Thứ Ba, 1 tháng 9, 2020

Nhớ Cha



Bài Xướng:
Nhớ Cha

Đêm ngồi lặng lẽ nhớ về cha
Hẻm vắng thềm khuya nỗi nhạt nhòa
Bếp lửa than hồng tâm mãi lạnh
Khu vườn gió lộng nghĩa hoài xa
Rồi khi mẹ bỏ tình thôn xóm
Cũng lúc người quên chuyện cửa nhà
Chạnh mỗi trăng buồn treo trước cổng
Bao niềm trắc ẩn lại lùa qua.

Thạch Hãn
LCT 21/06/2020
***
Bài Họa:

Nhớ Cha

Lại ngóng đây ngày lễ của cha
Nhìn di ảnh bỗng lệ rưng nhòa
Con quỳ trước mộ mơ ngày cũ
Khói thoảng bên đồi gợi nỗi xa
Bữa đợi còn trơ phòng lẻ bóng
Người đi vẫn xót buổi đơn nhà
Cơn buồn lại đến khơi niềm tủi
Chỉ muốn cho đời sẽ vượt qua.

Nguyễn Gia Khanh

***
Bằi Hồi Họa:

Đời Cha

Chân trời góc biển một mình cha
Gánh nỗi đời đau tủi phận nhòa
Rã bước quan hà đêm trở lạnh
Yêu lòng phố thị buổi rời xa
Tình quê mãi đọng trong tiềm thức
Mộng cũ hoài lo cảnh nước nhà
Mỏi gót thăng trầm xuôi vạn ngã
Chưa hề mãn nguyện tháng ngày qua.

Thạch Hãn
LCT 21/06/2020
***
Nhân Ngày Của Cha

Đêm thường ướt đẫm mộ phần cha
Rỏ lệ vành khăn nếp cũ nhòa
Bóng ngả thềm trăng nhìn huyễn hoặc
Lòng đau nỗi mẹ nhớ vời xa
Thêm màu vẽ lại ngày xanh cỏ
Giữ lệ còn khơi lửa ấm nhà
Thiện tích về sau cành trổ mãi
Êm đời để tiếng tạ đò qua.

Nguyễn Thế An

***
Nhớ Cha

Những buổi mưa phùn lại nhớ cha
Ngày nao cũng vậy dưới đêm nhòa
Đan từng giỏ cá chiều đông lạnh
Ghép thẻ hom lồng giữa hạ xa
Ruộng cũ kia còn phai mảng nắng
Người xưa đã khuất nhạt hiên nhà
Đâu rồi cánh võng từng ru ngủ
Tủi bước con về lặng lẽ qua..!

Hữu Thiên
NL21/06/2020
***
Mãi Ước Bình Yên

Bài họa nghịch vận

Thăng trầm nếm trải những ngày qua
Cuộc sống gian lao cảnh vắng nhà
Mấy chục năm dài đi gối mỏi
Bao lần Tết lặng ngẫm đường xa
Vừa nghe buổi ấy mùi thơm thảo
Đã chuốc thời nay nghĩa nhạt nhòa
Mải ước yên bình luôn với mẹ
Mong nhiều sức khỏe đến cùng cha.

Long Văn
***
Bóng Hình Cha

Hương trầm khói tỏa bóng hình cha
Giọt lệ đang rơi khóe mắt nhòa
Sóng vỗ bờ quê trăn trở lạnh
Đường về mái rạ ngỡ ngàng xa
Luân thường cuộc sống gieo tâm khảm
Lễ giáo đời con nhận trước nhà
Cửa quạnh mây trời không thể khác
Bên thềm ngọn núi chở che qua.

TN 21-6-2020
Ngọc Tình
***
Nhớ Cha

Tủi mẹ đơn mình trỗi nhớ cha
Người đi để lại ánh dương nhòa
Đôi bờ sóng cuộn chao hình cũ
Lối ngõ đêm tàn gợi thuở xa
Mãi nhắc niềm xưa tình phụ tử
Nào quên cảnh túng nghĩa quê nhà
Bên thềm lặng lẽ con hoài ngóng
Một thoáng ai về... sẽ đảo qua.

0480 H, 21/6/2020
Thái Chung

Xóm Đùng

Sông Vu Gia

Quê hương, nơi tôi sinh ra ở một xóm nhỏ ven sông ở miền Trung Việt Nam. Con sông đi qua quê tôi là hạ lưu của một dòng sông lớn khởi nguồn từ dãy Trường Sơn ở phía tây, có tên là sông Vu Gia, đoạn chảy qua vùng trung du thì gọi là sông Yên, đến đoạn hạ lưu gần phía biển thì lại gọi tên theo địa phận nơi con sông chảy qua, như ở đoạn qua quê tôi thì có tên là sông Cầu Đỏ và tiếp theo về phía biển thì gọi là sông Cẩm Lệ; ngày nay các tên gọi này đã được ghi vào bản đồ của Goggle, có thể tra cứu trên mạng.

Trên bản đồ của Google có ghi tên quê tôi là "Thôn Tây An", đây là tên gọi hành chính, có nguồn gốc Hán-Việt, mang ý nghĩa mong ước sự bình yên. Nhưng quê tôi còn có một cái tên bình dân nghe rất lạ: Xóm Đùng. Lớn lên tôi có học ngành ngôn ngữ, đọc các sách về từ nguyên học, có ý truy tìm ý nghĩa của tên gọi này nhưng đến nay vẫn chưa hiểu được. "Đùng", không có vẻ gì Hán-Việt, cũng chưa tìm thấy mối liên hệ gần xa nào đến thổ ngữ Chăm, hay các cổ ngữ khác. Về địa hình thì xóm Đùng bao gồm cả khu vực làm nhà ở và ruộng vườn (cấu tạo chủ yếu trên nền đất sét) ở bờ đông nam sông Cầu Đỏ lẫn khu vực chuyên trồng hoa màu (cấu tạo chủ yếu là đất cát) ở bờ tây bắc con sông. Ông bà tôi khi đi trồng hoa màu bên kia sông thì nói là "qua bên đùng", khiến có lúc tôi nghĩ có thể "đùng" là một vùng đất cát trồng hoa màu chăng, nhưng rồi chẳng tìm thấy một định nghĩa chung nào như vậy. Gần đây, khi dự lễ cúng ở Miếu Xóm, tôi nghe đọc văn tế có đoạn "Quy đông, Quy tây, Đà ly, Nội đồng tứ xứ"; người xướng âm chữ "Nội đồng" nghe thoáng qua như "nội đùng", bất chợt tôi nghĩ hay là "Đùng" đơn giản chỉ là một cách phát âm địa phương của "Đồng" ở một thời nào đó, rồi lưu giữ đến nay chăng?

Xóm Đùng, hay thôn Tây An quê tôi, thuộc về làng Phong Lệ, một tên làng được biết đến nhiều từ thế kỷ 19 do gắn với sự nổi tiếng của danh nhân Ông Ích Khiêm, người quê làng Phong Lệ, và đến thế kỷ 20 thì còn được biết đến trên thế giới do gắn với các di tích của văn minh Champa được các nhà khảo cổ Pháp và Việt Nam phát hiện, viết bài nghiên cứu và đem hiện vật về trưng bày ở bảo tàng, ghi nguồn gốc xuất xứ "Phong Lệ, Quảng Nam".

Làng Phong Lệ

Tên gọi làng Phong Lệ xuất hiện từ thế kỷ 19 thay cho tên làng Đà Ly đã có trước đó. Trong sách địa bạ thời vua Minh Mạng đầu thế kỷ 19 còn ghi tên làng Đà Ly và đặc biệt trong bản đồ Hồng Đức (bản thế kỷ 17) có ghi tên "Đà Ly xã" bao trùm khu vực này. "Đà Ly" là cách dùng chữ Hán để ghi một âm địa phương nào đó có phát âm tương tự âm "Đà Ly" của chữ Hán. Cách thức này có thể nhận biết ở một số địa danh khác ở miền Trung Việt Nam, vốn xưa kia là vùng đất sinh sống của cư dân Champa. Đứng về mặt chiết tự thì trong chữ Đà và chữ Ly của chữ Hán đều dùng bộ "Mã"( con ngựa), người ta nói đây là lý do khiến cho các vị nhân sĩ Nho học thế kỷ 19 không thích tên gọi này mà đổi tên làng thành "Phong Lệ", có ý nghĩa là "tốt đẹp".

Tương truyền làng Phong Lệ (Đà Ly) xưa kia rất rộng lớn. Cho đến nay thì dấu vết còn lại cho thấy ít ra làng Phong Lệ đã bao trùm hầu hết các phường Hòa Thọ Đông, Hòa Thọ Tây của quận Cẩm Lệ (tên cũ gọi chung là Phong Bắc, nghĩa là khu vực bắc của Phong Lệ) và xã Hòa Châu của huyện Hòa Vang (tên cũ là Phong Nam, nghĩa là khu vực nam của Phong Lệ). Người xưa nói "thương hải biến vi tang điền" (biển xanh biến thành ruộng dâu) để nói về sự chuyển dịch nhanh chóng của địa lý và sự thay đổi kinh ngạc của mọi sự trên đời. Nghe có vẻ hơi quá, nhưng chỉ nhìn ở một làng nhỏ quê tôi, làng Phong Lệ cũng đã thấy sự đổi dời nhanh chóng. Theo lời kể của ông bà tôi, mới cách đây chưa đầy 100 năm, con sông nay gọi là sông Cầu Đỏ xưa kia chỉ là con mương nhỏ được đào ở giữa xóm, nhưng rồi dòng chảy của con nước sông Vu Gia từ thượng nguồn đã nhân con mương này mà thay đổi hướng đi, xói lở tạo thành con sông lớn chia đôi xóm Đùng thành một bờ đông nam là nhà vườn và một bờ tây bắc là đất hoa màu; đến thế hệ cha mẹ tôi thì thay vì đi "qua Đùng" bằng cầu đã phải đi qua Đùng bằng thúng (thuyền thúng). Khu vực đình, miếu của làng Phong Lệ, nguyên tọa lạc ở gần bờ sông, sau do lòng sông mở rộng, và đường quốc lộ đi qua, đã phải di dời đi nơi khác. Tôi nghe cha mẹ và các anh tôi nói chuyện về nhà "cậu Đối", "dì Hốt" và nhiều bà con khi xưa ở khu vực bờ sông, nay đi qua Cầu Đỏ, nhìn phía chân cầu chỉ thấy mênh mang một bến nước.

Ông Bà Ngoại
 Làng Túy Loan

Ngôi vườn của cha mẹ và anh em tôi ở xóm Đùng nguyên là vườn của ông bà ngoại tôi. Bà ngoại tôi người họ Dương, sinh ở làng Túy Loan. Làng Túy Loan ở về phía tây của làng Phong Lệ, cách khoảng mười ngàn mét, trước kia sách vở ghi tên làng là Thúy Loan, một cái tên Hán Việt có ý nghĩa là ngọn núi tròn, xanh biếc, rất đẹp; sau có lẽ do đọc âm "túy" khỏe hơn nên người ta đọc và ghi thành "Túy Loan" như hiện nay. Túy Loan cũng là làng ven một sông nhỏ, chạy từ miền núi phía tây xuống qua khỏi làng Túy Loan thì hợp lưu với sông Vu Gia thành dòng chung là sông Cầu Đỏ/Cẩm Lệ. 

Túy Loan xưa kia cũng là một thị tứ, nơi giao lưu buôn bán giữa miền ngược, miền xuôi; nếp sống của cư dân Túy Loan vẫn còn lưu giữ những nét có khác hơn khu vực thuần túy nông nghiệp. Khi còn nhỏ, thỉnh thoảng tôi thấy người em trai của bà ngoại tôi từ Túy Loan xuống thăm chị, chúng tôi gọi ông là "Ông Bát", theo cách gọi của mọi người dành cho ông khi ông có tước phong của triều đình Huế vào hàng bát phẩm. Ông Bát có khuôn mặt hiền hậu, trán cao, thường nói chuyện thơ văn và nhắc nhở con cháu sống đạo đức. Anh em tôi còn nhớ một câu ca ông hay đọc "Người trồng cây kiểng người chơi, Ta trồng cây Đức để đời về sau". 

Bà ngoại tôi có khuôn mặt, dáng người hiền hậu như em trai. Khi bà ngoại đã cao tuổi, có thời gian chiến tranh sống một mình ở quê nhà; tôi lúc ấy còn nhỏ được cha mẹ cho về ở lại ngủ qua đêm với bà ngoại cho vui. Buổi tối, không đèn không điện, tôi thấy bà đem những hạt cơm nguội rải trên cái trẹt đậy miệng ảng nước; bà nói để cho lũ chuột có cái ăn. Lên giường cuộn tròn trong lòng bà, tôi nghe những câu chuyện ngụ ngôn, chuyện cười, giọng bà rủ rỉ thì thầm, xen kẻ bởi những tiếng súng đi đoàng xa xa vọng lại. Tôi nghe giải thích và làm theo những tập tục như thấy bà ngoại làm. Có chuyện gì băn khoăn bà đều thì thầm khấn vái, cầu nguyện với "Ông Táo", thỉnh thoảng bà mua bát đường và chiếc bánh tráng đặt nơi bếp để cúng, tạ ơn ông Táo đã nghe và giúp đỡ chuyện bà cầu nguyện. Đêm giao thừa, bà ra giếng xách nước đổ đầy ảng nước dưới bếp, đến sáng sớm mùng một Tết, bà ra giếng xách một gàu nước đổ cho nước tràn qua miệng ảng; bà nói làm như vậy để cho quanh năm được sung túc, không bị khó khăn, thiếu thốn. Mấy ngày Tết bà không quét nhà, bà kể tôi nghe câu chuyện về hạt thóc và giải thích lý do việc không quét nhà… Nhiều câu chuyện sau này tôi đọc và cùng với ông Jim Lawson dịch ra tiếng Anh trong tập sách "Truyện dân gian Việt Nam" tôi đã được nghe bà kể ngắt quãng trong những đêm tối trời rập rình sống chết ở quê nhà.

Ông ngoại tôi người họ Lê, gốc nhiều thế hệ sinh trưởng ở làng Phong Lệ. Ông có dáng người thanh mảnh, khi tôi còn nhỏ thì râu tóc ông đã bạc. Ông hay giúp anh em chúng tôi tập làm những đồ vật khi có môn thủ công trong năm học, như đan các rổ nhỏ, dán cái quạt, làm chiếc lồng đèn hay nặn một quả cà, cái cối bằng đất sét. Tôi không biết nhiều về thời trai trẻ của ông ngoại, chỉ biết thoáng qua là ông có thời kỳ đi lính xa nhà bởi vì một lá thư của ông mà bà ngoại tôi thuộc nằm lòng. Sau này tôi hiểu rằng vào cái thời của ông ngoại, người ta viết những lá thư tâm tình ở dạng thơ ca, có thể là có sự hỗ trợ của những người có khiếu thơ; và dù thế nào thì người được nhận lá thư ấy rất xúc động và trân trọng, kể cả khi người nhận không trực tiếp đọc được mà phải nhờ có người khác đọc. Bà ngoại tôi cũng đã nhờ người đọc lá thư của ông ngoại gửi cho bà thời trai trẻ và bà nhớ mãi để đọc cho chúng tôi nghe khi ông ngoại không còn nữa. Tôi còn nhớ đoạn mở đầu của lá thư là những dòng thơ qua giọng đọc của bà:

Ngồi vườn hạnh thấy bướm ong phưởng phất,
Giục tấm lòng tả bức thơ loan
Gửi mây đưa cho tới bạn vàng
Niềm ân ái cho nàng tỏ rạng
Kể từ buổi sông Ngân ta mà gặp bạn,
Nghĩa Châu -Trần nhiều nỗi thiết tha,
Bốn phía trời mây ứng hải hà
Trong dạ ngọc lòng mà tơ tưởng
Đạo vợ chồng tình thâm nghĩa trượng
Chuyện đá vàng loan phụng vầy đôi
Đêm năm canh trong dạ bồi hồi
Nhớ ngãi nường về thăm khôn đặng
Ngày trông trời mau lên mau lặn
Đêm năm canh đốt nén hương thừa….

Những tâm hồn lãng mạn như thế nhưng cũng hết sức chu đáo, lo xa. Khi tôi còn nhỏ, tôi đã thấy ở chái hiên bên hông nhà có đặt hai chiếc hòm gỗ, gỗ thô không sơn phết. Tôi tò mò tìm hiểu thì biết đó là ông bà ngoại tôi chuẩn bị cho mình mỗi người một chiếc quan tài. Xưa kia thời cuộc bất trắc, nghèo giàu bấp bênh, người ta dự phòng lúc chết, có sẵn quan tài đã chuẩn bị trước thì đỡ phần lo cho con cháu; cái "hòm gỗ thô" dự phòng ấy được gọi là "thọ đường" (ngôi nhà cầu sống lâu) chứ không gọi là "quan tài". Tuy vậy nhưng khi tôi lớn lên thì ông bà ngoại tôi vẫn con khỏe và hai cái thọ đường ấy cũng bị hư hỏng theo thời gian, khi ông bà ngoại tôi qua đời thì đều có quan tài đóng mới.

Võ Văn Thắng

Thứ Hai, 31 tháng 8, 2020

Hoa Hồng Trắng -Thơ Lồng Nhạc - Huỳnh Hữu Đức




Thơ: Quên Đi
Thực Hiện: Huỳnh Hữu Đức

Người Với Người



Làm người phải nhớ công ơn
Nhớ Người nuôi dưỡng khi còn ấu thơ
Nhớ khi còn tuổi dại khờ
Nhớ Người sớm tối bơ phờ vì con
Nhớ Người ốm yếu gầy mòn
Vì ai Họ đã héo hon thân già
Nhớ Người mỏi gánh đường xa
Lưng còng tần tảo cho ta đủ đầy
Nhớ Người thân xác hao gầy
Dầm sương dãi nắng tháng ngày gian lao
Ru ta tiếng hát ngọt ngào
Dạy ta đèn sách, thưa chào nói năng
Chăm lo từng bữa khi ăn
Từng đêm khi ngủ nhọc nhằn khi chơi.
Lớn lên tập tễnh vào đời
Gả chồng cưới vợ chưa ngơi phận già
Còn thêm giữ cháu trông nhà,
Nấu ăn, dọn dẹp chẳng tha việc nào
Thân già mệt nhọc biết bao
Thương con quý cháu lẽ nào làm ngơ.
Tuổi già ngày tháng trông chờ
Ốm đau thang thuốc mong nhờ đàn con
Mắt mờ trông mỏi trông mòn
Đứa nào cũng bận chẳng còn viếng thăm
Uống ăn, đi đứng, ngồi nằm.
Một mình lủi thủi tháng năm một mình.
Làm người sao nỡ vô tình
Có qua có lại sao đành giả ngơ
Công cha nghĩa mẹ vô bờ
Trẻ nhờ cha mẹ già nhờ đàn con
Lẽ nào tình nghĩa không còn
Mẹ cha già yếu… phận con nghĩ gì ?
Con người: “Sanh Ký, Tử Quy”
Ngậm mgùi với phận, điều chi chẳng màng
Qua rồi một kiếp gian nan
Nợ đời trả hết thanh nhàn mà đi
Xin đừng nghĩ, xin đừng suy
Bận lòng phút cuối một khi ta về
Tình người cũng lắm ê chề
Đời người cũng lắm nhiêu khê một đời.

Nguyễn Thành Tài
(Mùa Vu Lan)

Xa Rồi Thuở Ấy



Dòng Sông Rạch Bàng, thuộc Xã Đức Mỹ, Quận Càng Long, Tỉnh Vĩnh Bình

Nhắc chi con nước Rạch Bàng
Ôm kỷ niệm cũ ngút ngàn đáy sông
Một thời êm ái lớn ròng
Xa rồi dĩ vãng sầu đong càng đầy
Vườn ngoại cau trắng trầu cay
Vẫn mong ai đó mang khay trầu người
Mơ đời hoa mộng xuân tươi
Thời gian chẳng đợi buồn ơi...là buồn
Nước đi lại trở về nguồn
Người đi cách trở xa muôn dặm ngàn
Đêm đêm vò võ canh tàn
Đơn côi chiếc bóng thở than riêng mình
Rạch Bàng một thuở ôi tình
Dòng sông còn đó chuyển mình luân lưu
Lời xưa nhẹ thoáng như ru
Như hờn như trách như u uất lòng
Cố hương vời vợi xa trông
Bè mơ thả lại dòng sông hôm nào
Để nghe sóng nước rì rào
Để vơi một ít nỗi đau cuối đời


Sông Rạch Bàng Trước Nhà Ngoại Nhìn Về Hướng Phía Tay Trái


Phía Bên Kia Sông Rạch Bàng, Đối Diện Nhà Ngoại


Chiếc Cầu Bằng Xi Măng Thay Cầu Ván Trước Nhà Ngoại


Xuồng Lưới Cá Trên Sông Rạch Bàng Trước Nhà Ngoại

Thơ & Ảnh: Kim Phượng
(Cảm tác từ Lạc Bước Hồng Hoang của Dương Hồng Thủy)

Vượt Biển Mùa Vu Lan



Tháng năm vượt biển một mình
Ngậm ngùi mà nhớ bóng hình mẹ cha
Từ đây con đã mãi xa
Ngồi nhìn sóng biển lệ nhoà ướt mi
Tuổi ấu thơ đến xuân thì
Áo cơm học vấn chuyện gì của con
Điều do ba má lo toan
Đôi mươi biệt xứ chưa tròn hiếu ân
Bao nhiêu chăm sóc ân cần
Miễn con no ấm song thân chẳng nề
Mưa khuya nắng sớm đi về..
Dù cho cực khổ trăm bề quản chí
Ngày con cất bước ra đi
Lặng thầm không nói, nói chi cũng buồn!
Nghẹn ngào nước mắt trào tuông
Từ đây vĩnh biệt cội nguồn...Việt Nam.

Trúc Lan KTP & Phương Phù
05-2020

Hiền Mẫu Kính Yêu



Ngày Lễ Mẹ, miên man tưởng nhớ
Quê hương xa xôi mờ khuất chân trời
Con nhớ quá, mẹ ơi, con nhớ quá!
Những tháng ngày thơ đầm ấm xa xôi..

Đồng ruộng cũ có còn xanh lúa mạ
Vườn tược xưa chắc vẫn đẹp quê nghèo
Cha yêu thương còn cày sâu cuốc bẫm,
Hay yếu dần vì sức lực gieo neo ?

Phá Tam Giang có còn trong hay đục
Cá bống tới mùa, lưới được bao nhiêu?
Nhớ thuở ấu thơ, mỗi lần con ốm
Mẹ hiền nấu cháo, cá bống kho tiêu..

Cá bống kho tiêu mặn mà như nghĩa mẹ
Con ăn vào thấy ấm cả buồng tim
Mẹ thương con như biển hồ lai láng
Con ra đi theo năm tháng im lìm..

Chiều viễn xứ, mưa buồn - Ngày Lễ Mẹ
Hồn ly hương thấm lạnh giữa âm u
Mẹ có còn âu sầu bên ngưỡng cửa
Ngóng trông con trong gió bụi mịt mù?

Mái tóc mẹ già chắc thêm nhiều sợi bạc
Khuôn mặt u buồn, chồng chất những đường nhăn
Từng đêm nguyện cầu lần theo chuổi hạt
Âm thầm thương nhớ thao thức băn khoăn…

Thương mẹ lắm nhưng làm sao trở lại?
Con lỡ trôi trên sóng nước một chiều
Xin trải lòng con dâng lên Đức Mẹ
Xin Mẹ quan phòng: Hiền mẫu kính yêu…

Duy Quang

Má Tôi


Xin chia sẻ cậu chuyện thật về mẹ mình mà Liên Hương vẫn gọi là Má, theo lối trong nam, dù là gia đình gốc Nghệ An, vào Nam từ năm 1943. 
Má tôi rất nhỏ con, cao chưa đến 1,5m, nhẹ hều, chưa đến 40 kg, trình độ vừa biết đọc biết viết và nói nhỏ, nói ít, vậy mà có ảnh hưởng lớn nhất và có công đầu trong gia đình.
Ông ngoại tôi chết sớm, bà ngoại có 3 người con, má tôi là con đầu và là con gái độc nhất, cậu út mồ côi từ khi còn trong bụng mẹ nên được đặt tên là Nguyễn Hữu Côi.
Má tôi theo bà ngoại buôn bán kiểu tiểu thương. Có lẽ nhìn nét hiền thục đảm đang của Má, cô tôi nhắm Má cho cậu em trai út của mình, cũng mồ côi cha từ lúc 10 tháng tuổi.

Ngày hợp hôn mới biết mặt nhau!
Má tôi theo chồng vào Phan thiết rồi không bao giờ còn có dịp về quê cũ thăm mẹ thăm em nữa!
Nhớ đến những ngày phải xa cha mẹ, xa em, vào Sàigòn học, tôi quặn lòng nghĩ đến sự cô đơn của Má. Thời đó, Má không có lấy được một người bà con, một người bạn ở gần để tâm tình, chia sẻ, nâng đỡ hay hỏi ý kiến. Má cũng đâu có thì giờ và cơ hội để đọc sách, nghe nhạc, xem TV hay đi chơi đâu đó như bây giờ. Má vùi đầu trong bổn phận làm dâu, làm vợ, làm mẹ, làm bà trong nửa thế kỷ rồi mới có dịp nhìn lại quãng đường đã qua... 
Tôi cũng hiểu tại sao ngày lấy chồng, người con gái thường phải khóc: "Khấp như thiếu nữ vu quy nhật"! 
Bà nội tôi vào nam thăm tôi vừa mới sanh rồi kẹt lại ở miền nam từ năm 45. Bà làm góa phụ khi chưa đến tuổi 30. Bà không có vốn, không có nghề, phải tiếp tục làm dâu sau khi chồng chết để có chổ ăn, chổ ở cho 3 đứa con thơ dại. Đó là một quãng đời tội nghiệp, chỉ là người làm không công mà lại còn mang tiếng là nương nhờ, là gánh nặng. Không một ai quan tâm đến vai trò của bà, lúc nào cũng bị xem thường, quen bị đối xử ghẻ lạnh, thiệt thòi. Nỗi chua xót bà mang theo cho đến cuối đời: Lúc nào bà cũng khó khăn cay nghiệt! 

Sự im lặng ít nói của má tôi cũng là cái cớ cho bà đay nghiến. Nhiều khi xót mẹ, tôi hỏi bà: Má hiền quá mà sao bà không thương?
Bà trả lời: Mẹ mi làm dâu có một mình tao! Hồi đó tao phải làm dâu cả họ nhà chồng!
Khi tôi nghịch ngợm hồn nhiên, miệng cười nói, nhảy chân sáo, bà bảo: Nữa mi lấy chồng, người ta sẽ chưởi mẹ mi, không dạy mi, có con gái vô duyên: Vô duyên chưa nói đã cười, chưa đi đã chạy là người vô duyên!
Ba tôi giải thích: Con phải thương bà vì bà không khôn, có phúc mà không biết hưởng.
Ba tôi năn nỉ má tôi: Mình thương tôi thì ráng nhịn mẹ, tính mẹ khó, tôi hiểu.
Có lẽ để đền ơn và đền bù cho vợ, ba tôi rất mực trung thành và phụ lo con cái rất chu đáo.

Lần lượt 9 đứa con chui ra từ thân mình người mẹ ốm o, nhỏ bé. Má tôi kể: Cứ một đứa đi lẩm đẩm thì lại chớm bầu, má lạnh toát cả người, không biết làm sao mà lo nỗi. Nhưng rồi lấy tay xoa bụng, lại thấy thương! 
Xoay sở bằng đồng lương công chức khiêm tốn của ba tôi với mẹ chồng là giám thị và 9 đứa con, gánh nặng oằn vai khiến Má tôi càng ngày càng nhỏ bé hơn. Đã nhỏ con, Má tôi lại hiền lành, ít nói. Bà như chìm lẫn trong lũ con đông xô bồ ồn ào đang tuổi lớn.
Khi Ba tôi và bầy con ngồi gác chân lên bàn, kể chuyện, ngâm thơ, bình phẩm, chọc ghẹo nhau, má tôi chỉ ngồi cười! Chắc Má tôi đang nhâm nhi hạnh phúc theo cách riêng của bà.
Khi tụi tôi lầm lỗi, chướng kỳ, gây gổ nhau... Má tôi chỉ rầy chứ không đánh, không bao giờ mắng nhiếc nặng lời. Cái món trừng phạt mà tụi tôi ớn nhất là Má tôi... khóc. 

Má tôi nuôi dưỡng chín đứa con bằng tấm lòng trường kỳ tận tụy hy sinh, nhường ăn nhịn mặc. Bây giờ các con có phụng dưỡng, Má tôi cũng chẳng hưởng được bao nhiêu vì thói quen tằn tiện và bao tử thì nhỏ lại vì chỉ quen những thức ăn đạm bạc.
Bữa ăn ở nhà, Má cứ loay hoay vì bà nội chưa chịu ngồi vào bàn, Má tôi ngại vô phép. Khi bữa ăn gần tàn thì Má tôi chỉ chan vào chút nước thịt kho, vét chút rau xào, chút nước canh, và nhanh cho lấy có! 
Nhớ hồi đi học trường Đoàn thị Điểm, Huế, tôi càng thương Má hơn. Me của tụi bạn gốc là tiểu thư khuê các, ăn mặc lụa là, người hầu kẻ hạ. 
Má tôi thường mua 2 cái nón. Tôi đội mau rách, mau cũ, Má tôi lại đổi cho đến khi 2 cái nón cùng cũ rách mới mua 2 cái mới. Mùa đông, Má tôi thường mặc một cái áo dạ cũ màu nâu. Nhớ lại thì lúc đó Má chỉ khoảng 30 tuổi!
Sau năm 54, được tin từ một người bà con di cư, Má tôi đã chịu một cú sốc lớn. Cậu lớn mất tích khi theo cuộc Cách mạng Mùa Thu. Bà ngoại tôi chết sau một đêm kiệt lực vì dịch tả, cậu Út mới 15 tuổi, gởi nhà cửa, gia tài cho một người bà con rồi ra đi, tìm chị, tìm anh! Má tôi kiệt quệ, đau ốm liên miên. Chúng tôi thì còn quá khờ dại, chẳng biết nói một câu, làm một việc nhỏ gì để an ủi, nâng đỡ tinh thần Má!
Ra đi theo chồng vào miền nam rồi chiến tranh, phân cách, Má tôi đã mất trọn gia đình mình gồm mẹ và 2 em. Gia đình bà ngoại tôi gần như xóa sổ! 

Tôi nhớ những buổi sáng nghỉ học, ngồi chồm hổm cạnh giếng xem Má giặt quần áo. 2 chậu thau lớn hết cỡ, Má ngâm nước rồi xát xà phòng vào từng mảnh áo quần và ủ lại. Kế tiếp là vò và xả. Những gàu nước nặng trĩu kéo liên tục từ một giếng nước sâu. Má tôi không cho các con làm phụ vì sợ con té xuống giếng. Xả sạch rồi phải dương hay hồ lơ, dùng một miếng giấy màu xanh đậm pha vào nước để áo quần có màu xanh nhạt thay vì màu vàng cũ. Rồi vắt, giũ và phơi trên một sợi dây kẽm, giữ lại bằng những cái kẹp gỗ cho gió khỏi cuốn bay! Quần áo phần lớn là vải trắng và mỗi người chỉ có vài bộ nên phải giặt hàng ngày và sau đó phải ủi bằng bàn ủi quạt than. Có lần Má tôi vui mừng chỉ cho tôi một sản phẩm "tuyệt vời": thuốc tẩy Eau de Javel, giúp quần áo lem luốc của chúng tôi trông dễ coi hơn. Thằng Út Bờm nhà tôi cười: Bà ngoại mình người nhỏ xíu mà 2 bàn tay bự tổ chảng! Nội chuyện vo và giặt mớ quần áo lấm lem của lũ con cũng đủ làm cho bàn tay Má ... nở nang quá khổ!

Má tôi đi chợ hàng ngày, chọn lọc những thực phẩm tốt nhất với một ngân quỹ khiêm tốn. Má dạy tôi chọn ngọn rau, trái dưa, miếng thịt, con cá sao cho tươi ngon. Má giảng rất khoa học làm tôi nhớ mãi và dễ dàng ứng dụng: trái dưa chuột non thì chưa tròn và còn gai nho nhỏ vì chưa phát triển hết mức! Con cá tươi thì mắt trong, mình láng lẩy, biêng biếc... Chỉ nhìn xa xa để chọn lựa thay vì lục tung cả mớ rau quả, thịt cá. Nhìn bằng mắt cũng đủ để thẩm định tươi, ươn, non, già, mới, cũ ... Má tôi thuộc làu những tên tuổi và tính chất từng thức ăn và giải thích từng miếng thịt, đùi trước, đùi sau, nạc thăn, nạc lưng, nạc vai, ba chỉ,... ở vị thế nào, tại sao săn, dai, mềm... Và nấu món nào thì phải dùng loại nào, tại sao... ? 

Đi chợ, xa gần gì Má cũng ráng đi bộ, mặc một chiếc áo dài cũ. Chỉ khi mua nặng quá, Má mới đi xích lô. Những ngày nghỉ học, Chúng tôi thường chờ Má trước cổng nhà, vừa xách giỏ dùm, vừa thò tay lục quà: một ít me, ổi hay kẹo cau, chuối... "Trông như trông mẹ về chợ!"
Tôi cũng bùi ngùi khi nghe Ba tôi ngâm nga:

"Mẹ người phú quý vinh hoa
Mẹ người đi chợ thì ta không mừng
Mẹ ta đói rách trăm từng
Mẹ ta đi chợ, ta mừng mẹ ta!"

Má tôi ru con bằng Kiều, Chinh phụ ngâm và thơ của Nguyễn Bính... Nhờ vậy chúng tôi ít phải tốn công học thuộc lòng thơ của chương trình trung học.
Chồng tôi phát biểu: "Má ... thông minh, có lẽ vì vậy mà mấy chị em đều học được"
Ngày anh ở tù tại trại giam Yên định, Thiệu yên, Thanh hóa, Má tôi lần mò đi thăm dù chưa có giấy phép thăm nuôi vì lúc đó đã có tin là tù nhân lác đác chết vì đói, trong đó có thầy Quế, là anh ruột của chồng tôi.. Má tôi viện cớ: 
"Về Nghệ an thăm quê thì đương nhiên phải ghé Thanh hóa thăm con rể. Nhà nước có tình có lý lắm mà! Con tôi đi học tập chứ có phải tù tội gì đâu!" 
Rốt cuộc thấy bà nằm vạ, không chịu về, buộc lòng cán bộ quản trại phải cho phép bà gặp mặt, đưa quà!
Mua nhà tại Mỹ, tôi khoe với Má qua điện thoại về giá nhà, tiền đầu và tiền trả hàng tháng, thời gian trả... Má tôi bảo: Con ráng trả thêm mỗi tháng đi, trả như thế thì phần lớn là tiền lời, bao giờ mới trả hết vốn!

Đi khám bệnh, nghe ông Bs nói chuyện ngoài lề, rằng nhà này người ta trả ... bao nhiêu cây vàng đó, mà chưa biết tính sao! Má tôi bảo ông: Bs bán đi, mua một nhà ở quận tốt hơn, sửa sang lại, còn lời thêm được mấy cây nữa! Ông ngớ ra vì bà già tính nhẩm tức thì, nghe rất hợp lý! 
Má tôi thường cho mấy bà hàng rong mượn (chứ không phải vay) chút tiền để mua thêm hàng mà bán kiếm thêm chút lời. Mấy người biết chuyện, can: Coi chừng họ giựt! Má tôi bảo: Không sao đâu, có nhịn chút đỉnh, chồng con tôi cũng không đói! Hình như má tôi chưa bao giờ mất những món tiền nho nhỏ này! Có người mượn vài hôm đã đem trả lại và cho biết: Có bà con nước ngoài mới cho tiền, trả lại để ngoại giúp cho người khác!

Ông T. là một người bạn vong niên của Ba tôi. Ở tù về, ông xơ xác còm cõi, bầy con nheo nhóc. Ông ghé thăm Ba Má tôi và mượn một món tiền đáng kể để làm vốn. Bẳng đi một thời gian khá lâu, không thấy ông trở lại, Má tôi chép miệng: Sợ ông ấy thua lỗ mất hết vốn liếng nên ngại không dám ghé thăm mình, thiệt tội quá! Một thời gian sau, ông T. ghé lại, cầm một cọc tiền toàn giấy lẻ, nhăn nheo mà cố vuốt cho thẳng, trả lại cho Má tôi. Bà cầm xấp tiền vào trong cất, nghẹn ngào bảo: Chắc ông gom hết tiền mấy đứa con bán vé số và thuốc lá lẻ đây! Sau đó Bà lấy một số tiền tương đương bằng giấy trăm, bỏ vào phong bì, đưa lại cho ông T. Bà bảo: Tiền ông mượn tôi, ông đã thanh toán sòng phẳng. Đây là quà tôi biếu bà và mấy cháu, ông không được từ chối! Cả hai đều xúc động rưng rưng nước mắt. Tôi ngạc nhiên: Nếu địa vị tôi thì tôi sẽ đưa lại nguyên cọc tiền lẻ kia để biếu ông T. Làm sao tôi có thể nghĩ ra là lấy xấp tiền chẳn, bỏ vào phong bì! Má tôi đã xử rất đẹp!

Chúng tôi đã thật sự lớn khôn, đã có con, thậm chỉ có cháu nhưng người mẹ nhỏ bé của chúng tôi vẫn lớn lao, bao trùm mọi ảnh hưởng. Bà không có cái uy mà có cái tình, cái đức. Chúng tôi tự nhiên gìn giữ mọi khuôn thước chỉ vì ngại làm cho Má buồn. 
Tôi vẫn mừng vì chuyện vượt thoát của gia đình chúng tôi được cứu giúp vào phút chót. Nếu mất bầy con cháu này, chắc Má tôi không sống nỗi.

Xin Cảm tạ Trời Phật, gia đình tôi không gặp cảnh "Tre khóc măng"!
Má đã đi xa, nhưng Má vẫn còn ở lại! Má ơi!

Liên Hương
Sau ngày mất Má.

Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2020

Trích Đoạn Kim Vân Kiều, Kim Trúc Trình Bày



Kim Trúc: Trình Bày

Đợi Chờ



Chiều trôi qua ngõ không em
Đường dài hun hút lạnh mềm gót chân
Tiếng chim thắc thỏm lời ngân
Chiều trôi qua phố tình nhân u hoài

Chợt thèm một mái tóc dài
Hương bay ngan ngát qua vai hẹn hò
Ly cà phê khuấy thơm tho
Tay tình như thả đường vô ngọt ngào

Chợt thèm đôi má đỏ au
Nụ hôn cháy bỏng đỏ màu son môi
Chợt thèm giây phút bồi hồi
Chờ em tím cả bầu trời nhớ nhung

Phố buồn cây đứng dửng dưng
Như là làn gió chưa từng bay qua
Nhớ em chiều rối cành hoa
Vòng tay chờ đợi nõn nà yêu thương

Người đi để gió mây buồn
Và tôi trong bóng hoàng hôn đợi chờ
Một mình dưới nắng vàng mơ
Bóng chiều nghiêng ngả đôi bờ chiêm bao

Thu về lá rụng xạc xào
Lá vàng rơi dọc lối vào tình xưa
Về đi em gió chuyển mùa
Gùi theo thương nhớ lòng ngơ ngẩn lòng

Trầm Vân

Người Con Gái Hiroshima



Trái bom nguyên tử đầu tiên thả xuống Hiroshima
Thành phố trở thành biển lửa
Có cậu bé sống sót cùng năm người khác

Quá nửa thế kỷ sau
Tôi gặp người con gái của cậu bé ấy
Trên Hải Đảo Thần Tiên
Và nhanh chóng
Chúng tôi thành đôi bạn vong niên

Hỏi nàng có sao không
Vụ phóng xạ nguyên tử ấy?
Nàng cười bảo chẳng sao
Cứ nhìn người tôi thì thấy

Nàng xinh như đóa hoa anh đào
Lung linh trên sườn núi Phú Sĩ
Tình cảm nàng cũng ngọt ngào
Đủ để say lòng chiến sĩ

Rồi nàng đi hứa hẹn năm sau
Trở lại Trường nối lại mối tình đầu
Lời hẹn ước e rằng khó thực hiện
Kinh Tế Phù Tang xuống rồi còn đâu!
Nhưng đúng ngày nàng vẫn đứng chờ tôi
Trên hành lang lớp học
Như năm xưa gặp gỡ lần đầu

Nàng giao hẹn
Ta có riêng một ngày hàn huyên cùng nhau
Hai ngày kia là dùng di chuyển ...
Em chỉ xin phép được ba ngày trước sau
Người con gái xứ Hoa Anh Đào
Mong manh như cánh hoa trước gió
Nhưng luôn giữ lời ước hẹn cùng nhau

Locphuc.

Một Góc Trời Đâu Đó




Ngã tư đường không làm tôi bối rối
Rẽ lối nào đều dắt đến yêu thương
Về phía trái tìm thấy rừng sách vở
Phía mặt rạng ngời gương sáng kiên cường

Thẳng trước mặt một góc trời nhỏ bé
Nhưng đậm tình một thuở yêu người
Dĩa bò bía , đu đủ bào, ly nước mía
Tô phở tái nạm gầu béo ngậy mê tơi!

Người tôi yêu, những góc trời giản dị
Mà sao mênh mông tình thắm tứ sâu
Nghiệt ngã xa nhau ngàn đời vĩnh biệt
Nhớ người nhiều! Giờ ... người ở nơi đâu?

Anh Tú
August 22, 2020
***
Nhớ Sài Gòn Quá Đỗi

Nhìn bức hình nhớ Sài Gòn quá đỗi
Nơi bến xe lam dẫn lối đi về
Em tan sở từ kho năm Khánh Hội
Khi đón muộn - nàng nũng nịu ủ ê.

Tôi thường dỗ dành bằng điã bò pía
Rồi gọi luôn ly nước mía Viễn Đông
Có khi hai đứa lội dài ra phía chợ
Xem hai phim tại Lê Lợi năm đồng!

Cũng có khi hết phim ra Thanh Bạch
Hai dứa uống cà phê cạnh lề đường
Cũng có lần ghé vào cửa hàng sách
Tặng nàng quyển thơ “ mở lối yêu thương” !

Quyển sách ngày nào chắc không còn giữ
Cũng như người đã mờ nhạt trong tim
Cám ơn Thầy bức hình đời lữ thứ
Chuyện ngày xưa ký ức mãi đi tìm !...

Dương hồng Thủy
23/08/2020

Melbourne Vào Đông - Quan San Cách Biệt - Tình Nhớ



(Ảnh: Kim Oanh)

Xướng:

Melbourne Vào Đông 

Melbourne vừa mới bước vào đông
Cái lạnh cắt da buốt cả lòng
Hiu hắt hàng cây trơ trụi lá
Một mình lặng lẽ chỉ hoài trông...!

Yarra con nước lửng lờ trôi
Có thấu tình riêng những ngậm ngùi
Cảnh vật lặng im lòng dậy sóng
Nhớ người biết đến thuở nào nguôi...!


Kim Oanh
ĐôngMelbourne 2020
***
Bài Họa:

Quan San Cách Biệt


Bên ni cuối hạ, nớ sang đông
Xa cách nhau chi buốt cả lòng
Hai kẻ hai đầu Nam với Bắc
Chim trời dõi bóng vợi vời trông

Dưới sông, sóng lượn cứ trôi trôi
Bóng lẻ cô đơn luống luống ngùi

Sóng nước trời mây, đời cách biệt
Buồn ơi! buồn biết mấy! nào nguôi?


Sao Khuê
***
Tình Nhớ

Sương rơi phớt nhẹ nắng tàn đông
Man mác hoàng hôn tím buốt lòng
Sáo đã sang sông đò lỡ chuyến
Thương người ở lại mỏi mòn trông

Tháng năm biền biệt lạnh lùng trôi
Kẻ đợi bên ni luyến tiếc ngùi
Hoa bí úa vàng, gây nỗi nhớ
Bao năm tình lỡ dạ nào nguôi?!


Kim Dung
(15/8/2020)

Chuyện Tình Trương Chi Và Mỵ Nương



Mời quý bạn hãy nghe tôi kể chuyện
Một cuộc tình ngang trái rất đau thương
Của Trương Chi và Quận Chúa Mỵ Nương:


Vị Tể Tướng nọ có người ái nữ
Ngài thương yêu, trân quý nhứt cõi đời
Danh phận nàng là Mỵ Nương Quận Chúa
Một vị Tiểu thơ sắc nước, hương trời.
Phụ thân nàng muốn cho con thoải mái
Tạo cho nàng ngôi nhà cạnh bờ sông.

Trương Chi, chàng trai sống nghề lưới cá
Lam lũ làm ăn, nối nghiệp ông cha
Sắc diện Trương Chi trông rất xấu xa
Nhưng chàng có tài hát ca, thổi sáo.

Đêm đêm Trương Chi chèo thuyền chài cá
Trên khúc sông gần nhà của Mỵ Nương.
Trong đêm vắng, chàng thổi sáo giải buồn
Tiếng sáo bổng trầm, ai oán thê lương
Bay theo gió đến tận tai Quận Chúa
Nàng nghe lòng mình như tỉnh, như mê
Đêm từng đêm Quận Chúa thức chờ nghe.
Dần dần nàng thầm yêu người thổi sáo
Dầu hai người chưa một lần gặp mặt.

Bỗng đâu tiếng sáo thình lình vắng bặt
Vì Trương Chi đã thay đổi khúc sông.
Tương tư tiếng sáo, Mỵ Nương ngã bịnh
Bao thần y cứu chữa cũng không lành.
Hỏi đám nữ tỳ, mới rõ ngọn ngành
Quận Chúa Mỵ Nương tương tư tiếng sáo.

Cha nàng tìm Trương Chi nhờ trở lại
Thổi sáo cứu dùm ái nữ của Ngài.
Nghe tiếng sáo xa, nàng không hả dạ
Quận Chúa Mỵ Nương xin với Cha già
Cho nàng được gặp mặt người thổi sáo.

Thấy mặt Trương Chi, Mỵ Nương thất vọng
Thực tế chán chường, mộng vỡ tan tành
Chứng bịnh tương tư, không trị mà lành.
Đến lượt Trương Chi mê mẩn tâm thần
Trước sắc đẹp của Mỵ Nương Quận Chúa.
Quên phận mình nghèo, xấu xí, thấp hèn
Trương Chi đem lòng thầm thương trộm nhớ
Chàng ngỏ lời, bị Mỵ Nương từ chối
Trương Chi tương tư ngã bịnh qua đời
Xác Trương Chi nằm trong thuyền trôi nổi.

Quận Chúa Mỵ Nương động lòng trắc ẩn
Xây cho Trương Chi một nấm mộ phần
Thuê dân làng an táng người xấu số.
Thân xác Trương Chi rữa nát rã rời
Nhưng quả tim thành viên ngọc sáng ngời.
Được làm thành một cái ly trong suốt
Để Mỵ Nương hằng ngày dùng uống nước.

Một hôm nọ, bỗng hiện trong ly nước
Hình ảnh Trương Chi bơi chiếc thuyền chài
Mỵ Nương còn nghe văng vẳng bên tai
Tiếng sáo Trương Chi ngậm ngùi ai oán.
Vì quá xúc động Mỵ Nương bật khóc
Nước mắt nàng làm ly ngọc rã tan.
Hồn Trương Chi từ đó được tiêu diêu
Giữ trong tim giọt lệ của người yêu.

Trần Gò Công/Lão Mã Sơn

Tiếc Ngày Xanh



Trong một bữa tiệc, ngồi cùng bàn, anh chủ bút Thân Trọng An, Trần Mộng Lâm và tôi đột nhiên có ý làm một số TSYS đặc biệt nói về tờ Tình Thương của trường Y Khoa Đại Học ngày xưa. Đó là báo do sinh viên Y Khoa chủ trương, ra đời khoảng giữa năm 63, khi tôi bắt đầu năm thứ ba. Trong 3 năm đầu (PCB, Y Khoa 1 và 2) mọi người đều bận rộn, học cours, thực tập, đi nhà thương, cong lưng học vì bài vở chất cao như núi; năm thứ ba coi như được nghỉ giải lao, chúng tôi đều thoải mái, nên có thì giờ ủng hộ và tham gia để tờ báo của trường được thêm uy tín và giá trị.

Gần 55 năm đã qua, lại sắp đến tuổi cổ lai hy, trí nhớ có nhiều lỗ hổng, những gì tôi viết ra đây có thể không đúng hoàn toàn, nhưng đó cũng là kỷ niệm đẹp, mỗi khi nghĩ tới, tôi lại thấy lòng xúc động bồi hồi.

Tờ Tình Thương in khổ lớn, cỡ tờ Quốc Gia của cộng đồng Montréal hoặc tờ Văn Nghệ Tiền Phong - phần trình bày, vẽ tranh hí hoạ do Lê Thành Ý (Lisa) và Bùi Thế Khải (Kathy), đôi khi có sự đóng góp của Hoàng Thiện Căn và Nguyễn Vĩnh Đức (anh Căn qua qua đời tại Mỹ, anh Đức qua đời tại Canada cách đây mấy năm). Coi tranh của Lisa và Kathy, mọi người cười sảng khoái – anh Đức vẽ với nhiều chủ đề; Căn chỉ vẽ con gái, cô nào cũng đẹp và nhu mì (ở ngoài đời thì không hẳn vậy!)

Chủ nhiệm Tình Thương là Phạm Đình Vy – Ngô Thế Vinh là chủ bút. Lúc đó Vinh đã khá nổi tiếng với cuốn Mây bão, cuốn Vòng đai xanh chưa ra đời. Anh thường viết xã luận, nói nhiều việc liên quan đến chính trị, tranh đấu là những thứ mà tôi không mấy hứng thú. Sau này mới biết anh là người rất có lòng với đất nước, dân tộc, và tầm nhìn của anh xa hơn tôi rất nhiều.

Bỉnh bút của Tình Thương vô cùng đông đảo, tôi chỉ nhớ được một số ít: Thầy Trần Ngọc Ninh, chị Vũ Thị Thoa, các anh Trần Xuân Ninh, Lê Sĩ Quang, Hà Ngọc Thuần. Các anh Trang Châu, Phương Tuấn, Đỗ Hữu Tước làm thơ viết truyện ngắn. Anh Nguyễn Vĩnh Đức làm thơ, vẽ tranh, nhưng chuyên trị truyện dịch.

Anh Nghiêm Sỹ Tuấn hay viết truyện ngắn. Truyện của anh nặng nề, nhiều triết lý và rất buồn thảm. Có lẽ đó là vận mệnh của anh: khi ra trường đi nhảy dù rồi bỏ mình nơi chiến địa.
Trần Đoàn & Phan Nhơn viết loạt bài “thằng cu hay cái bướm” để chỉ cách sinh con trai hay con gái theo ý muốn.
Đặng Đức Nghiêm, sau tôi một lớp viết về những kỷ niệm khi học y khoa: mổ xác chết ở cơ thể học viện, lễ cầu hồn, thực tập tại các bệnh viện…sau Nghiêm gom lại in thành cuốn “Thế giới trường thuốc” mà tôi còn giữ được một bản in lại tại Hoa Kỳ.

Vũ Văn Dzi viết Liêu Trai tân thời “nàng cư lệ” mà tôi còn nhớ. Quý vị cũng biết, ở Việt Nam có 3 loại muỗi chính: anopheles truyền bệnh sốt rét, aedes aegypti có rằn ri truyền bệnh sốt xuất huyết và culex là loại hàng ngày đốt đốt chúng ta tối tăm mặt mũi. Dzi bị muỗi hành, nên bịa ra nàng Cư Lệ, tức culex, biến thành mỹ nhân đến ve vãn chàng sinh viên trẻ tuổi đẹp trai. “Sinh đưa tay sờ xuống phần hạ thể, thấy nàng không kháng cự, bèn giao hoan” Đúng điệu Bồ Tùng Linh! Anh em đọc xong cười ầm lên, không biết Vũ sinh giao hoan với muỗi như thế nào?


Anh Trần Xuân Dũng đóng góp rất nhiều thơ, vì anh quen với Vũ Hoàng Chương, học được lối thơ “Nhị thập bát tú” nghĩa là 4 câu 7 chữ: thơ rất trang trọng, quý phái lại bay bướm nên tôi thuộc rất nhiều bài. Sau đây là một thí dụ:

Hờ Hững Ai Xui

Thôi đừng trở lại nữa Bồ Lang
Chốn cũ không còn nhã nhạc vang
Thạch nữ năm xưa giờ khác lắm
Rêu xanh kia đã chiếm thân nàng.

(Đây là cảm tác truyện Thạch nữ giá Bồ Lang trong cuốn Nam Hải truyền kỳ của Hư Chu, kể truyện ma Việt Nam, thơ mộng và thanh nhã hơn Liêu trai của Bồ tùng linh)

Anh Dũng còn giữ mục “Ngang dạ” kể toàn những chuyện ngang dạ ở đời vừa triết lý, vừa tiếu lâm, đọc xong thấy dạ của mình cũng ngang phè!

Trần Mộng Lâm vốn là bạn thân nên những gì hắn viết tôi còn nhớ rõ.
- Một chàng sinh viên y khoa, đang coi sách cọp thì gặp người quen cũ tên Thư, vừa tới tuổi dậy thì, rất đẹp và ngoan, học Marie Curie, đi mua truyện bằng tranh tiếng Pháp và 2 người yêu nhau.
- “Bảy cô con gái nhà họ Hà” kể chuyện 7 chị em gái, bề ngoài rất tương thân tương ái nhưng bên trong lục đục, ghen ghét lẫn nhau. Khi một nàng lên xe hoa, mặt tươi rói vẫy tay từ giã căn nhà cũ và nói nhỏ: “Adieu l’enfer”. Một trong 7 cô con gái đó học cùng lớp với chúng tôi. Chuyện này có ác ý thấy rõ, chủ bút không để ý cho đăng khơi khơi. Lúc đó, tụi tôi hơi ớn, tưởng đâu Lâm sẽ bị sỉ vả thậm tệ, nhưng rồi êm ru…chả hiểu cô hai họ Hà hiền lành hay nàng không đọc báo.

Vũ Thiện Đạm là người rất thích văn chương, nhưng không viết, lo việc phát hành với sự trợ giúp của cô em là Vũ Phương Liên, sau thành nội tướng của Thành Quang Lân.
Ngày đó, tôi có viết một ít truyện ngắn với bút hiệu là Yên Thảo. Tôi vốn quê ở huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, lại mê thơ Lý Bạch “Yên Thảo như bích ty, Tần tang đê lục chi” nên mới lấy bút hiệu như vậy.
- Tình hoa: chàng yêu người mang tên một loài hoa đẹp. Khi cuộc tình tan vỡ, chàng vẫn tiếp tục “tôi còn yêu, tôi cứ yêu” đêm đêm đến trước nhà nàng tìm dư hương cũ. Nhưng cửa đóng then cài, trước sau nào thấy bóng người, chỉ còn con chó nhỏ nhớ hơi quen chạy ra mừng rỡ.
- Gió mưa là bệnh của trời, mượn thơ của Nguyễn Bính với chủ ý ở câu sau: Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng: một chuyện tình rất thơ mộng, không có đoạn kết, chỉ kể những chi tiết lẩm cẩm như chàng đi đón nàng lúc tan trường, nàng thường đeo chiếc bandeau màu xanh để chàng dễ nhận ra mình trong một rừng thiếu nữ mặc đồng phục, như khi chàng trực, nàng phone vào nhà thương nói chuyện cà kê, như dắt nhau đi ciné, ăn cà rem, và lén hôn nhau sau nhà thờ v.v… 

Còn nhiều truyện nữa mà chính tôi cũng không nhớ nổi. Bây giờ chẳng còn cách nào tìm lại những bài đó để xem mình hồi trẻ viết lách ra sao. Thật đáng tiếc.

Tiện đây, tôi phải kể lại tội ác của hai tên bạn thân là Vũ Thiện Đạm và Trần Mộng Lâm. Hồi đi học, mới ngoài 20, có truyện đăng trên báo, tôi hãnh diện lắm. Một hôm trực chung, hai tên Đạm và Lâm thi nhau cho tôi đi tàu bay giấy: truyện của mày hay lắm, có rất nhiều người tán thưởng. Tôi mừng quá, hỏi tới mãi, thì tụi nó cười rất đểu mà rằng: “Liên tử nhà tao”. Tụi nó sài chữ nho: Liên là sen, tử là con, liên tử là con sen. Tôi đau quá, xụm bà chè và Yên Thảo từ đó tuyệt tích giang hồ. Tụi nó đã làm thui chột một mầm non văn nghệ! Nếu tụi nó không ác với tôi như vậy thì biết đâu tôi chả thành văn sĩ nổi tiếng như Ngô Thế Vinh, Vũ Đình Minh, Trang Châu, Hoàng Chính ….

Nhắc lại kỷ niệm xưa, hồn thơ lai láng, tôi có mấy câu cảm đề sau đây:

Thư sinh một thuở mộng văn chương
Ngang tàng vung bút dệt “Tình Thương”
Nửa đời sương gió, tim cằn cỗi
Nhớ lại xuân thì bao vấn vương
Thầy xưa, bạn cũ
Lưu lạc mười phương
Kẻ còn người mất
Ôi đời tang thương
Giật mình tóc đã điểm sương
Tiếc ngày xanh, vọng cố hương, ngậm ngùi.

Nguyễn Thanh Bình
Montreal 2009