Thứ Ba, 19 tháng 11, 2013

Truyện Cổ Tích:Con Cóc Là Cậu Ông Trời



      Ngày xửa ngày xưa, con cóc vẫn sần sùi xấu xí như ngày nay. Nhưng cóc nổi tiếng giữa muôn loài là một con vật tuy bé nhỏ nhưng rất gan dạ, gan cóc tía mà lại. Vào một năm không nhớ rõ năm nào, trời làm hạn hán khủng khiếp, nắng lửa hết tháng này đến tháng khác thiêu cháy cây cối, hút cạn nước sông ngòi, đầm hồ. Muôn loài không còn một giọt nước để uống. Các con vật to lớn hùng mạnh xưa nay tác oai tác quái trong rừng đều nằm lè lưỡi mà thở để đợi chết, không ai nghĩ được kế gì để cứu mình, cứu muôn loài. Sức mạnh của chúng chỉ để bắt nạt nhau thôi chứ đâu có thể làm gì nổi ông trời. Duy có anh chàng Cóc tía bé nhỏ, xấu xí kia là có gan to. Anh tính chuyện lên thiên đình kiện Trời làm mưa cứu muôn loài.

      Khởi đầu chỉ có một mình nhưng anh không nản. Ði qua một vũng đầm khô, Cóc tía gặp Cua càng. Cua hỏi Cóc đi đâu, Cóc bèn kể rõ sự tình và rủ Cua cùng đi kiện Trời. Ban đầu Cua định bàn ngang, thà chết ở đây còn hơn chứ Trời xa thế đi sao tới mà kiện với tụng, nhưng những con vật ở quanh Cua nghe Cóc nói lại tranh nhau mà bàn ngang bàn lùi, làm cho Cua nổi giận. Nói ngang bàn ngang là chuyện ngang của Cua thế mà họ lại dám tranh mất cái quyền ấy, cái quyền được phép ngang như cua cơ mà. Thế là Cua làm ngược lại, Cua tình nguyện cùng đi với Cóc.
      Ði được một đoạn nữa, Cóc lại gặp Cọp đang nằm phơi bụng thở thoi thóp, Gấu đang chảy mỡ ròng ròng và khát cháy họng. Cóc rủ Gấu và Cọp đi kiện trời, Cọp còn lưỡng lự thì Gấu đã gạt đi mà nói rằng:
- Anh Cóc nói có lý, chẳng có lẽ chúng mình cứ nằm ở đây đợi chết khát cả ư? Ta theo anh Cóc thôi! Ðến ngang như anh Cua còn theo anh Cóc được thì tại sao chúng mình không theo.

      Cả bọn nhập lại thành đoàn. Ði thêm một chặng nữa thì gặp đàn Ong đang khô mật và con Cáo bị lửa nướng cháy xém lông. Cả hai con vật này cũng hăng hái nhập vào đoàn loài vật đi kiện Trời do Cóc dẫn đầu.
      Cóc dẫn các bạn đi mãi, đi mãi đến tận cửa thiên đình. Khi đi trên đường cả bọn đều hăng hái nhưng đến trước cửa Trời oai nghiêm, bọn Cọp, Gấu, Cáo, Ong, Cua đều sợ, duy chỉ có Cóc là gan liền dõng dạc ra lệnh:
- Bây giờ các anh phải nghe lời tôi. Kia là chum nước của Trời, anh Cua vào nấp trong ấy. Anh Cáo nấp ở phía bên trái tôi, anh Gấu nằm ở phía bên phải tôi, còn anh Cọp chịu khó nằm đằng sau tôi. Các anh có nghe lệnh của tôi thì mới thắng được Trời.

      Tất cả đều nghe lệnh của Cóc. Sắp đặt xong đâu đấy Cóc mới nhảy lên mặt trống trờ đánh ba hồi trống ầm vang như sấm động. 
      Ngọc Hoàng đang ngủ trưa một cách lười biếng bị tiếng trống lôi đình đánh thức dậy nên bực tức, bắt Thiên lôi ra xem có chuyện gì. Thiên lôi lười biếng vội phủi bụi và mạng nhện giăng đầy trên lưỡi búa tầm sét cắm cổ chạy ra. Thiên lôi ngạc nhiên vì ở ngoài cửa thiên đình chẳng thấy có một người nào cả chỉ thấy mỗi một con Cóc xù xì xấu xí đang ngồi chễm trệ trên mặt trống của nhà Trời. Thiên lôi hết nhìn con Cóc lại nhìn lưỡi búa tầm sét khổng lồ của mình và thở dài vì cái búa to quá mà Cóc bé quá, đánh chưa chắc đã trúng được. Thiên lôi bèn vào tâu Ngọc hoàng, Ngọc hoàng nghe xong bực lắm bèn sai con gà trời bay ra mổ chết chú Cóc hỗn xược kia. 

      Gà trời vừa hung hăng bay ra thì Cóc đã nghiến răng ra hiệu, lập tức chàng Cáo nhảy ra cắn cổ gà tha đi mất. Cóc lại đánh trống lôi đình. Ngọc hoàng càng giận giữ sai Chó nhà trời xổ ra cắn Cáo. Chó vừa xồng xộc chạy ra thì Cóc lại nghiến răng ra hiệu. Lập tức anh Gấu lừng lững xổ ra đón đường tát cho chó một đòn trời giáng. Chó chết tươi.
      Cóc lại thúc trống lôi đình đánh thức Ngọc hoàng. Ngọc hoàng bèn sai Thiên lôi ra trị tội gấu. Thiên lôi là vị thần trời có lưỡi tầm sét mỗi lần vung lên thì thành sét đánh ngang trời, thành sấm động bốn cõi. Sức mạnh của Thiên lôi không có ai bì được. Ngọc hoàng yên trí lần này cử đến ông Thiên lôi ra quân thì cái đám Cóc, Cáo ắt hẳn là tan xác. Vì thế khi ông Thiên lôi vác lưỡi tầm sét đi là Ngọc hoàng lại co chân nằm trên ngai vàng mà ngủ tiếp.
      Thiên lôi vừa hùng hổ vác búa tầm sét ra đến cửa thiên đình thì Cóc đã nghiến răng ra lệnh, lập tức đàn Ong nấp trên cánh cửa bay vù ra và cứ nhè vào mũi Thiên lôi mà đốt. Nọc ong đốt đau lắm, mũi Thiên lôi rát như phải bỏng. Nhớ là ở cửa trời có một chum nước. Thiên lôi vội vàng vứt cả búa tầm sét nhảy ùm vào chum nước chạy trốn. Nào ngờ vừa nhảy ùm vào trong chum nước thì anh Cua càng nấp trong đó từ bao giờ đã chờ sẵn để giương đôi càng như đôi gọng kìm cắp chặt lấy cổ. Thiên lôi đau quá gào thét vùng vẫy vỡ cả chum nước nhà Trời. Thiên lôi tìm đường chạy trốn thì Cóc tía lại nghiến răng ra lệnh. Lập tức Cọp nấp sau Cóc tía nhảy bổ ra gầm lên một tiếng vang động xé tan xác Thiên lôi thành hai mảnh.

      Ngọc hoàng thấy thế sợ quá bèn xin giảng hoà với Cóc, và xin Cóc cho nhận lại xác của Thiên lôi để cứu chữa. Cóc bằng lòng ngay. Theo lệnh nghiến răng của Cóc, Cọp và Gấu vác xác Thiên lôi về xếp lại ở giữa sân điện thiên đình. Ngọc hoàng phải ra tay làm phép tưới nước cam lồ vào cái xác đầy thương tích đó. Nhờ phép của Ngọc hoàng, Thiên lôi mới được sống lại. Ngọc hoàng nghĩ mình đường đường là một ông Trời mà lại chịu thua Cóc thì thật là điều sỉ nhục, nên tính lật lọng, sai Thiên lôi vác búa tầm sét chống lại Cóc và các bạn của Cóc. Biết thế nào Ngọc hoàng cũng tính chuyện lật lọng nên Cóc lại nghiến răng. Lập tức các bạn của Cóc dàn trận. Ong giương nọc, Cáo giương nanh, Cọp giương vuốt, Cua giương càng, Gấu giương cánh tay đầy sức mạnh... Thiên lôi vừa mới thoát chết hoảng quá lui lại không dám tiến lên, mà thụt vào nấp sau chiếc ngai vàng của Ngọc hoàng. Các tướng nhà Trời oai phong lẫm liệt thấy đến ông Thiên lôi còn sợ sệt như thế thì hoảng quá tìm kế thối lui.

      Thấy tướng nhà trời của mình như vậy, Ngọc hoàng biết không thể thắng nổi Cóc và các bạn của Cóc. Ðến lúc bấy giờ Ngọc hoàng mới thực bụng giảng hoà, và hỏi Cóc lên tận thiên đình có việc gì. Cóc oai phong nhảy hẳn lên tay ngai vàng và dõng dạc thưa:
- Ðã bốn năm nay ở dưới trần gian hạn hán kéo dài, không một giọt mưa. Muôn cây khô héo, vạn vật chết khát. Cứ tưởng Ngọc hoàng bận gì hoặc là Ngọc hoàng giận gì trần gian mà ra phúc họa, ai ngờ lên đây mới biết Ngọc hoàng và các tướng nhà trời ngủ quên không nhớ đến việc làm mưa cứu muôn vật muôn loài dưới trần thế. Chúng tôi phải lên tận đây đánh thức Ngọc hoàng, xin Ngọc hoàng làm mưa ngay cho trần gian được nhờ.
      Thấy Cóc nói giọng oai phong và bạn bè Cóc lại đằng đằng sát khí, Ngọc hoàng vội cuống quýt chống chế:
- Cóc với ta là chỗ thân thích, việc gì mà cậu phải mất công đến như vậy, ta sẽ sai thần mưa, thần gió xuống hạ giới làm mưa ngay bây giờ. Cậu Cóc có bằng lòng thế không nào.
Cóc gật gù thưa:
- Muôn tâu Ngọc hoàng trần gian được một trận mưa cứu khát thì còn gì bằng nữa. Anh em tôi vô cùng đội ơn Ngọc hoàng. Nhưng nếu ở hạ giới mà hể bị hạn hán là bọn anh em chúng tôi lại lên đây kêu với Ngọc hoàng đấy.
Nghe Cóc hẹn lại lên thiên đình, Ngọc hoàng hoảng hồn rối rít lắc đầu xua tay:
- Thôi khỏi, thôi khỏi phải bận đến cậu như thế. Chỗ cậu và ta là tình thân thích, cậu chả nên bầy vẽ vất vả mệt nhọc như vậy làm gì. Cậu không phải lên thiên đình nữa, khi nào có hạn hán cậu muốn ta làm mưa, cậu chỉ cần ngồi dưới đất nghiến răng là ta nghe thấy liền.

      Ðể chứng tỏ lòng thành thật không lật lọng của mình, Ngọc hoàng sai rồng đen bay xuống phun mưa, và đưa Cóc cùng các bạn về hạ giới. Cơn mưa cứu hạn làm cây cối tươi tốt, muôn loài nhảy múa chào đón anh em Cóc trở về. Từ đó hể Cóc nghiến răng là trời lập tức đổ mưa nên đồng dao của trẻ nhỏ ngàn năm vẫn có câu hát rằng:

Con Cóc là cậu ông Trời
Ai mà đánh nó thì Trời đánh cho.*

(Dị bản)

Thuở xa xưa, Ngọc Hoàng cai quản tất cả các việc trên trời và dưới đất. Ngọc Hoàng giao cho thần Mưa chịu trách nhiệm làm mưa cho tất cả các con vật và cây cỏ có nước uống.

Nhưng đã ba năm nay, không có một giọt mưa nào. Khắp nơi đất đai nứt nẻ, cây cỏ khát nước chết rụi, các con thú cũng chết dần chết mòn vì khát. Muôn loài đều kêu than ai oán, vậy mà trời đâu có thấu.
Một hôm, các con vật họp bàn với nhau lại, chúng quyết định cử Cóc lên gặp Ngọc Hoàng. Cùng đi với Cóc có Cáo, Gấu và Cọp.
Bốn con vật đi mãi, cuối cùng cũng lên đến cửa nhà trời. Ở cánh cửa có đặt một cái trống rất to. Theo tục lệ, nếu ai có điều gì oan ức, thì đánh trống lên, Ngọc Hoàng sẽ ra giải quyết. Cóc bảo Cáo, Gấu, Cọp nấp vào bụi rậm, còn Cóc thì nhảy lên đánh trống inh ỏi.

Ngọc Hoàng nghe tiếng trống liền sai một thiên thần ra nhìn xem ai. Thiên thần bước ra nhìn ngược nhìn xuôi mãi không thấy ai, chỉ thấy một con Cóc bé nhỏ ngồi trên trống. Khi biết Cóc có ý định gặp Ngọc Hoàng, thiên thần tỏ ý khinh bỉ Cóc, lẳng lặng đi vào và thưa với Ngọc Hoàng:

- Thưa Ngọc Hoàng, kẻ dám cả gan đánh trống ầm ĩ nhà trời là một con Cóc bé tí, xấu xí, thần hỏi nó đi đâu, nó nói lên gặp Ngọc Hoàng để kiện.

      Ngọc Hoàng nghe thiên thần nói vậy thì giận lắm, bèn sai bầy gà ra mổ Cóc. Bầy gà vừa ló khỏi cửa, Cóc ra hiệu cho Cáo từ trong bụi rậm ra vồ gà.
      Biết Gà bị Cáo vồ mất, Ngọc Hoàng liền sai Chó ra giết Cáo. Chó chạy ra chỉ kịp sủa một tiếng đã bị Gấu ra chộp lấy tha đi. Ngọc Hoàng lại sai một toán lính ra trị Gấu. Lần này, Cọp xông ra quật chết toán lính không chừa một người nào.
      Ngọc Hoàng không ngờ Cóc tuy bé nhỏ mà lại khó trị như vậy, Ngọc Hoàng đổi giận làm lành sai thiên thần ra mời Cóc vào. Ngọc Hoàng hỏi Cóc:
- Cậu lên đây có việc gì?
Cóc thưa:
- Muôn tâu Ngọc Hoàng, đã 3 năm nay, chúng tôi không được một giọt mưa nào. Loài vật cử tôi lên đây để kiện trời, vì sao không làm mưa?

      Ngọc Hoàng cho gọi thần Mưa đến. Té ra là thần Mưa mải rong chơi, tối về đắp chiếu nằm ngủ quên không làm mưa bị Ngọc Hoàng trách mắng, thần Mưa vội sai các con rồng phun nước ào ào xuống đất. Ngọc Hoàng đưa tiễn Cóc ra về và dặn:
- Từ nay về sau, nếu cần mưa thì Cóc nghiến răng ken két báo cho Ngọc Hoàng biết. Ta sẽ sai thần làm mưa ngay. Cóc không phải lên kiện trời nữa.
      Cóc, Cáo, Gấu, Cọp từ biệt Ngọc Hoàng trở về. Khi bốn con vật đến nơi thì thấy nước đã tràn đầy hồ, ao, sông suối, cây cỏ, muôn loài uống nước thỏa thuê. Tất cả đều phục Cóc bé tí mà kiện được trời nên đặt ra câu hát:
“Con Cóc là cậu ông trời
Hể ai đánh Cóc thì trời đánh cho”


(Theo http://vanhoc.xitrum.net)

Huỳnh Hữu Đức sưu tầm
 

Thứ Hai, 18 tháng 11, 2013

Dàn Hoa Tím




 Dàn Hoa Tím dịu dàng đua nở
Cạnh mộ phần nhắc nhở chuyện xưa
Đời oan trái đưa em vào giấc
Đã lâu rồi mất cánh Phượng yêu

Hàng Me,Phượng thắm mỗi lần chiều
Tà áo trắng dập dìu trường tan
Ve có còn báo dấu rộn ràng
Tuổi ôm mơ mộng vàng tương lai

Khóc thương em một giấc ngủ dài
Me tàn Phượng mất ngày em đi
Đường xưa dấu tích vẫn còn ghi
Gót hồng nhỏ có khi trở về

Non cao buồn thăm thẳm sơn khê
Chim én nhỏ mãi mê lạc đường
Dàn Hoa Tím như vườn chờ đợi
Đón em về gợi giấc mơ xưa !

Pleiku 22-7-2011

Lê Kim Hiệp
* Chú thích
Dàn = Trải rộng ra



Thùy Dương




Nhạc Sĩ: Phạm Đình Chương
Tiếng Hát: Thùy Dương
Cảm Tác Thơ Tranh: Suối Dâu

Kỷ Niệm Khó Phai


      Ngày xửa ngày xưa lúc tôi khoảng mười hai, mười ba tuổi, tôi hãy còn ngây thơ lắm.Tôi nhớ Mỵ Hùng, Phuốn Hùng con tiệm hủ tiếu Thành Công, lúc đó chúng tôi thân nhau lắm. Ở ngoài sau nhà tôi có con hẻm nhỏ, chúng tôi thường chơi nhảy cò cò và chơi đánh đủa, thẩy ba cục nơi đó.....
      Sau khi thi tiểu học đã xong, để bước lên trung học. Tôi và một số bạn đã trở lại thăm cô giáo Sương (Vợ thầy Diệp dạy toán sau nầy). Tôi nhớ lúc đó vào thăm cô mà chúng tôi cà lắp và ló vì cô đang dạy và gần tới giờ ra chơi. Cô gặp chúng tôi cười nụ cười thật là hài lòng và hiền lành. Cô nói với tôi : Có em na hả Điều? Chúc mừng em nhe.
      Tóc cô đánh thành hai cái bím thả dài xuống trước ngực, cô mặc cái áo dài hoa sen màu hồng. Nhìn thấy cô là tôi thương cô như mẹ tôi vậy. Nhưng lúc đó tôi sợ cô lắm, vì mỗi lần làm bài mà phải đưa phấn bảng lên để trả lời nhưng hôm đó tôi quên mang theo bảng. Cô đánh vào mông tôi năm roi để chừa tật tôi đã quên mang theo bảng khi đi học. Tôi nhớ tôi vừa khóc mà vừa đi bộ về nhà để mang bảng trở lại trường, tôi khóc ngon ngọt và ấm ức lắm. Nhưng tôi không giận cô mà tôi nể và mến thương cô. Đó là một kỷ niệm đáng nhớ.
       Thi đậu vào được trường Tống Phước Hiệp là một vinh dự cho gia đình tôi. Chị tôi cũng thế, chị học hơn tôi ba lớp. Tôi nhớ giờ ra chơi chị Đẹp, chị Tồn, chị Chi gặp tôi lúc đó vào năm 1966. Chị Đẹp đã nói với tôi: “Điều ơi!Em có biết là chú Cuội, cô Hằng của em đã không còn tồn tại na. Vì phi thuyền Apolo lên trên đó và trên đó toàn là đá không hà! Chị cho em biết đó"
      Tôi nghe mà buồn não nuột, suốt trong buổi học lúc đó. Buồn vì cô Hằng và chú Cuội, chuyện thần tiên của tôi đã sụp đ. Eo ui! Còn gì là thần tượng của tôi nữa.....
        Tôi học không giỏi nhưng khá. Tôi ngồi hàng đầu bàn, nên cũng không thích giỡn, gần cô thầy sẽ chăm học hơn. Tôi nhớ mỗi lần giờ ra chơi là có tiếng trống của bác Năm già. Học sinh túa ra sân. Người mơ mộng, người còn trong lớp, người thì tới quán nước uống giải khát.. kẻ thì tụ năm tụm ba nói chuyện với nhau. Nhìn như một bức tranh vui và hạnh phúc trên thiên đàng vậy. Sân trường thật tuyệt vời. Những dãy hành lang lớp học thứ tự, tầng một, tầng hai rất xinh. Trường trồng hoa phượng, mỗi lần hoa phượng nở là gần đến hè. Tôi hay nói với Lệ Hồng: “Ta sẽ ép hoa phượng để dành nhiều nhiều để ta dán vô tập thơ và nhựt ký của ta". Lệ Hồng nói : “Mi làm vậy thích lắm vì mình sẽ có k niệm đó “. Mỗi lần hè đến là chúng tôi tặng nhau hình và có dịp làm bích báo cuối năm. Tôi nhớ hai câu thơ thật là mộc mạc dễ thương ghi sau tấm ảnh:
“ Dù cho tấm ảnh phai màu
Xin đừng xé bỏ mà lòng tôi đau"
      Có những năm Đệ thất, Đệ lc, Đệ ngũ, Đệ tứ tôi nhớ mãi những bài Toán, Sử Ký, Địa Lý, Công Dân Giáo Dục, Quốc Văn,Thêu thùa... Không có môn nào mà tôi lãnh hội hết được. Riêng Nhạc lý và Vẽ là tôi lãnh hội nhiều nhất. Tôi nhớ thầy Thành dạy tôi hát bài Clementine, Lý ngựa Ô, Hái Hoa...v.v... Tôi mê Văn và Nhạc lý lắm. Nên mỗi lần trường phát thưởng cho học sinh đều có tổ chức Văn Nghệ trường.      
      Mỗi năm đều có mặt tôi hát hoặc vũ hoặc đóng hoạt cảnh. Tôi mê văn nghệ lắm. Mà cũng phải năm Đệ Tam, mới mười sáu tuổi, tôi dợt ca bài “Giết Người trong mộng", tôi dợt với ban đàn trống của anh Trung và anh Đại. Bài đó tôi ca hay lắm. Mà cô Lan khen tôi tuy nhiên cô nói: Em còn nhỏ tuổi quá để ca bản nầy. Nhưng tôi một mặt cứ ca cho được bản nầy. Hôm lãnh phần thưởng. Tôi lên ca mà không biết run và nao núng chi cả. Nhưng tôi thiệt là mắc c vì thầy Hiệu trưởng đã  nói lời với các giáo sư và phụ huynh học sinh: “Em Điều hát bài nầy là để sẽ lãnh phần thưởng cho năm tới vì thầy nghĩ "Giết người trong mộng" của em bây giờ là các phần thưởng nầy vậy". Trời ơi! Tôi mắc cười mà mặt tôi đỏ ké vì mắc c quá đi thôi. Nhưng trong lòng tôi lúc đó cũng cảm ơn thầy đã đở cho tôi được trở thành đứa học trò ngoan ngoãn .
      Mỗi lần làm văn nghệ, sau hậu trường thật là vui nhộn, người thì trang điểm, kẻ thay trang phục, có nhóm dợt vũ và người cố gắng thuộc lòng trước khi ca. Chúng tôi gồm sáu đứa: Hương Lan, Chiêu Hằng, Ngọc Hoa, Hồng, Thúy Hiền, Ngọc Gõ và tôi. Cả bọn chúng tôi dợt vũ bài Tiếng Sáo Thiên Thai. Lúc đó chúng tôi mặc áo dài trắng, quần trắng và có mang cánh Voile trắng, tóc kết hoa đẹp như những thiên thần trong cõi thiên thai vậy. Chúng tôi chuẩn bị dưới sự hướng dẫn của cô Ngọc Lan và cô Chi. Ngoài ra tôi cũng có đóng hoạt cảnh: Ngàn Thu Áo Tím cùng với Ngọc Gõ nữa.
      Tôi làm trưởng ban Văn Nghệ và Báo Chí những năm ấy song song cũng có Chiêu Hằng giỏi tài ca hát, viết văn và làm thơ, nàng cũng làm trưởng ban Văn Nghệ và Báo Chí mấy năm liền như tôi vậy.
      Nhớ mỗi lần giờ ra chơi tôi và Anh Đào thích nói chuyện vi nhau. Tôi thấy Anh Đào trầm ngâm, tôi nói: “Mi đang nghĩ gì vậy? Còn ta sao thấy buồn quá“. Nàng nói với tôi: “Mi thật là hay thay đổi, sáng mi khác còn bây giờ mi khác rồi“. Tôi nói “Vì mỗi lần ra chơi ta nhìn hoa phượng trong sân trường ta buồn quá, có l sắp bãi trường rồi nên ta buồn vu vơ vậy thôi nhỏ ạ“. Rồi hai đứa tôi cùng im lặng mỗi đứa một suy nghĩ riêng tư.
      Có hôm Anh Đào cho tôi hay là có sự viếng thăm của một người bà con từ Sài Gòn về. Anh ấy hay tắm sông và thích bơi lội lắm. Không ngờ vài hôm sau không đầy một tuần lễ, Anh Đào nói với tôi là anh ấy đã chết vì tắm sông. Nước xoáy cuốn anh ấy chết.....Tôi sững sờ như si khờ và tôi nói với Anh Đào: “Thôi trời ơi! Ta hết biết luôn. Gia đình anh ấy biết chưa? “ ......Một ni buồn lạ hn đã xăm chiếm tôi từ đó cho tới vài ngày sau. Đến bây giờ cũng còn và bàng hoàng vô kể.
 

      Sau năm 1975 tôi chán nản bỏ thi Tú Tài phần hai, sau đó tôi ghi danh vô Sư phạm học được 6 tháng và ra đi dạy cấp tiểu học. Tôi và Mai dạy tuốt miệt vườn của Bình Minh, cách Cần Thơ mười cây số.....Và kể từ đó tôi đã lớn khôn. Những hẹn hò, những buổi ngồi cạnh bạn trai đi uống nước, ăn kem. Có BCH đã trao tập thơ cho tôi, và tôi mê mệt đọc thơ của chàng ấy. Rồi đến L cũng mết tôi và có sau nầy qua tìm tôi bên Pháp.

      Tôi vẫn hằng mong được đoàn tựu gia đình bên Canada nầy và cuối cùng tôi đã được đoàn tựu gia đình tôi.Có ba mẹ tôi và anh em. Nhưng cuộc đời không như mình mơ ước và êm đềm mãi. Rồi thì anh tôi bệnh mà mất trước. Sau đó đến lượt Ba tôi và hai năm sau thì Mẹ tôi mất. Hiện tại tôi chỉ còn Văn, một đứa em trai ở cùng nơi và một người chị gái ở phương trời Âu xa xôi lắm.
      Tôi đã có gia đình từ lâu, con tôi đã lớn và chúng tôi ba người sống trong căn nhà nhỏ thôi nhưng giờ đây hạnh phúc tôi tràn đầy. Tôi không bao giờ quên được những kỷ niệm thời còn đi học vì đó là phần sung sướng nhất của đời mình. Ký ức mỗi khi nghĩ đến đều tê tái lòng, rồi khóc hết nước mắt, nước mắt cứ rơi.... cứ rơi.....
Lục Lạc

Tranh Vẽ Tín Đức: Mùa Trăng

1/ Mơ
2/ Mùa Trăng
3/ Trăng

 Họa Sĩ Tín Đức

Bỗng Nhớ



Đời chai sạn, hóa thân thành sỏi đá
Như cây già chờ đếm tuổi đi qua
Đất căn khô, chưa hò hẹn mưa rào
Lặng lẽ đứng trơ mình trên hoang đảo

Rồi một ngày…Ôi nắng hồng thật ấm
Nhỏ xuống hồn tôi từng giọt thật nồng
Êm ái, gởi hương về thêm đậm.
Và ráng chiều, xua hết tiết mùa đông…

Lòng rộn rã, hoa hồng đua nhau nở
Nhẹ nhàng như suối chảy ở trong thơ
Tiền kiếp nào vang lên tiếng gọi mời
Nghe thổn thức dâng tràn không biên giới

Một thoáng nghe…hình như rất lạ
Mà trong lòng chợt thấy thiết tha
Lung linh thấp thoáng dường như đã
Biển nhớ càng thêm vị mặn mà

Trót sinh ra, nào phải cho nhau
Tuổi thơ gặp gỡ có khi nào...?
Hờ hững lạnh lùng như chẳng biết
Trôi nổi cuối đời bỗng nhớ nhau

Kim Quang



Đau Dây Thần Kinh Tọa



Thực Hiện: Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức
Sưu Tầm: Nguyễn Lữ

Bóng Ảo


Cõi trần gian luôn luôn mờ mờ biến ảo
Kiếp con người sinh lão bệnh tử luân hồi
Cuối đường ta đi là khoảng trống hư vô
Không một dấu tích ngoài linh hồn hiện hữu

Ta hiện hữu bằng linh hồn vĩnh cửu
Qua hình hài thân xác vật hay người
Ta chịu sống khổ đau hay sung sướng
Thế gian này, địa ngục hay thiên đàng

Cuộc sống trầm luân sướng vui buồn khổ
Lẽ vô thường chi phối cả đời ta
Có tình yêu rồi cũng mất thôi mà!
Mong ước lắm chỉ thêm sầu tiếc nhớ

Ta cứ sống bình thường như vẫn sống
Một mình ta ôm trọn cuộc đời ta
Tha hồ bay trong vũ trụ bao la
Không vướng mắc sợi tơ tình ràng buộc

Can đảm lên những tâm hồn lẻ bóng
Vì chung quanh còn có bạn bè thân
Hãy yên vui với cuộc sống nhân quần
Sẽ không cảm thấy đời ta cô độc

Biết đâu đó trên đường đời hội ngộ
Một người yêu đi nốt chặng hành trình
Có cũng được mà không thì cũng được
Muốn hay không chẳng mãi ở bên mình

Và hư vô là thế giới của sinh linh!

ChinhNguyen/H.N.T 

Nov3/2013

Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2013

Phong Kiều Dạ Bạc - Trương Kế


Cảnh về khuya, nơi bến Phong Kiều đã khiến Tác giả đi sâu vào giấc ngủ buồn,thật ra Tác giả muốn nói đến con người đang đắm mình trong bể khổ trầm luân.
Quá nửa đêm, tiếng chuông từ chùa Hàn San khiến Tác giả giật mình tỉnh giấc, đó cũng là tiếng chuông cảnh tỉnh con người rời khỏi bến mê quay đầu là bờ, tìm về cõi phúc.
                
                  楓橋夜泊
 
月落烏啼霜滿天
江楓魚火對愁眠
姑蘇城外寒山寺
夜半鐘聲到客船

Phong Kiều dạ bạc

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
                                     Trương Kế
Dịch Nghĩa:
Neo thuyền bến Phong Kiều

Trăng lặn, tiếng quạ kêu, sương rơi phủ đầy trời
Nơi bến Phong le lói ánh đèn thuyền chài, khiến khách chìm vào giấc ngủ buồn.
Bên ngoài thành Cô Tô có ngôi chùa Hàn San
Quá nửa đêm, tiếng chuông chùa vang vọng đến khách trong thuyền.

   Bản dịch 1

Sương xuống quạ kêu bóng nguyệt buông
Bến Phong le lói giấc mơ buồn
Thành Tô vắng lặng Hàn San Tự
Quá nửa đêm về vọng tiếng chuông


Bản dịch 2

Quạ kêu sương phủ vầng trăng lặn
Phong bến đèn câu giấc ngũ về
Thành ngoại Hàn San chùa khuất bóng
Nửa đêm chuông vọng tỉnh cơn mê

                                                  Quên Đi  

Huỳnh Hữu Đức Biên Soạn     
                                   

Mùa Hoa Dại Vàng



Mùa dã quỳ lại nở rồi anh !
Phố núi mình vàng thêm sắc mới
Em thơ thẩn chôn chân chiều đón đợi
Nắng miệt mài soi rọi mấy đài hoa

Nỗi nhớ vun đầy cho người đi xa
Tán lá nhẹ lay, bàn tay ai vẫy
Hơi thở gió chợt nghe lòng thức dậy
Nửa tươi nguyên nửa còm cõi thân già

Ôm nỗi buồn bởi năm tháng phôi pha
Em tính tuổi theo mùa vàng quỳ nở
Bông hoa dại mà rối lòng trăn trở
Mình thương nhau nên vơi bớt ưu phiền

11/2013

Hương Ngọc


Thơ Tranh: Mẹ Bảo Con Đừng Nhìn Qua Cửa Sổ


Thơ : Minh Đức Hoài Trinh
Thơ Tranh: Kim Quang


Bài Thơ Lục Bát - Rời




Ta còn nửa chén rượu đời
Nếu em không ngại ta mời sớt chia
Uống đi , để thấy não nề
Nhân gian vị đắng, đắng tê cả hồn .

***
Cạn nhau một chén quan hà
Rồi mai sau đó mình là cố nhân
Buồn chi em, chốn bụi trần
Bể dâu biến đổi ai lần không qua.

****
Sang sông sợ nước lớn ròng
Xoáy con thuyền mục giữa dòng chơi vơi
Muốn trao ai đó một lời
Nhưng ta lại ngại tiếng đời thị phi.

****
Em còn đọng giấc mơ hoa
Ta như vạt nắng vàng pha cuối chiều
Tình đời còn lại bao nhiêu
Gặp cơn gió lộng cánh diều sẽ băng  


Vĩnh Trinh


Nguyễn Trường Tộ Bãi Trường,Lớp Đệ Tứ - NK 1964-1965- Phần1

Ngày Bãi Trường - Lớp Đệ Tứ - NK 1964-1965
alt
Hu, Long, Rành, Đô(chết) (2 o nhớ, Phú ,o nhớ, Sự, Thật, Cương, Bi, Hiền
alt
Một đống bạn mà giờ không còn nhớ nổi phía sau nhà thờ
alt
Ràng, Phú ,Đô ,Tuấn ,Thật
alt
Đi trước bên trái là bầy cô hồn các đảng Đô, Sự, Ràng, Long, Phú, Thật
Phía sau là ngũ vị tiên cô vo vãnh mỏ chuẩn bị ó ré Huỳnh Hoa, Trân, Huê,
Điệp, Hường
cả bọn bên trường bà cuối năm tứ
(hè sang phượng nở , rồi chẳng gặp nhau) thơ PTT
alt
hè sang phượng nở, rồi chng gặp nhau
ôi mối tình đầu, như đi trên cát (thơ Phạm Thiên Thư)
đâu d
nhòa mau <tui thêm>
alt

Cái cô bạn nhân chi sơ tính bổn ác không biết giờ ở phương nào
bên trái qua (
Đào, Cẩm, Hu
ỳnh Hoa ,Lý, Dung, Liên, Phú, Tài, Tuấn, Bi, Long Hiền, Cương, Đô, Hu, Thật, Sự, 0 nhớ)


Trương Văn Phú


Nguyễn Trường Tộ Ngày Bãi Trường, Lớp Đệ Tứ - NK 1964-1965 - Phần 2

Ngày Bãi Trường - Lớp Đệ Tứ - NK 1964-1965

hè sang phượng nở, rồi chng gặp nhau
ôi mối tình đầu, như đi trên cát (thơ Phạm Thiên Thư)
đâu d
nhòa mau <tui thêm>
ảnh chụp sau buổi biểu diễn cua ông  Nguyễn Thành Nhơn và ông Hô Cẩm Ngạt
Thầy Bá , Thầy Phong 
Ông Cương chụp dưới bóng cây mà run tay
Nhóm bạn n chơi thân nhau thành cp -(Trân Huê)-(Hồng Miền)- (Điệp Huỳnh Hoa), riêng chị Hồng đã mất, ngồi giữa có lẽ là hường đang đưa hai tay cho ai vậy ta
Trong khu vực trường bà cuối năm lớp tứ rất nhiều bạn chia tay cùng lớp tìm xưa quẩn quanh  ai mang bụi đỏ dáng em nho nhỏ, trong cõi xa mờ (thơ ptt )

Trương Văn Phú


Luật Thơ: Lục Bát - Song Thất Lục Bát



Lời mở đầu:

      Trong chúng ta, đôi lúc có máu thơ thẩn, thích làm thơ để trải lòng, nhưng lại không dám thực hiện. Vì sao?
Chúng tôi xin phép được suy bụng ta ra bụng người, để trả lời. Chúng ta ngần ngại vì bởi không biết rõ luật thơ, luôn e sợ lỡ sai luật.
      Chính vì lý do đó, ngoài sự hiểu biết, đến việc cố công sưu tầm và tổng hợp một số bài viết từ Internet
Với chủ ý cùng nhau trao đổi, chúng tôi đã chọn lọc một số bài của Thân Hữu. Những Cây Viết Nghiệp Dư này đã cung cấp cho chúng tôi rất nhiều thi phẩm để mang ra thí dụ, hầu dẫn chứng về Luật của các Thể Thơ.
      Do khả năng hạn chế, kính mong quý độc giả góp ý và bổ sung để chúng ta có được một bài viết đầy đủ hơn

Phần 1:

A - Thơ Lục Bát

1 - Luật Bằng Trắc
2 - Cách gieo vần:
a. Cách gieo vần 1
b. Cách gieo vần 2
c. Trường hợp ngoại lệ

B -Thơ Song Thất Lục Bát

Phần 2

A - Thơ Mới:
1 - Phan Khôi và bài thơ Tình Già
2 - Cách gieo vần :
a. Vần Tiếp ; b. Vần ôm
c. Vần Tréo ; d. Vần ba chữ
e. Vần lưng ; f. Vần cùng một câu

B - Thơ Tự Do:
1 - Sự khác biệt với Thơ Mới
2 - Những bài thơ thí dụ

Phần 3: Thơ Đường Luật:

A - Thơ Đường Luật Tứ Tuyệt:
1 - Luật Niêm
2 - Luật Bằng Trắc và Gieo Vần :
a. Luật Bằng vần Bằng
b. Luật Trắc vần Bằng
c. Luật Bằng vần Trắc
d. Luật Trắc vần Trắc

B - Thơ Đường Luật Bát Cú:
1 - Luật Niêm
2 - Bố cục bài thơ
3 - Luật Đối
4 - Luật Bằng Trắc:
a. Luật Bằng vần Bằng
b. Luật Bằng vần Trắc
c. Luật Bằng vần Trắc
d. Luật Trắc vần Trắc

C - Các Niêm Luật khác trong thơ Đường Luật

Phần 4 :
A - Thơ Cổ Phong
B - Câu Đối:
1 - Đối ý và đối chữ:
a. Đối ý
b. Đối chữ
c. Số chữ và các thể câu đối

2 - Luật Bằng Trắc
a. Câu Đối Tiểu
b. Câu Đối Thơ
- Câu đối theo thơ Ngũ Ngôn
- Câu đối theo thơ Thất Ngôn
c. Câu Đối Phú

- Câu đối song quan
- Câu đối cách cú
- Câu đối hạc tất hay gối hạc

Lời cảm Tạ:
Chúng tôi xin chân thành cảm tạ :
- Những Tác giả có thi phẩm được sử dùng trong bài viết này.

* * *
Luật Thơ : Lục Bát & Song Thất Lục Bát


A - Thơ Lục Bát

Thơ Lục Bát là một thể thơ thuần túy của Việt Nam, rất êm dịu, nhẹ nhàng, giống như bản chất hiền hòa của dân tộc ta. Phạm Quỳnh cho rằng: "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn .”
Câu này mang hàm ý: "Thơ Lục Bát còn dân dộc Việt còn, thơ Lục Bát mất dân tộc Việt mất."Bởi vì, Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du được viết bằng Chữ Nôm theo thể thơ Lục Bát (nguyên tác là Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân).
Chính vì thế, là con cháu, chúng ta cần nên gìn giữ tinh hoa văn hóa của ông cha lưu truyền, nhất là hạn chế việc làm biến dạng hình thức của thể Thơ Lục Bát. Đó một thể thơ đại diện cho tinh hoa dân Việt chúng ta.

1 - Luật Bằng Trắc

- câu 6 chữ : b B t T b B
- câu 8 chữ : b B t T b B t B
Những chữ có dấu huyền hay không dấu là vần Bằng.
Thí dụ: đi, về
Những chữ có dấu sắc, dấu hỏi, dấu ngã, dấu nặng là vần Trắc
Thí dụ: bát, trả, chữ, nợ .
Những chữ in lớn (B, T) là bắt buộc phải theo luật được qui định

2 - Cách giao vần

a - Cách gieo vần 1
Trong thơ Luc Bát thông thường chỉ sử dụng vần Bằng.
- Bắt đầu từ chữ cuối của câu 6 chữ, gieo vần với chữ thứ 6 của câu 8 chữ. Cách gieo vần này gọi là Vần Lưng (yêu vận), nghĩa là gieo vần ở giữa câu.
- Tiếp đến, chữ cuối của câu 8 chữ, gieo vần với chữ cuối câu 6 chữ tiếp theo. Gọi là Vần Chân(Cước vận).
Cứ thế tiếp tục mãi và số câu trong bài thơ không giới hạn.

Thí dụ: Bài thơ sau đây:

Mộng Đêm Thu

Men hương ấp ủ thu về
b B t T b B
Muôn cành lá rụng đê mê nổi buồn
b B t T b B t B
Không gian một chút loạn cuồng
Gặp nàng thơ diện cành buông trăng thề...
(Lục Lạc)

b - Cách gieo vần 2
Ngoài ra, chúng ta có thể gieo vần như thế này : từ chữ cuối câu 6 chữ, ta gieo vần với chữ thứ 4 của câu 8 chữ

Thí dụ :
Anh đi ghe rổi chín chèo
Bởi anh thua bạc nên nghèo nợ treo
Nợ treo kệ mặc nợ treo
Em bán bánh bèo trả nợ nuôi anh
(Ca Dao)

Hoặc:
Ăn no rồi lại nằm quèo
Thấy giục trống chèo vội vã đi xem
(Ca Dao)

3 - Trường hợp ngoại lệ
Tuy nhiên, trong thơ Lục Bát vẫn có những trường hợp phá cách, không theo qui luật trên.
a - Thí dụ :
Trách
Nghìn dậm nhớ dáng trong mơ (chữ thứ hai vần trắc)
Bên ngoài Mai rụng ta chờ người sang
Giờ thấm thoát xuân đã tàn
Bóng người biền biệt hạ vàng đến nơi
Đâu tăm cá đâu chim trời
Nên ta còn đứng đợi người về đây
(Quên Đi)

b - Hoặc là sử dụng vần TRẮC

Tò vò mà nuôi con nhện
Đến khi nó lớn nó quện nhau đi
Tò vò ngồi khóc tỉ ti
Nhện ơi nhện hỡi mầy đi đằng nào
(Ca Dao)

Tình thương gươm trường không sợ
Sét đánh bên mình duyên nợ không buông
(Ca Dao)

Đêm năm canh ngày sáu khắc
Thương nhớ chàng không một giấc nào nguôi
(Ca Dao)

Qua cầu một trăm cái nhịp
Em không theo kịp kêu bớ hỡi chàng
(Ca Dao)

B - Thơ Song Thất Lục Bát

Thơ Song Thất Lục Bát cũng là thể thơ của Việt Nam, gồm hai câu Bẩy chữ, kế đến một câu Sáu và một câu Tám chữ. Cứ như thế tiếp tục, không giới hạn số câu.

Luật Bằng Trắc và cách gieo vần :

" b , t " : không bắt buộc
" T " : Vần Trắc bắt buộc
" B " : Vần Bằng bắt buộc

Trong thơ Song thất Lục Bát, chữ cuối của câu Thất trên gieo vần với chữ thứ 5 của câu Thất thứ hai.
Chữ thứ 7 câu thất thứ hai gieo vần với chữ cuối của câu Lục. Chữ cuối của câu Lục gieo vần với chữ thứ Sáu của Câu Bát. Chữ cuối của Câu Bát sẽ gieo vần với chữ thứ Năm của câu Thất đoạn hai.
Cứ tiếp tuc như thế và không giới hạn số câu trong một bài thơ.

Câu Thất 1 : b bT t B b T
Câu Thất 2 : t t B b T t B
Câu Lục : b B t T b B
Câu Bát : b B t T b B t B

Đoạn hai và tiếp.. :

b b T t B b T (giống 4 câu trên )
t t B b T t B
b B t T b B
b B t T b B t B

Thí dụ :
Vầng Trăng Khuyết

Khép nép giữa dòng vầng trăng khuyết
Ai tình nhân biền biệt phương nao
Để người thơ thẩn ra vào
Trăng không tròn vẹn bến nào trăng neo
Trên sông vắng trăng theo sóng nước
Thuyền có về chở được hay không
Chớ gieo hy vọng chờ mong
Để trăng lại nhớ đau lòng cho trăng
(Quên Đi)

Tuy nhiên, trong thơ Song Thất Lục Bát luật Bằng Trắc cũng có ngoại lệ :

Khúc Hát Sai Mùa

Thả tâm hồn vô thinh lá đổ (Chữ thứ ba vần Bằng)
Ngơ ngác đời bể khổ mù bơi...
Chuông ngân thánh thoát nhẹ rơi...
Cửa thiền mở rộng luân hồi... nhân sinh
( Kim Oanh)


Huỳnh Hữu Đức