vì lúc đó tâm trí được tạo ra từ cái đã biết, là kết quả của quá khứ, thành quả của thời gian... Chân lý không thể tìm mà có được; nó tự đến với chúng ta. Khi tâm trí không bị dày vò bởi điều đã biết, bởi ảnh hưởng của điều đã biết, chỉ lúc đó chân lý mới tự hiển lộ...

Chân lý trong từng chiếc lá, trong mỗi giọt nước mắt; nó được nhận biết từ khoảnh khắc này đến khoảnh khắc khác...

Chân lý luôn luôn mới: Cũng nụ cười ấy nhưng thấy rằng ấy là nụ cười tinh khôi; cũng con người ấy nhưng thấy rằng ấy là con người tinh khôi; thấy được hàng cây đong đưa kia tinh khôi, gặp gỡ được cuộc sống tinh khôi...”

PAD


Thuở Theo Nhau - Sáng Tác: Hoàng Chính Nghĩa & Hoàng Quốc Bảo - Trình Bày: Thái Hiền & Mai Hương


Sáng Tác: Hoàng Chính Nghĩa & Hoàng Quốc Bảo
Trình Bày: Thái Hiền & Mai Hương
Thực Hiện: Hoàng Khai Nhan

Tuổi Hoàng Hôn 3

 

(Tư trào)

(...79/89/99) năm nay độ tuổi vàng
Trung bình sức khoẻ tạm an khang
Hàng ngày thể duc vài ba bận
Sáu tháng T-scan chỉ một lần
Trí óc tâm hồn luôn sảng khoái
Nhân thân dáng điệu vẫn thênh thang
An nhiên tự tại nào hơn thế
Hạnh phúc là đây tựa Niết Bàn

ChinhNguyen/H.N.T.
Sinh nhat 2026

Hằng Nga Và Kim Oanh


(Chị Tặng Kim Oanh - Chữ đầu ghép lại là tên của em)

Lung linh huyền ảo trăng ngà
Êm êm làn gió lòa xòa tóc mây

Thuyền trôi trên những bóng cây
Hương thơm nhè nhẹ ngất ngây tâm hồn
Im sâu vang vọng trong lòng

Khen ai khéo vẽ chị Hằng thiên nhiên
In bao nét đẹp thanh hiền
Mảnh mai nhẹ gót lướt xuyên qua cành

Oh hay tiên nữ giáng trần
Ao xuân cá ngẩn ngơ nhìn đắm say
Nắng ơi đừng vội vén mây
Hướng dương lay động tiên bay về trời


Dương Việt-Chỉnh 
Ngày 9/1/2026     

Lời Gọi Của Dòng Sông



Dòng sông tôi đến như lời gọi
Từ xa xôi một áng mây trời
Tôi gặp anh sóng lòng phiêu lãng
Một chiều trên bến nước thu sơ

Một chiều nào bước chân lữ thứ
Dòng Potomac chợt ngừng trôi
Hoa đô đang lấp lánh tươi cười
Nét son môi một thời rực rỡ

Dòng sông tôi đến như lời gọi
Đáy nước in sâu một ước thề
Thuyền xa đã chậm xuôi làn sóng
Nhấp nhô tình mấy thuở còn xanh

Bên kia sông bóng nước xây thành
Potomac bến lòng lơi lả
Điệu nhạc ru hồn một khúc ca
Tiếng hát bổng trầm đưa êm ả

Bờ liễu tóc xanh gầy lướt gió
Hoa đào như thiếu nữ chờ xuân
Tôi đứng giữa một dòng lưu thuỷ
Bóng nước trôi lờ lững mây ngàn

Tà dương sóng dâng mờ khói thuốc
Lên đôi môi giọt nắng hanh vàng
Như tiếng nói lòng chưa kịp thốt
Cánh buồm nâu thấp thoáng trường giang

Dòng sông tôi đến như lời gọi
Đêm trời mắt biếc tựa trăng tan
Cánh chim thiên lý ngàn xa gửi
Hoa gấm quê xưa bóng một thời

Lê Mỹ Hoàn
12/25/2025
Cảm tác tuyển tập “Viết Bên Dòng Potomac 1975-2025“


Xuân Tráng Sĩ - X. Y. Thái Dịch Lý Đông A

 

Tráng sĩ hãy ngâm câu:

“ Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”.


Cũng bởi vì:

Lòng quyết tử tiến lên đường gió bụi,
Hai bàn tay thề phục lại sơn hà.
Thái Bình Dương lấp san bằng sầu nhục tủi,
Lấy máu đào rửa sạch máu yêu ma.


Thế cho nên:

Tráng sĩ hãy cùng ta tay cầm tay,
Thu Năm Hồ dốc lại một hồ say
Ðêm Xuân đầu với rượu nồng pháo nổ
Hãy vui cho đỡ buồn xa đất tổ.
Rồi ngày mai, từ ngày mai.
Lý tưởng Việt như trời Xuân sáng tỏ,
Chép sử Việt ánh dương phơi máu đỏ
Tráng sĩ cầm thanh gươm của ông cha,
Phấn hồn xưa giết giặc đòi lại nhà.


Tráng sĩ hãy lên:

Những xâm lược, bóc lột hại sinh linh.
Những buôn dân bán nước cầu tư vinh.
Hãy giết sạch chớ gờm tay sợ ác.
Cho trong trắng nòi con Hồng cháu Lạc.


Rồi ngày kia:

Một ngày kia Thắng Nghĩa ca
Sẽ vang lừng đây đó quốc gia.


Và lúc đó:

Tráng sĩ sẽ lại cùng ta
Ta cầm tay cùng hát câu
Sát Thát Bình Ngô của ông cha từ thuở nọ.
“ Ðoạt sáo Chương Dương độ
Cầm hồ Hàm Tử Quan”
Súng nổ ran
Pháo nổ ran
Cùng hân hoan
.

X. Y. Thái Dịch Lý Đông A (22 Tuổi )
Liễu Châu 4821 T.V (1942)
--------------
Nhà Cách Mạng Nguyễn Hữu Thanh tức Cụ X. Y. Thái Dịch LÝ ĐÔNG A 
đã viết bài thơ " Xuân Tráng Sĩ" vào dịp Tết đầu tiên khi Cụ Lý Đông A "lưu vong" tại Liễu Châu (Quảng Đông)
(Trần Trọng Nhân chuyển)
 

Từ Hà Nội Đến Sài Gòn 1954

(Chùa Một Cột)

Tôi xa Hà Nội vào năm 1954 khi được 5 tuổi.
Tuy nhiên những hình ảnh của Hà Nội khi đó vẫn còn trong ký ức.

Đối với tôi, Hà Nội thời gian đó sạch sẽ và nên thơ, trước khi di cư vào Sài Gòn, Ba tôi đã đưa anh em chúng tôi đi thăm Chùa Một Cột, đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc.
Chùa Một Cột thuộc quận Ba Đình, nằm ngay sau Phố Ông Ích Khiêm gần Quảng Trường Ba Đình. Chùa được xây dựng theo hình tượng của một đóa hoa sen nở trên mặt nước, tượng trưng cho sự tinh khiết và cao quý của Phật Pháp *

Theo Wikipedia chùa Một Cột có tên ban đầu là Liên Hoa Đài với lối kiến trúc độc đáo: một điện thờ đặt trên một cột trụ duy nhất được xây vào thời vua Lý Thái Tông cuối năm 1049 và hoàn thiện vào năm 1105 nhưng sau đó bị Pháp phá hủy khi rút khỏi Hà Nội cuối năm 1954. Đến năm 1955 mới được dựng lại theo kiến trúc từ thời Nguyễn

( Đền Ngọc Sơn)

Hồi ba tôi còn đi học, ông ở trọ nhà Bác tôi ở số 32 Phố Nhà Thương Khách, tức là Phố Hòe Nhai (tại phố này có nhà thương của người Tàu nên hay được gọi là Phố Nhà Thương Khách). Lâu lâu Mẹ tôi lại đưa chúng tôi ra Hà Nội thăm Ba. Anh em chúng tôi hay ra Vườn Hoa Hàng Đậu chơi, vườn hoa cách nhà khoảng 300 mét, từ nhà đi xuống phía nam chừng hơn một trăm mét gặp Phố Phan Đình Phùng quẹo trái, đi thêm một đoạn nữa là đến Vườn Hoa Hàng Đậu với bãi cỏ xanh mướt.

Năm 1954, trước khi di cư, gia đình tôi ở tạm nhà một người anh họ tại Phố Châu Long. Cũng như mọi ngày, hôm đó Mẹ bận nấu cơm, anh tôi và tôi có bổn phận trông em, chúng tôi chia nhau hai đứa ngồi hai bên đầu cầu thang, gác chân qua nhau không cho em đi nhưng vì mải nói chuyện với hai người cháu cùng tuổi nên em đã lách và đi xuống lúc nào không biết.

( Cầu Thê Húc tại Hồ Hoàn Kiếm, nối từ bờ hồ đến 1 hòn đảo nhỏtrên đó có Đền Ngọc Sơn)

Khi Mẹ tôi ở dưới bếp lên hỏi “em đâu?”, chúng tôi mới biết em đã đi mất rồi.
Tôi theo Mẹ đi dọc đường Cổ Ngư để tìm em, mẹ sợ em vì thích nghịch nước nên có thể đi đến bờ hồ rồi trượt chân ngã xuống hồ chăng!
Đường Cổ Ngư là một con đường nhỏ nằm giữa Hồ Tây bao la và Hồ Trúc Bạch nên thơ ( hình như bây giờ đường Cổ Ngư đã bị đổi tên thành đường Thanh Niên).

Mẹ dẫn tôi đi qua mấy con phố thì bỗng thấy một đám đông từ xa, khi lại gần thì mừng quá, em tôi ngồi trên xe đạp của một ông cảnh binh, ông vừa đi vừa rao xem con ai đi lạc. Mẹ tôi vội đi lại phía ông, em tôi vừa thấy Mẹ thì òa lên khóc đòi Mẹ. Sau đó ông trao em cho Mẹ tôi rồi bảo: con bé đi lang thang, có một bà bế cháu vào cho ăn cho uống, nó cứ hát líu lo, đến khi cho cháu đi tiểu, bà phát hiện là con gái nên không muốn giữ đem ra giao cho chúng tôi.

Ba anh chị em trên tàu há mồm từ Hải Phòng đến cảng Sài Gòn

Thật là may, nếu là con trai bà ấy sẽ giữ nuôi, chắc gia đình tôi sẽ kẹt lại ngoài Bắc vì không tìm được em.
Giã từ Hà Nội, Ba Mẹ tôi đưa anh em chúng tôi lên xe lửa ra Hải Phòng, ở tạm nhà của người quen để đợi ngày lên tàu di cư vào miền Nam.
Tại đây, tôi quen và chơi thân với Lề Mình, cháu nội của bà chủ nhà, gia đình bà là người gốc Hoa, cũng sửa soạn di cư vào Nam trong chương trình “Passage To Freedom”


Sau mấy ngày lênh đênh trên biển, tàu đến bến Sài Gòn. Tôi đi cùng Bà Nội, hai bà cháu còn say sóng nên đi đứng loạng choạng, một thanh
niên trẻ thấy vậy nắm tay tôi dẫn đi, khi xuống đến bến anh bỏ tay tôi sau khi đã nhận tấm giấy từ nhân viên Hội Hồng Thập Tự cho nạn nhân tị nạn của tôi.
Khi leo lên xe đò về trại tị nạn, ba tôi hỏi giấy của tôi đâu, lúc đó cả nhà mới biết người thanh niên đã lấy tấm giấy và đi mất rồi, thế là mất toi 700 đồng!

Đó là một kỷ niệm buồn trong tôi khi di cư vào Nam!

Ngọc Hà

Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2026

Một Cõi Tình Phai -Tác Giả Ngô Thụy Miên -Thực Hiện & Trình Bày: Kim Oanh (Canada)


Tác Giả Ngô Thụy Miên
Thực Hiện & Trình Bày: Kim Oanh (Canada)

Em Vẫn Còn Đây

 

EM vẫn còn đây, trong nét thơ,
Nhắc bao nỗi nhớ thuở ngu ngơ,
Những ngày vụng dại nhiều si ngẩn,
Vậy đó, một thời với mộng mơ.

EM vẫn còn đây, bao tháng ngày,
Thời gian trôi mãi bụi mờ bay,
Từng mùa Thu đến rồi đi biệt,
Vậy đó, nỗi buồn chẳng đổi thay.

EM vẫn còn đây, ngắm lá rơi.
Gió heo may lạnh phủ phương trời,
Người đi rớt lại môi hồng nhỏ,
Vậy đó, còn chăng một góc đời.

EM vẫn còn đây, thơ mấy câu,
Viết lên kỷ niệm đẹp tươi màu,
Công viên thác nước ươm tình sử,
Vậy đó, mà người nay ở đâu?

EM vẫn còn đây, năm tháng qua.
Gặp nhau ánh mắt tựa hoen nhòa,
Nụ cười buồn héo như chào hỏi,
Vậy đó, sao mà bao cách xa.

EM vẫn còn đây, EM biết không?
Câu thơ vụn vỡ ngẩn ngơ lòng,
Chiều Thu gió lạnh như vương vấn,
Vậy đó, tôi về lại nhớ mong.

Hoàng Dũng

Mai Mốt

  

Mai mốt em về thăm anh không

Hay là mãi mãi lệ đá đông
Nghìn sau điên đảo đời xa lạ
Mây hết cao xanh nắng hết hồng

Tuyết sẽ phủ đầy những lối rêu
Chỗ ngồi chỗ đứng hết hương yêu
Những lời tình tứ thành mưa gió
Trời đất giận lây đến nắng chiều

Dấu cỏ hơi sương cũng hững hờ
Còn ai đọc sách ai quay tơ
Nhà không còn dấu vườn đâu mất
Bến vắng sông khô khói mịt mờ

Ai sẽ lang thang qua lối nầy
Lẽo đẽo theo hoài nhặt hương bay
Bao nhiêu hương sắc thành hư ảo
Để bước si tình thêm đắng cay

Ngày đêm lẫn lộn chân ngược xuôi
Nửa tỉnh nửa mê khóc lẫn cười
Đi ở không xong về không được
Thân xác hình như chẳng giống người

Anh sẽ đi trong mắt em buồn
Tìm em đếm kỹ lại ngàn thương
Bao nhiêu duyên nợ còn mang nặng
Sao chẳng chờ nhau chẳng chỉ đường

Anh cũng không còn anh nữa đâu
Nếu em không kịp trở về mau
Hôn anh một chút yêu một chút
Tha thiết tuyệt vời trong chiêm bao…

MD 04/04/04
LuânTâm
(Trích trong Tuyển Tập Thơ Quốc Gia Hành Chánh ,
Cơ Sở Hoài Bão Quê Hương xb,CA,USA.2005,tr.143-144)

Phù Dung Lâu Tống Tân Tiệm Kỳ 1 芙蓉樓送辛漸其一 - Vương Xương Linh (Thịnh Đường)

  

(Diễn đàn LTCD TK 21 chúc niên trưởng Mỹ Ngọc sớm hồi phục sức khỏe)

Vương Xương Linh  王昌齡 (khoảng 698-756) tự là Thiếu Bá (少伯); bạn bè khen là vua thơ. Năm 27 tuổi đỗ Tiến sĩ (cùng tuổi với Lý Bạch khi đậu tiến sĩ). 7 năm sau ông lại đỗ Khoa bác học hoằng từ, chuyển đi làm Quan Uý ở Di Thuỷ. Nhưng do hành vi lãng mạn, bị biếm ra nơi biên ải làm Quan Uý ở Long Tiêu... Rồi về làm chức Thừa ở quê (Giang Ninh=Nam kinh). Ở đây Ông ngâm thơ không biết mệt mỏi. Không may Ông đắc tội với Thứ Sử bản địa Lư Khâu Hiểu nên bị Lư giết. Về sau Trấn thủ Hà Nam là Trương Cảo, điều quân đội các Lộ đến tập hợp, Lư Khâu Hiểu đến chậm bị xử tử (bị kết tội khi quân), coi như đó là báo thù cho Vương Xương Linh (ai bảo Lư dám giết vua thơ?). Vương Xương Linh được người đương thời xưng là Thi thiên tử, có bạn thân là Vương Chi Hoán và Tân Tiệm.



Nguyên tác              Dịch âm

芙蓉樓送辛漸其一 Phù Dung Lâu TốngTân Tiệm Kỳ 1


寒雨連江夜入吳 Hàn vũ liên giang dạ nhập Ngô,
平明送客楚山孤 Bình minh tống khách Sở sơn cô.
洛陽親友如相問 Lạc Dương thân hữu như tương vấn,
一片冰心在玉壺 Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ.

Chú giải


芙蓉樓 Phù Dung lâu: Lầu Phù Dung do vua nhà Đông Tấn cho xây và đặt tên ở tại phía tây bắc thành Trấn Nam phủ (nay là tây bắc huyện Đan Dương, tỉnh Giang Tô).
夜入吳 Dạ nhập Ngô: Tác giả mới ra làm quan ở Ngô, ban đêm vừa đến nhậm chức thì mưa lạnh rơi trên sông, sáng sớm hôm sau lại tiễn đưa Tân Tiệm về Lạc Dương, khách tiễn đưa chỉ có tác giả và ngọn núi Sở cô đơn (楚山孤).
相問 Lạc Dương: Giờ là Hà Nam.
一片冰心在玉壺 nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ: câu này ám chỉ lòng ta đối với bạn trong trắng như nước tuyết tan trong bình ngọc.

Dịch nghĩa

Lầu Phù Dung Tiễn Tân Tiệm Kỳ 1


Mưa lạnh rơi dọc mấy con sông liên tiếp nên tới đêm khuya mới tới đất Ngô,
Khi tảng sáng lại phải tiễn Tân Tiệm về Lạc Dương; đưa tiễn chỉ có ta và ngọn núi Sở trơ trọi.
Nếu bạn bè thân thích ở Lạc Dương có hỏi (về cuộc tiễn đưa này),
(Thì xin anh cứ đáp rằng): Lòng ta (với anh) trong trắng như một miếng băng đựng trong hũ ngọc.

Dịch thơ

Lầu Phù Dung Tiễn Tân Tiệm kỳ 1

Mưa lạnh sông dài tối tới nơi,
Bình minh tiễn bạn có non côi.
Lạc Dương ai hỏi thì xin đáp:
Bình ngọc lòng băng bạn với tôi.


Lời bàn

Hãy nghe Vương Xương Linh tả cuộc tiễn đưa Tân Tiệm kỳ 1 bằng 28 chữ của thơ thất ngôn tứ tuyệt:

Câu 1:
Vương đi thuyền trên nhiều con sông nối tiếp nhau dưới mưa lạnh để tới nhiệm sở mới tại đất Ngô; không nói rõ sau bao nhiêu ngày; chỉ nói rằng một đêm khuya mới đến nơi.

Câu 2:
Tờ mờ sáng hôm sau lại phải tiễn Tân Tiệm từ lầu Phù Dung về Lạc Dương (Vương đã chịu dầm mưa lạnh nhiều ngày trên sông, đến nơi chưa kịp ngủ lại phải đi tiễn bạn). Cuộc tiễn đưa chỉ có Vương và ngọn núi Sở trơ trọi (Tân sống cô đơn ở nơi này; chờ Vương tới là ra đi; vậy sự có mặt của Vương trong cuộc tiễn đưa sáng nay là rất qúy).

Câu 3 & 4:
Vương dặn Tân rằng, khi tới Lạc Dương, nếu bạn bè hỏi tình bạn của Vương đối với Tân ra sao thì Tân chỉ cần nói 7 chữ: “Trong trắng như băng trong bình ngọc” (7 chữ này chứa nhiều ý sâu đậm lắm; ÔC kể không xuể).

Con Cò 
***
(Cầu chúc chị Mỹ Ngọc sớm lấy lại sức khỏe để tiếp tục làm thơ với nhóm.)

Tiễn Bạn

Vào Ngô mưa lớn nước tràn sông
Sáng sớm tiễn anh núi Sở buồn
Ai hỏi về tôi xin hãy nói
Trung trinh vẫn ở trái tim nồng

Thanh Vân
***
Lầu Phù Dung Tiễn Tân Tiệm Kỳ1

1-

Mưa lạnh sông dài đêm đến Ngô
Sáng mai tiễn khách Sở hoang vu
Lạc Dương bạn hữu ai han hỏi
Một phiến băng tâm giữa ngọc hồ

2-

Đêm đến Ngô, sông dài mưa lạnh
Sớm hôm sau, tiễn khách Sở cô
Lạc Dương bạn hữu hỏi dò
Xin thưa chan chứa ngọc hồ, băng tâm!

Lộc Bắc
Dec25
***
(Trước hết, xin cầu nguyện cho một đàn chị khả ái, khả kính của diễn đàn là chị Mỹ Ngọc được tai qua nạn khỏi, mau bình phục để trở lại góp mặt với mọi người.)

Về bài thơ của Vương Xương Linh, thì như anh Tâm đã nói, có 2 Phù Dung Lâu:
& một ở Giang Tô, do Thứ Sử đời Đông Tấn là Vương Cống xây.
& một ở Hồ Nam. Theo bài viết của Nguyễn Thị Mai Chanh và Lê Thời Tân, thì Phù Dung Lâu này do Vương Xương Linh xây, khi bị biếm làm Long Tiêu Uý. Long Tiêu thuộc đất Sở.

Bài thơ có mấy chữ “Sở sơn cô“ thì có lẽ Vương tiễn bạn ở Phù Dung Lâu thuộc Hồ Nam.
Mấy chữ “dạ nhập Ngô“chứng tỏ là Vương mới tới đất trích, sáng hôm sau đã tiễn bạn ở Phù Dung Lâu thì lầu này không thể do ông xây được.

Tân Tiệm là bạn của Vương, nhưng Bát Sách không tìm được chi tiết. Mà sao lại trùng hợp như vậy? Vương vừa tới thì bạn ra đi.
Bài thơ này ngắn, nhẹ nhàng.

Tiễn Tân Tìệm Tại Lầu Phù Dung

Mưa lạnh tràn sông, tối tới Ngô,
Ban mai tiễn khách núi chơ vơ,
Bạn hữu Lạc Dương như có hỏi,
Một tấm lòng son tại ngọc hồ.

Bát Sách.
(Ngày 07/01/2026)

***
Nguyên Tác: Phiên Âm:

芙蓉樓送辛漸其 Phù Dung Lâu Tống Tân Tiệm Kỳ 1
王昌齡 Vương Xương Linh

寒雨連江夜入湖 Hàn vũ liên giang dạ nhập Ngô
平明送客楚山孤 Bình minh tống khách Sở sơn cô
洛陽親友如相問 Lạc Dương thân hữu như tương vấn
一片冰心在玉壺 Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ

Bài thơ có mộc bản trong các sách:

· Tập Dị Ký - Đường - Tiết Dụng Nhược 集異記-唐-薛用弱
· Vạn Thủ Đường Nhân Tuyệt Cú - Tống - Hồng Mại 萬首唐人絕句-宋-洪邁
· Cổ Thi Kính - Minh - Lục Thì Ung 古詩鏡-明-陸時雍
· Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐 詩-清-聖祖玄燁


Ghi chú:

Phù Dung Lâu: tên tòa nhà nằm ở góc tây bắc của thành phố Nhuận Châu (nay là Trấn Giang, Giang Tô) vào thời nhà Đường. Trước đây được gọi là Tòa nhà Tây Bắc, nó nhìn ra sông Dương Tử.
Tân Tiệm: bạn của Vương Xương Linh. Lần đó cùng vượt sông từ Nhuận Châu, để Tân Tiệm đi Dương Châu rồi đi về bắc đến Lạc Dương.
Hàn vũ: mưa lạnh vào mùa thu và mùa đông.
Liên giang/thiên: liền sông/ trời, mưa lớn liền với mặt sông/trời
Ngô: tên cổ của đất nước, ở đây đề cập đến phần phía nam của Giang Tô và phần phía bắc của Chiết Giang
Bình minh: lúc mặt trời vừa ló dạng
Khách: ở đây chỉ Tân Tiệm
Sở sơn: tức là Cảnh Sơn, ở phía tây tỉnh Hồ Bắc, dãy núi Võ Đang ở phía đông nam và sông Hán ở phía tây
Lạc Dương: cố đô của Trung Hoa thời Đường, hiện nằm ở phía tây tỉnh Hà Nam, trên bờ nam sông Hoàng Hà
Băng tâm: ẩn dụ cho một trái tim thuần khiết
Ngọc hồ: bình làm bằng ngọc bích

Dịch Nghĩa:

Phù Dung Lâu Tống Tân Tiệm      Tiễn Tân Tiệm Tại Lầu Phù Dung

Hàn vũ liên giang dạ nhập Ngô        Đêm vào nước Ngô mưa lạnh ngập tràn sông,
Bình minh tống khách Sở sơn cô      Bình minh đã phải tiễn bạn ở núi Sở.
Lạc Dương thân hữu như tương vấn Nếu có ai ở Lạc Dương hỏi về tôi, xin hãy nói:
Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ  Tôi vẫn giữ tấm lòng băng giá trong bình ngọc (tâm vẫn thanh khiết).

Dịch Thơ:

Tiễn Tân Tiệm Tại Lầu Phù Dung

Vào Ngô đêm lạnh mưa tràn sông,
Tiễn khách núi buồn sớm tinh sương.
Bạn hữu Lạc Dương có hỏi đến,
Giữ trong bình ngọc tấm lòng son.

At Hibiscus Inn Parting With Xin Jian By Wang Changling
Translation by Witter Bynner

With this cold night-rain overflowing the river, you have come into Wu.
At dawn, we parted at lonely Mount Chu.
Should friends ask of me at Loyang, answer:
"One-hearted as ice crystal in a jade vase."

WANG Changling – Seeing off Xin Jian at the Hibiscus Tower
Translation by Betty Tseng

You arrived in the Wu region when icy rain rendered the river full,
Now at dawn I'm seeing you off to cross the isolated mountains of Chu.
If my family and friends in Luoyang asked about my situation,
You could say that my heart is crystal clear and kept jadeite pure.

Phí Minh Tâm
***

Góp ý:

Người ni không hiểu Vương Xương Linh muốn nói vì với câu cuối - băng tâm và ngọc hồ tượng trưng những gì? - nên chỉ có thể bàn về các địa danh.

Thời xưa có hai 芙蓉樓=Phù Dung lâu, một ở Trấn Giang, Giang Tô (镇江, 江苏) và môt ở (洪江, 湖南) Hồng Giang, Hồ Nam. Ngôi lầu ở Trấn Giang do thứ sử Vương Cung thời Đông Tấn (刺史王恭,东晋) xây và là nơi thi nhân họ Vương tiễn bạn Tân Tiệm. Lầu có tên là lầu Tây-Bắc nhưng được gọi là Phù Dung vì có cây dâm bụt cạnh đó. Lầu sụp năm 1990 và đã được xây lại theo kiểu thời Đường.

Ngô và Sở là hai địa danh thi nhân thường dùng để nhắc đến chuyện người Hán xâm chiếm hay tàn phá các nước thời Đông Chu Liệt Quốc và người đọc dù muốn dù không cũng phải liên tưởng đến chuyện chiến chinh, bất an.

Sở sơn là tên một ngọn núi ở Hồ Bắc. 8 dặm phía nam Tương Dương.(襄陽,湖北) và có tên nguyên thủy là Mã An san (馬鞍山), Vũ Lăng Vương Tư Mã Tuân làm thứ sử ở Tương Dương, nhìn thấy núi và nghĩ đến Yên Thành (鄢城) của Sở nên đặt tên núi là 望楚山 Vọng Sở sơn. Núi được nói đến trong Thủy Kinh Chú.

Huỳnh Kim Giám

***
Góp ý của Isamurai:

Xin thành tâm cầu nguyện cho bà Mỹ Ngọc được an toàn và phục hồi.

PHL
***
Chị Mỹ Ngọc kính mến.

Nguyện cầu chị sớm bình phục và về chung vui với gia đình trong Năm Mới.

Kim Oanh nhớ chị trong lời cầu nguyện.

Kim Oanh


Người Việt Cao Quý


“Sướng gì hơn sướng làm lành,
Cho bao nhiêu của để dành bấy nhiêu”

Cuộc đời từ chiếc nôi đến ngôi mộ quá lắm cũng chỉ ba vạn sáu ngàn ngày, nhưng thường phải trải qua không biết bao nhiêu là biến cố. Ba mươi năm đầu là thời gian học hỏi để nên người. Tam thập lập thân - cũng là 30 năm sinh tử của cuộc đời, thành bại sau này đều bắt đầu từ những năm trưởng thành của cuộc sống. Những năm đầu, con người hấp thụ kinh nghiệm của nhân sinh hệ lụy. Tùy hoàn cảnh giáo dục gia đình và học đường mà mỗi người mang một bản sắc khác nhau, người thì nhân từ độ lượng, trọng nghĩa khinh tài đáng là bậc trượng phu, kẻ thì lòng dạ hẹp hòi, tham tiền bỏ nghĩa, phản trắc, bội tín và phi nghĩa.

Giáo dục và tín ngưỡng đã ảnh hưởng đến sự hình thành tâm tính và quan niệm của con người về cuộc sống. Con người tính bổn thiện nhưng thế thượng thường tình có thể bị tà ma, lợi lộc làm mờ lương tri. Do đó cổ nhân đã để lại những nguyên tắc luân lý lưu truyền từ đời này sang đời khác nhằm điều chỉnh thái độ và giúp con người cải tà, quy chánh.

Các nguyên tắc luân lý đó thường được bàn bạc qua văn chương và triết học. Triết lý văn nghệ của các truyện nôm như Phan Trần, Nhị Độ Mai … nêu cao khí phách của con người lý tưởng, đạo đức:

“Trời nào phụ kẻ trung trinh,
Dẫu vương nạn ấy, ắt dành phúc kia.
Danh thơm muôn kiếp còn ghi,
Để gương trong sạch, tạc bia với đời.
Gian tà đắc chí mấy hơi,
Mắt thần khôn dấu lưới trời khôn dung.
Uy quyền một phút như không,
Xem bằng lứa đá, ví cùng đám mây.” (Nhị Độ Mai)

Đức tính truyền thống của con người cao quý theo truyền thống của dân tộc Việt là con người có Trung, có Hiếu, có Tiết, có Nghĩa đúng theo ngũ thường Nhân-Lễ-Nghĩa-Trí-Tín

“Ai ơi lẳng lặng mà nghe,
Dữ răn việc trước, lánh dè thân sau.
Trai thời Trung, Hiếu làm đầu,
Gái thời Tiết, Hạnh là câu sửa mình.”

Nhưng giữ được cương thường đạo nghĩa ở đời không phải là chuyện dễ vì lợi lộc, vinh hoa phú quý có thể mua chuộc lòng người. Ngày trước nói đến chữ Trung có nghĩa “trung thần bất sự nhị quân”, làm tôi ngay không thờ hai Chúa, “trung trinh ái quốc một lòng vì dân vì nước”! Ngày nay là trung thành với lý tưởng tự do chống độc tài hữu phái hay tà phái dù rằng kẻ trung nghiã đôi khi gặp rủi ro, bị gian thần hãm hại hoặc không được trọng dụng.

“Từ ngày đi sứ đến Tây Kinh
Thấy việc Âu Châu phải giật mình,
Kêu gọi đồng bào mau thức tỉnh
Hết lòng năn nỉ chẳng ai tin!” (Nguyễn Trường Tộ)

Người trung nghĩa và kẻ phản tặc thưởng được vạch trần mỗi khi quốc gia lâm nạn. “Quốc nạn thức trung thành”. Sau khi quân Pháp đánh lấy Nam Kỳ năm 1862, Tôn Thọ Tường phản quốc ra hàng làm sai cho Pháp. Sĩ phu thời bấy giờ cương quyết chống đối hành vi bất trung của Tôn Thọ Tường. Tôn Thọ Tường làm 10 bài thơ liên hoàn nhan đề là “Tự Thuật”. Đứng đầu môn phái chủ trương “trung thần bất sự nhị quân” là Phan Văn Trị. Phan Văn Trị đã hoạ lại 10 bài thơ của Tôn Thọ Tường.

Sự xướng hoạ đã tạo nên cuộc bút chiến về “Chính và Tà” vào hạ bán thế kỷ 19. Đặc sắc là bài “Tôn Phu Nhân Quy Thục”

“Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng,
Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông.
Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc,
Về Hán trau tria mảnh má hồng.
Son phấn thà cam dày gió bụi,
Đá vàng chi thẹn với non sông.
Ai về nhắn với Châu Công Cẩn :
Thà mất lòng anh đặng bụng chồng.”
(Tôn Thọ Tường)

Tôn Thọ Tường tự thú theo Pháp vì mình như người con gái bán gả cho người ta nên dù mất lòng với vua y cũng theo Pháp:

“Thà mất lòng anh được bụng chồng!”

Phan văn Trị hoạ lại, cho Tôn Thọ Tường không phải là người trung, nghĩa vì trai ngay phải thờ chúa, gái mới thờ chồng:

“Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng,
Mặt ngã trời chiều biệt cõi Đông.
Ngút tỏa đồi Ngô ùn sắc trắng,
Duyên về đất Thục đượm màu hồng.
Hai vai tơ tóc bền trời đất,
Một gánh cương thường nặng núi sông.
Anh hỡi !Tôn Quyền : anh có biết ?
Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng.”
(Phan Văn Trị)

Phải chăng vì vinh hoa phú quý, chức cao quyền trọng mà Tôn Thọ Tường phải hoá kiếp thành thất phu thường tình.!

Người Việt cao quý
phải là người hiếu thảo với cha mẹ

Hiếu tức là hành vi của người con tốt (hảo tử). Khi cha mẹ còn sống thì hết lòng vâng lời, phụng dưỡng cha mẹ; khi cha mẹ mất thì hết lòng thương nhớ. Đó là hiếu đạo của con cái đối với cha mẹ. Kẻ bất hiếu là kẻ thờ ơ chểnh mảng với cha mẹ khi cha mẹ còn sống, lúc cha mẹ chết thì làm văn tế ruồi! Tục thờ kính Ông Bà Tổ Tiên thể hiện lòng hiếu thảo đối với thân sinh phụ mẫu. Đức Khổng Tử bảo rằng hiếu là “Người con thờ đấng thân: Khi đấng thân còn sống thì phụng dưỡng cho phải lễ. Khi đấng thân mất thì tống táng cho phải lễ, khi cúng bái đấng thân thì tế cho phải lễ”. Điều quan trọng là khi phụng dưỡng cha mẹ, nét mặt phải hoà vui, cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng, con nuôi cha mẹ không kể tháng kể ngày! “ Nếu nghĩ là có tiền cho cha mẹ vào nhà dưỡng lão và lơ là việc thăm viếng, phụng dưỡng cha mẹ như vậy thì chưa phải là có hiếu vì có tiền bạc nuôi ăn mà không có tình với cha mẹ thì chẳng khác nào nuôi gia súc!”

Hán Văn Du ăn ở với mẹ rất là có hiếu, mỗi khi có lỗi mẹ thường đánh đòn. Một hôm Văn Du phải đòn, khóc mãi, mẹ thấy vậy hỏi: Mọi khi mẹ đánh con biết lỗi, con câm ngay, lần này sao con lại khóc dai thế? Bá Du thưa: Mọi khi mẹ đánh, con thấy đau, con biết mẹ còn khỏe mạnh. Lần này mẹ đánh con, con không đau mấy, con biết mẹ đã yếu, cho nên thương mẹ già yếu mà con khóc. Tình con yêu mẹ như thế thật thắm thiết!

NHÂN- LỄ- NGHĨA-TRÍ- TÍN

Người Việt Cao Quý là người trọng NHÂN

Người nhân nghĩa khác kẻ tiểu nhân vì lúc nào cũng để tâm việc nhân vì cái tâm không tàn ác, không cường bạo phi lý. Nhân là thương yêu đồng loại, thương người như thể thương thân như lời của Vua Trần Nhân Tông đối với thần dân. “Trẫm thương dân như thương con trẫm”.

Người Việt cao quý Là người trọng LỄ

Lễ là xử thế hợp lý với lòng kính trọng con người. Thánh hiền cư xử với người một cách kính trọng: không có giờ phút nào bỏ được lòng nhân hậu. “Thiên địa nhất gia, thiên hạ nhất nhân”. Cả thiên hạ như một nhà, cả nước như người. Thánh nhân đã dạy:
“Hãy xem tha nhân như thầy của mình thì mọi sự sẽ được yên vui”.

Người Việt cao quý là người trọng NGHĨA

Trong cuộc đời, con người phải có nghĩa với nhau thường được hiểu qua câu ơn nghĩa người đồng liêu, với người trên kẻ dưới. Câu huynh đệ chí binh nói lên cái nghĩa khí một dạ, một lòng, quan quân như một. Làm việc nghĩa tức là làm phải, việc hữu ích chung, công bình ơn đức, con người sống vị nghĩa dễ sinh tình mến phục. Nếu chỉ biết nhau trong lúc vô sự đến lúc nguy nan, bỏ bạn mà chạy, sống chết mặc bay thì là phi nghĩa, bạc ác, bất nhân.

Cổ nhân nói rằng “Lễ nghĩa liêm sỉ là bốn giường mối căn bản giữ vững quốc gia. Bốn giường vó ấy mà không căng lên được nghĩa là vô lễ, vô nghĩa, vô liêm, vô sỉ, thì quốc gia phải sụp đổ và diệt vong". Khuất Nguyên cũng ca ngợi nghĩa khí: “Một bên là quần chúng, một bên là bản thân, hai bên đều trọng cả. Nhưng nếu gặp trường hợp cần thì phải hy sinh bản thân để cứu giúp quần chúng”. Vị nghĩa quên mình, vị quốc vong thân. Con người sống trong một ngày, nghe được một điều phải, làm một việc nghĩa thì không phải là sống thừa.” Celui qui a planté un arbre avant de mourir n’a pas vécu inutilement”.

Người Việt Cao quý là người trọng TRÍ

Người trí là người tự biết mình như triết gia Socrate nói: “Ngươi hãy tự biết ngươi” (Connais-toi toi-même). Con người phải biết mình, phải tự hiểu mình rồi mới có thể hiểu người, tri kỷ tức là biết mình vậy. Có biết mình mới tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Có biết mình mới trọng tư cách của mình tức là tự trọng. Kẻ không tự trọng không phải là kẻ trí vì không hiểu và không trọng mình thì làm sao kẻ khác trọng mình được. Cho nên người Việt cao quý không những phải có nhân, có nghĩa, có lễ có nghĩa, mà còn phải có trí để biết mình và biết người, hành động sáng suốt. Đánh lưỡi bảy lần trước khi nói “Tourner la langue sept fois avant de parler”.

Người Việt cao quý là người trọng TÍN

Kẻ bất tín là kẻ gian tà. Ăn cơm Quốc gia, thờ ma Cộng sản! Đã là gian tà thì không thể là kẻ yêu nước, thương nòi được. Trong sự giao tiếp hằng ngày giữa người và người chữ Tín đóng vai trò hết sức quan trọng. Hành động bội tín, làm mất lòng tin tưởng, thì sống cũng chỉ là sống thừa. Chữ tín được liệt rõ trong ngũ thường: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín. Trong sự giao thiệp, sinh hoạt cộng đồng, đoàn thể, chính quyền, phải luôn luôn lấy chữ Tín làm chuẩn. Đức Khổng Tử bảo rằng “Nhân vô tín bất lập” nghĩa là phàm làm người mà bất tín thì không còn ai tin cậy và vì vậy không thể đứng vững ở đời được. “Tín vi nhân chi bảo” chữ Tín là bảo vật của nhân thế.

Người Việt cao quý là người trọng LIÊM SỈ

Liêm sỉ là căn bản đạo đức của văn võ bá quan. Vua, quan mà vô liêm sỉ thì thượng bất chính hạ tắc loạn. Kết cuộc thì quốc gia phải sụp đổ, dân tộc phải diệt vong. Nhưng thế nào là vô liêm, vô sỉ? Liêm là liêm khiết (integrity), là nền tảng của đạo làm người, là tính thanh liêm, phân minh, ngay thẳng, không lấy của bất nghĩa. Người mà không có liêm thì cái gì cũng lấy hay làm việc bất nghĩa, vơ vét cho đầy túi tham “Có ba trăm lạng việc này mới xong” (Kiều).

Sỉ là hổ thẹn (shame), tự mình lấy làm hổ thẹn. Người vô liêm sỉ thì việc gì cũng làm, là kẻ không biết hổ thẹn, không tôn trọng luân thường đạo lý. Thầy Mạnh Tử nói rằng “nhân bất khả vô sì” nghĩa là người mà không biết xấu hổ thì không phải là người. Có liêm sỉ là nền tảng của đạo làm người, Có liêm sỉ thì có hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa. Vô liêm sỉ thì còn gì là luân thường đạo lý.

Người Việt cao quý là người CƯƠNG TRỰC

“Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di và uy vũ bất năng khuất”. Người cương trực là người trọng lẽ phải, vì lẽ phải có sức mạnh hơn mũi gươm. Người có lòng cương trực, ý chí như sắt đá, sáng như sao bắc đẩu, dù nguy cấp thế nào cũng không thay lòng đổi dạ. Người cương trực là người giữ được tiết tháo, bảo vệ công lý để đối phó với bạo tặc, cường quyền. Biết bao chiến hữu dân, quân, cán, chính của VNCH đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, hoặc can trường bất khuất trong cảnh tù tội sau ngày CS xâm lăng VNCH. Gương anh dũng đáng kính phục nầy đã được sử sách lưu truyền, thể hiện niềm tự hào, danh dự của dân, quân, cán, chính VNCH. Thái độ cương trực này là tấm gương sáng cho hậu thế soi chung.

Ngoài ra, tứ đức: Công, Dung, Ngôn, Hạnh còn là đặc trưng của nhi nữ Việt Nam. Công tức là làm việc giỏi:

“Gái thì lo việc trong nhà,
Khi vào canh cửi, khi ra thêu thùa”.,
Dung tức là sắc diện vui hoà, phục sức thanh lịch.
“Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”
Ngôn là tiếng nói phải dịu dàng:
“Chim khôn hót tiếng rảnh rang
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.”

Hạnh là hạnh kiểm tốt, kể cả vấn đề thờ cha kính mẹ. “Cái nết đánh chết cái đẹp”. “Character is better than beauty”. Cái đẹp thì có hạn nhưng cái nết thì vô cùng, vẫn là câu tục ngữ truyền tụng trong dân gian để ca ngợi đức tính đạo hạnh của người con gái, thể hiện giá trị luân lý vượt thời gian và không gian.

‘Cô gái Việt Nam ơi
Nếu chữ hy sinh có ở đời
Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực
Cho lòng cô gái Việt Nam tươi” ( Hồ Dzếnh))

Sở dĩ có câu:

“Đàn ông chớ đọc Phan Trần,
Đàn bà chớ kể Thuý Vân, Thúy Kiều”.

Là vì trong nền luân lý cổ truyền, hình ảnh Phan Sinh trong tác phẩm Phan Trần, đã bị uỷ mị hoá. Phan Sinh thất tình vì người yêu mà đâm ra nản chí, khóc lóc thảm thiết.! Tác giả đã mô tả Phan Sinh khi nghe đến người yêu thì đã “hai hàng lã chã nhường mưa”, không phải là hình ảnh hào hùng, khí phách của người trai nước Việt cao quý.

Vậy thì nền luân lý cổ truyền thật là phong phú. Ngày nay, trên bước đường gió bụi của cuộc đời viễn xứ, dù áo rách nhưng phải giữ lấy lề. Người Việt cao quý vẫn là người hiếu đạo, trung nghĩa, là người có nhân, có nghĩa, có lễ, có trí, có tín, là người liêm sỉ, cương trực:

“Trai thì trung hiếu làm đầu,
Gái thì tiết hạnh là câu sửa mình.”

Truyện người tiết phụ đã là gương sáng truyền tụng trong Ngũ Đại sử: Vương Ngung đi làm quan chẳng may chết sớm. Vợ là Lý Thị trên đường đi nhận hài cốt của chồng, lỡ đường dẫn con vào một quán trọ bên đường xin trọ. Người chủ quán thấy đàn bà con nít có ý nghi ngờ không cho trọ. Người chủ quán nắm lấy tay Lý Thị dắt đuổi ra. Lý Thị ngửa mặt lên trời nức nở than rằng: “Ta làm đàn bà chẳng hay thủ tiết thờ chồng đến nỗi người ngoài cầm được cái tay này. Ta chẳng nỡ để vì một cái tay mà bẩn lây cả thân ta”. Nói xong lập tức lấy dao thái thịt chặt phăng đứt ngay cánh tay! Xem thế thì tình nghĩa vợ chồng cao quý biết dường nào!

Hiện nay các đức tính này cũng được nhắc nhở trong các bộ luật luân lý nghề nghiệp (Professional Code of Ethics) dựa trên những ý niệm căn bản về cần, kiệm, liêm chính, nhân, nghiã, lễ, trí, tín. Những kẻ phi nhân, thất đức dù ở trong xã hội nào, vào thời nào chăng nữa thì cũng chỉ là kẻ xấu xa phá hoại nhân quần xã hội mà thôi.

Hoằng dương luân lý cổ truyền dân tộc tức là chuyển tải chủ trương đạo lý đến với tha nhân về hình ảnh mẫu mực của “người Việt cao quý”. Cương thường đạo lý hướng dẫn hành vi của con người. Lúc thất thế, Nguyễn Công Trứ không trở thành đạo tặc cũng chỉ vì sợ nhục nhã gia phong:

“Mất việc toan trở nghề cơ tắc
Tủi con nhà mà hổ mặt anh em.
Túng đường mong quyết chí cùng tư
E phép nước chưa nên gan sừng sỏ,
Cùng con cháu thuở nói năng chuyện cũ
Dường ngâm câu "lạc đạo vong bần
Gặp anh em khi bàn bạc sự đời,
Lại đọc chữ vi nhân bất phú.
Tất do thiên âu phận ấy là thường
Hữu kỳ đức ắt trời kia chẳng phụ...”

Vâng, sống đức hạnh thì trời không phụ lòng người. “Grace respects nature- Vi thiện giả thiện báo chi dĩ phúc”. Người Việt mình ăn ở đức hạnh, hãnh diện với dòng giống Lạc Hồng. Chính lòng tự hào về nguồn gốc dân tộc mà chúng ta duy trì cuộc sống thanh đạm ở xứ người, dù thất cơ lỡ vận nhưng không trổ nghề cơ tắc vì sợ “Tủi con nhà mà hổ mặt với anh em”.

Tư tưởng lên khuôn cho hành động. Dân tộc Việt chúng ta là một dân tộc tự trọng và hào hùng, niềm kiêu hãnh đó dù trải qua phong ba bão táp, vẫn lưu mãi trong tâm khảm mọi người, điều hướng hành động của chúng ta: hành động tốt của người Việt cao quý. Nhớ đó cộng đồng được vui hoà, đoàn thể sinh hoạt được hanh thông.

Nền văn hoá cổ truyền của người da đen và da đỏ đã bị băng hoại vì người da trắng tiên phong đã lầm lẫn huỷ hoại văn hoá của hai nhóm thiểu số này khiến cho họ mất cả gia bảo, không còn gì để bám víu, để hãnh diện. Một số người bị lôi cuốn vào cuộc đời đầu đường xó chợ, “như thuyền không lái, như ngựa không cương”, sổng cũng không thể sống nên hồn, muốn chết không xong! Tai hoạ này kết quả không sao lường được, là một vấn xã hội trầm kha trong xã hội ngày nay của Hoa Kỳ ảnh hưởng đến mọi hoạt động giáo dục, an sinh xã hội, kinh tế, chính trị, tội phạm…

Tai họa nầy cũng đang hoành hành xã hội Việt Nam sau năm 1975, nền văn hoá hơn bốn ngàn năm văn hiến đang bị băng hoại. Khôi phục, bảo tồn, phổ biến những đặc nét luân lý của nền văn hóa cổ truyền cũng là một sứ mệnh trong công tác cải tổ phục hưng quốc tổ thân yêu của chúng ta.

Chúng ta đến Hoa kỳ và các quốc gia tự do vì tinh thần yêu chuộng tự do. Bảo toàn những đặc nét của gia bảo luân lý cổ truyền là nhiệm vụ thiêng liêng chung của chúng ta. Được như vậy, tập thể tỵ nạn của chúng ta sẽ là tập thể gương mẫu, xây dựng một hậu phương vững mạnh, sẵn sàng hỗ trợ đại nghiệp cứu quốc và kiến quốc.

Dù khoa học vật chất tiến triển nhanh chóng và sự khác biệt về địa phương, một số phong tục và luân lý xã hội cổ truyền có phần lỗi thời vì “ Bên này dãy núi Pyrénées là chân lý, bên kia là sai lạc” Tuy nhiên, mía sâu có đốt nhà dột có nơi, chúng ta vẫn duy trì và phát huy các đặc nét hữu ích của nền luân lý cổ truyền phổ quát liên quan đến phần bản chất tâm lý nhân sinh hợp với thế thượng thường tình (common sense is the ability to think and behave in a reasonable way and make good decision) không mấy thay đổi qua dấu chỉ của thời đại vượt thời gian và không gian.

Ai không kiểm soát được cảm giác (sensation) thì không điều khiển được thái độ (attitude). Sợ thì tay run, tác xạ linh tính có thể không chính xác, cũng như “một khi đã nổi cơn điên, người khôn hoá dại, người hiền hóa ngu”. Không trang bị cho mình những tiêu chuẩn đạo lý căn bản thì không làm chủ được hành động của mình. Không có quan niệm chính xác về thế nào là công chính (just) và phải đạo (right) thì dễ lâm vào hành động bất nghĩa. Công sản bất nghĩa hô hào nâng đỡ bần cố nông bằng cách sát hại địa chủ, phú nông. “Trí, phú, địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” trái với chủ trương “Do not expect to build up the week by polling down the strong” (Edmund Burke). Đây là nỗi lo chung của chúng ta đối với làn sóng vô thần huỷ diệt nhân tính và khích lệ thú tính. Hoa Kỳ là một quốc gia tự do và thịnh vượng, chia sẻ hạnh phúc với toàn thế giới. Thế giới không ai muốn di dân đến các nước Cộng sản mà muốn di dân đến Hoa Kỳ. Thế mà cũng có những phần tử muốn đến Hoa Kỳ để phá hoại. Một giáo sĩ Hồi giáo tuyên bố “Islamic is not here to co-exist. We were here to dominate the world, to extinguish and wipe out every and other religions. We were superior to every one else”. Vì thế, cổ nhân truyền lại những đạo lý căn bản để hướng thiện hành vi con người và dành cho chúng ta ý chí tự do (free will) để tuỳ cơ ứng biến.

Mười Điều Tâm Niệm trong sinh hoạt Xã hội.

1- Trọng Nhân: Phục vụ xã hội vì tình đồng hương, nghĩa đồng bào, tôn trọng nhân phẩm, thành tâm chánh ý, quyết tâm xây dựng tình đoàn kết quốc gia.

2- Trong Lễ: Sinh hoạt với tinh thần tôn trọng đồng hương, hoàn thành sứ mệnh công dân trong tinh thần tương kính không phân biệt giới tính, tín ngưỡng, tuổi tác, sắc tộc, địa phương.

3- Trọng Nghĩa: Mọi công tác được thực hiện với mục đích tương thân, tương trợ. Làm việc nghĩa không kể lợi hại, luận anh hùng, không kể hơn thua, hy sinh thì giờ, nhân tài, vật lực để xây dựng nhân quần xã hội.

4- Trọng Trí: Minh bạch, thận trọng, chính trực, sáng suốt, can đảm lúc hành sự

5- Trọng Tín: Tôn trọng ý chí chung, kiến tạo sự tín nhiệm của đồng hương, thành viên trong tổ chức, không cạnh tranh bất chính, ngôn hành hợp nhất. “Nhân vô tín bất lập”

6- Vô Ngã: Biết quên mình để phục vụ nhân quần xã hội. “Quân tử vui vì đạt được nghĩa cả.”

7- Vô Công: Phục vụ vi lòng nhân ái, không vì danh lợi, không tranh giành, không dèm pha, không công kích bất công, không tranh quyền đoạt lợi. Cá nhân gieo nhân lành cộng đồng gặp quả tốt.

8- Vô danh: Phục vụ xã hội với sứ mệnh cao cả của người Việt cao quý, không phải vì ham mê danh lợi. “Sợ mình không biết người để đối xử cho phải lễ, chứ không sợ người không biết mình”. Hữu xạ tự nhiên hương.

9- Bất tranh: Hoạt động xã hội không nên đặt trên nguyên tắc cạnh tranh. Cạnh tranh là khai thác khuyết điểm của người khác để thủ lợi cho mình. Cạnh tranh thích ứng cho thương trường, không thích ứng cho các đoàn thể ái hữu, xã hội.

10-Hợp tác: “Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết”. Chỉ có tinh thần hợp tác thực sự mới tạo được sự đoàn kết để phục vụ cộng đồng càng ngày càng thịnh vượng (phú), dân số càng ngày càng đông đảo (thứ) và trí tuệ càng ngày càng cao (giáo).

“Trong đầm gì đẹp bằng sen,
Lá xanh, bông trắng, lại chen nhụy vàng
Nhuỵ vàng, bông trắng, lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.”

Trần Xuân Thời
“ Văn Dĩ Tải Đạo”


Có Những Niềm Vui Năm Mới


Đây là bài số bảy trăm chín mươi bốn (794) của người viết về chủ đề Thiền Nhàn trong khu vườn Một Cõi Thiền Nhàn của trang văn nghệ ORTB

Bây giờ đã bắt đầu một năm mới. Mọi người dần dần làm quen với những sinh hoạt của năm mới như khi viết “check” trả tiền nhà, tiền điện, tiền bảo hiểm v..v.. bạn phải để ý đề ngày cho đúng năm 2026 nhé.

Có những cá nhân nhân dịp đầu năm này cũng thiết lập một chương trình sinh hoạt riêng cho mình: ăn uống, tập thể dục như thế nào để làm sao không cho “phát triển thêm bề ngang”. Quý vị phu nhân ở xứ Mỹ này đều sợ bị chê là “phì nhiêu” quá! Quý bà ai cũng muốn được khen là: “Dạo này chị ốm bớt nên mặc áo dài có eo ghê!” Thích nhé!

Còn quý ông cũng nhất quyết lên kế hoạch kiêng uống rượu, kiêng hút thuốc, bớt ăn chất béo để cho lượng Cholesterol không tăng theo “cấp số nhân” và không bị cao máu nhiều hơn năm cũ nữa để mà sống hưởng phước với số tiền hưu trí của ông Trump phát hàng tháng. Vui nhỉ!

Khi đi sưu tầm tài liệu viết bài tôi tìm được bài thuyết giảng của Hòa Thượng Tịnh Không trên internet về đề tài “Thay đổi cách sống”, xin được chia sẻ cùng các bạn.

Hòa Thượng đã nêu lên quan niệm giáo dục đạo đức đời sống của Đông Phương Trung Quốc và Tây Phương Âu Mỹ.
Đông Phương cho rằng đời người có bốn giai đoạn như bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông của đất trời.

1. Dưới 20 tuổi như Mùa Xuân con người cần phải được giáo dục đạo đức.
2. Từ 20 - 40 tuổi như mùa Hạ con người cần phục vụ xã hội.
3. Từ 40 - 60 tuổi như mùa Thu con người cần truyền trao kinh nghiệm cho người kế thừa.
4. Sau 60 tuổi như mùa Đông con người cần về hưu để hưởng phước.

Trong khi đó Tây Phương lại quan niệm:

1. Tuổi trẻ là tuổi để hưởng thụ cho nên tuổi thơ được ví như đang sống trong thiên đàng.
2. Tuổi trung niên sống trong chiến trường tranh đua danh lợi
3. Tuổi già sống buồn thảm đi vào phần mộ.

Theo lời trình bày kể trên chúng ta cần phải chọn lựa và thay đổi cách sống như thế nào để có thể sống một cuộc đời an vui hạnh phúc, bạn nhỉ?
Trong khi đó thì Mẹ Têrêsa khuyên chúng ta:

Hãy cho nhau nụ cười

Có lần mẹ Têrêsa thành Calcutta kể lại câu chuyện như sau:

“Nhiều người đến thăm tôi tại Calcutta và trước khi ra về thường ngỏ ý với tôi: “Xin cho chúng tôi một lời khuyên để chúng tôi sống tốt đẹp hơn”.

Tôi liền bảo họ: “Quý vị hãy về và hãy ban tặng cho nhau những nụ cười. Một nụ cười cho vợ của ông. Một nụ cười cho chồng của bà. Một nụ cười cho con cái của ông bà. Hãy cười tươi với tất cả mọi người, bất luận người đó là ai. Với những nụ cười tươi như thế quý vị sẽ lớn lên trong tình yêu hỗ tương”.

Nghe vậy một người trong nhóm hỏi tôi:
- Bà có lập gia đình không?
Tôi gật đầu và nói:
- Ðôi khi tôi cũng cảm thấy khó nở một nụ cười với vị hôn phu của tôi.

Và mẹ Têrêsa kết luận:
- Ðúng thế, Chúa Giêsu có thể đòi hỏi rất nhiều. Và chính khi Ngài đòi hỏi như thế thì không gì đẹp cho bằng nở một nụ cười thật tươi với Ngài

Lạy Chúa! Nụ cười không mất tiền mua, không phải vất vả cực nhọc để đi xa mang về… Nụ cười thật dễ dàng để xuất hiện trên môi miệng và trên khuôn mặt nhưng sao con lại thấy thật khó khăn vất vả để trao tặng nụ cười trên khuôn mặt của con cho những người xung quanh… Con đã thay thế nụ cười bằng những cái nhăn mặt méo mó, bằng những ánh mắt giận dữ, bằng những cái lắc đầu xua tay và đôi khi bằng những lời nói làm đau lòng người khác. Xin cho con luôn ý thức rằng: mỗi khi con mang nụ cười đến cho những người xung quanh chính là lúc con dâng lên Thiên Chúa tình yêu và nụ cười, sức sống và hy vọng của đời con. Amen.
(Nguồn: Sưu tầm trên internet)

Nếu năm rồi chúng ta chưa có cơ hội cho nhiều hơn nhận, chưa trao hoặc không trao nụ cười cho ai cả thì trong năm mới chúng ta thử thay đổi cách sống để cuộc đời thêm nở hoa, bạn nhé!

Riêng tôi dù là đầu năm hay cuối năm tôi luôn sống trong tinh thần lạc quan với "Có Những Niềm Vui" của tôi và tôi muốn chia sẻ niềm vui này đến thân nhân thân yêu gia đình tôi và bạn hữu thân mến của tôi. Hy vọng Bạn sẽ cùng vui với tôi, Bạn nhé.

Có Những Niềm Vui

Có những niềm vui suốt đời nhớ mãi:
Thuở tuổi ấu thơ, theo mẹ đến trường
Mẹ nắm tay con, gửi trọn tình thương
Con đã vào lớp, mẹ còn trông ngó

Có những niềm vui, ngây thơ tuổi nhỏ:
Đánh đáo, chọi bi, đánh đũa, lò cò
Vô tư, khờ dại, chẳng chút âu lo
Chỉ biết giỡn đùa, quấy cha, nũng mẹ

Có những niềm vui, một thời coi nhẹ:
“Cồng sin”, chép phạt, một thuở biết yêu
Ngớ ngẩn theo ai, dáng liễu yêu kiều
Gửi lén thơ tìn , nên vào trễ học

Có những niềm vui, cười trong tiếng khóc:
Pháo cưới vu quy, con bước theo chồng
Một sáng mùa Xuân, có kẻ sang sông
Bỏ lại sau lưng, biết bao kỷ niệm

Có những niềm vui, phải đành dấu diếm:
Gặp lại cố nhân, đôi mắt vẫn tình
Sống lại trong tim tuổi mộng thư sinh,
Cuộc tình thứ nhất, học trò vụng dại

Có những niềm vui, mỉm cười sảng khoái:
Thấy kẻ thân yêu, được sống an bình,
Giữa cuộc trần ai, đau khổ sinh linh
Thân tâm tĩnh lạc, an vui, hạnh phúc

Hy vọng sau khi đọc xong bài tâm tình này, qúy bạn sẽ thấy vui hơn, tinh thần thoải mái hơn, ăn được, ngủ được và sẽ không bao giờ hỏi “Tại Sao Không Ngủ Được” như Sư Cô Suối Thông giải thích dưới đây:

Tại Sao Không Ngủ Được – Sư Cô Suối Thông


Ai trong chúng ta cũng sẽ có lúc không ngủ được. Không phải không muốn ngủ, mà bởi có quá nhiều chuyện buông không đành. Vì suy nghĩ quá nhiều nên tâm tình phiền muộn. Vì trăn trở quá mức mà thành ra trằn trọc.

Con người sở dĩ mỏi mệt là vì cứ mãi đuổi theo những tham vọng không hồi kết, chất chứa nhiều toan tính, rối rắm trong lòng.
Dù bạn thông minh đến đâu cũng không thể nhìn thấu hết mọi việc. Bạn trí tuệ thế nào cũng không thể hiểu hết được lòng người. Dù bạn thanh bạch trong sáng cũng không thể tránh khỏi những nghi ngờ vụn vặt.

Cho nên điều gì cần buông thì nên buông xuống, đừng cố gắng đeo mang; chuyện gì nên quên thì hãy quên đi, đừng cứ mãi ghi nhớ. Đừng níu kéo một câu chuyện quá lâu, thời gian lâu ngày sẽ ảnh hưởng tới những việc khác, đêm đến không ngủ được.Tài vật, danh lợi vốn là vật ngoài thân, nếu biết xem nhẹ thì sẽ không mỏi mệt, giấc ngủ sẽ tự động tìm về.
Lời không cần nói thì không nên nói, việc có thể cho qua thì cho qua, cần gì phải phân định rạch ròi hay luận bàn đen trắng? Bởi trên đời, rất nhiều việc, hiểu rõ rồi thì tổn thương thần khí; rất nhiều người, nhìn thấu rồi chỉ tổn thương tâm tình!

Thế gian vốn không có chuyện mọi thứ đều thuận lòng, thôi thì tự tìm chút hợp ý vậy. Không có người thập toàn thập mỹ thì trân trọng chút bình yên trước mặt. Giữ tâm thái lạc quan đối diện tất cả.

Xem nhẹ thì vui vẻ, nhìn thoáng sẽ hạnh phúc, thân tâm đều không bị trói buộc thì đêm đến giấc ngủ cũng nhẹ nhàng.
Trích sách “SỐNG ĐỜI BÌNH AN”
Suối Thông sưu tầm & biên dịch

* Chúc mọi người ngủ ngon nha!

Kính chúc toàn thể quý độc giả và thân hữu Một Năm Mới nhiều sức khỏe, thân an trí lạc, dứt bớt được nhiều điều phiền não và làm được nhiều chuyện thiện lành.

Người giữ vườn Một Cõi Thiền Nhàn
Sương Lam
(Tài liệu và hình ảnh sưu tầm trên mạng lưới internet, qua điện thư bạn gửi- MCTN 794-ORTB 1235-1-7-2025