Thứ Ba, 29 tháng 3, 2022

Tưởng Đã Quên



(Cảm tác theo bài thơ Dĩ Vãng
Viết tặng thi sĩ Phan Lang)

Thôi thì chỉ có thế thôi
Vòng xa đã muộn vòng gần trôi theo
Cuộc tình buông bỏ lại đeo
Dòng sông bến cũ mái chèo nước xuôi.

Nỗi buồn đâu phải riêng tôi
Xa xưa chẳng nói một lời chia tay
Tơ ngà lãng đãng sương bay
Đường về đẫm nguyệt thêm dài gót mơ.


Lê Tuấn

Đừng Trách



Đàn ai hiu hắt giữ trời khuya
Như trách người đi lỗi hẹn thề
Cung bậc rưng sầu như giọt lệ
Như hồn đang khóc nỗi tình quê!

Biển hẹn non thề sao vẹn mãi
Cảnh đời biết bao nỗi tang thương
Người đi biết bao giờ trở lại
Trông ngóng trời xa trọn nỗi buồn!

Nghe đàn thê thiết tim rưng máu
Nỗi hận tình ai thật não nề!
Người ơi… thôi chỉ là duyên nghiệp
Đừng trách người đi quên lối về !!!

26-3-22
Hàn Thiên Lương

Tri Kỷ ( Kim Oanh) - Confidante (Hương Cau Cao Tân)

 

Tri Kỷ
(Thương tặng Hai Con Hoàng Đan & Vi Vân)

Mẹ vào đời đánh rơi hạnh phúc
Con nhặt giùm ru khúc tình thơ
Mẹ bơ vơ giữa đời khốn khó
Nụ cười con cơn gió dịu êm

Mẹ tập con từng bước vào đời
Con dìu mẹ xa rời khổ lụy
Cảm ơn con đem bao thi vị
Ấm áp tình - Tri Kỷ Mẹ Con!


Kim Oanh
Melbourne 12-2003
***
Bài Dịch:
Confidante
by Kim Oanh in Melbourne 12-2003


(Lovingly dedicated to my two Children Hoàng Đan &Vi Vân)

Mommy start living my life by losing the happiness reserved for me
You my children retrieve it for me and lull me with loving melodies
Mommy has been lonely groping my way in a life full of difficulties
And your smiles soothe me with soft winds so magnificently

Mommy train you step by step into the way of living
You two lead me by hand away from the world of sufferings
My gratitude to you for bringing to me all the poetic touch
That has warmed up the Mother and Child’s confidante love very much!

Translated from Vietnamese into English by Hương Cau Cao Tân
on 14 March, 2022, in British Columbia, Canada


Bệnh Tự Kỷ (Autistic Disorder – Autism Spectrum Disorder)


Tự kỷ (trước kia còn gọi là early infantile autism, childhood autism, hay Kanner’s autism)là một loại bênh tâm thần đặc biệt với các triệu chứng (symtoms) bao gồm ba nhóm: suy thoái phẫm chất (qualitative impairment) trong giao tế xã hội, suy thoái trong giao tế (communication), và lập đi lập lại rập khuôn hạn chế của hành vi hoặc sở thích (restricted repetitive and stereotyped patterns of behavior or interests).

Đặc Điểm về Thân Thể (Physical Characteristics)

Thoáng mới nhìn, những trẻ em bị tự kỷ không nhận thấy có gì ám chỉ rằng bi bệnh cả. Những trẻ em nầy tuy nhiên có tỷ lệ cao về bất thường thân thể như: tật nguyền của tai (ear malformations), và những bất thường có thể xãy ra trong khi phát triển thai nhi(fetal development) của các cơ quan, kể cả não bộ.

Một số lớn hơn các trẻ em với bệnh tự kỷ cho thấy không phát triển một bên (lateralization) và tiếp tục thuận cả hay tay (ambidestrous) vào một tuổi mà ưu thế não bộ (cerebral dominance) đã được thiết lập trong hầu hết các trẻ em bình thường. Những trẻ em bị tự kỷ cũng có tỷ lệ cao bất thường dấu chỉ ngón tay (dermatoglyphics) (như dấu vân tay – fingerprints) hơn là ở người bình thường. Phát hiện nầy có thể gợi ý rằng có gì trục trặc trong quá trình phát triển của thần kinh ngoại bì (neuroectodermal).

Đặc Điểm về Hành Vi (Behavioral Characteristics)

1- Suy thoái về phẫm chất trong giao tế xã hội (qualitative impairment in social interaction)

Trẻ em với bệnh tự kỷ không biểu lộ mức độ tế nhị mong đợi về kỹ năng trong tương quan xã hội đặc biệt đối với cha mẹ và bạn đồng lứa. Khi còn nhỏ, nhiều em thiếu nụ cười xã giao và tư thế sãn sàng để được ẵm bồng bởi người lớn, thiếu ánh mắt tiếp xúc. Các trẻ em tự kỷ thường không nhận ra hoặc phân biệt đặc biệt những khuôn mặt quan trọng trong đời các em – như cha mẹ, anh em, thầy, cô giáo – và có thể tỏ ra quá sức lo lắng khi những gì thông thường hằng ngày bị gián đoạn, hoặc ngược lại các em có thể không phản ứng mạnh mẻ gì khi bị giữ bởi một người xa lạ. Khi các trẻ em tự kỷ đến tuổi đi học, sự thu hẹp lại (withdrawal) của các em có thể giãm bớt và bớt hiễn nhiên, đặc biệt ở những em có trình độ chức năng cao hơn. Trên phương diện nhận thức (cognitively), các trẻ em tự kỷ thường có khả năng trong các công tác thị giác-không gian (visual- spacial) hơn là trong công tác đòi hỏi lý luận bằng lời nói.

Trẻ em tự kỷ không thể thu thập động lực (motivation) hoặc chủ yếu (intentions)  vcủa người khác và, do đó không thể phát triển thông cảm (empathy). Sự thiếu của “lý thuyết của lý trí” làm các em tự kỷ không thể giảng giải hành vi xã hội của người khác và đưa tới thiếu sót khã năng tương ứng xã hội (social reciprocation).

Khi đến tuổi vị thành niên, người tự kỷ cũng thường mong muốn có bạn bè, nhưng những khó khăn để đáp ứng những sỡ thích, những cảm xúc, và tình cảm của người khác là những trở ngại chính cho sự phát triển tình bạn. Họ thường bị xa lánh bởi bạn đồng lứa và có hành động kỳ hoặc do đó càng trở nên xa lạ hơn.
Họ cũng có những cảm giác về sinh lý, nhưng vì thiếu khả năng giao tế xã hội và kinh nghiệm họ không thể phát triển những tương quan sinh lý.

2- Rối loạn về giao tiếp và ngôn ngữ (disturbances of communication and language)

Thiếu kém về phảt triển ngôn ngữ và khó khăn trong việc dùng ngôn ngữ để thông đạt những ý kiến là căn bản cho việc định bệnh tự kỷ. Trẻ em tự kỷ không những miễn cưỡng muốn nói, và những bất thường của lời nói không phải là do thiếu động lực. Sai lạc ngôn ngữ, song song với chậm trể phát triển ngôn ngữ là đặc điểm của bệnh tự kỷ. Trái ngược với những trẻ em bình thường hoăc chậm khôn (mentally retarded), các trẻ em tự kỷ phải rất khó khăn để kết hợp những câu nói có ý nghĩa lại với nhau dù rằng có khi các em có khá nhiều ngữ vựng. Khi những em tự kỷ học được chuyện trò khá trôi chảy, các hội thoại (conversations) của các em đó có thể truyền đạt thông tin nhưng không chứng tỏ có khả năng hiểu ra các người khác sẽ phản ứng thế nào.

3- Hành vi lập đi lập lại (stereotyped behavior)

Đồ chơi và vật dụng thường được các em tư kỷ chơi đùa một cách máy móc (ritualistic), vô nghĩa. Trẻ con tự kỷ thường thì không tỏ ra muốn trò chơi bắt chước (imitative play) hoặc kịch câm trừu tượng (abstract pantomime). Hoạt động và các trò chơi của các em thường thì cứng ngắt, lập đi lập lại và đơn điệu (monotonous). Các em thường thì quay vòng vòng, đập phá và sắp hàng đồ vật và có thể tỏ ra gắn chặt (attachment) với một đồ vật đặc biệt nào đó. Nhiều em tự kỷ , đặc biệt những em chậm khôn nặng, thường có những cữ động bất thường: lập đi lập lại, kiểu cách lạ (mannerism), và nhăn nhó khi các em bị bỏ mặc một mình. Khi bị mang đi nơi khác hơn nơi các em thường ở, hoặc khi thay đổi giờ giấc ăn uống hay tắm gội, các em có thể trở nên hoảng loạn (panic), sợ hải, hoặc lên cơn giận dữ (temper tantrum).

4- Bất quân bình về tính tình và ảnh hưởng tính (instability of mood and effect)

Một vài em tự kỷ biểu lộ bất thình lình thay đổi tính tình, cùng với những cơn khóc, cười khi không có lý do rõ ràng.

5- Đáp ứng với kích thích giác quan (response to sensory stimuli)

Trẻ em tự kỷ thường quan sát thấy hoặc phản ứng quá độ đối với một vài kích thích trong khi lại phản ứng quá thấp đối với kích thích khác (ví dụ tiếng động và đau đớn). Có em tưởng như điếc khi ai đó đang nói với em, trong khi em hình như mê say lắng nghe tiếng tích tắc của đồng hồ đeo tay. Vài em không khóc hay tìm nguồn an ủi khi phản ứng với tổn thương thân thể.

6- Những triệu chứng liên quan với hành vi

Gia tăng động lực (hyperkinesis) thường thấy ở các em tự kỷ. tấn công người khác và lên cơn giận dữ khi có thay đổi hoặc yêu cầu. Tự hại bản thân kể cả đập đầu, cắn, cào, và giựt tóc. Chăm chú ngắn (short attention span), kém khả năng tập trung trong nhiệm vụ, mất ngủ, ăn uống bất thường, đái dầm cũng thường thấy nhiều nơi trẻ em tự kỷ.

7- Liên quan tới bệnh thân thể

Các em trẻ với bệnh tự kỷ được mô tả là thường bị nhiều hơn các chứng nhiểm trùng phần phổi trên (URI), và những bệnh nhiễm trùng nhẹ. Những triệu chứng về tiêu hóa như ợ quá mức, táo bón, hoặc tiêu chảy cũng thường thấy. Ngoài ra các em còn thấy nhiều gia tăng sốt kinh phong.

8- Hoạt động trí tuệ

Có tới 70 hay 75 phần trăm trẻ em với bệnh tự kỷ nằm trong tầm trí khôn chậm. khoảng 30 phần trăm có chức năng hoạt động từ nhẹ đến trung bình, và chừng 45 tới 50 phần trăm thì xem là nặng tới rất nặng chậm khôn. Theo dịch tể học (epidemiological) và lâm sàng nghiên cứu thì nguy cơ cho chứng tự kỷ càng gia tăng khi chỉ số thông minh (IQ) bị sụy giãm. Chỉ số thông minh ở các em tự kỷ cho thấy các em bị nặng với trình tự ngôn ngữ (verbal sequencing) và kỹ năng trừu tượng (abstraction skills), với tương đối khá về kỹ năng thị giác-không gian. Việc tìm ra nầy gợi ý tầm quan trọng của các khiếm khuyết về chức năng liên quan đến ngôn ngữ.

Khả năng bất thường hoặc tri thức quá sớm hay thị giác cơ động (visualmotor) xãy ra ở một vài trẻ em với tự kỷ. Những khả năng nầy có khi xãy ra cả khi trong trường hợp chậm khôn nói chung, và được gọi dưới tên splinter functions hoặc islets of precocity .Có thể xem như vài trường hợp ví dụ như idiot or autistic savants với tài xuất chúng về trí nhớ hoặc tính toán, vượt khỏi khả năng của các ban đồng lứa bình thường!

Cao Tấn Phương
4/20/2020

Tình Muộn (Mùa Xuân Có Chàng Tới Hỏi)



Tôi nhìn người giảng viên đang bước vào lớp học với một vẻ tò mò, đó là một người đàn ông trung niên, trạc ngoài bốn mươi tuổi, dáng cao gầy, người Á Đông, ăn mặc lịch sự, đeo kính trắng, trông có vẻ trí thức.

Đây là một buổi thuyết trình về bệnh đông máu với đề tài “Insights into the monitorings of oral anticoagulant therapy with the INR system” do Hội đoàn Y tế tổ chức tại khách sạn Sheraton của thành phố Industry.

Như thường lệ hàng năm, các chuyên viên y tế như bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, chuyên viên phòng thí nghiệm, y tá v…v… đều phải tham dự các buổi học Continuing Education, gọi tắt là CE, để nâng cao trình độ nghề nghiệp, cập nhật hóa với những tiến bộ và những phát minh hiện đại. Buổi học hôm nay, học viên đều là các dược sĩ từ khắp các nơi đổ về, đủ mọi loại người, da trắng, da đen, Trung Âu , Ấn Độ , Mexican v…v… Chỉ có một số rất ít người Á Đông, và tôi là một trong số những người Việt Nam hiếm hoi, có mặt trong buổi hội thảo hôm nay. Lớp học đầy kín những người, và vì tôi tới trễ nên chỉ chiếm được một chỗ ngồi gần cuối lớp. Ban tổ chức giới thiệu chàng với cử toạ, họ đọc tên chàng với những bằng cấp nghe dài dằng dặc đến phát ớn: tiến sĩ Sinh hoá học, giáo sư Đại học Stanford, bác sĩ điều trị bệnh viện Sinai… Thường thường đa số các diễn giả đều có những bằng cấp cao, chẳng có gì lạ, nhưng cái tên của chàng làm tôi chú ý: David N. Tran. Tôi mỉm cười, à thì ra đây là một người Việt Nam, sinh ra trong một gia đình truyền thống cổ xưa, mang cái tên do họ của cha và mẹ ghép lại: N là Nguyễn? Trần Nguyễn David? Hay N chỉ là chữ viết tắt của những tên đàn ông thông thường như Nam, Ninh, Nguyên, Niệm?

Tôi chợt phì cười cho cái tật đoán mò của mình, nhưng vội vàng làm mặt nghiêm, vì hình như trên kia chàng đang nhìn tôi? Nhưng có thể tôi lầm, vì đó chỉ là một cái nhìn bao quát khắp lớp học. Tôi thầm xấu hổ với chính mình vì cái ý nghĩ chủ quan đó, tôi thì có gì đặc sắc đâu để người ta phải chú ý? Tôi ăn mặc giản dị không màu mè bắt mắt, nhan sắc tuy ưa nhìn, nhưng không bù lại được với cái tuổi đã quá thì, làm sao có thể sánh được với các bạn trẻ đang ngồi chung quanh? Tôi như tách biệt ra khỏi đám đông đang cười đùa, rỡn hớt thật vui nhộn, trong lúc tôi vẫn ngồi im lặng trong một góc tối, mặt cúi xuống trang sách.

Trên kia chàng đang bắt đầu nói bằng một giọng tiếng Anh lưu loát. Chàng nói thao thao bất tuyệt về những nguyên nhân có thể thể gây ra bệnh đông máu, cách chữa trị, và theo dõi kết quả bằng những thử nghiệm về PT, PTT và INR. Chàng nhấn mạnh về vai trò quan trọng của INR trong việc theo dõi bệnh… Tôi chú ý nghe thì ít, nhưng tò mò ngắm nghía để phê bình chàng thì nhiều: hơi gầy nên không xứng với chiều cao, phải mập thêm một chút nữa mới vừa, mặt hơi xương, cằm hơi vuông, miệng hơi rộng… Cái gì cũng hơi hơi, khuyết điểm không có chi nặng. Bù lại chàng có cặp mắt sáng, mũi cao, cái miệng tươi cười và hàm răng trắng bóng, mặt mũi trông sáng sủa, hiền lành. Nhìn chung, chàng thuộc loại đẹp trai, mà tôi thì sợ những người đẹp trai lắm. Đông của tôi khi xưa cũng đẹp trai, học giỏi và có nhiều bằng cấp như anh chàng David N. Trần này đây. Nhưng Đông không chung thủy, chỉ hứa hẹn hão, và tôi ngây thơ tin hắn nên cứ chờ đợi, chờ đợi mãi... Tuổi xuân qua đi lúc nào không hay, tới khi biết được chàng phản bội lời thề, và đã có vợ khác, thì tôi đã là một cô gái lỡ thời rồi.

Tôi quen Đông khi cả hai cùng làm chung tại bệnh viện Chợ Rẫy. Dạo đó Đông là sinh viên nội trú Y khoa, còn tôi là nữ y tá. Những đêm khuya trực gác, chúng tôi thường nói chuyện, để qua cơn buồn ngủ. Thế rồi tình yêu đã nẩy nở giữa đôi trai tài gái sắc, Đông hứa hẹn sẽ cưới tôi sau khi ra trường. Đông học rất giỏi, ngay sau khi vừa tốt nghiệp bác sĩ, chàng được cấp học bổng đi Pháp, học bốn năm chuyên khoa về tim mạch. Thế là chuyện cưới xin đành phải hoãn lại, Đông xin với cha mẹ hai bên, gấp rút cho tổ chức lễ đính hôn, dự tính khi học xong, về nước thì sẽ làm đám cưới. Cuộc tình mới chớm đã phải chia xa, năm ngày sau đám hỏi, tôi đưa tiễn chàng lên đường

Xa nhau cách cả đại dương, chúng tôi vẫn thơ từ qua lại, hẹn ước sẽ trung thành với nhau suốt đời, cho dù hoàn cảnh thế nào, cũng phải tin tưởng nơi nhau. Chàng thề thốt, hứa hẹn đủ thứ, tôi ở nhà vui vẻ đợi chờ, sống đời chinh phụ ngóng trông tin chàng, gạt bỏ hết những người theo đuổi, trong đó có cả mấy anh chàng bác sĩ, bạn đồng học với chàng lúc trước. Tôi một lòng, một dạ chung thủy, kiên gan chờ chàng. Nhưng, học hết bốn năm, chàng xin ở lại ba năm nữa, học thêm ngành giải phẫu tim. “Anh biết em buồn , nhưng làm một người vợ tốt phải biết khuyến khích chồng. Anh đi là vì tương lai của chúng ta sau này, anh muốn trở thành một bác sĩ nổi danh, và em sẽ hãnh diện khi làm vợ anh.” Chàng đã viết như thế, toàn những lời hứa hẹn ngọt ngào, đương nhiên coi tôi là vợ trong tương lai. Đọc thơ chàng, tôi cảm động, nhưng mẹ lại thở dài:

- Mẹ lo lắm, nó cứ hẹn hết nay tới mai, hết năm này qua năm khác. không lẽ con cứ chờ đợi hoài cả đời hay sao? Tuổi xuân qua mau, năm nay con cũng gần ba mươi rồi, mà mẹ thấy cuộc tình của con với Đông không có triển vọng tốt đẹp, chắc Đông đã thay lòng đổi dạ, nếu không, sao nó cứ lần lữa mãi thế, có ai đang yêu mà như vậy không? Đông chỉ nghĩ đến danh vọng, không màng để ý tới con. Thôi, đừng mù quáng nữa, con đặt tình yêu lầm người rồi. Mẹ tiếc sao con không nhận lời cầu hôn của Tuấn con bác Thanh, bạn của bố mẹ. Cậu ta yêu con thật lòng và cũng là bác sĩ, chứ có thua kém gì cậu Đông?

- Nhưng con đã yêu Đông rồi mẹ ạ, và anh ấy cũng yêu con. Yêu nhau không phải là chỉ nhìn nhau, mà là cùng nhìn về một hướng, Đông hiếu học, điều đó có chi là đáng trách đâu? Con không thể đi ngược lại hướng đi của Đông, phá hỏng ước mơ cả một đời của anh ấy. Dù có phải đợi bao lâu, con cũng sẽ đợi.

Tôi ôm vai mẹ nói như dỗ dành:
- Thời gian qua nhanh lắm, mẹ xem mới dạo nào Đông còn là sinh viên, vậy mà mà bây giờ ra trường cũng đã bốn năm rồi.
Tôi nhìn mẹ, tiếp tục với giọng phấn khởi:
- Chỉ còn ba năm nữa Đông sẽ về nước, và chúng con sẽ làm dám cưới. Lúc đó mẹ sẽ thích phải biết nhé, có con rể là giáo sư Đại Học Y khoa mà không hãnh diện à?

Mẹ nhếch một nụ cười gượng gạo, nhưng xem nét mặt, tôi biết bà chẳng vui tí nào, sau này mới thấy bà có lý thì đã muộn rồi. Đông cứ hứa hẹn hoài, nhưng chần chờ chẳng chịu về nước. Thế rồi thời cuộc biến đổi, làm lòng người cũng biến đổi, tình yêu của Đông dành cho tôi không còn tha thiết, đậm đà như xưa. Thơ từ ngày một thưa dần, lời lẽ cũng nhạt nhẽo, khô khan. Tôi hoang mang, chẳng lẽ Đông đã quên người con gái hơn mười năm chờ đợi? Chẳng lẽ những lời thề đá vàng, những lời hứa hẹn của chàng chỉ là đầu môi chót lưỡi? Ý nghĩ sắp sửa mất chàng, làm tim tôi dâng lên một niềm đau khó tả.

Tôi vẫn chờ đợi, những lá thơ hiếm hoi càng ngày càng lộ rõ những dấu hiệu chàng đã thay lòng đổi dạ, muốn rút lại lời hứa. Bây giờ thì tôi hiểu, thật ra thời cuộc không phải là nguyên do chính, mà chỉ là một cơ hội để chàng vin vào đó mà biện minh cho lòng dạ tráo trở của chàng. Ba năm sau biến cố 1975, Đông cắt đứt liên lạc với tôi bằng một lá thơ trần tình rằng chàng không thể về Việt Nam để cưới tôi, vì đã “mất nuớc.” Chàng đề nghị trả tự do cho tôi “từ nay giữa chúng ta chỉ còn tình bạn, và em cứ yên tâm đi lấy chồng.”

Đông đã lộ nguyên hình là một tên phản bội. Đọc thơ chàng, tôi run rẩy, lạnh toát cả người, có thể như thế được sao? Người tôi yêu và đã nói yêu tôi, đã thề thốt sẽ cùng tôi nên vợ nên chồng, người mà tôi đã chờ đợi hết tuổi thanh xuân, đã thoái hôn tôi chỉ vì lý do thời cuộc biến đổi?

Thật ra đó chỉ là một cái cớ của những người hèn, lợi dụng thời cơ, cái gì cũng trút hết trách nhiệm cho cái ngày biến cố lịch sử đó, để bào chữa cho những hành động sai quấy của mình. Nếu quả thật chàng vẫn một lòng thủy chung như nhất thì chàng vẫn có thể về nước để cưới tôi, hoặc bảo lãnh cho tôi qua với chàng? Nhưng chàng đã viện một lý do không đúng thực, để biện minh cho cái tội bội ước của chàng. Có người quen ở bên Pháp viết thư cho tôi hay, là chàng đã có vợ con từ trước năm 1975, vợ chàng là một cô đầm Parisienne khá đẹp. Cú xốc đó làm tôi choáng váng, tôi đau cái đau của một ngưòi bị lường gạt, mất hết niềm tin vào cuộc đời. Thì ra những người học cao không phải tất cả đều là những người trí thức, cũng có những tên đểu cáng, lừa lọc, dối trá như anh chàng Đông này vậy. Tôi oán hận đời, giận sự ngu ngốc của chính mình, tôi ốm hết mấy tháng. Khi khỏi bệnh, tôi thay đổi tính tình, trở nên ít nói, và nói ra câu nào cũng chua chát. Mẹ tôi chỉ thở dài, bà an ủi, và làm hết cách để cho tôi khuây khoả. Nhưng chính những sự nhường nhịn, chiều chuộng quá đáng đó càng làm cho tôi thêm tủi thân, và đôi khi những lời nói vô tình của mẹ làm cho tôi đau lòng. Chẳng hạn như một hôm, nhận được thiệp mời đi ăn cưới con của một người bạn, mẹ thở dài, buồn rầu nói:

- Con bé đó xấu xí hơn con nhiều, lại chẳng có nghề nghiệp gì cả, thế mà cũng có người đi cưới. Gia đình họ thật có phước

Thì ra chỉ có nhà này là vô phước thôi, và tôi chính là nguyên nhân của sự vô phước đó? Tôi tủi thân ứa nước mắt khóc, và chạy nhanh vào phòng, đóng xập cửa lại trước cặp mắt ngạc nhiên của mẹ. Khi hiểu ra, bà vội vã đuổi theo, năn nỉ tôi mở cửa, và hai mẹ con cùng ôm nhau khóc. Ngày đám cưới, mẹ cáo ốm ở nhà, không đi. Từ lâu rồi, mẹ vẫn thường từ chối những lần được mời đi dự tiệc cưới, bởi vì mỗi lần nhìn thấy cô dâu bước lên xe hoa, bà không khỏi chạnh lòng, thương cho đứa con gái đã quá lứa, lỡ thì, mong hoài một lần được mặc áo cưới.

Tôi muốn quên quá khứ, tôi không muốn nhìn lại những nơi chốn vẫn gợi cho tôi những kỷ niệm đau lòng, thay đổi khung cảnh chắc sẽ làm tôi dễ chịu hơn, vì thế nên khi người anh ruột của tôi ở bên Mỹ bảo lãnh cho hai mẹ con tôi, thì tôi bằng lòng ngay. Mẹ tôi không muốn đi, bà không muốn xa rời quê hương, xa mồ mả ông bà, tổ tiên và người cha đã quá cố của tôi, nhưng vì thương tôi cô độc, nên bà đi theo cho có người an ủi. Sang đến bên này, tôi đi học Dược, và mới ra trường năm ngoái, khi vừa tròn ba mươi tám tuổi. Tôi may mắn trong việc học hành, thi cử, nhưng không may trong vấn đề tình duyên, ở vào cái tuổi này mà vẫn còn độc thân, thật quả là muộn màng

Mẹ tôi âu sầu buồn bã, nhưng không bỏ cuộc, bà vẫn để ý trong đám bạn của anh tôi, xem chàng nào còn độc thân, và bà lân la hỏi thăm gia thế, nghề nghiệp, học vấn v…v… khiến tôi đâm ngượng mỗi khi họ tới chơi, tôi lúng túng mất hết tự nhiên, có cảm tưởng như họ đọc được những ý nghĩ trong đầu của mẹ tôi. Tội nghiệp mẹ, mong mãi mà vẫn không gả được cô con gái duy nhất. Mẹ muốn giúp tôi tìm cho ra một người chồng, mẹ căn dặn tôi phải đi đứng khoan thai, nói năng dịu dàng ý tứ, và nhất là phải chú ý đến cách ăn mặc, trang điểm sao cho đẹp đẽ, để gợi sự chú ý của “đối phương” Đôi khi mẹ còn gợi ý những cuộc đi chơi tay đôi, để hai bên tìm hiểu… Những nỗ lực của mẹ không phải là vô ích, vì sau rốt cũng có một người để ý đến tôi. Anh chàng này kém tôi một tuổi, có nghề nghiệp vững chắc, tướng tá diện mạo coi cũng được, chỉ phải tội gàn, cứ mở miệng ra là nói chuyện chính trị, hết chê bai người này, tới đả kích người nọ. Ngoài ra lại còn cái tính tự phụ, cho mình là mẫu người đàn ông lý tưởng, thần tượng của phụ nữ. Hắn đã từng tuyên bố:
- Cô nào được tôi cưới, hẳn là phải tu từ kiếp trước (!?! )
Tôi suýt phì cười, nhưng ngăn lại được, tôi nhìn hắn mỉa mai:
- Phải nói thêm là trúng số độc đắc mới đủ.

Thốt xong, tôi hoảng hồn vì thấy mình hơi tàn nhẫn, nhưng hắn lại tưởng thật và lấy làm sung sướng, nên cười một cách khoái trá. Hắn yên chí trăm phần trăm là tôi sẽ đồng ý cả hai tay, mẹ tôi chẳng đang “câu” hắn hay sao? Anh chàng chắc ăn tới nỗi chưa ngỏ ý với tôi, đã đưa ngay mẹ hắn đến nói chuyện với mẹ tôi về việc cưới hỏi. Mẹ tôi mừng rỡ, nhìn tôi cười đắc ý:

- Mẹ nói có sai đâu? con gái mẹ nết na xinh đẹp thế kia, cậu ta quả là người có mắt.
Tôi mỉm cười:
- Mẹ chỉ nói một chiều, con cũng “có mắt” của con nữa chứ?
- Được rồi, thế “con mắt” của cô ra sao? Theo mẹ thấy thì cậu ta cũng được lắm, có nghề nghiệp đàng hoàng, mặt mũi sáng sủa, tính tình lại thật thà hiền lành, chẳng chê vào đâu được.
- Đó là nhận xét của mẹ.
Mẹ chưng hửng, cảm thấy có cái gì không ổn, mẹ tắt ngay nụ cười:
- Con nói vậy là có ý gì? Mày chê cậu ta ở điểm nào?

Tôi im lặng một lúc lâu, cố tìm trong óc một câu nói thật nhẹ nhàng để khỏi làm đau lòng mẹ, sau cùng tôi ngập ngừng:
- Con... con không hạp với anh ta, con không thể nhận lời…
Nói xong tôi cúi mặt xuống như một người phạm tội, tội đã phá tan niềm hy vọng to lớn của mẹ. Quả vậy, sau vài giây xửng xốt, mặt mẹ đỏ lên vì giận, bà đay nghiến:
- Mày tưởng mày báu lắm hay sao mà ai cũng chê? Gần bốn chục tuổi đầu rồi, chứ trẻ trung gì nữa mà cứ kén cá chọn canh mãi?
- Không phải con chê mẹ ạ, nhưng con không thể chịu nổi cái gàn của hắn, đã ngang bướng tự kiêu, lại thêm tật nói nhiều, mà mỗi khi nói chuyện, nước miếng của anh ta cứ phun ra như mây mù, hôi không chịu được…

Hiểu ra, mẹ cũng bật cười, nhưng còn vớt vát:
- Tưởng gì chứ nếu chỉ có thế, đâu phải là một vấn đề hệ trọng? Mẹ nghe nói bệnh hôi miệng có thể chữa được.
- Nhưng bệnh gàn thì vô thuốc chữa.
Và tôi nhìn mẹ, nói như van lơn:
- Mẹ à, cứ để từ từ, có thể con sẽ gặp được người con ưng ý, vội vã quá có khi hỏng việc. Vợ chồng là chuyện trăm năm, có hạp thì ở với nhau mới có hạnh phúc. Bằng không tìm được người hạp ý, thì ở vậy có sao đâu? Chẳng hơn là vơ quàng vơ quáng, rồi sau này có hối cũng không kịp, cứ phải chịu đựng nhau suốt đời.

Mẹ gật đầu, thôi không ép nữa, nhưng nói dỗi:
- Thôi được, tùy cô. Liệu mà lo lấy thân, ráng tìm một người chồng để mà nương tựa, mẹ đâu có sống đời với con?

Tôi nhìn nét mặt già nua của mẹ, mà lòng thoáng chút ngậm ngùi, ngần này tuổi, tôi chưa làm được gì để báo hiếu mẹ, trái lại, bà cứ vì tôi mà phải lo lắng mãi. Liệu lấy thân, nhưng liệu cách nào đây, để vui lòng mẹ? Tôi đâu có muốn làm gái già, tôi đâu có muốn ở vậy suốt đời? Các bạn bè của tôi lần lượt đi lấy chồng hết, người nào cũng có cặp, có đôi, chỉ mình tôi đơn lẻ. Nhìn hạnh phúc của họ, tôi tủi thân, và thầm ao ước một hạnh phúc của riêng mình.

Mải nghĩ ngợi, tôi không để ý là bài giảng đã chấm dứt, và bây giờ đã đến mục đặt các câu hỏi, vài cánh tay dơ lên, chàng lần lượt giải đáp xong xuôi, rồi đi xuống cuối lớp. Chàng dừng ngay trước chỗ ngồi của tôi, hỏi bằng tiếng Anh :
- Cô có gì thắc mắc không?
Tôi đỏ mặt lúng túng, vì thật ra tôi mải nghĩ ngợi nên có nghe, có hiểu gì đâu? Tôi ấp úng trả lời bằng tiếng Việt:
- Dạ không... không thắc mắc gì hết.
Nhìn vẻ mặt sượng sùng của tôi, chàng mỉm cười và cũng nói bằng tiếng Việt:
- Lát nữa tan lớp, cô ra ngoài cho tôi gặp một lúc, được không? Cô… cô gì nhỉ?
- Dạ em tên Nghi.
Đáp xong tôi hết hồn. Trời! sao mình lại cho người ta biết tên? Lại còn xưng em nữa, đố khỏi bị người ta cho là dễ dãi. Nghĩ vậy, tôi toan lắc đầu từ chối, nhưng chàng đã nhìn tôi tha thiết, và nói nhanh:
- Tôi đợi cô ngoài hành lang.

Tôi ngẩng lên, bốn mắt gặp nhau, mắt chàng sáng như sao, tia nhìn như có sức thôi miên, khiến tôi bị khuất phục liền, tôi lặng lẽ gật đầu, cảm thấy hai má nóng bừng một cảm giác vừa băn khoăn vừa mắc cở thật kỳ lạ. Cuộc gặp gỡ lần đầu tuy ngắn ngủi, nhưng là một cuộc gặp gỡ không thể quên, vì nó khởi đầu cho những biến đổi tình cảm trong tôi. Những lần hẹn hò sau đó, đem lại cho tôi những cảm giác hồi hộp, sung sướng như những lần hẹn hò với Đông năm xưa. Cuộc sống bình thản trước đây của tôi đã hoàn toàn bị xáo trộn, nhưng đều là những xáo trộn thú vị. Những ngày nghỉ, tôi không còn phải nằm nhà, đếm thời gian trôi một cách buồn nản. Chàng đến rủ tôi đi chơi, về miền quê, vào rừng, leo đồi, leo núi, vào các trang trại hái trái cây, hoặc đi dạo trên bờ suối, xa thành phố. Nơi đây vắng vẻ, yên tịnh, không có bóng người qua lại, chỉ có cảnh thiên nhiên hoang dã, thỉnh thoảng một con sóc hay thỏ rừng chạy vụt qua, rồi lao vào bụi rậm, mất hút. Mặt trời bắt đầu lên, nắng vàng len qua kẽ lá, rơi lốm đốm trên cỏ, trên tóc, trên áo chàng và tôi. Những cơn gió nhẹ làm đong đưa những cánh hoa dại mọc đầy hai bên đường, đẹp và nên thơ quá. Hai người chạy nhảy như hai con sóc, mệt thì nằm dài trên cỏ, nhấm nháp những miếng bánh sandwich, vừa nghe chim hót, vừa ngắm mây trôi trên bầu trời xanh lơ, hồn như trôi theo đám mây, quên hết ưu phiền của cuộc sống.

Những buổi tối mùa đông, cùng chàng đi nghe nhạc. Bên ngoài tuyết rơi, bên trong, dưới ánh đèn mờ ấm cúng, hai mái đầu chụm lại, say sưa lắng nghe những tiếng nhạc trữ tình, tiếng vĩ cầm réo rắt, tiếng dương cầm thánh thót, tiếng đại hồ cầm trầm buồn, cùng tiếng trống bập bùng, tất cả hòa với nhau tạo nên những âm thanh diễm ảo làm ru hồn người, ngất ngây những con tim đang yêu. Chàng thường nhìn tôi đắm đuối, và đôi khi cao hứng, chàng mời tôi cùng nhảy với chàng một điệu Valse êm dịu. Chàng khiêu vũ rất bay bướm, trong tay chàng, tôi cảm nhận một sức mạnh, một sự che chở vững chắc, và tôi sung sướng được chàng dìu những bước đi như lướt êm trên sàn nhảy.

Dần dần, tôi thấy mình thay đổi, chàng đã làm sống lại những rung dộng tưởng như đã chết trong tim tôi, con tim băng giá giờ đây đang đập trở lại những nhịp điệu bình thường, một sức sống như bừng lên, lan tràn thấm vào từng tế bào trong cơ thể, khiến tôi ngây ngất. Tôi biết đời mình vừa bước vào một khúc quanh mới, nhưng con đường này có bằng phẳng hay lắm chông gai, làm sao biết được? Tôi dụt dè không dám tiến tới, có thể đây là một cạm bẫy nữa chăng? Đừng có dại dột sa vào, để rồi lại bị thương. Tôi như con chim bị đạn, sợ cả những cành cây cong, liệu chàng có thành thật không ? Quen nhau đã gần nửa năm rồi, mà chàng vẫn không hé môi cho tôi biết một chút xíu nào về gia đình chàng cả. Tôi không dám hỏi, người ta đã ngỏ ý gì với mình đâu, mà dám đi sâu vào chi tiết? Làm thân con gái thật khổ, cứ phải chờ đàn ông đến hỏi, nên cho dù không muốn sống độc thân, mà cứ phải sống độc thân, làm gái già bất đắc dĩ, nếu không có ai hỏi cưới. Đàn ông thì khác, họ sống độc thân là vì họ muốn, họ thích như thế, tôi mỉm cười với ý nghĩ phía đàn ông, làm gì có danh từ “trai già”.

Chiều Chủ nhật, chàng đến rủ tôi về miền quê, đi ăn cháo cá. Quán nhỏ nằm bên ven sông, khung cảnh thật nên thơ. Chàng dìu tôi đếm bước trên con đường đất đỏ phủ đầy lá khô. Bây giờ là mùa thu, lá khô nhiều quá rơi ngập cả lối đi, thôn xóm vắng vẻ quạnh hiu, con sông phía trước mặt nước chảy lững lờ, mặt sông lăn tăn phản chiếu ánh mặt trời vàng rực. Bên kia sông là là rừng thông xanh ngát, bên này là những hàng cây phong, lá màu đỏ rực, rơi lác đác, mỗi khi có cơn gió nhẹ, lá chao lượn trong không gian, bay la đà như những cánh buớm… cảnh đẹp còn hơn tranh.

Chàng nói:
- Cuộc sống ở đây thanh bình quá!
Tôi gật đầu:
- Em muốn thời gian ngừng trôi, để có thể giữ mãi những giây phút thần tiên như thế này.
Chàng nhìn sâu vào mắt tôi:
- Nếu em muốn, chúng ta vẫn có thể có những giây phút thần tiên bên nhau như thế này suốt đời.
Tôi nhìn theo những chiếc lá đang xoáy tròn theo một cơn gió lốc, buồn bã nói:
- Con người đâu phải là Thượng đế, để có thể có được tất cả những gì mình mong muốn? Em sợ lắm, em sợ bất thình lình mặt sông kia nổi sóng, làm mất đi vẻ thanh bình, nên thơ… Cũng như sóng gió cuộc đời cuốn đi hết bao nhiêu ước mơ, bao nhiêu hy vọng... Bão tố đi qua, bao giờ cũng để lại những tang thương, đổ nát.
Chàng nhìn tôi băn khoăn:
- Đang vui, sao em lại nói toàn những lời bi quan như thế?
- Là vì…
Thong thả, tôi kể cho chàng nghe về cuộc đời của tôi từ lúc mới quen Đông, những hứa hẹn, đợi chờ và sau cùng là bị Đông phụ bạc. Kết thúc câu chuyện, tôi thở dài:
- Từ đó, cuộc sống đối với em chỉ là những khoảng trống vắng, vô vị, cho tới khi gặp anh...
Chàng im lặng một hồi, rồi mới nắm lấy tay tôi, dịu dàng:
- Đôi khi cái không may của kẻ này, lại trở thành cái may của kẻ khác. Riêng anh, anh rất cám ơn cô đầm Parisienne nọ, nếu không, sao anh có dịp được quen với Nghi?
Tôi đứng yên, bối rối không biết phải đối đáp ra sao, chàng tuởng tôi buồn nên an ủi:
- Hãy quên đi cái dĩ vãng không vui đó. Hay là em còn tiếc Đông?
- Ồ không! Tôi vội vã nói, đối với em bây giờ, Đông chỉ là một cái bóng mờ, một sai lầm của tuổi trẻ… Em đã chọn lầm người.

Chàng vui mừng:
- Vậy thôi đừng nhắc đến qúa khứ nữa , hãy sống cho hiện tại và hướng về tương lai… Chàng nhìn tôi tha thiết, tương lai chúng mình sẽ có nhau, em nhé?
Chàng ôm vai tôi, kéo sát lại gần, vòng tay chàng ấm, nhưng gió đã bắt đầu lạnh, tôi run lên khi nghe chàng nói:
- Anh yêu Nghi. Nhưng… anh có vấn đề không dám nói ra, vì anh sợ mất em.
Tôi rùng mình, một linh cảm cho thấy có điều gì không ổn, tôi dừng bước, nhìn chàng hồi hộp:
- Có chuyện gì anh cứ nói, em cần tìm hiểu.
- Mình vào đi đã, bên ngoài trời đã tối và bắt đầu lạnh rồi. ..

Chàng dìu tôi bước vào bên trong. Quán nhỏ nhưng đông khách, chúng tôi chọn một chỗ ở góc quán, nơi có ánh đèn mờ ảo và ít người qua lại. Kéo ghế cho tôi ngồi xuống xong, chàng chậm rãi mở đầu:
- Anh đã có vợ con rồi…

Tôi bàng hoàng, rồi bủn rủn, tưởng sắp té xỉu, tim tôi nhói lên, đập liền mấy cái lỗi nhịp khiến tôi xây xẩm. Có phải chính miệng chàng đã thốt ra câu nói đó không, hay là tôi đang nằm mơ? Nhưng không, rõ ràng là tôi vẫn đang tỉnh táo, vì tôi còn nghe tiếng đồng hồ quả lắc treo trên tường vừa điểm 8 tiếng rời rạc, và tiếng chàng thở dài buồn bã:
- Nhưng vợ anh chết trong khi sanh con cho anh. Đứa nhỏ bây giờ đã sáu tuổi. Anh có mặt lúc đó, vợ anh đã chết trên tay anh… Ôi thật là đau đớn! anh tự giận mình cũng là bác sĩ mà đã bất lực không cứu được nàng. Từ đó, anh vẫn ở vậy, vì anh nghĩ ngoài vợ anh ra, anh không thể yêu ai được nữa. Nhưng anh đã lầm…

Tôi cũng đã lầm, tôi đã để cho con tim lấn át cả lý trí, tại sao tôi không nghĩ được rằng, ở cái tuổi bốn mươi hai của chàng, mấy người còn độc thân? Tại tôi yêu chàng quá nên cứ nhắm mắt bước tới, quên cả đề phòng. Nếu chàng nói ngay từ đầu? Ừ, nếu chàng nói ngay từ đầu, có lẽ tôi đã không để tình cảm đi xa hơn… Tôi thều thào như người sắp tắt hơi:
- Em thật không ngờ, quả thật là bất ngờ…
Chàng cúi mặt tránh tia nhìn của tôi, buồn rầu nói:
- Lỗi tại anh , nhiều lần anh đã định nói, nhưng rồi lại ngần ngại, vì anh sợ mất em, anh sợ bị em từ chối. Em trong trắng, toàn vẹn quá, còn anh đã một lần dang dở, lại có thêm đứa con. ..
Tôi ngồi im, trong khi chàng vẫn tiếp tục:
- Mấy năm nay, anh sống cho qua ngày một cách chán nản, nhưng từ khi gặp em, anh thấy mình thay đổi hẳn, anh yêu đời trở lại. Em đã đem đến cho anh một niềm tin mới, anh không muốn mất đi cái hạnh phúc hiếm hoi mới tìm lại được, anh không muốn phải tan đi cái hy vọng vừa mới loé sáng…

Chàng còn nói nhiều nữa, nhưng tôi không nghe thấy gì hết, tai tôi ù đi, tôi thừ người nghĩ ngợi, chi tiết này thật bất ngờ quá, tôi không lường trước. Tôi nhìn chàng, nét mặt chàng lúc đó trông thật là thảm hại, còn mặt tôi cũng chẳng hơn gì. Đáng đời chưa? Với cái tuổi mùa hạ của mi, chỉ nên yên phận làm gái già, yêu đương chi cho khổ? Ham làm cô dâu cho lắm, để rồi vỡ mộng, muốn được người ta cưới phải chấp nhận làm vợ thừa và mẹ kế, cuộc đời sao oái oăm… Thật không may cho mình, hai lần làm cô dâu hụt, tôi khóc thương cho số kiếp hẩm hiu.

Chàng thấy tôi không chấp nhận thì rút lui ngay, mấy tuần rồi không lui tới. Mẹ không hiểu chuyện gì, thấy tôi không đến sở làm, bỏ cả ăn ngủ, nằm lỳ ở trong phòng thì lo lắng hỏi:
- Có chuyện gì vậy? Mấy tuần nay không thấy cậu ta tới chơi, bộ hai đứa vừa cãi nhau hả?
- Không, mẹ ạ. Nhưng tụi con đã chấm dứt rồi.
Mẹ giật mình, hốt hoảng hỏi:
- Đã xảy ra chuyện gì?
- Khó nói lắm. Tôi yếu ớt năn nỉ, van mẹ hãy để con yên, con mệt lắm rồi, mấy đêm qua con không ngủ được.
- Ừ thôi con nằm nghỉ, để mẹ xuống bếp nấu cho con tô cháo. Mấy hôm nay con chẳng ăn uống gì cả, mẹ lo quá, người con gầy dốc đi, mẹ sợ con bệnh rồi đó.

Mẹ nhẹ nhàng ra khỏi phòng và khép cửa lại. Tôi nhìn theo dáng gầy gò của bà và thở dài, tội nghiệp mẹ đã sáu mươi lăm tuổi rồi, tóc mẹ bạc trắng, ngần này tuổi mà chưa được yên thân, cả đời khổ vì con. Tôi bất hiếu đến thế sao? không! tôi chỉ là một người bạc phận.
Buổi trưa, mẹ đem cho tôi một ly sữa:
- Uống đi con, cố uống đi cho khoẻ.
Mẹ dỗ, bà kề ly sữa vào tận miệng, tôi bưng lấy, nhắm mắt uống một hơi hết cạn, mẹ vui mừng:
- Có thấy đỡ tí nào không con?
Tôi gật đầu:
- Đỡ nhiều lắm.
- Vậy thì con nói cho mẹ nghe được không? Tại sao con ra nông nỗi này? mấy hôm nay con bỏ ăn, mẹ sợ quá, lỡ có chuyện gì, chỉ mẹ con mình thiệt.

Tôi ôm lấy mẹ oà khóc:
- Mẹ ơi con khổ lắm, người ta đã có vợ con rồi.
Và tôi kể hết, mẹ nghe xong thở dài:
- Con đã thấy mặt đứa bé kia chưa?
- Chưa mẹ ạ, tụi con cắt đứt liên lạc ngay khi Nguyễn vừa cho con biết sự thực.
Mẹ ngẫm nghĩ một lúc, rồi mới dịu dàng nói:
- Theo mẹ thấy thì sự việc cũng đâu đến nỗi nào? Đừng cứng rắn quá thế, nếu con yêu cậu ta thì đừng tự làm khổ mình, đứa bé đâu phải là một trở ngại?
Tôi xửng xốt:
- Mẹ mà cũng nghĩ thế ư? Con tưởng mẹ muốn giữ thể diện?
Mẹ cười độ lượng:
- Cái đó đâu gọi là thể diện? Con không cướp chồng người, thì có chi mà xấu hổ?
Và bà khuyên:
- Con nên nghĩ đến hạnh phúc của chính mình, đừng vì một chút sĩ diện hão mà làm khổ cả hai người.

Đêm hôm đó, tôi nằm suy nghĩ về những lời mẹ nói, có lẽ bà đúng, còn tôi thì ích kỷ và hẹp hòi quá, tại sao tôi có thể nhỏ mọn tới nỗi không chấp nhận một đứa bé mới lên sáu tuổi, nó có tội tình gì? Nó đâu phải là một chướng ngại trong tình yêu giữa Nguyễn và tôi? Tại sao tôi có thể chối bỏ hạnh phúc của mình, vì một lý do cỏn con như thế, thật là dại khờ. Những lời khuyên của mẹ đã mở cho tôi một tầm nhìn mới, một quan niệm mới, và tôi sung sướng đã nhìn thấy một chân trời đang mở rộng.

Sáng hôm sau, mẹ vào thăm, tôi nhìn bà bằng cặp mắt biết ơn:
- Có lẽ đây là một sai lầm của con, con đã quá hẹp lượng, nên đã tự làm khổ mình và khổ cả người ta nữa.
Mẹ cười vui vẻ:
- Bây giờ thì chưa có gì muộn. Con cứ nghỉ ngơi đi, mọi việc để mẹ thu xếp.

Chàng đến ngay buổi chiều hôm đó. Trời! mới có mấy tuần mà chàng thay đổi nhiều quá, trông bơ phờ, hốc hác và gầy xút đi thấy rõ. Còn tôi cũng chẳng hơn gì, hai đứa nhìn nhau, chàng nắm tay tôi, hỏi giọng lo lắng:
- Em không sao cả chứ? Trông em có vẻ mệt mỏi và hai mắt thâm quầng, chắc bị mất ngủ, phải không?
Tôi gật đầu:
- Cả tuần nay, đêm nào em cũng trằn trọc, thao thức, nghĩ ngợi đủ thứ chuyện, em thấy là em sai rồi, khi ghen với một đứa trẻ.
- Thiệt vậy à? Mắt chàng sáng lên một vẻ vui mừng, em nói vậy tức là em bằng lòng chấp nhận con anh?
Tôi gật đầu:
- Anh đem nó đến đây đi, em muốn nhìn thấy mặt nó. À nó tên gì anh nhỉ?
- Ái Vân! Mắt chàng chớp nhẹ, cảm động. Tội nghiệp, Ái Vân mồ côi mẹ từ thuở mới lọt lòng, nên rất khao khát tình mẫu tử, nó vẫn mơ ước có một bà mẹ.
- Em sẽ là mẹ nó, một người mẹ tốt, em hứa với anh.

Nguyễn cười sung sướng, nhìn tôi với cặp mắt biết ơn và chan chứa thương yêu. Chàng đưa Ái Vân tới liền, con bé mới dễ thương làm sao, tóc hơi quăn, cặp mắt đen lay láy, mũi cao, miệng tươi cười giống bố y hệt, nhưng nó có vẻ rụt dè, ngơ ngác trông thật tội nghiệp. Tự dưng một tình thương dạt dào dâng lên trong lòng, làm tôi cảm động. Vẫy nó lại gần, tôi dịu dàng hỏi:
- Hôm nay Ái Vân không đi học à?
Nó lắc đầu, lễ phép:
- Ba cháu nói hôm nay nghỉ, để ba đưa cháu tới gặp cô.
- Ngoan lắm, thế Ái Vân có hay khóc nhè không?
- Dạ không! Nó mở to cặp mắt ngây thơ, cháu lớn rồi, cháu không hay khóc nữa. Cả tháng nay, không biết ba cháu gặp chuyện gì mà buồn lắm, cháu không dám nhõng nhẽo, sợ ba rầy.
Nguyễn vỗ đầu con, cười xoà:
- Hôm nay ba sẽ đền bù cho Ái Vân, ba sẽ tặng con một món quà vô cùng quí giá mà con vẫn ao ước, ba sẽ biến giấc mơ của con thành sự thật.
Và chàng quay sang tôi:
- Chỉ cần em gật đầu, là Ái Vân sẽ được toại nguyện.
Vừa nói, Nguyễn vừa nhìn tôi bằng ánh mắt đắm đuối. Tôi cúi mặt, thẹn thùng:
- Anh biết rồi còn hỏi. Nhưng mà… cũng tùy Ái Vân nữa chứ?
Chàng tươi ngay nét mặt, mỉm cười:
- Ái Vân không mong gì hơn là có một người mẹ.
Tôi mở rộng vòng tay:
- Vậy thì… Ái Vân còn chờ gì nữa mà không tới với mẹ?

Ái Vân chạy ngay lại, xà vào lòng tôi, nhoẻn miệng cười. Tôi ôm nó thật chặt, trong tay tôi, thân hình bé nhỏ của nó run lên nhè nhẹ. Một tình cảm ấp áp dâng lên trong lòng, tôi áp mặt vào mái tóc tơ, mềm như nhung của nó, thì thầm:
- Tội nghiệp Ái Vân bé bỏng, từ nay con sẽ có mẹ.

Tết năm đó là một cái tết vui nhất trong đời của mẹ tôi, bà hớn hở trang hoàng nhà cửa, mua sắm quần áo mới, sửa soạn các thứ cho tôi đi lấy chồng, mẹ sung sướng thấy con gái đã tìm được hạnh phúc thật sự, sau nhiều năm mong đợi. Chúng tôi làm đám cưới vào đầu mùa xuân, khi hoa mai, hoa đào đang nở rộ, và những lộc non đã nẩy thành những nhánh lá xanh tươi. Xuân đã về trên đất trời, và trong lòng người.

Tôi mặc áo cưới, khoác tay chàng, tay kia dắt Ái Vân, sung sướng đón nhận những lời chúc mừng của hai họ và quan khách. Bước ra khỏi nhà thờ trong tiếng pháo cưới nổ ran. Chúng tôi lên xe hoa đi về tổ ấm, bắt đầu một cuộc sống mới thật ấm êm, hạnh phúc. Sau cùng, tôi đã tìm được tình yêu, tuy muộn màng, nhưng là tình yêu vĩnh cửu

Phương Lan
(Trích trong tác phẩm Còn chờ một kiếp sau)

Thứ Hai, 28 tháng 3, 2022

Tiếng Yêu - Thơ Tha Nhân - Phổ Nhạc Nguyễn Văn Hoàng -Hòa Âm Nguyễn Văn Thơ Ca sĩ Khánh Dũng


Thơ: Tha Nhân
Phổ Nhạc: Nguyễn Văn Hoàng
Hòa Âm: Nguyễn Văn Thơ
Ca sĩ: Khánh Dũng

Tìm về



Tìm về một thuở quê xưa
Mùa con nước nổi mùa mưa láng đồng
Mùa bông súng nở trắng hồng
Mùa con cá sặc theo dòng kinh mương

Tìm về một thoáng yêu thương
Có con diều giấy du dương cổng trời
Có em gái nhỏ hay cười
Có hàm răng trắng sáng ngời hạt ngô

Tìm về cái tuổi bi bô
Lòng trong vắt tựa mặt hồ mùa thu
Chẳng hơn thua chẳng hiềm thù
Tung tăng cùng nụ cười từ hồn nhiên

Tìm về lại chốn bình yên
Nghe thanh thản với triền miên gió đồng
Tìm về lại một dòng sông
Ngồi nghe em hát bên dòng ca dao

Bằng Bùi Nguyên

Chờ Nhau Nguyễn Bính (1937) - Waiting For Each Other(Hương Cau Cao Tân)

 

Chờ Nhau 

Láng-giềng đã đỏ đèn đâu
Chờ em ăn giập miếng giầu em sang
Đôi ta cùng ở một làng
Cùng chung một ngõ vội-vàng chi anh
Em nghe họ nói mong-manh
Hình như họ biết chúng mình với nhau.
Ai làm cả gió đắt cau,
Mấy hôm sương muối cho trầu đổ non.

Nguyễn Bính (1937)

Bài Dịch:

Waiting For Each Other by Nguyen Binh (1937)

My dear, the neighbours have not lit the lamps in their houses
I will come to you after finishing the betel chew in my mouth
Living in the same village are you and me
Going by the same road, why bother being in a hurry
Somehow, I think I have heard from them the faint rumour
That they know we are somewhat having something... together
Who raises the winds so the areca nuts become rather few
And the betel leaves are damaged because of the heavy dew

Translated from Vietnamese into English
by Hương Cau Cao Tân

on 20 May 2019 in British Columbia, Canada

Đái Thạch Bổ Thiên 戴 石 補 天 - Đội Đá Vá Trời (*) - Trần Văn Lương



Dạo:

Vênh vang đội đá vá trời,
Nào hay sức mọn đá rơi nát đầu.

Cóc cuối tuần:

戴 石 補 天

長 空 一 破 禍 聯 翩
戴 石 狂 蛙 欲 補 天.
志 大 可 憐 才 力 淺,
石 沉 勁 竭 便 歸 仙.

陳 文 良

Âm Hán Việt:

Đái Thạch Bổ Thiên


Trường không nhất phá, họa liên phiên,
Đái thạch, cuồng oa dục bổ thiên.
Chí đại, khả liên tài lực thiển,
Thạch trầm, kính kiệt, tiện quy tiên.

Trần Văn Lương

Dịch nghĩa:

Đội Đá Vá Trời (*)


Trời xanh vừa mới vỡ, tai họa kế tiếp nhau,
Đội đá, con ếch ngông muốn vá trời.
Chí thì lớn, (nhưng) đáng thương tài sức kém,
Đá nặng, sức kiệt, lập tức bỏ mình.

Ghi chú:
(*) Theo thần thoại Trung Hoa, thì câu chuyện vá trời (Luyện Thạch Bổ Thiên 煉石補天) đại khái như sau:
Nơi thượng giới, một ngày kia thủy thần Cung Công (共工) làm phản đem quân gây loạn. Hỏa thần Chúc Dung (祝融) bèn đưa quân ra đánh dẹp, cuối cùng đã thắng. Cung Công bị thua, tức giận va đầu vào núi Bất Chu (不周) ở phía Tây. Núi này là một trong mấy cây trụ chống trời nay bị Cung Công đụng gãy, làm một góc trời bị vỡ. Do đó, nước của dòng Thiên Hà theo chỗ vỡ đó chảy xuống trần, gây nên bao thảm họa.

Trước cảnh tai ương nước lửa, bà Nữ Oa (女媧) không nỡ nhìn dân chúng khổ, bèn quyết chí vá lại trời. Bà bay đi khắp nơi, tìm đá ngũ sắc để làm vật liệu và cuối cùng đã vá lại được bầu trời. Nhưng núi Bất Chu đã bị đổ, bầu trời thiếu chân chống nên Nữ Oa lại lấy chân của con rùa lớn (ngao 鰲) để thế vào.
Từ đó nước của Thiên Hà không còn chảy xuống trần để gây họa cho dân nữa.

Phỏng dịch thơ:

Đội Đá Vá Trời


Chín tầng chợt vỡ, khổ nơi nơi,
Đội đá, ếch toan chuyện vá trời.
Mộng lớn, nhưng tài hèn đức mọn,
Đá chèn, sức mỏn, xác thân phơi.

Trần Văn Lương
Cali, 5/2021
------------
Lời than của Phi Dã Thiền Sư:

Thương thay con ếch muốn làm bà Nữ Oa đội đá vá trời!
Mộng thì lớn, nhưng than ôi, tài hèn đức bạc nên cuối cùng đành phải mất mạng dưới tảngđá mình đội!
Chữ danh cùng tham vọng làm hại con người đến thế ư?
Biết sáng suốt để tự lượng sức mình quả thật khó thay, hỡi ơi!

Túc Tấn Xương Đình Văn Kinh Cầm - Lý Thương Ẩn (813 - 858)



Túc Tấn Xương Đình Văn Kinh Cầm

Ky tự quan quan dạ cảnh xâm
Cao song bất yểm kiến kinh cầm
Phi lai khúc chử yên phương hợp
Quá tận nam đường thụ cánh thâm
Hồ mã tê hòa du tái địch
Sở viên ngâm tạp quất thôn châm
Thất quần quái mộc tri hà hạn
Viễn cách thiên nhai cộng thử tâm

Lý Thương Ẩn (813 - 858)
***
Ngủ Đỗ Ở Đình Tấn Xương Nghe Tiếng Chim Hót Hoảng

Trời tối dần , lòng kẻ ngủ đình nơi đất khách, ngổn ngang trăm mối
Qua cánh cửa sổ trên gác không khép, nhìn thấy một con chim bay hoảng
Bay lạc lõng xuyên qua đám khói vừa tụ lại ở đầu bến sông
Rồi mất dạng, khuất vào bụi cây rậm trên bờ đê ở phía nam
Văng vẳng nghe như tiếng ngựa Hồ hí, xen với tiếng sáo từ ải Du
Tiếng vượn Sở hú, lẫn trong tiếng chầy giặt quần áo ở thôn Quất
Lạc bầy ,lìa tổ , đêm phải ngủ treo ở trên cành cây, cho đến bao giờ đây
Chim ạ , ven trời xa cách , thân ta lúc này cũng như chim mà thôi

Một Tối Ngủ Đình

Chiều tối, ngủ đình, dạ vấn vương,
Cánh chim lẻ bạn, thoáng trong sương.
Xuyên quàng đám khói thưa đầu bến,
Chúi lủi bụi cây rậm cuối đường.
Khúc sáo ải xa, sầu viễn xứ,
Tiếng chầy thôn vắng, hận tha phương.
Lạc bầy, đất lạ, đời phiêu bạt,
Vò võ ven trời, ôi cố hương.

Phạm Khắc Trí
03/15/2014
***
Thưa Thầy,
Cảm ơn Thầy đã gởi cho em một bản dịch hay.
Bài thơ này em đã từng đọc được bản dịch của dịch giả Lê Nguyễn Lưu trên mạng như sau:

Trọ đình Tấn Xương, nghe con chim e sợ

Lữ khách đêm thâu dạ sắt se
Cửa cao chẳng đóng thấy chim e
Bay về bến ngoặt sương mù toả
Qua đến ao nam cây rậm che
Sáo ải ngựa Hồ xen lẫn vọng
Chày quê vượn Sở nhịp hoà nghe
Lạc bầy nương cội lênh đênh mãi
Lưu lạc lòng ta cũng rụt rè


Trong đó em để ý mấy câu:

1. Cửa cao chẳng đóng thấy chim e
2. Sáo ải ngựa Hồ xen lẫn vọng
3. Chày quê vượn Sở nhịp hòa nghe
4. Lạc bầy nương cội lênh đênh mãi
5. Lưu lạc lòng ta cũng rụt rè


Em thấy dịch giả gieo vần và đối khá chặt chẽ nhứt là trong các cặp Thực và Luận, nhưng vẫn cảm thấy đôi chút gượng ép (chữ "chim e" và "hòa nghe" ý ngô nghê; chữ "rụt rè" diễn tả sự e dè nhút nhát, đâu phải tâm trạng "viễn cách thiên nhai cộng thử tâm", vì trong lòng tác giả đang chung tâm trạng thê lương với con chim lạc đàn ở nơi cách biệt ngàn trùng). Dù không bị "thất đối" nhưng toàn bài ý tứ chưa lột tả được tâm trạng u uất thương đau của thi hào Lý Thương Ẩn.

So với bài của Thầy, mấy câu này là:
 
1. Cánh chim lẻ bạn thoáng trong sương
2. Khúc sáo ải xa, sầu viễn xứ
3. Tiếng chày thôn vắng, hận tha phương
4. Lạc bầy, đất lạ, đời phiêu bạt
5. Vò võ ven trời, ôi cố hương


Rõ ràng vần gieo chắc mà âm điệu tràn ngập nét u buồn, ý tứ có hơi thoát nhưng quan trọng nhứt là "cái thần", vì lột tả được tâm trạng buồn thương của Lý Thương Ẩn, một người tài hoa nhưng định mệnh khiến xui cả đời lận đận nơi chốn quan trường, bất đắc chí lại thêm lúc nào cũng da diết nỗi nhớ quê xưa...

Các cặp đối "sầu viễn xứ, hận tha phương", "đời phiêu bạt, ôi cố hương" khá chặt chẽ, khiến cho người đọc dồn dập như sóng lớp sau lớp trước trào dâng nỗi niềm u ẩn của nhà thơ một đời lưu lạc...

Thưa Thầy, em thường viết văn xuôi chớ thật sự không rành về Đường thi cho lắm, em thường chỉ "thấm" một bài thơ bằng cảm nhận đơn giản về mặt âm điệu, tính văn chương và sự cảm thụ.
Em nghĩ cũng như một ca sĩ diễn tả bài hát bằng giọng xuất thần khi người ấy biết đặt mình vào linh hồn của bài hát và tâm tình của người soạn nhạc, cho nên nếu muốn dịch được bài thơ ngoại ngữ cho có hồn, chắc chắn Thầy đã đặt mình vào cuộc đời long đong và tâm sự ngổn ngang của Lý Thương Ẩn, và cũng như Thầy nói ở trên, đã trở về tuổi thơ tao loạn, nhớ đến thời gian trôi dạt đó đây, trải qua đôi lần ngủ lại nơi xa lạ, mới có thể "cảm" được tâm tình đó, mới có thể xúc động đến vậy khi nhìn cánh chim lạc bầy kêu xao xác hay nghe tiếng sáo vọng xa xa để dịch được những vần thơ này... Phải chăng đó cũng là phần nào tâm sự của Thầy trong "Khúc hát tha hương":

Vò võ một thân nơi xứ lạ
Vẫn còn đôi lúc được nhớ nhà
Làm người khách lạ trên quê cũ
Nước mắt còn không cho xót xa...

Em cũng có một kỷ niệm buồn tương tự, đó là mấy chục năm trước gia đình em bỏ thành phố lên rừng lập trại, khi đến nơi trời cũng vừa chập choạng. Em nhúm mãi không xong bếp lửa, vì củi ướt và vì bàn tay học trò vụng về. Nước mắt tuôn ràn rụa, vì khói mịt mù, và vì... đủ thứ... Lúc đó em chợt nhớ đến nhân vật khốn khổ của Jack London trong truyện ngắn "To build a fire" quờ quạng nhóm lửa với những ngón tay tê dại rồi cuối cùng cũng chết âm thầm giữa đồng tuyết mênh mông, làm mồi cho lũ sói hoang, rồi bật khóc vì liên tưởng tới phận mình... Khi đó có con chim gì bay ngang đập cánh nặng nề và kêu lên giọng buồn thê thiết, như một tiếng than vãn:

Rồng chầu ngoài Huế, ngựa tế Đồng Nai,
Con sông nước sâu sao cứ chảy hoài,
Thương người xa xứ lạc loài tới đây...


Giờ đây tất cả đã thuộc về dĩ vãng, cái dĩ vãng mà khi nhớ lại chỉ thấy có tan tác, mất mác, và tử biệt sinh ly... Có lẽ cũng phần nào đồng chung cảnh ngộ nên em luôn đồng cảm với tâm tình u ẩn của nhà thơ yểu mệnh Lý Thương Ẩn.

Một lần nữa em cảm ơn Thầy đã nhớ tới "đứa học trò ngang hông" mà gởi cho những vần thơ đẹp. Kính chúc Thầy dồi dào sức khỏe, tinh thần luôn minh mẫn phấn chấn như bây giờ, để em còn được thưởng thức thêm các tác phẩm dịch của Thầy.

Em Quỳnh Như
-----------------
PS. Thưa Thầy, mail này viết xong em đắn đo cả ngày không dám gởi, vì hậu bối xa lắc mà dám cả gan luận bàn chuyện thơ ca với bậc trưởng thượng kiến thức thâm sâu. Nên em xin phép dùng lại câu nói của Thầy trong bài "Trai Trung Xuân Vọng" để tự cười mình:
"Thật là... tôi hết chỗ nói nổi cho tôi rồi" !!!

Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2022

Dạ Lan(2) Đã Ra Đi


Thưa quí vị,

Trong tình bằng hữu, tôi xin phép được chuyển tới quí vị tin chị Hồng Thị Phương Lan (Dạ Lan 2) đã được chúa gọi về. Chị ra đi hôm Chủ Nhật vừa rồi tại thành phố Columbia, tiểu bang South Carolina, hưởng thọ 90 tuổi.

Anh em trong Đài Phát Thanh Quân Đội VNCH chúng tôi gọi chị là Dạ Lan 2, vì chị nối tiếp Dạ Lan 1 trong chương trình Dạ Lan rất ăn khách -- không phải chỉ thính giả quân đội mà cả ngoài dân sự -- của đài chúng tôi trong cuộc chiến chống Cộng. Chị cộng tác với Đài Quân Đội nhiều năm. Trước đó, chị có chương trình Nhạc Ngoại QuốcYêu Cầu được hâm mộ đến mức thính giả yêu cầu nhạc phải đợi ít nhất 4 tuần mới được đáp ứng. Biệt hiệu trên Đài của chị trong chương trình này là Mỹ Linh.

Chương trình Dạ Lan chào đời (1964) được khoảng một năm, xướng ngôn viên chính thức, cô Hoàng Xuân Lan (tức Dạ Lan 1), xin nghỉ việc vì phải lên sống trên Đà Lạt. Đài chúng tôi rất bối rối, chưa biết sẽ giải thích với thính giả về việc thay đổi xướng ngôn viên như thế nào. May mắn thay, chị Mỹ Linh được nhiều người trong Đài chú ý vì có giọng giống như giọng của Dạ Lan 1. Đài mời chị giúp việc này và chúng tôi rất mừng khi thấy kết quả đã tốt đẹp hơn mong muốn. Chị Mỹ Linh tiếp nối chương trình Dạ Lan một cách toàn hảo, không bị gián đoạn một ngày nào và thính giả không hề biết có sự thay đổi này . Chị tiếp tục giữ vai trò quan trọng đó cho tới năm 1975.

Anh chị em đồng nghiệp quí chị vì nhiều lý do và một trong những lý do là vì công việc, chị đã " hy sinh " chuyện đánh bóng tên tuổi của mình. Trong suốt thời gian ở Saigon, chưa bao giờ chị tìm cách " tiết lộ " rằng chính chị là Dạ Lan , chứ không phải người làm việc trong năm đầu, người từng được Đài Phát Thanh Quân Đội in ra hàng trăm ngàn tấm chân dung gửi biếu thính giả.. Ra hải ngoại cũng vậy. Nhiều vụ tranh cãi về Dạ Lan, chị vẫn im lặng.

Nghĩ rằng dù sao nhân vật Dạ Lan cũng một thời tên tuổi ở Việt Nam, tôi xin phép được báo với quí vị tin chị đã chia tay với hàng triệu thính giả yêu mến giọng chị. Xin cầu nguyện hương hồn chị sớm được hưởng nhan Thánh Chúa.

Dzương Ngọc Hoán
(BBT sưu tầm)

Viết Ngắn Về Dạ Lan, Người Vừa Qua Đời

 
Tôi quen Dạ Lan từ lâu qua những emails gửi qua lại về âm nhạc và thường Dạ Lan trả lời email ngay, trong vòng 1 vài giờ là cùng. 
Tạm gọi  Dạ Lan   là "fan" vì  Dạ Lan   thích nghe nhạc của mình 
(email kỷ niệm còn giữ dưới đây là về bài... Dạ Quỳnh Hương) ....
 
Ngày xưa khi còn ở Việt Nam vẫn nghe  Dạ Lan   phát thanh, nhiều người nghe qua đài Quân Đội 
Chương trình tên là "Dạ Lan, tiếng nói của người em gái hậu phương" (muốn nghe lại hay xem hình ảnh Dạ Lan chỉ cần google) 

Chắc nhiều người còn nhớ đó là phương tiện an ủi và nâng cao tinh thần binh sĩ có hiệu quả 
Dạ Lan có cho biết mình là Dạ Lan 2, đang ở Hoa Kỳ. 
Trước đó là Dạ Lan 1. So sánh thì Dạ Lan 2 thời gian làm việc cho trương trình, tuy sau nhưng là gấp đôi Dạ Lan 1. 

Chuyện tôi và  Dạ Lan chỉ có thỉnh thoảng gửi thư cho nhau chuyện trò về âm nhạc thôi.
Vài hôm trước được tin Dạ Lan qua đời 
Tôi có thói quen mỗi khi có ai qua đời thì viết email cuối cùng cho họ 
Nếu không có trả lời thì đành xem như là... vậy 
Tôi viết cho email cho Dạ Lan hôm qua không có trả lời 

Sáng sớm ngủ dậy thấy buồn quá gửi Dạ Lan 1 bài hát tạm biệt, mong Dạ Lan ngủ yên  nhé 
Sẽ nhớ Dạ Lan mãi 

Bài Ca Cuối Cùng (nhạc và lời Phạm Anh Dũng) Hương Giang hát, Sonar Production hòa âm, Max thực hiện b&w video:

       
Phạm Anh Dũng

Còn Đâu Dạ Lan


Ngàn thu vĩnh biệt Dạ Lan
Em về cõi phúc dặm ngàn yêu thương
Cuộc đời thôi hết vấn vương
Hết bao phiền muộn vô thường phủi tay
Em đi để lại u hoài
Để bao luyến tiếc miệt mài thâu canh
Mây buồn sương khói xây thành
Giấc hồ phiêu lãng mong manh phận người.

Toronto 24/3/2022
Nguyên Trần

‘Ðây Là Ðài Tiếng Nói Quân Ðội, Phát Thanh Ttừ Thủ Đô Sài Gòn…’


Bà Hạ Hoàng Vân trong phòng thu âm. (Hình: Hạ Hoàng Vân cung cấp)


SAN JOSE, California (NV) – Ngày ấy, cứ trước giờ phát thanh của Ðài Phát Thanh Quân Ðội thì xướng ngôn viên lại dùng ngón trỏ búng nhẹ vào chuông to bằng cái chén nhỏ và nói: “Ðây là Ðài Tiếng Nói Quân Ðội, phát thanh từ thủ đô Sài Gòn. Mời quý thính giả và các chiến hữu nghe tin tức.”
Ký ức của những xướng ngôn viên, biên tập viên tin tức chợt ùa về sau 42 năm xa cách, như có dịp sẻ chia.

Nhớ mãi các anh chiến sĩ tiền tuyến

Cựu xướng ngôn viên Thảo Trang, tên thật là Hạ Hoàng Vân, là một giọng đọc kỳ cựu tại đài, cho hầu hết chương trình phát thanh của các quân binh chủng, từ Sư Ðoàn 5, Sư Ðoàn 22, đến Công Binh, rồi Biệt Ðộng Quân, Nhảy Dù, và Thủy Quân Lục Chiến. Bà được cựu Trung Tá Phạm Hậu đề cử làm việc từ năm 1970 đến năm 1974.

Tuy nhiên, chương trình Nhạc Yêu Cầu do bà phụ trách vào mỗi 10 giờ sáng Chủ Nhật vẫn mang đến cho bà nhiều kỷ niệm với bao nỗi vui buồn.
Bà nói: “Thính giả trung thành của tôi là các anh chiến sĩ tiền tuyến trên bốn vùng chiến thuật và các sinh viên học sinh, người dân hậu phương. Nhiều người viết thư yêu cầu nhạc với những danh xưng rất quen thuộc với tôi, như: Nhóm Thố Ty Hoa Bình Dương, Cô giáo Nhã và Khóa 23 Võ Bị Ðà Lạt, Y Tá Áo Trắng tặng người Khóa 23 Võ Bị Ðà Lạt…”

“Qua những tên gọi này tôi được biết đến những chuyện tình lãng mạn, cũng như những hoàn cảnh thương tâm. Chuyện hai cô gái yêu cầu nhạc tặng cho cùng một người yêu thuộc Khóa 23 Võ Bị Ðà Lạt mà sau này được biết anh đã hy sinh trong trận chiến An Lộc. Hay Mai Phương và Mũ Ðỏ Tiểu Ðoàn 5 Nhảy Dù, cũng chính là Nguyễn Thị Nghĩa Trang và Trung Úy Lê Chiến Tranh mà tôi chỉ dám đọc một lần trong chương trình thôi vì nghe buồn quá,” bà nhớ lại.

Bà kể, khoảng năm 1972, qua loạt bài của ký giả Kiều Mỹ Duyên viết về người thương binh trẻ tên Tân đã bỏ lại chiến trường đôi chân, muốn xin một chiếc xe lăn. “Tôi tìm đến gặp em và từ đó như một gắn bó đến với các thương binh tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Tôi thường đến đây cuối tuần để giúp cắt tóc, cắt móng tay, đút thức ăn, chuyện trò, đọc sách,… cho thương binh,” bà nói.

“Mỗi sáng Chủ Nhật đến nơi này, tôi thấy các anh chụm lại quanh máy cassette, hay có anh một mình trầm ngâm nằm trên giường bệnh để nghe chương trình Nhạc Yêu Cầu Thảo Trang, hoặc hình ảnh người lính gác cổng vào một trại Thiết Giáp ở Long Khánh, bên cạnh anh là một cassette nhỏ, đúng lúc giọng tôi giới thiệu chương trình. Tôi muốn ngừng lại nói với anh tôi là Thảo Trang, nhưng lại không dám, vội rảo bước đi,” bà tủm tỉm nói.

Thêm một kỷ niệm khác mà bà không thể quên được.

Bà kể: “Một trong những thính giả trung thành của tôi là Trung Sĩ Trịnh Công Âu, y tá Nhảy Dù. Anh thường viết thư yêu cầu tặng nhạc cho ‘vợ hiền yêu dấu’ bằng mực tím đặc biệt. Ði đâu, anh cũng gởi quà về tặng tôi. Ra miền Trung, anh gởi kẹo mè xửng; qua Hạ Lào, anh gởi tượng Phật về.”

(Xướng ngôn viên Hạ Hoàng Vân trong chiếc áo dài do phu nhân cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tặng. (Hình: Hạ Hoàng Vân cung cấp)

Bà lặng đi một lúc, như để dằn cơn xúc động, rồi tiếp: “Một ngày kia, năm 1974, vợ anh đến nhờ tôi giúp chị và bốn người con mau xin được tiền thất tung vì anh mất tích. Sở dĩ chị đến tìm tôi vì hay nghe chồng nhắc đến tôi và chương trình của tôi.”

Chiều hôm ấy, khi đưa người đàn bà bất hạnh này về nhà ở Trại Gia Binh Hoàng Hoa Thám, “thấy mấy đứa con anh nheo nhóc, đang lê la chơi với đám trẻ con hàng xóm, tôi thấy nghẹn ngào vô cùng. Lòng tôi đau thắt khi nghe đứa bé nói rằng nó chỉ mong có đầy đủ sách vở để đi học. Tôi chỉ giúp chị ấy một số tiền vì không biết làm gì hơn.”

Gần 42 năm trôi qua, tuổi đời chồng chất, nhưng vẫn có lúc ngồi yên lặng thật lâu nhớ về kỷ niệm và thầm ao ước được biết tác giả những cánh thư đã gửi về đài cho chương trình Nhạc Yêu Cầu do Thảo Trang phụ trách là ai, giờ này ở đâu, còn hay đã mất?
Khi lấy chồng họ Vũ, bà đổi tên là Vũ Hạ Vân. Hiện bà sống tại San Jose, California, và dành trọn thời gian vào công việc thiện nguyện cho nhà thờ. 

Người kéo dài chương trình Dạ Lan

Dạ Lan 2

Hồng Phương Lan là tên thật của cựu xướng ngôn viên Mỹ Linh, và bà cũng là Dạ Lan 2, người giúp kéo dài chương trình Dạ Lan nổi tiếng một thời cho đến ngày mất nước.
Theo nhận định của cựu Trung Tá Phạm Hậu, cựu quản đốc đài, Mỹ Linh là một trong những giọng nói lừng danh ở Sài Gòn thuở ấy.

Bà thích công việc nói chuyện trước công chúng ngay từ thời trung học. “Tôi được nhận làm xướng ngôn viên cho Ðài Tiếng Nói Quân Ðội Ðệ Nhị Quân Khu (ở Huế) từ năm 1952. Ðến năm 1957 tôi mới chuyển vào Sài Gòn, làm việc cho Ðài Tiếng Nói Quân Ðội tại số 2 bis Hồng Thập Tự,” bà kể.

Ban đầu, bà phụ trách phần tin tức, bình luận và nhạc yêu cầu.

Kỷ niệm đáng nhớ nhất của bà trong thời gian này là mùi vị ngọt ngào lẫn đắng cay khi nhận được những cánh thư của thính giả gởi về từ khắp bốn phương khi bà bắt đầu chương trình Nhạc Yêu Cầu (nhạc Việt Nam), và Nhạc Bốn Phương (nhạc ngoại quốc, gồm Anh và Pháp).
Thư ngợi khen thì rất nhiều. Những lá thư khuyến khích nên cứ giữ phong cách riêng rất dễ mến của bà cũng không ít. Nhưng thỉnh thoảng vẫn có những bức thư công kích với những lời lẽ không đẹp đẽ lọt vào tay bà.

Bà tâm sự: “Là người của công chúng, tôi luôn quan niệm rằng đã có người khen mình thì sẽ phải có người chê trách. Khen thì tôi xin cám ơn vì thấy việc mình làm được niềm nở đón nhận. Chê trách thì tôi cũng cám ơn vì đây là cơ hội tốt để mình học hỏi. Nhưng thư gởi về công kích với những câu viết thô tục thì tôi không biết phải làm gì, bởi vì mình không rút tỉa được gì cả.”

Dạ Lan 1

Ðến năm 1966, khi chương trình Dạ Lan, một chương trình dành riêng cho lính, bị gián đoạn vì xướng ngôn viên Hoàng Xuân Lan (Dạ Lan 1) xin nghỉ việc, thư từ của lính gởi về tràn ngập hằng ngày để phàn nàn và yêu cầu đài phải giữ chương trình này.

Ðể tiếp tục chương trình Dạ Lan, bà được đề cử thay thế Dạ Lan 1, và có biệt danh là Dạ Lan 2.

“Ban đầu, tôi định thử thay cô Xuân Lan một thời gian ngắn xem sao. Nhưng cấp trên thấy tôi có khả năng làm được nên giao thêm cho tôi nhiệm vụ này luôn cho đến ngày mất nước,” bà nói.
Sau biến cố 1975, chồng bà và vài người con trai vượt biên sang Mỹ. Sau đó bà và con nhỏ được bảo lãnh sang đoàn tụ gia đình.

Bây giờ bà vẫn thỉnh thoảng làm việc thiện nguyện khi có đoàn thể nào đó nhờ làm xướng ngôn viên cho các chương trình đặc biệt.
Cũng như những xướng ngôn viên cùng thời, bà luôn luôn nhạy bén thay đổi cách thể hiện kỹ thuật xướng âm sao cho phù hợp.

Bà phân tích: “Cách đọc tin tức khác hẳn với cách đọc bình luận và lại càng không giống với cách đọc thư thính giả gởi về yêu cầu nhạc. Ðọc tin, giọng nói chỉ là tường trình, không chen lẫn tình cảm. Ðọc bình luận, giọng nói phải có chút thẩm quyền, nghiêm nghị hơn và đôi khi có pha cảm xúc. Còn đọc thư thính giả thì giọng thân mật hơn, gần gũi hơn.”

Hiện ở Columbia, South Carolina, những lúc không làm việc thiện nguyện, bà thường vào Internet theo dõi tin tức.
“Tôi mê coi tin tức lắm, hết coi ở TV thì đọc tin trên Internet. Một phần vì ở đây không có đài Việt Nam,” bà nói.

Khi hỏi bà đọc tin tức như mọi người hay đọc thành tiếng như thời còn làm xướng ngôn viên, bà cười xòa: “Giọng tôi đâu còn trẻ trung như hồi xưa mà còn ham đọc như thế. Thôi, cái thời ấy qua rồi.”

Bật khóc khi đọc tin về sự tàn ác của chiến tranh

Bà Quỳnh Giao trong thời gian làm việc tại đài. (Hình: Hoàng Quỳnh Giao cung cấp)

Cựu xướng ngôn viên Hoàng Quỳnh Giao kể: “Khi bắt đầu làm việc, tôi gặp xướng ngôn viên Thảo Trang (tức Hạ Hoàng Vân), cũng vừa 20 tuổi, và kết thân ngay vì chúng tôi là những xướng ngôn viên trẻ tuổi của đài lúc ấy. Tôi đi làm sớm vì may mắn gặp cơ hội, và vì được đánh giá có giọng nói mạnh, phát âm rõ, dễ nghe.”

Nhờ giọng nói chuẩn mực và truyền cảm, bà được đọc tin tức trực tiếp ngay. “Ðọc tin ‘vivan’ (tin mới nhận) rất khó vì mình chỉ có chừng ít phút trước khi đến giờ tin tức. Trong thời gian ngắn ngủi này, tôi phải đọc lướt qua bản tin khá dài do các biên tập viên gởi xuống, nhưng phải nắm rõ nội dung, từ ý tổng quát đến từng dấu ngắt câu,” bà giải thích.

Bà nói thêm: “Khó hơn nữa, đôi khi có tin quan trọng cần loan báo ngay, dù mình không được xem trước; và đang đọc tin khác cũng phải tạm ngưng để đọc ngay tin mới.”

Một xướng ngôn viên như bà phải tự tìm cho mình một nhịp điệu tương thích cho từng bản tin.

Bà nói về “bí mật” của cái microphone thời ấy: “Nếu đặt nó thẳng hàng với miệng thì đọc xong bản tin chừng 15 phút, mình sẽ rất mệt vì bị hút hơi nhiều. Nếu đặt nó lệch quá sang một bên thì giọng sẽ rất yếu, quá nhẹ cho tin tức, nên phải đặt sao cho mình không mệt mà giọng nói vẫn không thay đổi.”

Yêu công việc, bà biết phải cố gắng vươn lên trong nghề nghiệp. “Không có trường lớp huấn luyện, tôi biết mình chỉ có cách duy nhất là phải rút tỉa kinh nghiệm từ những xướng ngôn viên đàn chị khác như Dạ Lan, Thu Hoài, Lệ Mai,” bà nói.

Cái khó khăn của bà là học hỏi từ người khác mà không được giống như họ. Học của người khác mà vẫn phải tự tạo cho mình một phong thái riêng.

Mỗi ngày với nhiệm vụ đọc tin tức và 15 phút thâu thanh cho mục Khoa Học và Văn Học Mới Trên Thế Giới, bà không tiếp xúc với thính giả nhiều như các xướng ngôn viên của những chương trình văn nghệ, tâm tình khác tại đài. “Công việc tuy không sôi động như của các chị, nhưng nhờ thế tôi có thì giờ trau dồi khả năng và làm thêm những chương trình khác cho đài,” bà nói.

“Có nhiều hôm, đọc bản tin mà tôi muốn bật khóc vì những cái chết oai hùng của các chiến sĩ, sự bi thương của những dân lành, sự tàn ác của chiến tranh, sự dã man của Việt Cộng. Ðọc những tin này như một cái máy thì lạnh lùng quá, nên tôi có pha một chút tình cảm trong đó. Ðôi khi đọc bình luận cũng vậy, tôi thường đọc với cung cách hùng biện của luật sư, cứng rắn nhưng có sức thuyết phục chứ không thể nào nhẹ nhàng hay yểu điệu như giới thiệu thơ văn, âm nhạc,” bà chia sẻ.

Theo bà, cũng là một tin, chỉ cần người đọc hơi lên giọng hay xuống giọng là thính giả sẽ hiểu xướng ngôn viên muốn nói điều gì.

Bà kể: “Khi nói chuyện về tin lũ lụt ở miền Bắc, một chị nhại giọng người miền biển để kể chuyện vui làm mọi người cười nghiêng ngửa. Khi đọc tin tức, chị vẫn nói giọng ấy, ‘nũ nụt’ thay vì ‘lũ lụt’ nên phải xin lỗi thính giả và đọc lại. Chỉ được vài câu, chị lại ‘nũ nụt’ nữa, lại phải xin lỗi và đọc lại. Tôi phải nín cười mà đọc hết bản tin. Từ đó về sau, không ai dám đùa nghịch trước khi đọc tin.”

Xướng ngôn viên Hoàng Quỳnh Giao, làm việc tại đài từ năm 1970 cho đến khi Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam.

Bà lập gia đình năm 1977, có ba người con, hai gái một trai. Bà tốt nghiệp cử nhân ngành kế toán năm 1980 tại đại học Oklahoma.

Hiện nghỉ hưu tại Phoenix, Arizona, khi rảnh rỗi, bà cùng chồng bơi lội, tập thể dục, theo dõi tin tức, xem phim, du lịch, thăm viếng người thân và bạn bè. “Tôi thích nấu ăn lắm nên cũng tốn nhiều thì giờ,” bà chia sẻ. 

Tháng Tư Ðen bao trùm đài

Kể về ngày làm việc cuối cùng ở đài vào ngày 30 Tháng Tư, 1975, bà Nguyễn Thị Thu, cựu biên tập viên tin tức, nói: “Khoảng ngày 23, 24 Tháng Tư đài đã vắng một số người. Riêng ngày 30 Tháng Tư nhốn nháo lắm. Mặc dù vậy, ông Trung Tá Văn Quang vẫn có mặt ở đài và nhân viên làm việc cho đài với tinh thần rất cao. Quản đốc đài còn ngồi đó, tin vẫn được phóng viên gửi về, biên tập viên nhận tin và xướng ngôn viên vẫn đến để đọc tin.”

“Tôi làm ca sáng nên lúc nào 7 giờ cũng có mặt, cho đến lúc nổ trái bom gần đài thì mọi người sợ quá, chạy tán loạn. Tôi cũng phóng xe chạy luôn. Lúc đó khoảng 9 giờ. Sau đó thì nghe Ðài Sài Gòn phát tin quân Cộng Sản vào đến Dinh Ðộc Lập. Như vậy là đã hết,” bà trầm giọng nói.

Bà buồn bã nói tiếp: “Mất nước, tôi hoàn toàn bất ngờ, bởi vì chúng tôi làm trong Ðài Quân Ðội nhận được tin tức hằng ngày mà. Lúc lình xình khi tin tức bay về nói là mất Ban Mê Thuột thì tôi có hoang mang, bắt đầu lo. Nhưng lúc đó quản đốc đài bảo rằng đừng lo, không có gì đâu, nếu có gì thì cố vấn Mỹ sẽ cho các nhân viên của đài đi. Vậy mà không ngờ mọi chuyện lại nhanh đến vậy.”

“Cũng vì bất ngờ mà ông Quản Ðốc Văn Quang và rất nhiều nhân viên ở lại sau ngày 30 Tháng Tư. Khi mất miền Nam Việt Nam thì biên tập viên hầu như còn lại hết, chỉ có lác đác vài người đi được thôi. Sau ngày đen tối đó chúng tôi có đến đài và có gặp lại nhau, quyến luyến cảnh tình mà bấy nhiêu năm làm việc. Nhìn thấy Cộng Sản chiếm đài mà đau lòng lắm. Họ tịch thu tất cả giấy tờ của chúng tôi và bắt chúng tôi phải ‘đi học’ ba ngày để ‘cải tạo đầu óc.’ Sau đó thì mọi người tản mác đi dần,” bà kể.

Nói về cơ duyên đến với đài, bà cho hay, sau biến cố Mậu Thân 1968, bà “may mắn xin được việc làm trong đài để vừa đi học ở trường luật vừa đi làm bán thời gian ở đài, bởi vì lúc đó đài cần người để làm nhiều chương trình. Lúc tôi vào thì có làm việc một thời gian với ông Phạm Hậu, sau khi ông qua Ðài Sài Gòn thì ông Văn Quang làm cho đến ngày mất nước.”

“Khi vào làm tôi được ông Dzương Ngọc Hoán dạy cách biên tập tin, theo dõi những tin tức từ chiến trường do các phóng viên gửi về và biên tập lại để xướng ngôn viên đọc. Một thời gian sau thì ông Văn Quang cho đi học một khóa cấp tốc về biên tập bên Ðài Sài Gòn,” bà nói.

“Thời điểm đó tin tức được lấy từ nhiều nguồn. Nếu tin từ Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị thì lấy nguyên văn, còn phóng viên gửi về thì phải ghi chép và biên lại theo lời phóng viên. Riêng những tin của phóng viên chiến trường thì sẽ phát nguyên văn bản tường trình, hoặc viết lại tùy theo tình hình chiến trường lúc đó và tùy theo trưởng ca sẽ quyết định phát tin như thế nào,” bà cho biết.

“Ðặc biệt, với những chiến trường sôi động, sẽ phát nguyên băng có giọng tường trình của phóng viên. Thường nguyên băng hay phát vào giờ tin chính lúc 7 giờ sáng hoặc 12 giờ trưa. Sau đó, những bản tin này được biên tập viên tóm tắt và phát lại vào các bản tin phụ như 2 giờ chiều hoặc 3 giờ chiều. Tuy nhiên, để có một bản tin cho xướng ngôn viên đọc thì trưởng ca sẽ quyết định việc phát tin, rồi tới trưởng ban tin tức duyệt, sau đó mới phát tin. Trưởng ban tin tức lúc đó là ông Dzương Ngọc Hoán chịu trách nhiệm chính, dưới ông có rất nhiều trưởng ca,” bà nói thêm.

Chia sẻ về cuộc sống hiện tại, bà nói: “Tôi sang Mỹ năm 1990 theo diện bảo lãnh. Anh tôi vượt biển năm 1984, sau đó bảo lãnh mẹ tôi và tôi. Lúc mới qua tôi ở Houston, Texas. Sau đó tôi dọn về Los Angeles, California, ở và làm việc 22 năm cho công ty T.J. Maxx. Nay thì tôi mới về hưu và dọn lên Roseville, trong vùng đô thị Sacramento, California, để thoải mái hơn vì ở Los Angeles xô bồ quá.” 

Thèm một không khí gia đình

Tuy chỉ làm việc cho đài vài tháng ngắn ngủi, nhưng sau 42 năm sau, bà Vũ Nguyệt Hằng, cựu biên tập viên, vẫn còn nhớ mãi không khí gia đình của ban biên tập. “Mọi người, ai ai cũng thân thiện, không ai để ý, phê bình, chỉ trích nhau cả,” bà nhắc lại một cách luyến tiếc.

“Tôi bắt đầu làm việc từ Tháng Giêng, 1975. Hôm ấy là Mùng Một, có lẽ mọi người nghỉ Tết nên không khí vô cùng tĩnh lặng. Nhưng chỉ vài hôm sau, khi được gặp bạn bè đồng sự, tôi thấy không khí thay đổi hoàn toàn. Lúc ấy mọi người tấp nập, ai làm việc nấy, đài nhộn nhịp hẳn lên,” bà nói.

Công việc hằng ngày của bà là nhận tin tức do Việt Tấn Xã gởi sang, hoặc tin từ chiến trường của các phóng viên gởi về. “Tôi phải viết lại, thu gọn những tin này để các xướng ngôn viên đọc,” bà nói. “Thượng cấp trực tiếp của tôi là nhạc sĩ Nhật Bằng.”

Vì thích văn nghệ từ thuở bé, nên từ lâu bà muốn được làm cho đài. “Khi được nhận vào làm, tôi thấy rất thích hợp cho mình. Bởi vậy tôi rất quý thời gian làm việc tại đây,” bà nói.

Bà kể: “Lúc ấy, mọi người trong ban biên tập đều có biệt danh theo những nhân vật trong truyện ‘Xì Trum’ mà rất nhiều người Sài Gòn đã đọc. Vì hay cười và hay giúp đỡ người khác, tôi được gọi là ‘Tí Vui Vẻ.’” Theo bà, đây là giai đoạn màu hồng của cuộc đời, và bà còn giữ mãi những kỷ niệm quý báu này.

Có duyên với quân đội, bà làm việc tại đài, thành hôn với quân nhân, và sang Mỹ vẫn cùng chồng tham gia những sinh hoạt quân đội.
Bà nói: “Trước năm 1975, ông xã tôi là lính Biệt Ðộng Quân. Sang đây, chúng tôi cũng tham gia sinh hoạt với các đoàn thể Biệt Ðộng Quân rất thường xuyên. Tôi thích hát giúp vui trong những dịp lễ lớn.”

Ðịnh cư tại Mỹ năm 1994, bà là chuyên viên thẩm mỹ và cùng chồng sống tại West Covina, California.
Cũng vậy, với bà Nguyễn Thanh Tuyền, cựu biên tập viên, kỷ niệm nhớ nhất khi còn làm tại đài là không khí gia đình, chan hòa tình thân
 
Bà Nguyễn Thanh Tuyền (phải) trong dịp lễ Hai Bà Trưng, năm 2016. (Hình: Nguyễn Thanh Tuyền cung cấp)

Bà kể: “Trong ban biên tập, chúng tôi đặt biệt danh cho nhau, theo tên những nhân vật trong truyện ‘Xì Trum,’ mà lúc ấy ở Sài Gòn ai cũng đọc. Sếp Dzương Ngọc Hoán là ‘Tí Vua,’ chị Yến Tuyết là ‘Tí Ðiệu,’ anh Trần Ðạm Thủy là ‘Tí Lười’ (không phải anh lười mà vì anh hay cười), và sếp Huỳnh Hữu Trung là ‘Tí Quạu,’ còn tôi là ‘Tí Cô Nương.’”

“Tình hình chiến cuộc càng lúc càng khốc liệt, nhưng chúng tôi vẫn cố gắng tìm vài giây phút nhẹ nhàng giữa những giờ làm việc căng thẳng. Lúc còn tuổi 19, 20, chúng tôi thích tán gẫu nên buổi trưa thường rủ nhau vào câu lạc bộ ăn uống, hoặc xuống ban báo chí trò chuyện. Nói chung, làm gì với nhau cũng thấy vui cả,” bà chia sẻ.

Làm việc cho đài từ năm 1972 đến ngày 27 Tháng Tư, 1975, bà theo gia đình lên tàu riêng vượt biên. Bà kể: “Ba ngày trước khi mất nước, lúc 12 giờ trưa, tàu chúng tôi nhổ neo ra hải phận quốc tế. Chúng tôi lên Ðệ Thất Hạm Ðội và chờ ở đó cho đến khi ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng rồi mới đi.”
Bà sống cùng gia đình tại Montreal, Canada, từ năm 1975 đến nay, và có văn phòng tư vấn pháp lý tại đây.
“Tôi rất thích hoạt động xã hội, là hội trưởng Hội Phụ Nữ bên này. Năm nào chúng tôi cũng cũng tổ chức giỗ cúng Hai Bà Trưng,” bà nói. “Hằng năm, cứ đến Tháng Tư Ðen là Gia Ðình Mũ Ðỏ Canada của mấy anh cựu chiến sĩ Nhảy Dù tổ chức văn nghệ gây quỹ để giúp thương phế binh ở Việt Nam, tôi luôn luôn ủng hộ.”

Tất cả những hoạt động cộng đồng này của bà là để cho thế hệ kế tiếp.
Bà tâm sự: “Tôi muốn các con tôi còn nhớ rằng mình là người Việt, và mình có một lịch sử hào hùng. Chúng ta không thể bị mất gốc.”

Nói về ngày hội ngộ của Ðài Tiếng Nói Quân Ðội sắp tới, bà nói: “Tôi mua vé và chuẩn bị mọi thứ rồi. Tôi đếm từng ngày, mong cho mau mau tới.”

Ðằng-Giao & Quốc Dũng/Người Việt
April 29, 2017