Hiển thị các bài đăng có nhãn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 15 tháng 9, 2025

Mắt Biếc Hồ Thu(Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh)- YourEyes, An Autumn Lake(Thanh Thanh)

 

Mắt Biếc Hồ Thu

Mắt em là cả hồ thu
Tiếng em thánh thót như ru men tình
Ước sao chỉ có đôi mình
Nhưng đâu chỉ có chúng mình ước ao
Đêm nào ngước mắt trông sao
Cùng em mơ ước nơi nào viễn du
Nhìn em đáy mắt hồ thu
Anh quên giấc mộng viễn du nơi nào
Bâng khuâng gió lọt song đào
Nhớ đôi mắt biếc hôm nào tương tư
Đường trần một cõi hoang vu
Đi hoài mới biết thiên thu nhớ người
Nơi đây có núi cùng đồi
Có con suối nhỏ da trời màu xanh
Em ngồi xõa tóc bên mành
Bài thơ anh mới viết thành tặng em

Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh
***
Dịch Thơ:

Your Eyes, An Autumn Lake

Your nice eyes look like an autumn lake,
Your sweet voice lulls me in love to partake.
I wish there only were the two of us
Although not only we two to yearn for thus:
That night, while looking up at each star,
I dreamed of, together with you, traveling afar.
But, admiring your deep eyes, the lake of fall,
Our long trip dream of that time I forgot all.
With the wind through the window prolonged
I recall your eyes for which those days I longed.
How the ways of life have seemed desolate:
As I go farther my missing you is to escalate.
In this place there are enough mountains, hills,
And the blue sky, the small spring, the gills.
You sit by the blind, your hair hangs down;
This is the poem I just wrote for you as a crown.

Translation by Thanh Thanh

Thứ Ba, 9 tháng 8, 2022

Mắt Biếc Hồ Thu - Thơ Nguyễn Xuân Vinh - Nhạc Trần Chương Lương - Trình Bày Lê Bảo

Kính thưa quí vị,

GS Toàn Phong NGUYỄN XUÂN VINH là một Khoa Học Gia về không gian độc nhất của Niệt Nam ở thế kỷ 20. Ông vừa từ giã chúng ta vào lúc 2.39 phút chiều ngày 23/7/2022 để về với Thiên Chúa. 

Tình cờ  Tha Nhân đọc được bài thơ Mắt Biếc Hồ Thu của ông ở đâu đó, rất hay. Như thắp một nén hương lòng để tưởng niệm về Ông, Tha Nhân mạn phép viết nhạc cho bài thơ này trong video dưới đây, kính mời quí vị thưởng thức và lắng lòng tưởng nhớ đến ông, một nhân tài lỗi lạc, đã phục vụ cả đời trong nhiều lãnh vực khác nhau cho VN nói riêng và cho nhân loại nói chung...


Thơ: Nguyễn Xuân Vinh 
Nhạc: Trần Chương Lương 
Trình Bày: Lê Bảo

Để Tưởng Niệm Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh - Họa Sĩ Mùi Quý Bồng

Để Tưởng Niệm Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh (bút bi trên giấy, 11”x14”)

Họa Sĩ: Mùi Quý Bồng

Thứ Tư, 27 tháng 7, 2022

Cáo Phó Giáo Sư Toàn Phong Nguyễn Xuân Linh

 


(Hình Ảnh: Gia Đình GS Nguyễn Xuân Vinh - Việt Hải chuyển)

Nguyễn Thượng Vũ Tiễn Biệt Bạn Hiền Nguyễn Xuân Vinh

(Gửi BS Nguyễn Thượng Vũ lúc đặt bông hoa lần cuối cho GS Nguyễn Xuân Vinh)

Thôi thế thì anh trước tôi sau
Lẽ tử sinh ai tránh được nào
Anh đi trước có tôi đưa tiễn
Tôi đi sau ai tiễn ai chào...

Chúc người từ đây mãi ngủ yên
Phủi hết lợi danh với lụy phiền
Ngày nào cũng tàn rồi nắng tắt
Kẻ trước người sau sẽ tới phiên...

Người Phương Nam
(Em xin có vài câu thơ viết theo tâm trạng BS Nguyễn Thượng Vũ 
trong lần cuối tiễn đưa bạn hiền về nơi yên nghĩ sau cùng)

Vô Cùng Thương Tiếc, Cánh Sao Khoa Học Đã Rời Khỏi Bầu Trời

 

Vô cùng thương tiếc NGUYỄN XUÂN VINH
Chuyến cuối Người bay chỉ một mình
KHOA HỌC GIA, lừng danh trí tuệ
APOLLO, nổi tiếng công trình
TOÀN PHONG văn sĩ, bao thành quả
Tư lệnh Không Quân, lắm nghĩa tình
Giải thưởng Hàn Lâm ngời rực rỡ
Gia tài toán học sáng lung linh
Tri ân rạng mặt dân Nam Quốc

Kính tiễn Cụ về diện Thánh Linh.
Thánh Linh Chúa rước bậc tài hoa
Nắng Hạ dường như khóc vỡ oà
Sự nghiệp, năm châu hừng ánh tỏa
Công danh, bốn biển chói quang lòa
Không Gian Kỹ Thuật cùng bay vút
Khoa Học Phi Thuyền giúp tiến xa
Gãy cánh Đại Bàng đau Việt Tộc
XUÂN VINH thanh sử mãi không nhoà

Phương Hoa 
July 24, 2022

Cánh Sao Khoa Học Đã Rời Khỏi Bầu Trời


Ngày hôm qua, Thứ Bảy, 23/07/2022, một tin rất buồn đã đến với cộng đồng Việt Nam. Cánh chim bằng từng làm dậy sóng toàn cầu, Giáo sư Tiến sĩ, Khoa học gia, cựu Phi công, kiêm nhà văn, Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh đã vĩnh viễn ra đi.

Mới hồi cuối tuần trước giáo sư Phạm Hồng Thái, thầy dạy lớp vi tính của tôi, đi Nam Cali có việc và thăm cụ giáo sư Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh. Nghe thầy nói hiện bịnh tình của giáo sư đã xấu dần đi và đang được trung tâm “hospice” chăm sóc trong những ngày cuối đời nên thầy phải đi thăm giáo sư một lần trước khi quá trễ. Tôi nói với thầy xin chúc lành đến giáo sư Xuân Vinh, cầu mong người thoát cơn bệnh ngặt. Vì rất quý trọng giáo sư, tôi nghĩ là “còn nước còn tát,” bệnh viện chê thì bây giờ nên tìm cách chữa theo dân gian, may ra cứu được GS. Tôi từng biết có những người bệnh viện trả về, nhưng rồi được cứu sống nhờ các phương pháp dân gian đơn giản đó. Nên tôi gợi ý, nếu có thể thầy Thái nên giúp hướng dẫn và giới thiệu cho giáo sư tham gia một môn nhân điện để tự chữa bệnh thử xem sao.

Nhưng thứ Hai tuần này thầy Thái về lại Bắc Cali và nói với tôi, bệnh tình của Gs Vinh đã quá trầm trọng, vô phương cứu chữa. Thầy kể đã được vài vị dưới Nam Cali đưa đến thăm Giáo sư, và thầy còn cho tôi xem hình nhà văn Việt Hải chụp với giáo sư Vinh đang nằm trên giường bệnh. Tôi nhìn hình mà xót cả lòng, đau cả ruột, thương quá là thương. Vị giáo sư khả kính, nhà khoa học không gian xuất sắc của Hoa Kỳ đã từng làm thế giới nể phục, bây giờ chỉ còn là một thân hình héo úa, với những dấu vết thâm tím khắp trên tay vì kim chuyền thuốc, cùng với dây nhợ đầy người. Thật là kiếp làm người sao khổ quá, sinh, lão, bịnh, tử, không chừa một ai...

Tôi ngẩn ngơ cả ngày vì cái tin Gs Nguyễn Xuân Vinh vĩnh viễn ra đi, vì thương tiếc một nhân tài. Đối với người Việt, GS còn là một cựu Tư lệnh Không Quân Việt Nam Cộng Hòa. Những chi tiết về GS được lưu trữ trên hệ thống Wikipedia: Gs Nguyễn Xuân Vinh từng là Tiến sĩ Khoa học Hàng không và Không gian tại Đại Học Colorado, 1965; Tiến sĩ Quốc gia Toán học Đại Học Paris VI, 1972; thành viên của Hàn Lâm Viện Quốc Gia về Hàng Không và Không Gian (Académie Nationale de l'Air et de l'Espace) Pháp, 1984; và được bầu làm viện sĩ chính thức Hàn Lâm Viện Không Gian Quốc Tế (International Academy of Astronautics) từ 1986. Còn nữa, năm 1962, sau khi thực hiện thành công một nghiên cứu về công trình tính toán quỹ đạo tốt nhất cho Phi thuyền do NASA tài trợ, Gs Nguyễn Xuân Vinh là người Việt Nam đầu tiên và cũng là người đầu tiên được Đại học Colorado trao bằng Tiến sĩ Khoa học Không gian. Và những lý thuyết của ông đã góp phần quan trọng đưa các Phi thuyền Apollo lên được Mặt trăng thành công, đồng thời cũng được ứng dụng vào việc thu hồi các Phi thuyền con thoi trở về Trái đất an toàn. Về sau Gs Nguyễn Xuân Vinh còn được mời tham gia thuyết trình thỉnh giảng tại nhiều Đại học lớn và các Hội nghị Quốc tế trên Thế giới như Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Úc, Đức, Ý, Thụy Sĩ, v.v... Chỉ đơn cử một số thành tích đáng nể của GS, vì quá nhiều để kể hết.

Về các giải thưởng khoa học, thì tháng Tám, 1994, Gs Nguyễn Xuân Vinh nhận giải Mechanics and Control of Flight của Viện Hàng Không và Không Gian Hoa Kỳ (American Institute of Aeronautics and Asronautics) về những cống hiến xuất sắc trong lĩnh vực toán điều khiển tối ưu, ứng dụng cho cơ học phi hành của các vật thể bay trong khí quyển và không gian.

Nhận Giải Mechanics and Control of Flight của American Institute of Aeronautics and Astronautics (1994)

Cũng trong năm 1994, giáo sư Nguyễn Xuân Vinh được tặng Giải thưởng Excellence 2000 Award, của Pan Ags. Giải thưởng này, được trao tặng mỗi năm tại một buổi dạ tiệc thường tổ chức vào tháng Năm ở Washington DC, để vinh danh một số người Mỹ gốc Á Châu đã đạt được những thành tích vang danh 

Sau đó năm 2006, Gs Nguyễn Xuân Vinh còn được Hội Khoa Học Vũ Trụ Hoa Kỳ (American Astronautical Society) trao giải Cơ Học Phi Hành Không Gian 2006, tên là giải Dirk Brouwer, là giải thưởng quan trọng nhất cho ngành Cơ Học Phi Hành Không Gian.

Theo trong sách Thiên Chức Nhà Giáo – tác giả Nguyễn Xuân Vinh – (Nhân Văn Nghệ Thuật – 2018), thì trong thời gian dạy học ở University of Michigan, Giáo sư Xuân Vinh đã vận động và trợ giúp để mở các lớp dạy tiếng Việt cho sinh viên của trường. Năm 1999, Ban Tổ chức Giải Khuyến Học tại thành phố St Louis, bang Missouri, đổi tên giải thưởng hàng năm đã thành lập từ 1992, thành “Giải Khuyến Học Truyền Thống Nguyễn Xuân Vinh.” Trong các giải thưởng được trao tặng, đây là giải cao quý nhất dành cho học sinh nào hội đủ các yếu tố học giỏi, có tinh thần phục vụ cộng đồng, và có tinh thần Việt Nam. (Trích trong Thiên Chức Nhà Giáo -2018.)

Thực ra, cái thuở mà Gs Nguyễn Xuân Vinh chuẩn bị đi Pháp học đại học, tôi vẫn còn ở tận đẩu đâu trong bụng mẹ. Vậy mà lớn lên tôi lại thích đọc sách của người. Đó là vì tôi cũng có chút “dây mơ rễ má” với gia đình Không Quân, nên tôi mê tác phẩm “Đời Phi Công” của GS lắm, và đồng thời cũng tìm đọc các quyển sách khác của GS như, Theo Ánh Tinh Cầu, Tìm Nhau Từ Thuở... Và mới đây nhất năm 2018, Giáo sư đã xuất bản thêm một tác phẩm nữa, tựa đề là “Thiên Chức Của Nhà Giáo.” Trong “Đời Phi Công” tôi rất hâm mộ nhân vật Phượng khi đọc những lá thư của “chàng phi công tương lai” Nguyễn Xuân Vinh đang học lái tận bên trời Tây viết cho người yêu nơi quê nhà. Trong gần chục lá thư đó, tôi cảm động với cái câu mà phi công Nguyễn Xuân Vinh viết cho “nàng Phượng” trong lá thư thứ I, “Đường đời muôn vạn nẻo, anh đã chọn lấy một hướng, dù gian nan muôn trùng anh cũng sẽ mỉm cười dấn bước.” Và trong một đoạn khác, tôi khâm phục cái chấp nhận của người hùng, “Ngay từ lúc phải xa gia đình vì ly loạn, anh đã thấy rằng cuộc đời rồi đây sẽ là gió sương kết hợp, và đến nay anh thấy rằng chắc chắn mình sẽ chỉ là một kiếp chim chào cánh trên khắp kinh kỳ.” (Đời Phi Công – Lá thư thứ nhất- tr. 5)

 

Những ngày mới gia nhập vào Học Viện Không Quân Pháp, trong một buổi tối nơi quán cà phê nhạc, có rượu, có cả những người đẹp mắt xanh tóc vàng xung quanh, mà chàng như không nhìn thấy, chỉ mơ về cô người yêu nhỏ ở quê nhà. Đây là những lời chàng viết cho nàng khi ấy:

“Mái tóc của giai nhân có hoe vàng như những sợi tơ lụa, màu mắt xanh lơ như hồ Thu Diệu và khóe cười có say đắm như ly rượu ngọt có lẽ anh cũng không cảm thấy nữa, vì tất cả chỉ thoáng qua đi như một cơn gió dịu đối với anh. Nếu có gì vĩnh cửu có lẽ sẽ là những hình ảnh màu hoa vàng của đồng lúa chín, mùi cơm thơm như hương thơm mái tóc, và ánh mắt ngây thơ nũng nịu của cô em gái khi ngần ngại nhìn ly cà phê ban đầu một chiều nào ở quê hương...” (Đời Phi Công. Lá thư thứ II, tr. 10)

Và trong lá thư cuối cùng, ngày sắp trở về, chàng phi công chung thủy đã viết cho Phượng những lời khiến người ta cảm động về sự chung tình, “Ba năm về trước anh đã hứa những gì với em chắc em còn nhớ, chỉ được hai tuần nữa anh sẽ về gặp lại em, nét cười có phác hồn tang hải, mái tóc có phai màu sương gió, nhưng anh vẫn còn là anh của em như độ nào.” (Đời Phi Công. Lá thư cuối cùng, tr. 52)

Tôi thích tác phẩm “Đời Phi Công” với những lá thư gửi cho nàng Phượng từ quân trường xa xứ, nội dung thư gần như những lời tâm sự, như tường trình, hay là nhật ký, trong suốt ba năm tác giả xa quê hương, xa người trong mộng. Và tôi luôn đinh ninh “nàng Phượng” chỉ là một nhân vật được nhà văn “nặn” ra để trao gửi tâm tình những lúc nhớ nhà.

Không ngờ hôm qua, sau khi tin Gs Nguyễn Xuân Vinh tạ thế loan ra, tôi nhận được một bài viết cũ nhà văn Giao Chỉ Vũ Văn Lộc gửi cho tôi, để đăng vào Trang Tưởng Niệm Gs Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh của Thi Văn Đàn Văn Thơ Lạc Việt. Bác Lộc đã kèm theo bài viết những lời này, “Bài Tạp Văn này viết năm 2005, nhân dịp tác giả Toàn Phong tái bản Đời Phi Công tại San Jose... Tôi không viết chuyện dâu bể 2022, nên gửi bằng hữu câu chuyện cũ.”

Nhưng “Chuyện cũ” của bác Lộc lại là chuyện “mới toanh” đây thú vị đối với tôi. Trong bài viết bác Giao Chỉ có kể về “Nàng Phượng” trong quyển Đời Phi Công của Gs Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh mà tôi từng ngưỡng mộ. Đó là một người đẹp bằng xương bằng thịt hẳn hoi, một mối tình chung thủy đẹp thực sự đã đơm hoa kết trái, và tồn tại đến ăn mừng “Lễ Cưới Vàng 50 năm” cùng nhau chung bước song hành. Bài viết của Bác Lộc có đoạn:

“Hôm thứ Bảy vừa qua, chúng tôi đi dự đám cưới con bác sĩ Nguyễn Hoàng Hải. Ông bác sĩ quân y của chiến trường quân khu I xếp anh em chúng tôi ngồi một bàn. Ngay cạnh bàn của trung tướng tư lệnh Hoàng Xuân Lãm. Tình cờ bàn của chúng tôi lại có đến 4 gia đình gốc Nam Định. Ông bác sĩ Quý Đài xuất thân Nam Định. Bác sĩ Ngọc Khôi là dân Bến Thóc. Còn tôi nhà ở Phố Hàng Rượu. Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh của chúng tôi cũng khai là dân Nam Định. Ông hãnh diện đọc lại cả tên tổng, tên làng, tên xóm. Trong giây phút rung động, người thanh niên Nam Định đã từng một thời ngang dọc, đã từng Theo Ánh Tinh Cầu của Đời Phi Công. Đã mang danh vọng số 1 của Không Quân Việt Nam, trải qua các bục thuyết trình của bao nhiêu giảng đường đại học, ngồi bên đám bạn già nhắc lại các danh hiệu làng quê xóm cũ. Bên cạnh ông vẫn là cô Phượng của Hà Nội ngày xưa. Trên chuyến bay đêm của phi cơ quân sự. Trên các chuyến đi thuyết trình dạy học bằng của phi cơ dân sự, trước sau 50 năm vẫn chỉ có một cô Phượng của tình yêu chung thủy...” Và, “Với mây che trên đầu và nắng trên vai," ông Vinh và bà Phượng đi bộ quanh khu Village ở Evergreen, San Jose. Ông bà đi từng bước rất chậm, và 50 năm mãi mãi bên nhau.” (Trích Đời Phi Công tại San Jose 2005 – Giao Chỉ - San Jose).

Tài năng và những thành tích siêu việt của Gs Nguyễn Xuân Vinh được báo chí Việt, Mỹ, Pháp, và Nhật... đăng tải khắp nơi trên thế giới. Nhưng không có nhiều những bài viết nói về tài làm thơ của vị Giáo sư uyên bác. Tôi tìm thấy trong Tuyển Tập Thiên Chức Của Nhà Giáo, tác phẩm mới nhất của cố GS, đó đây là những bài thơ đủ thể loại, nhiều bài thơ bao gồm những công thức toán học nhưng không hề khô khan mà lại rất có hồn, và mượt mà, như những mảng tình thơ. Xin trích mấy câu thơ tình Lục Bát:

Mắt Biếc Hồ Thu

Mắt em là cả hồ thu,
Tiếng em thánh thót như ru men tình.
Ước sao chỉ có đôi mình.
Nhưng đâu chỉ có chúng mình ước ao!
Đêm nào ngước mắt trông sao,
Cùng em, mơ ước nơi nào viễn du.
Nhìn em, đáy mắt hồ thu,
Anh quên giấc mộng viễn du nơi nào.”

(Thiên Chức Của Nhà Giáo – tr. 336)

Tóm lại, vị Giáo sư Tiến sĩ khả kính, nhà Khoa học Không gian kỳ tài, nhà Toán học siêu việt, chàng Phi công oai hùng, nhà văn và nhà thơ ngọt ngào người Mỹ gốc Việt Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh ra đi đã để lại cho đời, cho thế giới, nhất là giới khoa học, và cộng đồng Việt Nam, một sự tiếc thương vô bờ bến. Đặc biệt, Giáo sư còn để lại những lời tâm huyết, những ước mơ rất đáng để cho cộng đồng Việt chúng ta lưu tâm:

“Tôi đã nêu lên nhiều gương sáng thành công của dân tộc chúng ta là những con Rồng cháu Tiên, nhưng tôi vẫn còn thắc mắc trong lòng khi thấy cộng đồng người Việt trên đất này chưa có tiếng nói được lắng nghe trên bình diện quốc gia. Chỉ khi nào lời nói của cộng đồng người Việt được chính quyền chú ý, trong hàng ngũ lãnh đạo công và tư trên giải đất này có những khuôn mặt gốc Lạc Hồng quen thuộc, lúc đó mới là mốc thời gian để chúng ta tưng bừng mở hội liên hoan. Để đạt được mục đích đó, chúng ta cần đến sự cố gắng thêm nữa và sự tiếp tay của các bạn trẻ...” (Thiên Chức Nhà Giáo – Tr.40).

Kính xin nguyện cầu cho hương linh cố Gs Nguyễn Xuân Vinh được hưởng an nhàn bên Thánh Chúa.

Phương Hoa 
 Tháng 7/25/2022

Nguồn tài liệu tham khảo và hình ảnh:
Đời Phi Công – Cội Nguồn - Tái bản lần thứ Sáu
Thiên Chức Nhà Giáo – NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT xuất bản 2018

Cựu Học Sinh Chu Văn An Thành Kính Phân Ưu Giáo Sư Alphonso Nguyễn Xuân Vinh


Vừa nhận hung tin:

GIÁO SƯ ALPHONSO NGUYỄN XUÂN VINH
- Nhà Văn, Phi công, Đại Tá Tư Lệnh Không Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
- Viện Sĩ Chuyên Ngành Kỹ Thuật Không Gian
- Tiến Sĩ Khoa Học Không Gian Đại Học Colorado.
- Giáo Sư Đại Học Michigan.
- Giáo Sư Đại Học Tsing Hua, Đài Loan
- Viện Sĩ Viện Hàn Lâm Quốc Gia Hàng Không và Không Gian Pháp(Académie Nationale De L'air Et De L'Espace)
- Viện Sĩ Viện Hàn Lâm Không Gia Quốc Tế( International Academy Of Astronautics)
- Giáo Sư các trường Trung Học Chu Văn An, Petrus Trương Vĩnh Ký, Hưng Đạo, Võ Tánh Nha Trang.

Sinh ngày: 03 tháng 01 năm 1930
tại Yên Bái, Việt Nam
Vừa từ trần ngày 23 tháng 07 năm 2022 tại California, Hoa Kỳ
Hưởng thọ: 92 tuổi

Chúng con, một số cựu học sinh Chu Văn An, xin thành kính phân ưu cùng gia đình Thầy.
Thành tâm nguyện xin Thiên Chúa sớm đón Linh Hồn Alphonso Nguyễn Xuân Vinh về nơi Vĩnh Phúc.

Trần Ngọc Thiệu
Nguyễn Phú Hùng
Trần Năng Phùng
Chu Tất Tiến

Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh Và Trường Trung Học Võ Tánh Nha Trang


Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh vừa mới qua đời vào lúc 2 giờ 39 phút chiều ngày 23 tháng 7 năm 2022 tại tư gia, thành phố Costa Mesa - California, hưởng thọ 92 tuổi. Người ta biết danh và hết lòng ngưỡng mộ, không chỉ vì ông là một nhà toán học tài ba, một khoa học gia không gian lỗi lạc, đã đóng góp nhiều công trình quí giá cho nhân loại, mà còn ái mộ ông là một nhà văn dưới bút hiệu Toàn Phong với tác phẩm nổi tiếng Đời Phi Công, ra đời năm 1960, môt năm sau nhận được giải thưởng văn chương toàn quốc, và được giới thiệu trên Le Journal d’ Extrême-Orient của Pháp, khi ông đang là vị Tư Lệnh Không Quân trẻ tuổi nhất của QLVNCH (28 tuổi)

Một con người vĩ đại như vậy, với cá nhân và ngòi bút quá nhỏ bé của mình, tôi thực sự không thể (và cũng không dám) viết điều gì về ông, ngay cả với danh nghĩa là một đứa học trò nhỏ nhất. Bởi vì trên thực tế, tôi chưa và không bao giờ xứng đáng để được làm học trò của ông, mặc dù ông đã từng dạy ở ngôi trường trung học mà tôi có thời theo học, (nhưng khi tôi chuyển vào học từ lớp đệ Tam thì ông đã rời khỏi nơi này cả mấy năm trước đó) Điều duy nhất mà tôi có thể viết, đó là niềm hãnh diện, sự cảm kích và lòng biết ơn về tình quí mến mà ông đã đặc biệt dành cho. Mặc dù ông khiêm nhường bảo đó là tình đồng ngũ và thầy trò.

Lần đầu tiên, cách nay hơn 15 năm, một hôm tôi rất bất ngờ và ngạc nhiên khi nhận được điện thư của ông gởi thăm, nói vài cảm nghĩ sau khi đọc một vài câu chuyện của tôi viết về đời quân ngũ, những năm tháng tù đày và đặc biệt là những kỷ niệm về Nha Trang, cùng ngôi trường Võ Tánh mà tôi từng theo học trước kia. Ông cho biết những bài viết ấy đã gây cho ông nhiều cảm xúc, về một cuộc chiến mà ông không có mặt để cùng gánh vác sẻ chia trong những thời điểm tàn khốc và bất hạnh nhất, và một thành phố biển đẹp đẽ thơ mộng đã làm cho ông cảm thấy được an ủi, thú vị trong hơn một năm ông bị “đi đày”, khi còn mang cấp bậc trung úy, và cũng ở đó ông rất vui với công việc dạy Toán cho học sinh lớp Đệ Nhị của một trường trung học, đã để lại trong ông nhiều kỷ niệm đáng nhớ.

Tôi xin phép được gọi ông bằng Thầy kể từ khi ấy.
Sau khi di chuyển từ San Jose (Bắc Cali) xuống Huntington Beach (Nam Cali), nhân dịp sinh nhật thứ 80 của Thầy, chị Phiến Đan, phu nhân của Thầy gọi tôi đến chung vui, chúc mừng và hàn huyên cùng Thầy. Tôi thật sự cảm kích về sự gần gũi, lòng yêu thương, quí mến mà Thầy đã dành cho. Từ đó tôi thường lui tới viếng thăm và chuyện vãn với Thầy.

Có lần, chị Phiến Đan cho biết là nhà thường bị ăn trôm, và xảy ra vài điều không may khác. Chị tin vào Phong Thủy nên hỏi tôi có biết người nào giỏi về môn này không. Tôi nghĩ ngay đến nhà phong thủy nổi tiếng Quảng Đức Nguyễn Văn B., người bạn cùng lớp đa tài thời trung học ở Nha Trang, nhưng tôi ái ngại khi nghĩ Thầy là một nhà khoa học, nên bảo chị Phiến Đan dò hỏi ý kiến của Thầy. Không hiểu tin về Phong Thủy, chiều vợ, hay vì thương một thằng học trò Võ Tánh Nha Trang, mà Thầy theo lời chỉ dẫn của anh bạn tôi, tự tay phụ vợ sơn lại màu khác trên mấy bức tường nhà. Tôi hỏi, Thầy chỉ cười. Thấy Thầy cười là tôi vui rồi!

Một lần, đọc ở đâu đó thấy Thầy có ít phiền toái khi sinh hoạt trong Tập Thể Cựu Chiến Sĩ, tôi tha thiết khuyên Thầy nên nghỉ ngơi vì tuổi đã già và cống hiến đã nhiều. Tôi cũng đề nghị chị Phiến Đan tìm cách nói thêm với Thầy, nhưng Thầy trầm ngâm rồi bảo:
-Tướng Lê Minh Đảo rủ tôi cùng vận động anh em, bây giờ Tướng Đảo đã rút ra, trong lúc đang khó khăn tôi bỏ anh em lại sao đành!

Ngày 20.3.2022, trong một buổi lễ rất trang trọng do Hội Giáo Chức VNCH, Hội Bưởi&Chu Văn An, và Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt tại Nam Cali phối họp tổ chức để vinh danh Giáo Sư Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, tôi có dịp được nghe các vị giáo sư, một số cựu sĩ quan cao cấp Không quân, cùng một số bạn hữu của Thầy đã nói về những thành tích, về những vinh dự lớn lao mà ông đã nhận được tại Hoa Kỳ, và một số quốc gia khác, đặc biệt trên một bảng tuyên dương tại Viện Khoa Học Không Gian Liên Xô, tên của Thầy được đặt lên hàng đầu, trên cùng, trước những khoa học gia Không Gian Thế Giới khác…, đã làm tôi thêm hãnh diện khi nghĩ là đã từng có một người Việt nam như thế!

Vài hôm sau đó, tối ngày 24.3.2022, qua Giáo sư Trần Huy Bích, tôi nhận được lời mời của Thầy và chị Phiến Đan đến nhà dùng cơm tối. Tôi rất bất ngờ và cảm động khi thấy Thầy đã già yếu, sức khỏe không được tốt mấy mà vẫn còn nghĩ đến mình. Thầy đã dọn về ngôi nhà mới một tầng ở thành phố Costa Mesa từ mấy năm nay, vì ngội nhà cũ, phòng ngủ nằm trên lầu nên không mấy thuận tiện cho Thầy. Ngôi nhà mới khá đẹp, rộng rãi nằm trong một khu yên tĩnh, với bàn tay khéo léo của chị Phiến Đan, nên các phòng ốc được trang trí rất trang nhã hài hòa, khu vườn trồng nhiều loại hoa thơ mộng, hợp với sở thích của Thầy. Khách của buổi cơm gia đình hôm ấy, ngoài Giáo sư Bích và tôi, còn có vợ chồng Bác sĩ Nguyễn Ngọc Kỳ, học trò cũ Chu Văn An cũng là bác sĩ riêng của Thầy, cùng vợ chồng Nhạc sĩ Lê Văn Khoa. Hôm ấy Thầy rất vui. Chúng tôi nói chuyện thoải mái, về đủ mọi vấn đề. Thầy còn bảo chúng tôi cứ hỏi bất cứ điều gì muốn hỏi, Thầy sẽ trả lời. Chị Phiến Đan trở thành “ký giả”, ngồi ghi chép lại các câu hỏi của chúng tôi để nhắc cho Thầy. Biết bao nhiêu câu hỏi cho đủ về cuộc đời quá thành đạt và phong phú của Thầy. Có người hỏi về gia đình, thời tuổi thơ, đời phi công. Có người hỏi lúc làm Tư Lệnh Không Quân xảy ra vụ hai phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử dội bom Dinh Độc Lập đúng lúc Thầy đang công tác ở Đài Loan, có bị TT Diệm khiển trách hay không. Thầy cũng giải thích trường hợp Thầy xin giải ngũ để sang Mỹ du học và được TT Diệm đồng tình, khuyến khích. Có người hỏi trong ba thiên chức: nhà văn, nhà giáo và nhà khoa học, vai trò nào để lại cho Thầy nhiều kỷ niệm đáng nhớ, hoặc Thầy ưa thích nhất. Thầy cười, bảo ở mỗi lãnh vực đều có những thích thú riêng, nên Thầy thích làm toán cộng thay vì trừ hay phải chia ra.

Bỗng tôi khựng lại khi có một vị nêu câu hỏi:
- Thầy đã trải qua nhiều công việc và sống ở nhiều nơi, vậy thời gian và nơi nào Thầy cảm thấy thích thú và đáng ghi nhớ nhất?

Thầy trả lời không do dự:
-Thời tôi ở Nha Trang và dạy ở trường Trung học Võ Tánh!
Vốn là một người Nha Trang và cũng là một cựu học sinh Võ Tánh, câu trả lời khá bất ngờ của Thầy dường như đã chạm vào trái tim tôi. Tôi lễ phép hỏi Thầy:
-Có phải lúc ấy Thầy còn trẻ, đang yêu đời và gặp nhân vật Phượng để viết nên tác phẩm Đời Phi Công sau đó?

Thầy cười, bảo:
-Mới từ Pháp về nước, trong khi Không Quân đang rất cần những phi công, thì tôi lại bị “đẩy”ra Nha Trang làm huấn luyện viên bay kèm cho mấy anh sĩ quan mới tập bay. Có lẽ ông Tư Lệnh lúc ấy nghĩ tôi là người do Tướng Nguyễn Văn Hinh giới thiệu đi học phi công, nên có ác cảm. Không ngờ ra Nha trang, thấy biển trời mênh mông, thơ mộng và con người hiền hòa nên tôi lại thích thú. Nhưng rồi cũng chỉ được hơn một năm, khi TT Ngô Đình Diệm chấp chánh thì tôi nhận lệnh về lại Bộ Tư Lệnh Không Quân.

Sau đó, trong lúc chỉ còn có hai thầy trò, Thầy đã tâm tình thêm:
-Chỉ dạy Toán hơn một năm ở mấy lớp đệ nhị Trường Võ Tánh, nhưng tôi rất quí mến các thầy cô giáo và đặc biệt các em học sinh. Tất cả đều lễ độ, hiền hòa và hiếu học. Tôi đoán trong số họ sẽ có nhiều người thành công trong nhiều lãnh vực và đóng góp cho sự phát triễn của đất nước, kể cả cho nền văn học. Điều đó bây giờ đã là sự thật. Sau này tôi đã có dịp quen biết hay gặp lại một số học sinh Võ Tánh thành đạt trong nhiều lãnh vực như thế, tôi mừng lắm, chỉ tiếc là VNCH của chúng ta không còn tồn tại nữa!


Và đó cũng là lần cuối cùng tôi được gặp và hàn huyên với Thầy.
Viết những dòng này để tưởng nhớ và thay cho lời vĩnh biệt Thầy, khi Tang Lễ của Thầy vào ngày 28 và 29.7.2022 tại Nam Cali, tôi không thể có mặt để cùng các huynh đệ Võ Tánh tiễn biệt Thầy về miền miên viễn.

Xin cúi đầu bái biệt Thầy!

Bắc Âu, 25.7.2022
Phạm Tín An Ninh

Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh Trong Góc Nhìn Văn Học.

 

Chủ nghĩa văn học lãng mạn lôi cuốn không biết bao nhiêu nhà văn, nhà thơ đã sáng tác văn chương, thi ca tán dương ái tình, hay tình yêu, hãy xem những ví dụ như: Nhà văn kiêm triết gia Albert Camus nhận xét "Không được yêu là một bất hạnh đơn giản; bất hạnh thực sự là không yêu". Thi hào lãng mạn Charles Baudelaire quan niệm "Tình yêu là khao khát được thoát ra khỏi chính mình". Triết gia Jean Jacques Rousseau cho là "Những bức thư tình bắt đầu mà không biết điều gì sẽ nói và kết thúc mà không biết điều gì đã được nói". về quan điểm tình yêu Voltaire nhà văn và triết gia Pháp đã viết "Bạn phải biết rằng không có đất nước nào trên trái đất mà tình yêu không biến những người yêu nhau thành thi sĩ". và Stendhal một nhà văn Pháp thế kỷ 19 lập luận "Tình yêu là một bông hoa tuyệt vời, nhưng cần phải có dũng khí để tìm kiếm nó trên bờ vực của vách núi kinh hoàng". Sau cùng nhà văn phi công Antoine de Saint-Exupéry ghi nhận "Yêu xa là không nhìn mặt nhau; là cùng nhau nhìn về cùng một hướng"

Nhìn từ luận điểm phân tích văn học, chủ nghĩa văn học lãng mạn (romanticism) đề cao cá nhân, tự do sáng tạo, chủ trương phóng túng, không để tâm hồn bị ràng buộc trong khuôn khổ cũ. Trong tiến trình sáng tác thơ văn, sự tưởng tượng và tri giác được đề cao và ngự trị bởi cá thể. Tác gia văn học trở thành trung tâm điểm trong việc sáng tác. Các nguyên tắc về khuôn mẫu và kiến trúc đã có từ trước của thi ca bị vất bỏ để thỏa mãn nhu cầu cần thiết của bản năng tự nhiên. Ngôn ngữ thơ được viết tự do và tự nhiên không còn bị gò bó trong thể luật. Chủ nghĩa duy lý (rationalism) bị chán ghét, trong khi ngữ căn và khát vọng tiềm thức được thăng tiến trong văn chương lãng mạn. Tác phẩm là tiếng lòng được thể hiện toàn vẹn, triệt để và vô hạn bằng sự tưởng tượng và xúc động không che dấu, không bị trói buộc bởi những ước lệ luân lý của xã hội.


Thực vậy, đặc tính chung đa số những nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch thuộc chủ nghĩa lãng mạn, tâm hồn của họ thiên tạo vốn gần gũi vối bản sắc ái tinh. Hihihi...
Xét ra thi nhân Toàn Phong không ngoại lệ nhé. Xem sau, nhà văn kiêm nhà thơ Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh của những Đời Phi Công, Mắt Biếc Hồ Thu, Tìm Nhau Từ Thuở, Tình Hư Ảo, Tâm Điểm, Ly Biệt, Bâng Khuâng,...

Em yêu anh, nên anh là tâm điểm
Giữa vòng tròn hạnh phúc của đời em.
Dẫu thời gian, không gian hoài biến chuyển,
Qũy tích này vẫn mãi chỉ chờ anh.
(Tâm Điểm, Nguyễn Xuân Vinh)

hay

Trời về khuya, bóng hình ai thương nhớ,
Muốn quên đi, vì giấc mộng không thành.
Vẽ cho cùng, không trọn trái tim anh,
Em đành đem chuyện chúng mình cất lại.
(Bâng Khuâng, Nguyễn Xuân Vinh).

Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật - Tiếng Thời Gian đang ấn hành, hay tái bản cho ông sách Theo Ánh Tinh Cầu. GS. Vinh vốn quý Theo Ánh Tinh Cầu, và Mộng Viễn Phương. Loại sách như L'Aviateur (Người phi công) danh tác của Saint-Exupéry), Courrier Sud (Chuyến thư miền Nam), Vol de Nuit (Bay đêm), Terre des Hommes, Cõi người ta ), Pilote de Guerre (Phi công thời chiến) hay Le Petit Prince (Hoàng tử bé), những tác phẩm về phi công hay nghiệp bay, điểm chung của hai nhà văn phi công Antoine de Saint-Exupéry và của nhà văn phi công Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh.


GS. Nguyễn Xuân Vinh đã viết: “Trong nền văn học thế giới, kể cả Việt Nam, có những tác phẩm mà người đọc, sau khi bỏ sách xuống đã bâng khuâng tự hỏi phải chăng đây là việc thật xảy ra với những người thật. Đọc Les Miserables của Victor Hugo người ta như sống với những nhân vật trong truyện. Trong những tác phẩm thật chọn lọc của Tự Lực Văn Đoàn, khi đọc Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng ta cũng có thể nghĩ chú tiểu Lan là mẫu người có thực. “Theo tôi nghĩ thì nhà văn khi tạo dựng một tác phẩm, nếu tả đúng tâm lý của những nhân vật trong truyện và trong một khung cảnh hiện thực thì đó là bí quyết để thành công khi viết sách để cho người đọc như đang theo dõi một câu chuyện đời có thực. Trường hợp tôi viết “Đời phi công” cũng như vậy, tôi cố tạo ra những hình ảnh đẹp là mẫu mực của thanh niên ở thế hệ tôi. Nhiều thanh niên học sinh đọc sách đã thầm ước mình là người trong truyện.”

Mạn đàm về văn học

Trong buổi mạn đàm về văn học cùng nhà văn Nguyễn Mạnh Trinh và phóng viên Nhã Lan, GS. Nguyễn Xuân Vinh kể về sự hình thành 2 cuốn tiểu thuyết Đời Phi Công và Tìm Nhau Từ Thuở như sau:

"Khi viết xong cuốn truyện này, vào thời khoảng 1960, gồm có nhiều bức thư kể đời sống của một chiến sĩ Không Quân, từ lúc bắt đầu là một sinh viên sĩ quan cho đến lúc thi hành nhửng phi vụ hành quân ở đơn vị, thì tôi đã là người chịu trách nhiệm tổ chức và bành trướng Không Quân Việt Nam, và nghĩ rằng mình đã theo binh nghiệp thì sẽ đi suốt chặng đường....

Về văn học, thời niên thiếu tôi học theo chương trình Pháp. Vốn liếng nho học, tôi chịu ảnh hưởng của ông ngoại, và ngoài ra tôi chịu khó đọc sách tiếng Việt và tìm hiểu về lịch sử nước nhà nên dĩ nhiên là được thấm nhuần cả hai nền văn hoá Đông và Tây. Tôi đã đọc hầu hết những tác phẩm nổi tiếng viết bằng tiếng Việt. Về sách tiếng Pháp tôi thường tìm đọc những tác phẩm của Alphonse Daudet, Emile Zola và Victor Hugo. Tuy vậy tôi không nghĩ rằng văn phong của tôi chịu ảnh hưởng của một tác giả nào vì tôi chỉ viết khi có hứng khởi theo ý nghĩ của riêng mình. Có người đã phê bình rằng cuốn Đời Phi Công tôi viết chịu ảnh hưởng của nhà văn Pháp Antoine de Saint-Exupéry. Điều này đã được nhà văn Việt Hải phản bác lại là cuốn sách của tôi không có gì giống với những tác phẩm của nhà văn người Pháp ngoài chuyện là hai người cùng nặng nghiệp bay.


Nhà văn Việt Hải còn nói rằng là ông Saint-Exupéry viết chuyện người phi công phải vật lộn với mưa gió bão bùng trên trời và tôi nói chuyện về tình người ở trên quê hương Việt Nam, thì như vậy có gì liên hệ tới nhau. Vả chăng có sự việc không mấy người biết là tuy sách tôi viết bằng tiếng Việt nhưng vào năm 1961 đã được giới thiệu trên nhật báo Pháp văn “Le Journal d’Extrême-Orient”. Tôi cũng đã dịch một chương của cuốn truyện sang Anh ngữ và đăng trên Empire Magazine là tuần báo ra ngày chủ nhật của Denver Post là tờ báo lớn nhất ở miền Trung Hoa Kỳ. Bài dịch này, đề là “The Eagle’s Wings” đã được họa sĩ Patrick Oliphant, vẽ hình trình bầy. Ông là người nổi tiếng thường có hình biếm họa đăng trên The Washington Post và sau đó được giải Pullitzer vào năm 1967. Năm 1984 tôi đã là người gốc Á châu đầu tiên được bầu vào Académie Nationale de l’Air et de l’Espace của Pháp. Hàn Lâm Viện này không phải chỉ gồm toàn những kỹ sư và khoa học gia về hàng không và không gian mà còn có nhửng danh nhân về văn học như Pierre Closterman, phi công anh hùng Đệ Nhị Thế Chiến và là tác giả những cuốn sách nổi tiếng như Le Grand Cirque, Flames in The Sky, …, hay ông Michel Debré, giáo sư Luật khoa, nhà văn và cũng là cựu thủ tướng Pháp , …. Những người này khi bỏ phiếu bầu cho tôi tất nhiên đã đọc những tài liệu tôi viết bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp mà ủy ban tuyển chọn đã thâu thập được và họ là những người xứng đáng nhất để có thẩm quyền nhận xét về giá trị văn học và khoa học và hiểu biết kỹ thuật về hàng không của tôi. Tất nhiên những người này không ai nghĩ là tôi đã dựa vào một tác phẩm nào để viết cuốn sách đầu tay của mình….

Trong nền văn học thế giới, kể cả Việt Nam, có những tác phẩm mà người đọc, sau khi bỏ sách xuống đã bâng khuâng tự hỏi phải chăng đây là sự việc thật, xẩy ra với những người thật. Đọc Les Misérables của Victor Hugo người ta như sống với những nhân vật trong truyện. Trong những tác phẩm thật chọn lọc của Tự Lực Văn Đoàn, khi đọc Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng ta cũng có thể nghĩ chú tiểu Lan là mẫu người có thật. Theo tôi nghĩ thì nhà văn, khi tạo dựng một tác phẩm, nếu tả đúng tâm lý của những nhân vật trong truyện và trong một khung cảnh hiện thực thì đó là bí quyết để thành công khi viết sách để cho người đọc như đang theo dõi một câu chuyện đời có thực. Trường hợp tôi viết Đời Phi Công cũng như vậy, tôi cố tạo ra những hình ảnh đẹp là mẫu mực của thanh niên ở thế hệ tôi. Nhiều thanh niên học sinh đọc cuốn sách đã thầm ước mình là người trong truyện….

Tác giả Nguyễn Xuân Vinh viết về tác phẩm Tìm Nhau Từ Thuở:


“Cuốn sách này tôi viết ba năm mới xong gồm 14 chương. Tuy diễn tiến của cuộc tình theo với thời gian đã được dàn trải trước nhưng có khi vài tuần lễ tôi mới viết được một đoạn như là một câu truyện ngắn nói về liên hệ giữa hai người. Chẳng hạn trong một chương sách có tiêu đề là Thiên Nga tôi chỉ kể câu chuyện nhân dịp lễ Valentine anh chàng Phong tìm mua được một con thiên nga bằng pha lê để gửi kịp ngày 14 tháng 2 cho cô bé mang ra trường khoe với lũ bạn luôn luôn tọc mạch. Bài viết cũng khá dài gồm nhiều chi tiết làm người đọc thấy thích thú. Mỗi chương sách tôi thường viết một mạch không cần sửa chữa hay thêm bớt. Trong khoảng thời gian đó tôi tưởng tượng mình như có liên hệ với những người trong truyện nên có độc giả đã nghĩ rằng tôi kể chuyện đời mình.”

Về Tìm Nhau Từ Thuở, GS Vinh kể tiếp:

"Trong những năm sống ở nước ngoài, và được đi nhiều nơi, tôi đã viết một loạt bài, thường là những ký sự hay tùy bút bộc lộ tâm sự của mình, hướng về đất nước và mong ước cho giới trẻ đạt được những thành tích làm vẻ vang cho quê hương. Những bài này được lựa chọn và in thành một tuyển tập đề là Theo Ánh Tinh Cầu do nhà xuất bản Đại Nam in ra năm 1990. Sách in ra được bán hết ngay trong năm nhưng không in lại vì tôi dự định viết tiếp một số bài nữa. Sau đó, tôi viết một vài truyện ngắn tả mối tình thật lý tưởng giữa một chàng trai thời loạn và cô em gái một người bạn. Những chuyện này được đăng liên tiếp mấy năm trên những số báo Xuân Thời Luận và được độc giả ưa chuộng. Ông chủ bút Thời Luận là nhà văn Đỗ Tiến Đức vẫn thường nhắc nhở tôi viết những chuyện văn chương và tình cảm tuy rằng ông vẫn nhận đăng những bài nói về hoạt động giáo dục và khoa học của tôi. Vì thế tôi đã viết tiếp để tạo dựng thành một cuốn truyện đi cho tới đoạn kết....

Cũng như khi viết cuốn Đời Phi Công, tôi muốn giới hạn thời gian của câu chuyện để giữ niềm trẻ trung cho những nhân vật trong truyện. Cũng vì vậy mà tôi đặt khoảng thời gian vào những năm kế cận trước và sau năm 1975. Câu chuyện cũng được diễn tả một cách trung thực hơn vì tôi biết rõ sự biến chuyển trên đất nước trong khoảng thời gian này. Nhiều người đã đọc cuốn sách, cả hai phái nam và nữ, là những chuyên gia có trình độ, cũng có nhận xét như Nhã Lan là tôi đã diễn tả lại một khung cảnh của đất nước trong giai đoạn này.

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ là bậc đàn anh khả kính mà tôi được biết khi cùng dậy ở trường trung học Chu Văn An ở Sàigòn. Nhưng theo tôi nghĩ thì sự chọn lựa của giới trẻ Việt Nam hiện nay không hẳn chỉ giữa hai nền văn hoá Đông và Tây, thật cách biệt nhau. Trong giữa hai đối nghịch cũng có những khoảng dung hoà có thể chấp nhận được. Lý tưởng ra thì tôi hằng mong ước các bạn trẻ sống ở hải ngoại phải cố gắng tranh đua sao cho bằng người mà vẫn giữ được bàn sắc đạo đức của giống nòi Hồng Lạc.

Nhân vật Phong là nhân vật nam ở trong Tìm Nhau Từ Thuở. Còn Phương Vân là cô bé trong cuốn truyện, em của một người bạn học. Tình cảnh này thường xẩy ra giữa các liên hệ bạn bè. Tuy tôi tả Phương Vân như một nữ sinh hiền thục ở tuổi trăng tròn, nhưng để mở rộng phạm vi hoạt động cho Phong, tôi đã đặt anh vào vị trí của một chuyên gia tốt nghiệp từ một trường cao đẳng có uy tín ở Pháp, và đã theo tiếng gọi của nghĩa vụ mà về nước phục vụ một khoảng thời gian. Cũng vì vậy mà nhiều người đọc sách đã nghĩ rằng tôi kể chuyện đời mình.

Ðời Phi Công là những bức thư của một chàng thanh niên vừa xếp bút nghiên theo việc đao cung gửi cho người bạn gái đã mang tính chất thời đại của một mẫu người tuổi trẻ thật nhiều lý tưởng. Cuốn sách đã tạo nhiều ảnh hưởng, được tái bản nhiều lần và hàng ngàn người trai trẻ nô nức gia nhập Không Lực để thực hiện lý tưởng và hoài bão của mình trong thời chiến tranh khốc liệt về sau. Cùng một lúc với sự phát triển của không quân Việt Nam vào những năm 1960, rất nhiều thanh niên đã theo tiếng gọi của Tổ Quốc Không Gian gia nhập quân chủng. Nhiều sĩ quan tốt nghiệp trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt cũng xin chuyển về phục vụ Không quân.”

Bàn luận về tác phẩm Đời Phi Công là những lá thư gửi Phượng và tác phẩm Tìm Nhau Từ Thuở cũng có những bức thư nói liền những không gian xa cách. tác giả tâm tình:
"Cuốn Đời Phi Công là một tập sách gồm toàn những lá thư viết cho một cô bạn gái ở xa, để kể chuyện đời của những người nặng nghiệp bay. Còn Tìm Nhau Từ Thuở là một tập truyện tả một một mối tình cao thượng, nẩy nở theo ngày tháng giữa một chàng trai thời đại và một nữ sinh, em một người bạn. Sau này vì hai người ở xa nhau, nên đôi khi có những cánh thư trao đổi nhưng số trang viết qua thư từ chỉ là một phần nhỏ trong cuốn sách. Vì vậy thể văn không phải hoàn toàn là thể viết thư.
...
Như cuốn Tìm Nhau Từ Thuở, tôi phãi mất ba năm mới viết xong. Cuốn sách gồm có 14 chương. Tuy diễn tiến của cuộc tình theo với thời gian đã được dàn trải trước nhưng có khi vài tuần lễ tôi mới viết được một đoạn như là một câu chuyện ngắn nói liên hệ giữa hai người. Chẳng hạn trong một chương sách có tiêu đề là “Thiên Nga” tôi chỉ kể câu chuyện nhân dịp lễ Valentine anh chàng Phong tìm mua được một con thiên nga bằng pha lê để gửi kịp ngày 14 tháng Hai cho cô bé mang ra trường khoe với lũ bạn luôn luôn tọc mạch, nhưng bài viết cũng khá dài gồm nhiều chi tiết làm người đọc thấy thích thú. Mỗi chương sách tôi thường viết một mạch, không cần sửa chữa hay thêm bớt. Trong khoảng thời gian đó tôi tưởng tượng mình như có liên hệ với những người trong truyện nên có độc giả đã nghĩ rằng tôi kể câu chuyện đời mình."

Mục tiêu của tác phẩm “Vui Đời Toán Học” là:

"Ngay ở lời mở đầu cuốn sách, tôi đã viết là từ khi vào trung học tôi đã thấy yêu thích môn toán học và ao ước được đọc những cuốn sách viết về cuộc đời học toán của những người đi trước. Dĩ nhiên là khoảng thời gian khi tôi mới lớn lên, sách vở thiếu thốn nên không được đọc những tài liệu đó. Giờ đây tôi viết cuốn sách này kể lại những cố gắng của mình trong cuộc đời tầm học và mong rằng những chuyên gia khác ở mọi ngành cũng làm tương tự để lảm giầu thêm cho tủ sách kiến thức chuyên môn viết bằng tiếng Việt. Tuyệt đối là không. Thật ra khi chọn tên cho cuốn sách tôi cũng sợ có chuyện ngộ nhận đây là sách nói về Toán học. Thật ra lúc mới đầu chỉ là một tập sách gồm có nhiều câu chuyện vui về toán viết một cách nhẹ nhàng giản dị cho mọi người có thể đọc được. Những chuyện này khi viết ra đã được đăng trên nhiều nguyệt san và được người đọc ưa thích. Những nguyệt san đã đăng bài thường chỉ lưu hành ở địa phương nên nhiều người đã muốn tôi gom những bài này lại để in thành sách để phổ biến cho nhiều người đọc. Có nhiều bài chỉ gổm toàn là những bài thơ tình. Chẳng hạn tôi lấy bài “Mười hai bến nước” thì bài này là gồm một số bài thơ tình cảm dùng những danh từ toán học. Tôi chọn một bài làm thí dụ

Tâm Điểm

Tình là vậy, từ chân không chợt đến,
Một vòng tròn quay hai nửa tim hồng.
Để mỗi ngày đôi chân bước song song
Mong đi tới tận cùng là giao điểm
Em yêu anh, nên anh là tâm điểm
Giữa vòng tròn hạnh phúc của đời em.
Dẫu thời gian, không gian hoài biến chuyển,
Quỹ tích này vẫn mãi chỉ chờ anh.

Nếu không loáng thoáng có những danh từ toán học chen vào thì người đọc có thể nghĩ đó là một bài thơ tình. Trong câu chuyện này cũng có những câu thơ thật tha thiết như

Anh hiểu chưa, cõi lòng em như thế,
Em muôn đời không đổi trục, anh ơi.
Nhớ thương anh, tuy chẳng nói nên lời,
Em mơ ước theo cung đường tối lợi.
Tìm giao điểm cho lòng ai mở hội,
Xác định rồi vẽ đồ thị triển khai,
Rồi chứng minh tỷ lệ suốt đêm dài,
Lên đáp số đóng khung đời hình học.
Bài toán tình luôn làm người mê hoặc,
Bởi muôn đời nó vô định, người ơi!!

Trong một bài khác tôi viết có tựa đề là “Thảo bài thơ liên hoàn” nói về một buổi trại hè các trại sinh chia nhau thành năm nhóm ngồi ở bốn phương Đông Tây Nam và Bắc và một nhóm ngồi ở phương vị Trung ương, mỗi nhóm chọn một hình vuông, tròn, lục lăng, ngũ giác và tam giác để trình bầy về vẻ đẹp của hình nhóm mình đã chọn. Khi đến hồi kết luận thì một em trại sinh đóng vai một thi nhân đi thăm các nhóm, và ở nơi nào cũng thảo ra một bài thơ tứ tuyệt để ghi làm kỷ niệm. Ý kiến của tôi khi đưa ra một bài thơ liên hoàn là để gây tình liên kết, khuyên người đọc mà tôi hy vọng là ở trong giới trẻ hiếu học là biết nối vòng tay lớn để cùng nhau xây dựng quê hương. Trong bài viết này tuy có phác qua những vẻ đẹp của các hình kỷ hà học, nhưng sự thực là một sáng tác thơ văn. Hai bài viết mà tôi đưa ra làm thí dụ về khía cạnh thơ văn của cuốn sách tôi đã đăng trên nguyệt san Tân Thế Kỷ ở Dallas trước đây và sau này được truyền đi nhiều lần trên mạng vi tính nên có nhiều người đã đọc. Có một lần tôi tìm được trên mạng bài thơ tình toán học của tôi có người phổ nhạc và hát nữa nghĩ thật là vui. Khi tôi cho vào trong cuốn sách và viết thêm những kỷ niệm học toán và giảng dậy ở các đại học cùng làm nghiên cứu khoa học thì mới lấy tên mới này là “Vui Đời Toán Học” và vì số lượng trang sách tổng cộng lên quá lớn gần tới 900 trang nên tôi phải bỏ bớt đi và giữ lại còn gần 500 trang mà thôi. Những bài tôi vừa lấy làm thí dụ vì đã được chuyển đi nhiều lần trên mạng nên trong cuốn sách này tôi phãi bỏ đi. Ngược lại tôi viết thêm nhiều bài nói về cuộc đời làm toán qũy đạo không gian và dậy học của tôi. Thật ra có nhiều chuyện người đồng hương không biết nếu không đọc cuốn sách. Chẳng hạn tôi có nhiều học trò đã thành danh, và một ngừơi nay là đại giáo sư ở một đại học lớn và tên của ông ta được đặt cho một tiểu hành tình mới tìm thấy cách đã hơn mười năm. Tuy đã nổi tiếng như vậy mà trong tiểu sử của ông được in trên trang Đại Học ông vẫn ghi tên tôi là giáo sư cố vấn cho luận án tiến sĩ của mình. Tôi dùng lối hành văn giản dị, không cầu kỳ lại nhẹ nhàng. Thỉnh thoảng tôi chen vào vài kỷ niệm riêng, thường là những kỷ niệm vui, hay gặp những duyên kỳ ngộ, được thầy hay, bạn tốt. Trong cuốn sách này tuy như tôi đã nói trước đây là có nhiều bài chỉ gồm toàn những bài thơ tình, nhưng nay tôi thu xếp lại để viết thêm về cuộc đời học toán, dậy học và khảo cứu của mình nên đả dùng thể văn tự truyện nhưng có chen vào những tình cảm riêng tư của mình đối với đất nước và thế hệ trẻ Việt Nam.

Nói chung, sáng tạo thơ văn thì không có gì giới hạn, nói theo tiền nhân khi xưa thì

Ngoài vòng cương toả chân cao thấp,
Trong thú yên hà cuộc tỉnh say

Muốn viết sao cũng được miễn sao bộc lộ được ý tưởng của mình muốn truyền cho người đọc. Nhưng sáng tạo toán học phải dùng hoàn toàn luận lý thật chặt chẽ, tuy đôi khi phãi pha một chút tưởng tượng không bình thường. Tôi lấy một thí dụ, tuy không thực tế cho lắm, là một phi thuyền đang bay trên một qũy đạo vòng tròn quanh trái đất, mà giờ ta muốn quay ngược chiều nghĩa là đổi hướng bay 180 độ. Như thế, theo ý nghĩ thông thường thì phải hãm vận tốc lại thành số không rồi lại tăng tốc độ thành như cũ nhưng đổi ngược chiều, thật vừa tốn kém nhiên liệu lại vừa gây ra một độ gia tốc quá đáng có ảnh hưởng tai hại đến phi thuyền và phi hành đoàn nếu có. Lời giải đáp thật đúng là làm sao vận hành cho đỡ tốn nhiên liệu là phải tăng tốc độ cùng chiều, nghĩa là thay vì quay ngược ngay lập tức, lại phải tiến tới. Vận động này, chỉ tốn một ít nhiên liệu nhưng sẽ làm cho phi thuyền vượt khỏi trọng trường của trái đất và bay đi thật xa. Ở khoảng cách xa, lấy thí dụ là khoảng cách chừng mười lần bán kính qũy đạo, vận tốc của phi thuyền sẽ rất nhỏ, giống như khi ta tung một quả bóng lên cao, lên tận cùng rồi muốn rơi trở lại. Lúc đó chỉ càn tạo ra một lực nhỏ để cho phi thuyền bay trở lại nhưng lần này ngược với hướng bay trước. Khi tới vị trí cũ thì tốc độ trở lại bằng lúc mới bắt đầu khởi hành nhưng lần này phi thuyền đi ngược chiều và chỉ cần hãm tốc độ lại vừa đủ đi vào qũy đạo tròn là thực hiện được phép đổi hướng 180 độ. Chi phí về nhiên liệu, một lần tăng lên và một lần giảm đi, cả hai lần đều bằng nhau theo tính chất đối xứng của qũy đạo và tương đối nhỏ. Đấy là ý kiến đưa ra nhưng sau đó phải dùng phép tính thật chính xác để xem tất cả những điều lợi, như tiết kiệm nhiên liệu, bớt độ gia tốc, và những điều hại như kéo dài thời gian vận chuyển vân vân…"

Về quan điểm toán học, ông đề cập:

"Toán học là một môn của Triết học. Tôi củng như nhiều người có suy tư và quan niệm về cuộc sống, thường quanh những đạo đức cổ truyền mà tôi được thấm nhuần từ hồi trẻ, thường là bất di dịch, như là chịu ơn ai thì nghĩ đến báo đền. Lấy một thí dụ là trong cuốn sách tôi có một bài viết là “Thầy còn nhớ tôi không?” nói đến tình thầy trò. Nhưng khi làm khoa học, đi vào luận lý thì những suy nghĩ này phải gạt sang một bên. Nói một cách khác khi thấy ông thầy của mình tính không đúng thì cũng phải nhắc khéo là ông đã hơi sai."

Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh: Toán Thơ và Thơ Toán

Như trên, văn học và toán học có điểm gần nhau. Nhà văn kiêm nhà giáo môn toán Nguyễn Xuân Vinh yêu thích thi ca, Vui Đời Toán Học ghi nhận trong nhiều trang sách. Trong tương quan đó nữ toán học gia gốc Nga Sophia Kovalevskaya của thế kỷ 19 cho là: “Bạn không thể là một nhà toán học mà không có tâm hồn của một nhà thơ” (Il est impossible d'être un mathématicien sans avoir poète dans l'âme). Còn nhà toán học người Đức nổi danh trong môn toán Calculus, Karl Weierstrass ối thế kỷ 19) cho nhận định: “Một nhà toán học không mang một nét gì đó của một nhà thơ thì chả bao giờ là một nhà toán học trọn vẹn được” (Un mathématicien qui n'est pas aussi quelque peu poète ne sera jamais un mathématicien complet). Tôi thầm nghĩ chả nhẽ hai cụ Sophia Kovalevskaya và Karl Weierstrass đã cho hai câu nói đúng y bon để giới thiệu về nhà văn kiêm giáo sư có hai đam mê trong tâm hồn, toán học và văn học, Thi sĩ GS. Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh.

“Xưa nay chúng ta thường nghĩ những sáng tác văn học vốn là những xúc cảm riêng của nhà văn, nhà thơ, nên có khi không mang một quy luật gì cả, nhất là việc muốn đo bằng số (định lượng) những kết quả hay các quy luật của văn thơ thì dường như là điều không thể làm được. Các bài viết dưới đây sẽ làm cho chúng ta thay đổi lại cách nhìn, chúng ta sẽ thấy, hóa ra tính hài hòa” của của văn chương vẫn có thể được đo bằng sự cứng nhắc” của đại số. Điều này nó mang lại thắng lợi không phải cho riêng toán học, mà còn làm cho cách tiếp cận văn học trở nên đa dạng và phong phú hơn. Tuy nhiên, việc ứng dụng các phương pháp toán học trong việc nghiên cứu các tác phẩm nghệ thuật vẫn là một lĩnh vực mới mẻ và cần được nghiên cứu thêm. Bài viết dưới đây chủ yếu áp dụng một lý thuyết có tên là Lý thuyết tai biến” (cùng với Điều khiển học và Lý thuyết trò chơi), một lý thuyết mà tôi tin là ở đây không có nhiều người thạo (tôi cũng mù tịt). Tôi hy vọng sẽ có người post bài giới thiệu chi tiết về lý thuyết này để cả nhà cùng hiểu rõ. “, GS. Nguyễn Xuân Vinh.

Cựu Tư Lệnh Không Quân VNCH, Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh.

Một dẫn chứng khác là Thi sĩ kiêm giáo sư toán JoAnne Growney viết: Toán học và thi ca đều là “định dạng có thể truyền tải nhiều ý nghĩa”. Trong môn toán học, một đối tượng hoặc một ý tưởng có thể có các dạng khác nhau. Ví dụ, một phương trình bậc hai có thể được hiểu theo biểu thức đại số của nó, có thể là y = x2 + 3x-7, hoặc theo dạng đồ thị của nó, một parabole. Henri Poincaré, một nhà khoa học người Pháp, người đặt nền móng cho hai lĩnh vực toán học khác nhau vào đầu những năm 1900, đã mô tả toán học là “nghệ thuật đặt cùng một tên cho những thứ khác nhau”. Tương tự như vậy, các nhà thơ tạo ra các lớp nghĩa bằng cách sử dụng các từ ngữ và hình ảnh có nhiều cách diễn giải và liên tưởng. Cả nhà toán học và nhà thơ đều nỗ lực vì tính kinh tế và độ chính xác, lựa chọn chính xác những từ họ cần để truyền đạt ý nghĩa của chúng.

GS. Growney được biết qua danh tác, tuyển tập thơ "My Dance is Mathematics", bà còn là nhà toán học, nhà thơ, nhà văn JoAnne Growney, giáo sư toán tại Đại học Bloomsburg University of Pennsylvania (Collection of poems "My Dance is Mathematics", by JoAnne Growney. She is a mathematician, poet, writer JoAnne Growney, a math teacher at Bloomsburg University of Pennsylvania).

Tác phẩm Đời Phi Công, Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh.


Người viết bài xin kết luận, ta có thể kể tiếp vô vàn những ví dụ về cách các nhà toán học và nhà thơ móc nối những con số và những con chữ để thỏa mãn ý thích của họ. Một hỗn hợp của những điều trực tiếp nói ra và những gì ngụ ý sâu kín đằng sau, hay một hỗn hợp của nhạc điệu và âm điệu. Thay vì cố phân tích rõ ràng, rành mạch, mà như vậy ta có thể còn làm mất phẩm chất hay của thơ bị toán hóa, thôi thì tôi xin chấm dứt bài viết này bằng trích dẫn những câu thơ tình của thi sĩ, nhà văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh:

(Yêu) anh từ thuở xanh mơ,
Giận anh cho đến bây giờ chưa nguôi.
Sao anh chưa nói nên lời,
Sao anh chưa nói trọn đời (yêu) em.
Bây giờ gặp buổi chiều êm,
Anh về mới nói (yêu) em trọn đời.
(Tình thơ Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh.)

En souhaitant au professeur Nguyen Xuan Vinh un rétablissement magique de la santé bientôt, "vous êtes mon idole des mathématiques et un modèle souhaitable en mathématiques et en aérospatiale" que Dieu vous bénisse. Nous nous souvenons toujours de vous!

Việt Hải
(Trần Việt Hải Los Angeles).

Vinh Danh Học Giả Nguyễn Xuân Vinh

 
Thiên tài giã biệt kiếp nhân sinh
Tổ-Quốc Không-Gian giữ vẹn tình
Thông thái, uyên thâm vừa khuất bóng
Hào hoa, phong nhã đã tan hình
Nam Tào mở sổ nhìn thương tiếc
Bắc Đẩu quay lưng muốn hoãn đình
Hãnh diện ngôi sao dòng Lạc-Việt
Vinh Danh Học Giả Nguyễn Xuân Vinh!

Duy Anh
07/24/2022


 

Hội Ái Hữu CHS Trường Bưởi, Chu Văn An Nam Cali Thành Kính Phân Ưu Giáo Sư Alphonso Nguyễn Xuân Vinh

 



Hôm Nay: Tang Lễ Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Vinh! - Lê Văn Hải

 

“Xin vĩnh biệt mọi người! Tôi ra đi lần cuối, không bao giờ trở lại! Gặp nhau trên Nước Trời!” (Thánh ca Công Giáo) - 

Theo như lời Cáo Phó của gia đình:
Hôm nay, Thứ Năm, ngày 28 tháng 7 năm 2022, từ 1 giờ chiều, chính thức cử hành Tang Lễ cho Cố Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh, với các nghi thức: Phát Tang, Thăm Viếng, Thánh lễ Tiễn Chân. - Sáng Thứ Sáu, ngày 29 tháng 7/2022, lúc 9 giờ sáng, Thánh Lễ An Táng, cũng tại Nhà Thờ Chính Tòa Christ Catheral, 13280 Chapman, Ave, Ca 90805.- Đây là niềm thương tiếc chung, về sự ra đi của Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh, là một mất mát lớn cho Người Việt Hải Ngoại nói riêng và Người Việt Nam nói chung. Một nhân tài xuất chúng!

Nhân vào những phút cuối, trước khi ông trở về cát bụi, xin được kể về chút hoạt động, chút tình cảm riêng tư, có liên quan đến người quá cố, như thay một lời tâm sự, ôn lại kỷ niệm vui buồn trước phút đưa tiễn.

“Thầy Vinh” Và…Tôi!

Trước giây phút “tiễn chân” Thầy về nước Chúa, xin được viết ra chút cảm tưởng, chút hoạt động chung với Người Quá Cố, Một Cựu Tư Lịnh, Người Thầy, Nhà Văn, Nhà Giáo, trên nhiều phương diện, mà tôi rất yêu mến, thán phục, ngưỡng mộ tài năng.

*Nhưng đầu tiên, xin gởi lời Cảm tạ đến Tác giả, tác phẩm “Đời Phi Công”

Là niềm cảm hứng, chất xúc tác, cho biết bao nhiêu người trai thế hệ, hàng ngàn thanh niên lấy “Tổ Quốc Không Gian” là hình ảnh lý tưởng phục vụ bầu trời Quê Hương trong thời chinh chiến, trong đó có tôi! Dĩ nhiên, không bao giờ nghĩ trong đời, được có cơ hội tiếp xúc với tác giả, ai ngờ trong cuộc sống lưu vong của tôi, lại có duyên gặp gỡ!...nhiều lần!

*Tất cả là ý Trời!

Từ khi còn trung học, bước vào nhà sách Khai Trí, tác phẩm “Đời Phi Công” được trưng trang trọng trong tủ kiếng, có sức hấp dẫn lạ thường, cho dù chưa đọc, đọc rồi càng thấy yêu kiếp đi mây, về gió! Hãnh diện chấp nhận “đã mang lấy nghiệp vào thân!”
Nhưng thực tế, tôi và bạn bè đều phải công nhận thật chông gai: “Ôi phi công giờ đây ta mới biết! mộng mây trời, đã…giết chết đời ta!”

Rồi Tháng Tư 75, đàn chim vỡ tổ! tất cả bị bẻ cánh! nhốt vào lồng, tù tội tan tác khắp nơi.

Tôi vượt biển, đến Hồng Kông sớm, chờ đợi hơn một năm trời, rồi được chấp nhận vào Mỹ, nơi đầu tiên định cư ở tiểu bang Michigan. Nơi đó, tôi ké học Anh văn, mà có các sinh viên Việt tại đại học Michigan, đều tự hào về hình ảnh một Giáo sư Việt mang tên tên Nguyễn Xuân Vinh, đã dạy tại đây, mà các sinh viên ngoại quốc đều nể phục. Các cuộc văn nghệ, liên hoan, mừng Tết, Ông đều có mặt sinh hoạt với các sinh viên VN. Tại đây, tôi hân hạnh được tiếp xúc, bắt tay lần đầu tiên với tác giả, mà tác phẩm định mệnh đã theo tôi, hành hạ tôi suốt đời lính!
Tưởng một lần như thế là xong, không bao giờ còn có cơ hội gặp gỡ nữa.
Rồi tôi lang bạt, cuối cùng định cư ở San Jose. Chán làm hãng điện tử, tôi xoay qua làm nhà in, lấy tên “Ấn Quán Tím,” in ấn và xuất bản sách báo.

Một hôm, anh nhân viên trực văn phòng, thông báo có người tên Vinh muốn gặp tôi.
Nghe phôn, tôi nhận ra ngay là GS Nguyễn xuân Vinh, ông hỏi thăm và ngỏ ý muốn gặp tôi tại tư gia, để có chuyện muốn bàn!
Tôi đã đến nhà ông, có tên gọi Village Park, khu Evergreen, dùng cơm tối với ông và phu nhân của ông, là Bà Công Thị Toàn. Bà Toàn sau này qua đời vào tháng 9 năm 2008 tại San Jose. Cuộc hôn nhân kéo dài 50 năm và có 4 người con. Sau đó ông di chuyển về Nam Cali, và kết hôn với người vợ mới, tên Phiến Đan.

Hóa ra ông nhờ tôi, tái bản lại tác phẩm “Đời Phi Công” và tổ chức một bữa tiệc mừng, ông mới nhận được 2 huy chương nữa! (Ai cũng biết ông có quá nhiều huy chương, bằng khen, có khoe nữa cũng bằng thừa!) Nhưng mục đích không phải khoe như vậy, mà muốn gây quỹ cho một Quỹ học bổng mang tên ông, giúp các học sinh nghèo! Dĩ nhiên mục đích quá tốt đẹp như thế, tôi gật đầu ngay. Ông còn đắt tôi vào phòng làm việc riêng, đầy sách vở, bằng khen, huy chương la liệt, hoa cả mắt! đọc không được, có đọc cũng…không hiểu!

Trước khi ra về, tôi có câu thắc mắc muốn hỏi ông: “Trong Quân Chủng, em là “thằng lính KQ cù lũ nhí nhất, hạng bét nhất!” ở đây có Hội Ái Hữu KQ Bắc Cali bề thế, rất nhiều NT cấp lớn, cấp tá, cấp đại úy,… sao thầy không nhờ, mà lại nhờ thằng em…trơ cùi bắp! này?” Ông trả lời: “Em nhỏ, nhưng em…có võ! ít ra thầy trò ta có 3 cái hợp, cùng KQ, cùng Thủ Đức, (Thầy khóa 1) cùng hoạt động dính dáng đến chữ nghĩa, nên không thể kiếm ai thích hợp hơn. Em tuy nhỏ, nhưng…bên trong, có… cái to!”

Từ đó, hơn thập niên thầy sống ở thành phố San jose này, tôi bỗng nhiên trở thành một cộng tác viên khá đắc lực, khiêm nhường thì nhận là…tay trái của ông! Xin khoe:

-Tôi là trưởng BTC buổi tiệc Vinh Danh và ăn mừng Ông được tặng thưởng thêm 2 huy chương, tại Nhà hàng Phú Lâm. Thành công lớn, trên 500 khách tham dự, thu được mấy chục ngàn đô la, xung vào quỹ học bổng. Nhiếp ảnh gia Quân đội, cựu Trung tá Nguyễn Ngọc Hạnh, vừa chụp xong tác phẩm nổi tiếng “Vá Cờ” mang đến tặng ông liền, món quà quý báu này, làm ông rất cảm động, run run nhận trên sân khấu buổi tiệc.

-Rồi góp tay, tái bản nhiều tác phẩm, trong đó có “Đời Phi Công”, giúp những buổi RMS của ông rất thành công. (Thời đó chưa có máy vi tính, hay gọi là “còm piu tờ,” nên ai cũng yêu, cũng thèm chữ nghĩa, như người đi trong sa mạc thèm nước! nên buổi RMS nào cũng đông nghẹt!) Chẳng bù cho bây giờ, “văn chương hạ giới rẻ như bèo!” nhấn con chuột đọc cả tháng... không hết!

-Tôi còn rủ ông tham dự rất nhiều buổi sinh hoạt văn học nghệ thuật, trong đó, có buổi RM Thơ của Thi sĩ Yên Sơn, cũng là một cây bút KQ.

Gần ông, tôi nhận xét, ông rất say mê chữ nghĩa và các hoạt động văn hóa, thích toán học, hơn là chuyện… bay bổng! trên mây! trên gió! Mà nhiều người mỉa mai, cũng đúng thôi. “Ăn cơm dưới đất, nói chuyện trên trời!” Nhưng phải công nhận, ngưỡng phục, ít người có tài, có khả năng trên rất nhiều lãnh vực như thế. Mà lại đối chọi nhau, như nước với lửa! toán học không thể đi đôi với…thơ! vậy mà trong cùng một con người, mới là lạ!


Lần cuối tôi được nói chuyện với ông, trước khi ông có ý định, trở thành người Công Giáo, là con chiên theo Chúa. Tôi hỏi: “Thưa thầy lý do nào?” Ông trả lời: “Từ trái đất tới mặt trăng, có quy luật vận hành riêng của nó, hướng chi cả một thiên hà, hàng triệu triệu những hành tinh, nhìn có vẻ quay cuồng, nhưng có đường có lối cả. Phải có ai sáng tạo và điều khiển chứ?”

Có lẽ chính vì lý do này, niềm tin này, mà Chúa đã gọi ông về, để bàn chuyện Khoa Học Không Gian với Người chăng? Vì Chúa đã phán: “Ai tin thì sẽ được cứu, ai gõ thì sẽ mở!”

Nên lời cầu nguyện “mong Chúa chóng rước Linh Hồn ông vào nước Thiên Đàng!” trong trường hợp này, có lẽ không còn cần thiết nữa!

Ngược lại, xin ông phù trợ cho thanh niên Việt Nam, nhiều người được giống ông! để Vẻ Vang Dân Việt khắp nơi! nhằm tranh đấu cho một đất nước tự do, dân chủ, tiến bộ. Không còn kẻ độc tài, luôn áp dụng chính sách ngu dân! không muốn mở mang dân trí, theo kịp đà tiến hóa của nhân loại.

Cuối cùng,
Xin “Thầy” nhận cái Chào Kính! và Vĩnh Biệt!

Đêm nay, nhìn ra bầu trời, lại mất thêm một Vị Sao! Các Niên Trưởng của tôi, những ngày qua, đã lũ lượt ra đi. Rồi cũng đến phiên tôi! Đành vậy thôi, kiếp con người mà! “Khi tôi sinh ra, mang kiếp tro bụi, rồi trở về, với kiếp…bụi tro!” (Thánh ca Công Giáo)

Lê Văn Hải


 

Tế Luân Thành Kính Phân Ưu Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh


Hành trình cuối vừa khép lại
Vòng hoa đưa tiễn nhớ hoài Toàn Phong
Đời phi công gió phiêu bồng
Trời cao rạng rỡ Tiên Rồng nước Nam.

Phương trình, quỹ tích, đạo hàm
Tìm ra quỹ đạo vẽ làm đường bay
Giáo sư Tiến sĩ tài thay
Phi thường trí tuệ danh này mấy ai.

Chín mươi năm đoạn đường dài
Nguyễn Xuân Vinh bước đến đài vinh quang
Bây giờ tỏa sáng huy hoàng
Hồn về nhà Chúa thiên đàng an vui.

Tế Luân

Gửi vần thơ tưởng nhớ một nhân tài
Giáo Sư Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh


Cù Hòa Phong - Nguyên Chủ Bút Văn Đàn Đồng Tâm Thành Kính Phân Ưu Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh


THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

Vừa nhận được tin buồn Khoa học gia Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, một ngôi sao Bắc Đẩu vừa chợt tắt, ông là một cây viết xuất sắc của Văn Đàn Đồng Tâm. Văn đàn Đồng Tâm đã ngưng từ mấy năm qua, nhưng chúng tôi luôn ngưỡng mộ Khoa học gia Nguyễn Xuân Vinh. 

Trước sự đau buồn và mất mát quá lớn lao nầy, chúng tôi những cựu Ban Biên Tập và Cộng tác viên Báo Văn Đàn Đồng Tâm xin chia buồn cùng Đại tang quyến và các cháu.
Cầu xin Thiên Chúa Nhân Từ sớm đua Linh Hồn Khoa học gia Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh sớm về hưởng nhan Thánh Chúa.

Cù Hoà Phong -Nguyên Chủ Bút Văn Đàn Đồng Tâm

ĐỒNG THÀNH KÍNH PHÂN ƯU


Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2022

Phỏng Vấn Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh - Hương Kiều Loan Thực Hiện

Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh

Để đánh dấu 25 năm di cư, nhóm New Horizon/Chân Trời Mới gồm có một số sinh viên và chuyên gia trẻ Việt Nam, với sự bảo trợ của Asian American Studies Center tại UCLA , đã xuất bản một tập sách gần 200 trang đề là ‘‘25 Vietnamese Americans in 25 Years, 1975-2000’’ để giới thiệu 25 nhân vật Việt Nam đã có những thành tích xuất sắc trong những lãnh vực chuyên môn của mình trong những năm qua và đã có những đóng góp đặc biệt trong công cuộc chung xây dựng một cộng đồng người Việt thịnh vượng ở hải ngoại . Trong cuốn sách trình bầy rất mỹ thuật người đọc được thấy những tên tuổi đã làm vẻ vang cho người Việt ở Hoa Kỳ như:

Giáo sư Đinh Đồng Phụng Việt của Trường Luật Khoa ở Đại Học Georgetown, người vừa được Tổng Thống George W. Bush bổ nhiệm làm Phụ Tá Bộ Trưởng Tư Pháp.

Nhà đạo diễn Tony Bùi với cuốn phim tuyệt tác ‘‘Three Seasons’’ đã được nhiều giải thưởng cao quý ở Hội Mùa Điện Ảnh Sundance năm 1999.

Phi hành gia không gian, tiến sĩ Trịnh Hữu Châu là người đã bay trên phi thuyền con thoi Columbia của Hoa Kỳ.

Cầu thủ bóng bầu dục Nguyễn Đạt là người Việt đầu tiên đã được tuyển vào hội nhà nghề Dallas Cowboys chơi môn thể thao này.

Bác sĩ giáo sư y khoa Nghiêm Đạo Đại là người đã sáng chế ra những y thuật giải phẫu tân kỳ để ghép tụy tạng.

Học giả Huỳnh Sanh Thông là người đã được giải thưởng bác học John D. and Catherine T. MacArthur qua công trình giới thiệu những thơ văn cổ điển tuyệt tác của Việt Nam tới độc giả Anh ngữ.

Nhóm New Horizon đã dựa vào một danh sách 150 người được đề nghị để lựa chọn ra 25 nhân vật được coi như là những người làm gương mẫu cho thế hệ sau để giới thiệu thành tích trong cuốn sách.

Một trong những người được coi như là những tấm gương sáng cho giới trẻ đó là giáo sư Nguyễn Xuân Vinh, người đã thành danh từ hồi còn ở trong nước . Ông là một thiên tài đa dạng và có thể nói là một trong những người VN kiệt xuất của nửa hậu thế kỷ 20 và sang đầu thế kỷ 21 . Là một sinh viên giã từ nghiên bút theo việc đao cung khi nghe tiếng gọi của sơn hà trong cơn nguy biến , thời Đệ Nhất Cộng Hoà ông đã từng giữ chức vụ Tư Lệnh Không Quân . Nhưng binh nghiệp chỉ mang lại tên tuổi cho ông trong quân đội mà ông được người đời biết đến qua tài văn chương xuất chúng đã giúp ông tạo dựng được tác phẩm ‘‘Đời Phi Công’’ là một áng văn trác tuyệt đã thi vị hoá nghiệp dĩ của những người hàng ngày trải cuộc đời bay trên mây trời để lo tròn nhiệm vụ trấn không cho non sông. Ông lại còn là một nhà khoa học và giáo dục và trong phạm vi này công nghiệp của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh, kể từ ngày ông giã từ binh nghiệp để trong hơn ba mươi năm giảng dạy và nghiên cứu về toán học không gian ở nhiều đại học tại Hoa Kỳ và các nước tiên tiến trên thế giới, đã ghi thêm sự đóng góp quan trọng của người Việt Nam trong giai đoạn tiến triển vượt bực về sự thám hiểm không gian của loài người trong thế kỷ vừa qua.

Qua bài phỏng vấn này Hương Kiều Loan được hân hạnh giới thiệu tới độc giả Hồn Quê thêm nhiều chi tiết về tài năng toàn diện của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh.
oOo
( Hương Kiều Loan)

Hương Kiều Loan (HKL): Trước đây HKL đã được gặp giáo sư hai lần và cũng đã có nhiều lần nói chuyện với giáo sư qua điện thoại và HKL nhận xét thấy giáo sư ít nói về mình . Lần này HKL hy vọng giáo sư sẽ giãi bày tâm sự hơn và kể nhiều về cuộc đời phong phú và đầy thi vị cuả mình để độc giả biết rõ về những đóng góp của giáo sư cho khoa học, dân tộc và nhân loại .

GS Nguyễn Xuân Vinh (GS NXV): Đó chỉ là một thói quen của nghề nghiệp . Về toán học, muốn chứng minh một định đề người ta chỉ được dùng một số tối thiểu dữ kiện . Là phi công khi bay trên mây trời, sự liên lạc vô tuyến cũng cần phải ngắn gọn . Tuy vậy những thông tin bao giờ cũng phải chính xác . Vì vậy tuy quen nói vắn tắt tôi cũng sẽ trả lời thật đầy đủ những câu hỏi của Kiều Loan .

HKL: Mới đây HKL được coi một CD Rom nói về giáo sư của Hội Khuyến Học ở Saint Louis trong đó có nói là giáo sư mang nặng ba nghiệp dĩ là Nghiệp Bay , Nghiệp Văn và Nghiệp Giá . Vậy HKL xin bắt đầu hỏi là vì sao mà giáo sư lại chọn vào Không quân để vương lấy nghiệp bay ?

GS NXV : Tôi vào trong lớp những học sinh chuyên khoa , sinh viên đại học và công chức có khả năng văn hoá được gọi động viên năm 1951 để theo học Khóa I, những Trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định và Thủ Đức . Lúc đó tôi đã học được phần đầu của văn bằng cử nhân toán học và ước nguyện của tôi là trở thành một toán gia vì Việt Nam có rất ít người trong ngành này . Lúc sắp ra trường ở Thủ Đức như là một sĩ quan công binh thì tôi được biết là sẽ phải ở trong quân đội một thời gian bất định . Vì vậy tôi xin thi kỳ tuyển sinh viên theo học Trường Sĩ Quan Không Quân ở Salon de Provence bên Pháp để có dịp ra nước ngoài học hỏi thêm. Sau ba năm ở Pháp và ở Maroc, 1952-1955, tôi được huấn luyện thành một sĩ quan phi công , có bằng lái phi cơ hai động cơ và thẻ trắng (carte blanche) để bay trời mù theo đúng tiêu chuẩn của Không Quân Pháp . Cũng trong thời gian ở Pháp, tôi hoàn tất chương trình cử nhân toán ở Đại học Marseille và cũng có thêm văn bằng cao học để chuẩn bị thi tiến sĩ toán học.

HKL: Hương Kiều Loan được biết là sau này giáo sư cũng có bằng tiến sĩ quốc gia toán học . Như vậy giáo sư cũng thi ở Đại học Marseille, và như thế vào năm nào?

Thăm viếng Bộ Tư Lệnh Không Quân
Hoa Kỳ Thái Bình Dương ở Honolulu (1962)

GS NXV: Không , sự việc không giản dị như vậy đâu Kiều Loan. Như tất cả những người cùng lứa tuổi , chúng tôi lớn lên ở trong thời loạn và sự học luôn luôn bị gián đoạn, không thể nào xếp đặt chương trình theo như ý của mình . Khi tôi thi xong chứng chỉ cao học về Hình Học Cao Cấp ở Đại Học Marseille là nơi gần Trường Không Quân ở Salon de Provence thì tôi được gửi đi Alvord, thuộc hạt Cher, để hoàn tất phần phi huấn . Nơi đây chỉ cách Paris có hai giờ đi xe lửa nên tôi xin chuyển hồ sơ về Đại Học Paris để ghi danh học chương trình tiến sĩ quốc gia toán học. Lúc đó là vào năm 1954 . Năm sau đó tôi học xong chương trình sĩ quan phi công và phải trở về Việt Nam để phục vụ trong quân đội quốc gia . Phải đợi cho đến năm 1972 tôi mới có dịp trở lại Đại Học Paris để nộp luận án tiến sĩ quốc gia về môn toán học .

HKL : Đạt được trình độ tiến sĩ quốc gia toán học ở Đại Học Sorbonne tại Pháp quốc là một điều khó khăn vô cùng và HKL sẽ trở lại để hỏi thêm giáo sư về điều này . Để hỏi tiếp về nghiệp bay và cũng để chuyển sang những câu hỏi về nghiệp văn của giáo sư , xin người phi công và cũng là nhà văn Toàn Phong cho biết chút ít về tác phẩm Đời Phi Công, cuốn truyện mà HKL còn nhớ vào những năm của thuở trung học ngày xưa, không một cô nữ sinh Trưng Vương nào lại không biết đến cuốn truyện đó. Thưa giáo sư tác phẩm ‘‘Đời Phi Công’’đã được thai nghén trong trường hợp nào ạ?. Theo HKL nghĩ thì thật là một sự đặc biệt mà tác phẩm đầu tay của một nhà văn trẻ lại được chọn để trao Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc cùng năm với những nhà văn đàn anh đã thành danh từ nhiều năm trước như các ông Vũ Khắc Khoan và Võ Phiến .

GS NXV : Đời Phi Công là một tuyển tập những bức thư của một phi công viết cho một thiếu nữ còn đang là sinh viên ở đại học để kể cho nàng nghe cuộc đời của những người hàng ngày bay trên gió mây trời .Tôi bắt đầu viết vào năm 1959 và đăng mỗi tuần một kỳ, vào ngày thứ Hai, trên báo Tự Do là một nhật báo có nhiều độc giả trên toàn quốc . GS Văn Khoa Phạm Việt Tuyền là chủ nhiệm.

Giới trẻ thời đó hay đón đọc vì ai có một chút mơ mộng cũng có thể tưởng tượng được rằng nếu sau này trở thành phi công thì mình cũng có thể là người viết những bức thư tâm tình đầy thi vị như thế này.

Những bài viết này cũng không phải là những bài đầu tiên tôi đăng báo vì trước đó gần mười năm tôi cũng đã là một thành viên trong nhóm Thế Kỷ và cũng đã viết nhiều truyện ngắn tình cảm cho nguyệt san này . Cuốn sách đầu tay của tôi là cuốn ‘‘Gương Danh Tướng’’, là một tập sách nhỏ chưa đến 100 trang , do Nha Chiến Tranh Tâm Lý thuộc Bộ Quốc Phòng in ra vào năm 1956 . Tuy sách in ra tới mười ngàn cuốn nhưng dạo đó tôi đang làm phụ tá tùy viên quân lực tại Sứ quán Việt Nam ở Hoa Thịnh Đốn, nên chỉ nhận được mươi cuốn và đem tặng ngay các thân hữu nên không còn giữ được một bản nào .

Tôi viết cuốn ‘‘Gương Danh Tướng’’khi mới còn đang là một đại úy để nêu lên những đức tính cần phải có của những người lãnh đạo trong quân đội. Cũng nhằm mục đích nêu lên tình người và tình yêu tổ quốc và không gian của những người nặng nghiệp bay mà sau này tôi viết cuốn ‘‘Đời Phi Công’’. Nhờ sự phổ biến sâu rộng của cuốn sách này mà giới thanh niên và sinh viên hiểu biết thêm về Không Quân Việt Nam và chúng tôi đã tuyển mộ được nhiều thanh niên ưu tú để gửi sang theo học những khóa huấn luyện bay những phi cơ tối tân của Không Quân và Hải Quân Hoa Kỳ .

Thăm viếng Không Quân Hoa Kỳ (1960)

HKL : Thưa giáo sư, không những Không Quân Việt Nam đã tuyển được nhiều thanh niên ưu tú vào nghiệp bay này, mà... rất nhiều nữ sinh thuở đó đã mơ có người tình là một chàng không quân hào hoa đó a. Trở lại câu chuyện về văn chương, nghe nói khi ở trong nhóm Thế Kỷ giáo sư có quen biết với nữ sĩ Tương Phố và được bà viết tặng một bài thơ đã đăng trên báo . Giáo sư có thể kể lại cho độc giả nghe một vài kỷ niệm với vị nữ lưu tiền bối đáng kính này không ?

GS NXV : Nhóm Thế Kỷ có những người như các anh Bùi Xuân Uyên , Viên Phong, Triều Đẩu, Trúc Sĩ, Phạm Khanh, Tạ Tỵ, Trọng Bình,..., toàn là những người có uy tín trên văn đàn và là công hay tư chức có địa vị trong xã hội . Bà Tương Phố chỉ gửi bài tới tòa soạn chứ không đi họp đều như chúng tôi, mỗi tuần một lần ở quán cà phê Tùng Lâm trên bờ hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội . Thỉnh thoảng các anh lại tổ chức đi ăn nhưng tôi khi đó ít tuổi nhất và còn là một sinh viên nên không phải đóng góp gì .

Bà Tương Phố hay dịch Đường Thi nên khi nào được đọc một bài dịch đặc sắc tôi lại viết cho bà để góp ý . Cũng vì vậy mà bà có cảm tình đặc biệt với tôi và khi được tin tôi nhận được giấy động viên phải lên đường nhập ngũ bà viết một bài thơ tặng với ý khuyên nhủ là những người thật có tài năng thì không cần phải ra binh đao trận mạc mà cũng có thể đưa lại thái bình cho sơn hà, xã tắc .

Có một điều đặc biệt là vào dịp đó có một nghệ sĩ , danh thủ điêu khắc Trung Hoa sang mở triển lãm ở Hà Nội. Ông ta có tài khắc tranh và chữ nhỏ li ti trên những miếng ngà, phải soi kính hiển vi mới đọc được . Bài thơ của nữ sĩ Tương Phố làm theo thể thất ngôn dài 16 câu được ông khắc trên một miếng ngà to bằng ngón tay cái và gắn trên một tấm sơn mài đen để treo trên tường.

Mãi năm sau tôi có dịp lại thăm bà ở Nha Trang khi đó ở cùng với người con trai lớn là giáo sư Thái Văn Châu, cũng là một bạn đồng nghiệp dậy toán nhưng lớn tuổi hơn tôi, và được bà cho coi bảo vật đó. Bà Tương Phố là một nữ sĩ được nhiều người mến mộ . Bà có cho tôi coi một cuốn sổ lưu niệm có bút ký của nhiều danh nhân Âu và Á và bảo tôi ghi lại vài dòng. Tôi nhớ là có viết hai câu thơ

‘‘Người là danh sĩ đế đô,
Còn tôi nặng kiếp sông hồ phải mang’’.

Câu viết ngày xưa không ngờ nay lại tả đúng cuộc đời của mình vì mấy năm sau , tôi lên đường du học ở Hoa Kỳ và từ đó đến nay sống cuộc đời xa quê hương triền miên , là khách thăm viếng của nhiều nước trên thế giới.

Duyệt toán dàn chào danh dự ở March AFB, CA (1960)

HKL: Trong trường hợp nào mà giáo sư lại rời chức Tư Lệnh Không Quân để du học. Nếu theo đúng nghĩa là khách sông hồ thì giáo sư đã tới thăm những nước nào ? Tự mình đi du lịch hay được mời thăm viếng ạ?

GS NXV :Tôi được bổ nhiệm vào chức vụ Tham Mưu Trưởng Không Quân Việt Nam vào cuối năm 1957 và sang tháng Hai năm 1958 được giao chức vụ Tư Lệnh Không Quân . Cho đến tháng Tám năm 1962, khi tôi lên đường du học ở Hoa Kỳ thì tổng cộng khoảng thời gian mang trọng trách cũng là gần 5 năm trời, một thời gian có thể nói là lâu hơn thời gian trung bình bổ nhiệm 4 năm của các Tư Lệnh Quân Chủng các nước văn minh trên thế giới .

Tôi quan niệm nhận chức vụ chỉ huy không phải là có được quyền hành mà là mang lấy trách nhiệm . Vì vậy tôi tự chọn lấy một nhiệm kỳ và xin với Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa cho được đi nước ngoài học hỏi thêm sau khi được Không Quân Hoa Kỳ cấp cho một học bổng đặc biệt để theo học chương trình tiến sĩ .

Từ nhiều năm qua, là giáo sư đại học tại Hoa Kỳ , hàng năm tôi thường tham dự và được mời thuyết trình tại những Hội nghị về hàng không và không gian quốc tế (International Congress of Astronautics), luân phiên được tổ chức mỗi năm tại một nước khác nhau .

Tôi đã dự họp ở hầu hết các nước có chương trình không gian ở Âu châu như Anh, Pháp, Áo, Đức, Ý, Hoà Lan, Thụy Sĩ, Na Uy, Thụy Điển, Hung Gia Lợi và Do Thái. Niên học 1974-1975 tôi được mời sang làm khảo cứu và dạy học ở Pháp . Ngoài ra có một lần tôi được mời làm tổng thư ký cho một khóa hội thảo về Cơ Học Phi Hành Không Gian do cơ quan NATO tổ chức ở Lục Xâm Bảo .

Ở Mỹ châu tôi cũng đã được mời thuyết trình ở Gia Nã Đại và Ba Tây, và tất nhiên ở nhiều đại học khác trên Hoa Kỳ .

Ở Á châu thì tôi đã tới thuyết trình hay giảng dạy những khóa ngắn ở nhiều đại học hay cơ quan chính phủ ở những nước Nhật Bản, Trung Hoa Quốc Gia ở Đài Loan, và Đại Hàn còn ở Úc châu thì tôi đã tới dự Hội nghị không gian họp ở Melbourne năm 1998 và nhân dịp đó được Đại Học Queensland mời lên thuyết trình ở Brisbane .

Có những nước khác ở Âu châu và Bắc Phi châu tôi không kể ra đây nhưng cũng đã có dịp tới theo bước chân giang hồ khi còn là một sinh viên ở Pháp . Trong thời gian làm Tư Lệnh Không Quân ở Việt Nam tôi cũng đã được mời đi nhiều nước ở Đông Nam Á và hai lần du hành sang Hoa Kỳ để thăm viếng nhiều căn cứ không quân bạn có liên hệ kỹ thuật với không quân mình.

Tiếp đón Phó Tổng Thống Lyndon B. Johnson tại Việt Nam (1961)

HKL: Như thế thì có thể nói là giáo sư đã tới thăm viếng và thuyết trình ở nhiều trung tâm khoa học hay đại học danh tiếng trên thế giới. Nhưng ngoại trừ nước Hung Gia Lợi, mà Hương Kiều Loan nghĩ là giáo sư đã tới thủ đô Budapest ở bên giòng sông xanh Danube, không thấy giáo sư nói gì đến những nước ở bên kia bức màn sắt .

GS NXV : Tôi nghĩ là Kiều Loan muốn nhắc tới những nước còn theo chế độ cộng sản như nước Nga và Trung cộng . Những nước này cũng là hội viên của tổ chức không gian quốc tế với danh xưng là International Federation of Astronautics (viết tắt là IAF) , và như vậy họ cũng có năm đứng ra tổ chức Hội nghị .

Tôi nhớ là có một lần tổ chức ở Bắc Kinh , và một năm khác hội nghị tổ chức ở thành phố Bangalore ở Ấn Độ . Hai lần ấy tôi không tham dự vì không có những chuyến bay tiện lợi đi từ Detroit là phi trường phát xuất từ Michigan là nơi tôi dạy học.

Hội nghị quốc tế thường tổ chức vào tháng Mười mỗi năm, và nếu lịch trình kể cả những ngày họp và những ngày đi đường mà kéo dài quá mười hôm thì rất khó cho tôi thu xếp công việc với sinh viên vì môn tôi dậy không có người thay thế .

Tôi cũng nhận được thư mời sang dậy những khóa ngắn ở Hoa Lục, đúng ra là một thư mời của Viện Bách Khoa Miền Tây ở Tây An và một thư mời của Viện Khảo Cứu Hàng Không, thuộc Trường Đại Học Nam Kinh . Trên nguyên tắc tôi đã nhận lời mời nhưng chưa có dịp thuận tiện để sửa soạn lịch trình thăm viếng .

Ngoài ra tôi cũng có mấy bài khảo cứu được dịch ra Nga ngữ và đăng trên báo khoa học ở nước Nga khi còn là Liên Xô. Tôi cũng có cộng tác với giáo sư viện sĩ V. A. Yaroshevskii thuộc Central Aerohydrodynamic Institute (viết tắt theo tiếng Nga là TsAGI), là viện khảo cứu về khí động lực học quan trọng nhất ở Moscow, trong một bài viết về lý thuyết thu hồi vệ tinh và phi thuyền không gian vào bầu khí quyển của trái đất và các hành tinh đã đăng trên báo kỹ thuật ở Nga .

Một khoa học gia khác là tiến sĩ A . Filatyev cũng thuộc viện này , sau khi nghe một bài thuyết trình của tôi tại Hội nghị không gian họp năm 1994 ở Jerusalem, Do Thái, cũng đã thu xếp để giáo sư viện sĩ German Ị Zagainov là Tổng Giám Đốc của viện mời tôi sang thăm viếng để có dịp gặp gỡ và thảo luận về cơ học không gian với các giáo sư và nghiên cứu gia của những viện TsAGI, Moscow Institute of Physics and Technology (MPhTI) và Moscow Aviation Institute (MAI) là những trung tâm giáo dục và kỹ thuật hàng không và không gian hàng đầu ở nước Nga .

Thư mời gửi cuối năm 1994 , và tôi cũng đã nhận lời trên nguyên tắc. Cho tới nay, bước sang năm 2002, lời mời có thể mất thời gian tính và ban giám đốc có thể thay đổi, nhưng điều này thật không quan trọng. Tài liệu khoa học về hàng không và không gian tôi đã viết cũng được biết đến nhiều ở Đông Âu . Nối lại nhịp cầu để sang thăm viếng những trung tâm khảo cứu về khoa học không gian ở những nước này thật cũng dễ dàng . Còn đi như là du khách thì chọn dịp nào cũng được .

Yết kiến Tổng Thống Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan (1961)

HKL: Theo trong phiếu tiểu sử thì giáo sư là người đầu tiên được cấp văn bằng tiến sĩ khoa học hàng không và không gian của Đại Học Colorado . Tại sao giáo sư lại chọn ngành này mà không học tiếp về toán học và tại sao giáo sư lại chọn Đại Học Colorado thay vì tới những đại học khác có tiếng tăm hơn như Đại Học Harvard ?

GS NXV: Tình thực mà nói, nếu được chọn trường thì dạo đó tôi muốn tới Đại Học Paris để hoàn tất luận án tiến sĩ toán học đã bỏ dở nhiều năm vì công vụ. Nhưng tôi cần có học bổng toàn phần trong nhiều năm cho một ngân sách về tiền ăn ở, tiền sách vở và tiền học cùng những chi phí cần thiết cho một sinh viên bậc cao học như để tham dự những khoá hội thảo chuyên môn và điều này chỉ có Không Quân Hoa Kỳ mới có thể chu toàn được .

Ngân sách huấn luyện của họ cũng chịu sự kiểm soát của Quốc Hội nên họ chỉ có thể ghi học bổng cho tôi để theo học ngành hàng không và không gian mà thôi chứ không thể nào chứng minh sự cấp học bổng cho một sĩ quan đồng minh để theo học chương trình tiến sĩ về toán học được.

Mặt khác, các sĩ quan Hoa Kỳ được cử đi học thêm những văn bằng cao học thường được gửi tới những Đại Học công vì những nơi đó đã có sẵn Trung Tâm Huấn Luyện Sĩ Quan Trừ Bị (gọi tắt là ROTC) để lo việc hành chánh. Một lý do nữa để tôi chọn Đại Học Colorado là nơi đó gần Căn Cứ không Quân Lowry ở thành phố Denver là nơi tôi có thể tới để bay duy trì khả năng, và cũng gần Trường Sĩ Quan Không Quân ở Colorado Springs là nơi có nhiều sĩ quan cán bộ có trình độ tiến sĩ để trao đổi kinh nghiệm .

Colorado là một miền cao nguyên, có núi non hùng vĩ, rất hợp với bản tính trầm lặng của tôi . Phân Khoa Hàng Không và Không Gian ở Đại Học Colorado đã có từ lâu, nhưng chuyên nhiều về kỹ thuật và môn khí động học.

Làm khảo cứu thực nghiệm về những môn này đòi hỏi nhiều dụng cụ tốn kém và chuyên viên trợ giúp nên trước tôi chưa có sinh viên nào đạt được trình độ tiến sĩ . Cùng với năm tôi tới thì Đại Học Colorado mời được nhà bác học người Đức là tiến sĩ Adolf Busemann là người được mệnh danh là cha đẻ của phi cơ cánh suôi, cũng là đồng nghiệp nhưng lớn tuổi hơn của tiến sĩ Wernher von Braun ở Trung Tâm Hỏa Tiễn Peenemunde trong Thế Chiến II , và hai khoa học gia trẻ vừa tốt nghiệp tiến sĩ tại California Institute of Technology là Đại Học nổi tiếng bậc nhất thời bấy giờ về kỹ thuật hàng không và không gian.

Một trong hai vị ấy là tiến sĩ C. Forbes Dewey , đã cùng với giáo sư Adolf Busemann nhận bảo trợ luận án cho tôi và sau hơn hai năm làm việc không ngừng nghỉ tôi đã hoàn tất công trình nghiên cứu và trở thành người đầu tiên được cấp văn bằng tiến sĩ về môn Khoa Học Hàng Không và Không Gian của Đại Học Colorado . Sự kiện lịch sử này đã được ghi trong cuốn sách ‘‘Proud Past, Bright Future’’ xuất bản năm 1966 nói về lịch sử của Trường Kỹ Thuật của Đại Học Colorado . Trường này, vì toạ lạc ở tỉnh Boulder là nơi có National Bureau of Standards (viết tắt là NBS) và National Center for Atmospheric Research (viết tắt là NCAR) là hai Trung Tâm nghiên cứu khoa học quan trọng của Chính Phủ Liên Bang, nên cũng thu hút được nhiều nhân tài về khoa học cho ban giảng huấn. Năm 2001 giải Nobel về vật lý học cũng về tay một khoa học gia của NBS và một giáo sư của Đại Học Colorado .

HKL: Sau khi tốt nghiệp, giáo sư đã được mời ở lại trong ban giảng huấn ở Đại Học Colorado . Trong trường hợp nào giáo sư lại tới Đại Học Michigan?

GS NXV: Trong thời gian là sinh viên tiến sĩ ở Colorado, tôi được mời dạy một khóa về môn cơ học. Những bài giảng của tôi in ra để phát cho sinh viên đã được giáo sư Ẹ V. Laitone , lúc đó là chủ nhiệm phân khoa hàng không ở Đại Học California ở Berkeley, trong một kỳ tới Colorado để thanh tra mỗi ngũ niên và chuẩn định trường kỹ thuật, chú ý tới vì ông cho là những tài liệu có giá trị có thể in thành sách được.

Ông mời tôi tới hỏi chuyện và ngỏ ý muốn mời tôi dậy ở Berkeley như là một giảng sư (Lecturer) , và cũng hứa với tôi là khi nào có ghế giảng huấn chính thức ông sẽ đề nghị cho tôi vào ngạch giáo sư.
Làm lecturer thì mỗi năm lại phải có giấy bổ nhiệm lại nên tôi nhận lời mời của Đại Học Colorado làm assistant professor vì như thế ít ra cũng được hạn kỳ ba năm để cho mình có thời gian chứng tỏ tài năng.
Theo luật lệ thì sau ba năm, nếu người giáo sư trẻ phát triển điều hòa thì được bổ nhiệm thêm ba năm nữa trước khi có hội đồng duyệt xét cả ba phương diện về dạy học, khảo cứu và phục vụ để quyết định sự thăng cấp lên associate professor.
Nếu được thăng cấp thì sự bổ nhiệm lần tới sẽ thành vĩnh viễn. Bằng không thì mình bắt buộc phải nghỉ việc sau khi được gia hạn thêm một năm . Trong trường hợp của tôi thì chưa hết hạn ba năm tôi đã được Đại Học Michigan, là một đại học rất có tiếng tăm trong và ngoài nước mời tới làm associate professor .

Tới đó chỉ bốn năm sau, nghĩa là vào năm 1972 tôi đã được thăng cấp giáo sư thực thụ (professor) là ngạch cuối cùng trong ngành giảng huấn . Sự thăng cấp như vậy có thể gọi là rất nhanh chóng. Để đáp tạ sự tri ngộ của giáo sư Laitone, trước khi đi Michigan , vào năm 1967 tôi cũng đã tới Berkeley để dậy một khoá học trong dịp hè . Sau đó tôi vẫn giữ liên lạc với ông và chúng tôi đã viết chung với nhau mấy bài khảo cứu .

HKL: Hương Kiều Loan tuy cũng ở trong ngành giáo dục nhưng không rành rẽ cho lắm về sự thăng thưởng ở bậc đại học. Giáo sư có thể cho độc giả biết vì sao lại được thăng cấp nhanh chóng như vậy không ?

GS NXV : Cuối năm 1998 khi tôi quyết định về hưu để chuyển hướng hoạt động nhiều hơn về văn hoá thì Hội Đồng Nhiếp Chính (Board of Regents) tại Đại Học Michigan đã đồng thanh chấp thuận một bản tuyên dương công nghiệp giáo dục và khoa học của tôi và trong đó có ghi rõ những kỳ thăng cấp . Nếu ai đọc thì cũng thấy rằng đó là một tiến trình kỷ lục tại một trong những đại học hàng đầu ở Hoa Kỳ . Nhưng để đạt được như vậy tôi đã cố gắng hoạt động không ngừng nghỉ trên cả hai phương diện giáo dục và khảo cứu . Tôi là một trong số rất ít người được tặng cả hai giải xuất sắc về giáo dục và xuất sắc về khảo cứu của Trường Kỹ Thuật ở Đại Học Michigan . Mỗi lần được đề nghị thăng cấp là phải có một hội đồng gồm bốn vị giáo sư thâm niên hơn và khi lập hồ sơ họ lấy cả ý kiến của những nhà giáo dục và khoa học gia ở các đại học khác và trong kỹ nghệ nữa . Sau khi lấy đầy đủ mọi giữ kiện, ba thành viên trong hội đồng sẽ viết phúc trình về ba phương diện giáo dục, khảo cứu và phục vụ của ứng viên và đưa ra toàn thể phân khoa gồm những giáo sư có thâm niên hơn để lấy biểu quyết trước khi chuyển đề nghị thăng cấp lên ông khoa trưởng và ủy ban thường vụ khoa . Sự chấp thuận của ủy ban này được coi như là chung kết tuy rằng nghị định thăng cấp bao giờ cũng phải do ông viện trưởng đại học đưa ra hội đồng nhiếp chính để lấy chấp thuận . Hồ sơ đề nghị để được cấp giải giáo dục xuất sắc hay khảo cứu xuất sắc cũng làm như vậy, nhưng quyết định là do hội đồng khoa .

Những lề luật về thăng cấp hay tưởng thưởng như vậy rất là dân chủ ; những người được lựa chọn bao giờ cũng xứng đáng vì đã được sự tín nhiệm của các bạn đồng nghiệp . Mặt khác ở cạnh ông khoa trưởng có hội đồng thường vụ do các giáo sư bầu ra và ở cạnh ông viện trưởng có hội đồng nhiếp chính do dân chúng bầu ra . Những quyết định quan trọng phải qua những hội đồng này chấp thuận . Vì vậy dù có sự nâng đỡ đặc biệt của ông chủ nhiệm phân khoa hay ông khoa trưởng chăng nữa mà tự mình không chứng tỏ được tài năng thì cũng không đứng vững lâu được trong ngành giáo dục ở bậc đại học .

HKL: Giáo sư là một khoa học gia đã hoạt động trong ngành hàng không và không gian hơn ba mươi năm và đã được mời giảng dạy tại nhiều đại học trên thế giới . Hương Kiều Loan được đọc một bài của Thiện Nhân Nguyễn Khánh Do, là một nhà văn và cũng là một giáo sư toán, trong đó nói rằng giáo sư đã viết được hai cuốn sách và hơn tám mươi bài khảo cứu về toán học và khoa học không gian cùng đào tạo được nhiều sinh viên tiến sĩ trên thế giới . Nhân dịp này giáo sư có thể kể cho độc giả biết đã đóng góp được những gì cho cơ quan không gian Hoa Kỳ ? HKL cũng xin hỏi thêm là trong những sáng tác về khoa học, điều gì giáo sư cho là quan trọng nhất .

GS NXV : Bài viết của giáo sư Nguyễn Khánh Do được đăng trên cuốn‘‘Theo Ánh Tinh Cầu’’là cuốn truyện ký sự của tôi xuất bản năm 1991 . Theo bài giới thiệu thì tôi đã viết ra hai cuốn sách về khoa học không gian với những tựa đề là ‘‘Hypersonic and Planetary Entry Flight Mechanics’’ và ‘‘Optimal Trajectories in Atmospheric Flight’’. Những cuốn sách này giờ đã bán hết. Năm 1993 tôi có viết thêm cuốn sách với tựa đề laø ‘‘Flight Mechanics of High-Performance Aircraft’’. Cuốn sách này do nhà xuất bản Đại Học Cambridge ở Anh Quốc xuất bản và sau khi in ra đã được nồng nhiệt đón nhận và năm 1995 nhà xuất bản lại cho ra ấn phẩm với bià mỏng để làm sách giáo khoa .

Trong những năm qua , khi tiếp xúc với giới trẻ ở khắp năm châu , tôi thường được hỏi là tôi đã cộng tác thế nào với Nha Quản Trị Hàng Không và Không Gian Quốc Gia (National Aeronautics and Space Administration , gọi tắt là NASA ) , và trong quãng đời làm công tác khoa học , sáng tác nào đã làm tôi thích thú nhất . Trong giòng họ tôi, có rất ít người ra làm quan và , trong các tổ tiên , những người đỗ đạt dù có xuất chính rồi ít lâu sau cũng cáo quan về nhà dạy học . Cũng vì vậy mà từ khi ra trường tôi đã đi theo những bước chân của các bậc tiền nhân mà chọn con đường giáo dục . Trải hương thơm theo gió , tôi muốn hoàn trả lại bốn phương những gì tôi đã thâu thập được trong cuộc đời tầm học , và như thế dạy học và viết những tài liệu khảo cứu là con đường hữu hiệu nhất để thực hiện điều này .

Một khi đã quyết tâm theo ngành giáo dục và khảo cứu , tôi cũng phải hành xử theo như các bạn đồng nghiệp khác để được ở cùng một bình diện với họ . Ở các đại học có một thành ngữ mà ai cũng ghi nhớ là ‘‘Publish or Perish’’ có nghĩa là không công bố được trên sách báo chuyên môn những sáng tác hay những kết quả khảo cứu của mình thì sẽ bại liệt .

Tuy chính thức là ở trong ban giảng huấn nhưng trên thực tế các giáo sư được đánh giá qua những kết quả khảo cứu , được thể hiện bằng những bài đăng trên những báo chuyên khoa , những cuốn sách đã xuất bản , và những lần được mời đi thuyết trình ở các đại học trong và ngoài nước hay ở những hội nghị tầm vóc quốc gia và quốc tế .

Muốn làm khảo cứu , tìm ra những điều mới lạ , ở một thời đại văn minh tuyệt đỉnh , ai cũng cần có một ngân khoản , thường thì do một cơ quan quốc gia , hay một xí nghiệp đài thọ , và muốn xin được những tài trợ này giáo sư phải sẵn có một uy tín trong lãnh vực của mình, nghĩa là đã phải có một số những bài khảo luận đăng trên sách báo, và muốn viết được những bài này lại cần phải có những phuơng tiện để làm khảo cứu nghĩa là phải có ngân sách để quản lý. Trong cái vòng lẩn quẩn đó, nhiều người không tìm ra đầu mối bắt đầu từ đâu, và đã phải giải nghệ, nghiã là đi tìm cách tiến thân theo con đường khác.

Tôi cũng đã trải qua những năm thử thách đó trong xã hội rất mực cạnh tranh ở Hoa Kỳ, và trong phần vụ nghiên cứu cũng đã xin được những ngân khoản khảo cứu của các cơ quan chính phủ và kỹ nghệ tư . Những kết quả khảo cứu , hoặc được đăng trên các nguyệt san khoa học và kỹ thuật như những bài khảo luận, hay dưới hình thức những bản báo cáo chuyên ngành , đều được phổ biến qua các thư viện chuyên môn trên toàn thế giới . Một số những báo cáo chuyên môn tôi viết ra, hoặc đứng tên một mình, hoặc làm chung với các bạn đồng nghiệp hay các môn sinh , đã được Không Quân Hoa Kỳ (USAF) , hay NASA là những cơ quan đã trợ cấp ngân khoản, in ra như là những tài liệu chuyên môn (technical document hay technical report) .

Những tài liệu này đều có thể tìm được ở các thư viện , hay gửi mua ở Clearinghouse for Federal Scientific and Technical Information địa chỉ gửi về là Springfield, Virginia 22151 .

Ngoài ra một số những sinh viên tiến sĩ do tôi đào tạo ở Đại học Michigan, nếu không đi theo đường giáo dục cũng làm việc cho kỹ nghệ và cũng có những người làm việc trong những phòng khảo cứu của Không Quân Hoa Kỳ (USAF) hay cơ quan NASA . Một trong những người ấy là tiến sĩ Jennie R. Johannessen, một nữ chuyên gia rất xuất sắc làm việc cho cơ quan Jet Propulsion Laboratory thuộc Đại Học Caltech ở Pasadena, California, là trung tâm điều khiển vệ tinh thám sát Thái Dương Hệ. Bà đã là người quản nhiệm nhóm tính quỹ đạo cho vệ tinh nhân tạo Galileo bay lên thám hiểm Mộc Tinh.

Trở lại câu hỏi là tôi thấy thích thú nhất về sáng tác nào thì thật khó trả lời vì trong khi làm về khoa học tôi để chen vào một chút văn nghệ tính , và giống như một họa sĩ vẽ tranh, tôi không hay sao lại một tác phẩm nào đã thực hiện trước đây. Vì vậy khi đọc lại bất kỳ bài viết nào đã đăng , mỗi bài có một vẻ đẹp khác nhau làm tôi vẫn thấy hào hứng như lần đầu tiên tìm ra được phương pháp giải bài toán này còn ở trong vòng bí hiểm .

Tháng Tám năm 1994, tại hội nghị thường niên toàn quốc về cơ học không gian của American Institute of Aeronautics and Astronautics họp ở Scottsdale thuộc tiểu bang Arizona , ở bữa tiệc chính có vào khoảng một ngàn kỹ sư và khoa học gia danh tiếng tham dự, tôi được mời lĩnh giải Mechanics and Control of Flight cho năm ấy.

Ngoài bằng tưởng lục và một nút tròn để đeo vào ve áo, tôi được ông Chủ Tịch đương nhiệm của Viện choàng vào cổ tấm huy chương vàng danh dự . Ở một mặt tấm huy chương có khắc hình chiếc phi cơ cánh đôi của hai anh em ông Wright chế tạo và vết chân đầu tiên của phi hành gia Neil Armstrong in trên mặt trăng , những hình vẽ biểu dương cho sự phát triển khoa học hàng không và không gian Hoa Kỳ trong thế kỷ XX . Ở mặt bên kia có khắc tên tôi và hàng chữ tuyên dương ‘‘For outstanding contributions to the mathematical theory of optimal control, applied to the flight mechanics of aerospace vehicles in the atmosphere and in space’’.

Được tặng giải này trước hết phải có những đồng nghiệp đề nghị, và sau đó được một ủy ban chọn lựa và vì mỗi năm chỉ chọn một người nên cái hy vọng nhận được huy chương này thật không bao giờ đến với ý tưởng tôi .

Nhận Giải Mechanics and Control of Flight
của American Institute of Aeronautics and Astronautics (1994)

HKL: Giáo sư đã ở trong ngành giáo dục một thời gian lâu dài, học sinh theo học có thể tới một vài ngàn người và số sinh viên tiến sĩ được giáo sư đào tạo cũng không phải là ít . Họ là những người ở những quốc gia nào và trong số những người ấy có nhiều người là sinh viên Việt Nam hay không ?

GS NXV : Sự ước lượng của Kiều Loan cũng khá đúng . Phân khoa hàng không và không gian ở Đại Học Michigan là một phân khoa lớn, có một lịch sử lâu dài . Lấy một vài thí dụ là cả ba phi hành gia của chuyến bay Apollo 15 lên mặt trăng, là những đại tá không quân David R. Scott, James B. Irwin và Alfred M. Worden đều là cựu sinh viên của Michigan . Kỹ sư Clarence L. (Kelly) Johnson là người đã vẽ những kiểu phi cơ F-104 Starfighter , và U-2 danh tiếng của Hãng Lockheed, ông đã tốt nghiệp kỹ sư hàng không ở Michigan năm 1932, và được bằng cao học năm 1933 . Trong những năm tôi dậy ở đây tính trung bình thì năm nào cũng có vào khoảng từ 50 tới 60 sinh viên tốt nghiệp cấp kỹ sư, và cũng có vài chục người được cấp bằng cao học. Như vậy trừ những năm tôi được nghỉ để đi làm giáo sư thỉnh giảng ở những nước khác số lượng sinh viên đã theo học những lớp tôi dậy cũng có thể lên tới gần hai ngàn người . Dĩ nhiên là phần đông những sinh viên là người Mỹ nhưng ở bậc cao học cũng có tới một phần tư là những sinh viên tới từ các nước khác, thường thì là từ những nước ở Á châu nhưng cũng có một số sinh viên tới từ Âu châu .

Cũng vì thành phần sinh viên có tính cách quốc tế như vậy mà trong phân khoa của tôi các giáo sư hay được mời tới thăm viếng và giảng dậy ở các đại học khác trên thế giới. Riêng tôi, ngoài sự được mời đi giảng dạy ở nước ngoài như đã nói ở trên, vì những sách chuyên khoa của tôi được dùng ở nhiều nơi nên đôi khi tôi được mời chấm luận án tiến sĩ ở những đại học khác. Lấy một vài tỉ dụ là tôi đã được mời cho ý kiến về những luận án tiến sĩ nộp tại Đại Học Princeton ở Hoa Kỳ, Đại Học McGill ở Montréal, Gia Nã Đại, và Viện Khoa Học Ấn Độ ở Bangalore. Cuối năm 1997 tôi được mời sang Pháp để dự trong ban giám khảo chấm thi tiến sĩ toán học cho một sinh viên ở Institut National Polytechnique de Toulouse.

Tôi không nhớ hết được tên những sinh viên người Việt ở trình độ kỹ sư đã học ở phân khoa của tôi nhưng tôi nghĩ là vào khoảng mười người trong đó cũng có vài chị . Tôi nhớ có cháu Nguyễn thị Hà, vì là con một người bạn, ra trường đã lâu và làm cho Hãng Boeing ở Seattle, và được trọng dụng. Được cấp bằng tiến sĩ có anh Brian Nguyễn, nhưng anh theo học một giáo sư khác không cùng môn với tôi . Một sinh viên khác cũng rất xuất sắc là chị Nguyễn Khánh Lưu , nhưng sau khi được bằng cao học thì được cấp học bổng để làm luận án tiến sĩ ở Đại Học Colorado . Nay Khánh Lưu làm việc cho Không Quân Hoa Kỳ và rất chăm về khảo cứu nên tôi cũng hay gặp lại ở những hội nghị hàng năm .

Những sinh viên Việt Nam theo học ở Michigan về kỹ thuật thường học những môn dễ kiếm việc như cơ khí hay điện tử, và nhiều người đã đạt được học vị tiến sĩ . Trường y khoa của đại học cũng được xếp hạng trong mười trường đứng đầu ở Hoa Kỳ nên năm nào cũng có một vài anh chị tốt nghiệp bác sĩ y khoa. Những môn khoa học khác như vật lý hay hóa học đều có người Việt theo học tới tột cùng .

Nói chung thì thế hệ thứ hai của những người Việt di cư, nghĩa là những con em của chúng ta hiện nay đang ở lớp tuổi thanh niên, các anh chị đều có những thành quả xuất sắc ở học đường và sau khi ra đời đã có những tiến bộ đáng kể trong xã hội . Riêng trong những ngành y, nha, dược và nhãn khoa thì, so với thành phần dân số, tỷ lệ tốt nghiệp khá cao đối với các sắc tộc khác .

Thăm Đại Tướng Guéguen là bạn học đồng khóa
ở Bộ Tư Lệnh Phòng Không Pháp (1989)

HKL: Theo trong bài giới thiệu của nhóm New Horizon thì trong gia đình của giáo sư các cháu đều học thành tài . Vậy có em nào theo gót của giáo sư và trở thành khoa học gia hay không ? Còn về tiếng Việt, HKL chắc giáo sư cũng lưu tâm đến sự hướng dẫn con em hướng về cội nguồn và tìm đọc những tác phẩm trác tuyệt trong văn học nước nhà .

GS NXV:Tôi đã đi nói chuyện ở nhiều nơi và lúc nào cũng lưu ý giới trẻ Việt trân quý ngôn ngữ của nòi giống , như những người Do Thái và những người Hoa , dù trải qua hàng mấy mươi thế kỷ sống rải rác khắp nơi trên thế giới mà họ vẫn giữ được tiếng nói và chữ viết truyền đời .Vì vậy tôi luôn luôn nhắc nhở con cái phải trau dồi tiếng Việt để ít ra là cũng nói được lưu loát khi giao thiệp với người đồng hương.

Ở Đại Học Michigan tôi đã cùng với các sinh viên và phụ huynh vận động cho tiếng Việt được giảng dạy như là một sinh ngữ và từ mười năm nay những lớp học ấy do một cô giáo phụ trách lúc nào cũng thu hút được một số đông sinh viên Việt và Mỹ theo học. Còn về sự lựa chọn ngành học tôi để các cháu trong gia đình tự tìm lấy môn nào thích hợp với năng khiếu của riêng mình để theo đuổi. Cháu trai lớn của chúng tôi là một chuyên gia về văn chương miền Nam của Hoa Kỳ . Cháu trai thứ hai là một bác sĩ y khoa . Tiếp theo chúng tôi có một cháu gái tốt nghiệp về quản trị và kinh doanh và cháu trai út sau khi có bằng kỹ sư điện tử thì học thêm bằng cao học về tài chánh ở Đại Học Chicago vì theo cháu đó là khuynh hướng của lớp trẻ Âu Mỹ bây giờ .

HKL: Bây giờ HKL xin hỏi giáo sư một câu chót . Qua những bài báo đã viết về Nguyễn Xuân Vinh như là một khoa học gia , Hương Kiều Loan được biết là giáo sư đã được bầu vào Hàn Lâm Viện Không Gian Pháp Quốc và Hàn Lâm Viện Không Gian Quốc Tế . Xin giáo sư cho biết là muốn là hội viên thì phải làm đơn xin gia nhập, hay là phải có người tiến cử , và sự chọn lựa như thế nào ? Có phải vì giáo sư đã có bằng tiến sĩ toán ở Pháp mà được mời gia nhập Hàn Lâm Viện hay không ?

GS NXV: Tôi là một hội viên ngoại quốc của Viện Hàn Lâm Quốc Gia Hàng Không và Không Gian (Académie Nationale de l’Air et de l’Espace) của nước Pháp .Viện này mới được thành lập năm 1983 dưới sự bảo trợ của bốn vị Tổng Trưởng Quốc Phòng, Kỹ Nghệ và Khảo Cứu, Quốc Gia Giáo Dục và Giao Thông .

Như tất cả các viện hàn lâm khác, số hội viên rất giới hạn và theo quy chế khi thành lập chỉ dự trù có sáu mươi hội viên người Pháp và ba mươi hội viên ngoại quốc mà thôi. Ông chủ tịch viện viết thư chính thức mời hội viên mới sau khi vị này đã được ba hội viên đề nghị và được toàn thể hội đồng họp những khóa tam cá nguyệt bỏ phiếu bầu mỗi khi có ghế trống .

Tôi là người Á châu đầu tiên được bầu vào ngày 15/05/1984 và người thứ hai là tiến sĩ kỹ sư Bacharuddin Habibie được bầu ngày 18/04/1985 . Về sau ông trở thành Tổng Thống của Nam Dương sau nhiệm kỳ của ông Suharto .

Những hội viên Pháp được bầu vào đều là những ngôi sao sáng trong các ngành kỹ nghệ, giáo dục và khảo cứu liên hệ đến hàng không và không gian, nhưng cũng có những chính trị gia tên tuổi như cố thủ tướng Michel Debré, ông cũng là viện sĩ Hàn Lâm Viện Pháp (Académie Française) là viện văn chương uy tín nhất chỉ gồm có bốn mươi vị được gọi là những ông hàn bất tử .

Ngoài ra viện cũng có những nhà văn tên tuổi như Pierre Clostermann , tác giả cuốn sách nổi tiếng ‘‘Feux du Ciel’’viết về những kỷ niệm không chiến và Albert Ducrocq là một tác giả viết rất phong phú về khoa học . Họ đều là những người xưa nay tôi hâm mộ, và nay được là bạn đồng viện của những bậc tài danh ấy tôi lại thấy mình càng phải cố gắng hơn nữa .

Nhiều hội viên là những giáo sư đại học có tên tuổi ở Pháp, nên tước vị tiến sĩ quốc gia không phải là yếu tố quan trọng trong hồ sơ của ứng viên.

Viện Hàn Lâm Không Gian Quốc Tế (International Academy of Astronautics)thì rộng lớn hơn vì bao trùm vào khoảng sáu mươi nước, và trụ sở đặt ở Paris. Những nước lớn như Hoa Kỳ thì có đông đại diện, tới vào khoảng gần một trăm người, còn những nước nhỏ như Thụy Sĩ thì chỉ có một vài người được bầu vào . Hồ sơ đề nghị cũng phải có ba người ký tên và mỗi năm viện đưa ra một danh sách các ứng viên có đủ điều kiện để các hội viên từ các nước gửi phiếu bầu qua đường bưu điện. Vì số ghế trống mỗi năm chỉ vào khoảng một phần ba số ứng viên nên có nhiều người có thành tích lỗi lạc được đề nghị mà vẫn bị lọt sổ mấy năm liền.Viện có một nguyệt san khoa học tên là ‘‘Acta Astronautica ’’và tôi đã được đề cử làm phụ tá chủ bút chuyên về cơ học vũ trụ (Astrodynamics) trong khoảng thời gian từ 1979 đến 1999 khi tôi nghỉ hưu .

Nhận lời chúc mừng của ứng cử viên Phó tổng thống
Hoa Kỳ Jack Kemp trong lễ phát giải Excellence 2000 Award ở Hoa Thịnh Đốn (1996)

HKL: Từ nhiều năm nay giáo sư hằng lưu tâm tới tương lai của giới trẻ Việt ở hải ngoại, và cuộc đời của giáo sư cũng là một trong những gương sáng cho thế hệ tương lai noi theo. HKL được biết là Hội Khuyến Học ở Saint Louis , Missouri cũng đã đặt ra một giải thưởng hàng năm lấy tên là giải thưởng Truyền Thống Nguyễn Xuân Vinh . Để kết luận xin giáo sư ngỏ đôi lời với độc giả về kỳ vọng giáo sư đặt vào thế hệ trẻ tương lai của đất nước .

GS NXV: Thế hệ chúng tôi được lớn lên trong hoàn cảnh chiến tranh của đất nước nên không được may mắn như các bạn trẻ bây giờ . Các bạn hiện nay như những bông hoa tươi thắm được nở rộ trên xứ người với muôn vẻ đẹp . Tôi mong mỏi các bạn biết đến công ơn của cha mẹ, đã vượt qua bao nhiêu khó khăn và trở ngại để tạo ra điều kiện thuận lợi cho sự thành công của các bạn. Đối với các bạn, sự thành công của cá nhân mình là điều đáng quý, nhưng biết hướng về cội nguồn, nghe lời chỉ dạy của cha mẹ , gìn giữ được những nét hay vẻ đẹp để tiếng nói, chữ viết và văn hóa của dân tộc được truyền đời mới là điều làm ta hãnh diện . Vòng giây giữa các thế hệ phải được nối tiếp . Khối người Việt ly hương phải được kết hợp lại thành một tập thể quốc gia , để tranh đấu cho tự do và dân chủ được thực hiện trên quê hương xưa và trong thế kỷ này các bạn sẽ là những người lãnh đạo . Đó là điều tôi kỳ vọng nơi các bạn .

HKL: Xin cám ơn giáo sư đã dành cho buổi phỏng vấn này. HKL xin thay mặt ban biên tập kính chúc giáo sư và gia đình một năm mới an khang thịnh vượng.

Dec15-2001
Hương Kiều Loan