Thứ Hai, 17 tháng 11, 2025

Cao Sơn Tuyết - Thơ: Minh Đức Triều Tâm Ảnh - Nhạc: Võ Tá Hân - (Chúc Mừng Sinh Nhật Đức Đạt Lai Lạt Ma)


Thơ: Minh Đức Triều Tâm Ảnh
Nhạc: Võ Tá Hân

Đôi Khi - Tìm Quên - Chẳng Gì


Đôi Khi...

Đôi khi lòng ngỡ đã quên
Đôi khi buồn bỗng chênh vênh đinh sầu
Đôi khi ngỡ chạm đáy sâu
Đôi khi chìm đắm nỗi đau tình người
Đôi khi cố gắng gượng cười
Đôi khi lục lại đẹp ngời tuổi thơ
Đôi khi khép mắt làm ngơ
Đôi khi hình ảnh người mơ vẫn hoài...
Đôi khi lúc tỉnh lúc say
Đôi khi người ấy có hay... như mình?!

Kim Oanh
***
Bài Cảm Tác:

Tìm Quên

Tìm quên nỗi nhớ vương lòng
Theo sông đời chảy theo dòng thời gian
Xuân xanh hạ đỏ thu vàng
Chào đông hoa tuyết giăng màn phố đêm
Tìm quên… vào giấc êm đềm
Mơ thôi trăn trở tàn đêm ngưng buồn
Cõi tình lắm lúc đau thương
Cõi thơ, cõi mộng con đường tìm quên!

Yên Dạ Thảo

12.11.2025
***
Chẳng  Gì

Chẳng gì nhớ chẳng gì quên
Chẳng gì nước mắt mà lênh láng sầu
Chẳng gì cạn - phải đào sâu
Chẳng gì thiên hạ, lòng đau một người!
Chẳng gì khóc - giấu miệng cười
Chẳng gì hiện tại, quên thời non thơ
Chẳng gì luyến có chi ngơ?
Chẳng gì vương bận đường tơ tưởng hoài
Chẳng gì mê đắm... Tự say!
Chẳng gì thương, hận... buồn ai, đau mình.

Phong Tâm

Chiều Thu Thăm Mộ Mẹ

 
Triền sông khói quyện nhánh dừa lay
Mộ chí vàng loang nắng trải dài
Giọt tủi tuôn trào môi mặn đắng
Niềm đau nén lại mắt nồng cay
Mây đưa mẹ nhập miền tri giác
Gió cuộn con vào chốn khứ lai
Thắp vọng hương lòng tâm khắc khoải
Sương chiều lãng đãng lá thu phai

ThanhSong ntkp

Dạ Khách 夜 客 - Trần Văn Lương

 

Dạo:

Thoảng nghe tiếng gõ bên thềm,
Phải chăng định mệnh trong đêm đến tìm.

Cóc cuối tuần:

夜 客

黑 月 輕 輕 叩 閉 窗,
敲 聲 慢 慢 透 孤 房.
老 翁 倚 杖 開 門 看,
隻 葉 辭 枝 伴 冷 風.

陳 文 良.

Âm Hán Việt:

Dạ Khách

Hắc nguyệt khinh khinh khấu bế song,
Xao thanh mạn mạn thấu cô phòng.
Lão ông ỷ trượng khai môn khán,
Chích diệp từ chi bạn lãnh phong.

Trần Văn Lương

Dịch nghĩa:

Người Khách Đêm

Mặt trăng đen nhè nhẹ gõ cánh cửa sổ (đang) đóng,
Tiếng gõ chầm chậm lọt vào trong căn phòng đơn lẻ.
Ông già chống gậy mở cửa để nhìn,
(Chỉ có) một chiếc lá cô độc từ giã cành (để) làm bạn với gió lạnh.

Phỏng dịch thơ:

Người Khách Đêm

Cửa đóng, trăng đen gõ nhẹ nhàng,
Tiếng vang len lỏi vượt hành lang,
Hoang mang ông lão lần ra ngõ,
Chỉ gió lạnh đưa xác lá vàng.

Trần Văn Lương
Cali, 11/2025

Lời than của Phi Dã Thiền Sư:

Có trăng màu đen thật ư? Và trăng biết gõ cửa ư?
Than ôi, phải chăng là Thần Chết hóa trang?
Chiếc lá cô độc lìa cành bị cơn gió lạnh mang đi.
Buồn thay!
Có lẽ nào đó là số phận của ông lão đêm nay?
Hỡi ơi!

***
Người Khách Trong Đêm

Trăng đen gõ nhẹ cửa cô phòng
Âm thanh lãng đãng lọt vào trong
Chống gậy, lão ông ra hé cửa
Lá vàng theo gió lạnh quay vòng.

Động tâm, ông tự hỏi, bần thần:

Trăng gõ cửa? mặt trăng sẫm đen?:
Than ôi, có phải chăng Thần Chết?
Thân phận ta tựa chiếc lá vàng?

Mùi Quý Bồng
(phóng tác)
11/13/2025
***
Khách Đêm

Trăng tối gõ hờ kín cửa song
Âm vang chầm chậm thấu cô phòng
Lão ông chống gậy ra ngoài thấy
Lá chiếc lìa cây gió lạnh lùng!

Phi Dã Thiền Sư than:

Trăng đen thật? gọi người cũng biết?
Phải chăng là thần chết hóa trang
Lạnh lùng lá chiếc gió mang
Lẽ nào phận lão lên đàng tối nay?
Ơi hỡi, buồn thay!

Lộc Bắc
(Phỏng dịch)
Nov25

Thầy Bùi Văn Mạnh Và Tôi


Tôi gặp Thầy Mạnh vào những ngày mới bước chân vô lớp Đệ Thất Trường Trung Học Nguyễn Đình Chiểu. Lúc đó vào giữa thập niên 1950, học sinh Nguyễn Đình Chiểu hầu hết mặc quần xà lỏn áo bà ba hay áo tay cụt mang guốc mà đi học. Riêng tôi khi sắp tới cổng trường mới xỏ chân vô đôi guốc, còn suốt con đường từ nhà tới trường thì đi chân không cho nó đỡ mòn guốc và thoải mái hơn. Với đứa trẻ con như tôi thì chuyện lội bộ chân trần đi học hay đi chơi vài ba cây số là chuyện thường, đa số trẻ con lúc đó đâu có xe đạp. Vậy mà trong lớp học của tôi có một anh bạn đi học mặc quần tây trắng, áo chemise trắng bỏ vô quần, đi giày trắng, nhìn anh thấy trắng từ đầu tới chân, khi sắp hàng vô lớp nhìn anh y như con cò trắng lạc trong bầy quạ đen. Anh là con của một ông giáo. Xin độc giả lưu ý là tuy nhan đề là thầy Mạnh và tôi, nhưng thực ra cũng có thể lấy nhan đề là là hình ảnh một học sinh vào đầu thập niên 1950.

Một sáng Chủ nhật đẹp trời tôi đi từ nhà đến nhà lồng chợ Mytho con đường dài khoảng một cây số. Khi đi đến góc đường Thủ Khoa Huân và Lê Lợi (tên đường trước năm 1975), vừa quẹo qua đường Lê Lợi tôi gặp ngay Thầy Mạnh đang đứng chắp tay sau lưng trước nhà (do nhà nước cấp cho giáo sư ở), hồn vía lên mây, tôi khoanh tay cúi đầu miệng nói: “Thưa thầy”. Học trò thời tôi gặp thầy giáo là chào kiểu nầy hay ít ra là vì trước đó tôi đi học ở nhà quê nên quen rồi. Quý bạn trẻ không biết chớ ngày xưa học sinh sợ thầy lắm, sợ tự nhiên, không phải tại ông Thầy dữ dằn đâu (ờ mà ngẫm lại quý thầy giáo ngày xưa dữ thiệt chớ chẳng chơi). Bao giờ học trò cũng “né” đến những chỗ dễ gặp quý thầy, thấy dáng thầy đi từ xa là chuồn liền. Tôi “đụng” thầy Mạnh là vì tình cờ mới quẹo ngay góc đường, chớ nếu mà tôi thấy trước thì làm gì thầy thấy tôi nổi, tôi lặn liền. Thầy Mạnh hỏi “Đi đâu đó mậy?”, thầy đâu có biết tôi, tôi đâu có học với thầy trong Trường Trung Học Nguyễn Đình Chiểu, tôi học Pháp Văn với thầy Dinh mà, tại tôi khoanh tay chào mới ra nông nổi. Tôi trả lời “Dạ con đi chợ”. Thầy bảo “Vô ngồi đây mầy”. Tôi riu ríu bước qua ngạch cửa thấy có ba bốn chú nhóc con như tôi đang ngồi đó mặt mày buồn hiu, thầy chỉ ghế tôi ngồi xong bước ra cửa đứng “canh” tiếp.

Tôi thắc mắc trong lòng sao ông Thầy kêu vô đây ngồi mà chẳng nói lý do. Một lúc sau thầy bắt được một đứa nữa, vào ngồi xong rồi thầy lấy ra một xấp giấy tây gạch hàng sẳn trắng mịn, đặt trước mặt mỗi đứa một tờ. Xong đưa mỗi đứa một cây viết với vài cái bình mực để trên bàn (lúc đó chưa có viết BIC). Ôi nhìn tờ giấy trắng tinh nhìn lại đôi bàn tay bùn đất đen đúa của tôi thấy thiệt là tréo ngoe, tay tôi mà đụng tới đâu là lem tới đó. Đang phân vân trong lòng thì thầy nói bây giờ thầy đọc “đít tê” cho các trò viết. Trời đất quỉ thần ơi, chết tôi rồi, cái môn mà tôi sợ gần chết giờ đây hiện ra chình ình trước mặt, khổ quá chừng. Thầy Mạnh mở sách ra đọc. Tiếng Tây của ổng nghe rôm rốp mà tôi nghe y như nghe tiếng “Ma Rốc”, biết viết sao đây. Khổ một nỗi là ổng đứng sau lưng tôi vừa đọc vừa nhìn tôi viết, lập lại vài lần mà viết còn sai là ổng gỏ cây thước vuông gỗ mun lên đầu cái cốc. Thầy nói đọc “đít tê” mà, sao bây giờ đầu con cũng tê luôn. Run ơi là run, trống ngực đánh thùng thùng. Đó là cuộc gặp gỡ đầu tiên của tôi với ông Thầy, thiệt là hãi hùng. Sau nầy những lần đi ta bà về hướng nhà lồng chợ tôi đâu có dại để cho ông thấy nhìn thấy nữa. 

Rồi từ đó trở đi tôi gặp ông Thầy hoài, lần nào cũng vui y như vậy, ngay khi qua Mỹ nầy rồi cũng còn gặp thầy trong hoàn cảnh nửa cười nửa mếu. Xin tạm dừng chuyện thầy Mạnh và tôi ngang đây để tôi kể thêm cho quý độc giả trẻ biết hoàn cảnh của học trò ở đồng (nhà quê) như tôi thời thập niên 1940 và vì sao tôi sợ môn tiếng Pháp. Tôi vốn là “dân ruộng chân phèn” đâu có học hành chi đâu, làng tôi ở làm gì có trường học. Cha mẹ phải cho đi học ABC tại một ngôi Chùa. Mới có năm sáu tuổi sợ ma gần chết mà bị bắt nhét vô Chùa chung quanh toàn là lùm bụi mả mồ tứ tung, học hành làm sao cho nổi. Nhớ lại mỗi khi trời chiều thấy mây đen bao phủ chân trời là lòng hồi hộp lo âu. Số là cách Chùa một khoảng ngắn, trên đường về, có cái mả đá với hai cây dương cổ thụ thật cao, đây là nơi tôi sợ nhất, cây cao ắt có quỷ ở trên đó. Con đường trải đá đỏ từ Chùa về nhà chừng non một cây số, chung quanh là đồng ruộng, chiều tới là nhái bầu kêu ngắc nga, nghe thật thê lương. Người lớn đi một mình chắc còn thấy ơn ớn, nói chi trẻ con mới 5 tuổi như tôi. Một chiều nọ mưa giông sấm chớp vang trời, bổng nghe tiếng nổ kinh hồn như sát bên tai. Người lớn chạy ra cửa Chùa nhìn một chút rồi vào bảo “Cây dương ở gò mả đá bị Trời đánh tét làm hai rồi, chắc Trời đánh con quỷ ở trên đó”. Nghe vậy tôi càng run, chút nửa tan học ra về, biết tính sao đây. Trường học chi mà chỉ có mình tôi là học trò, phải chi có năm ba đứa cùng về thì đỡ sợ biết bao nhiêu. Rồi thì cũng phải về. Cởi cái áo ra, bó cuốn vở vào trong cái áo, mình trần dông ra khỏi Chùa, mưa rơi trên đầu. 

Quý độc giả trẻ không biết chớ chuyện dầm mưa với cái quần cụt chân đất là cái thú của trẻ con nhà quê như tôi. Tụi tôi coi mưa nắng như pha, sống y như cục đất. Đường vắng hoe, mưa rơi rả rích, trời âm u, mây đen kịt. Tôi vừa đi vừa chạy, nghe trống ngực đánh thình thịch vì sợ ma. Khi đến gần ngôi mả đá ven đường thì tôi nhắm mắt lại, cắm đầu chạy một mạch, càng qua nhanh càng tốt. Ủa mà hình như có ai rượt sau tôi thì phải, tôi nghe tiếng chân ai chạy theo mà. Biết vậy nên tôi càng chạy nhanh thêm, không dám nhìn lại, không dám mở mắt. Lạ là sao tôi không té, không lọt xuống ruộng. Chạy mấy phút mà lâu như cả giờ, mở mắt ra thấy vừa qua khỏi khu mả đá, phía trước lại có bóng người đi tới, mừng ơi là mừng. Đến gần té ra là ba tôi thấy trời mưa đi đón tôi về. Đó là hoàn cảnh học hành của trẻ con ở đồng tại Gò Công vào thập niên 1940. Đầu thập niên 50 chạy giặc lên thành phố Mytho, vì to đầu bị đẩy vô lớp Sơ Đẳng (lớp ba) trường Cầu Bắc Mytho (do thầy Nguyễn Văn Đạt làm hiệu trưởng, hiện định cư tại Little Saigon). Chữ Quốc Ngữ chưa đọc thông, nói chi chữ Tây chữ U.

Nhớ kỹ hình như tôi không có học Pháp Văn chánh thức với thầy Mạnh, nhưng khi tôi về dạy học tại Trung Học Kiến Hoà (năm 1962) thì thầy Mạnh làm hiệu trưởng. Thầy trò đều có nhà ở Mytho, mà phải đi dạy ở Bến Tre nên thường gặp nhau trên cùng một chuyến bắc, cùng một chuyến xe lôi hoặc xe lam nên càng thêm thân tình. Lúc đó Tổng Thống Ngô Đình Diệm phát động phong trào Thanh Niên Cộng Hoà cùng lúc lấy Bến Tre làm thí điểm về Ấp Chiến Lược, Tổng Thống thường đi kinh lý về đây. Chiều tối hôm trước ngày Tổng Thống xuống, học sinh và giáo sư được lịnh tập trung tại sân dinh tỉnh trưởng Bến Tre. Học sinh mặc đồng phục, giáo sư mặc đồng phục xanh của Thanh Niên Cộng Hoà. Tất cả vừa ngồi dưới đất vừa coi “văn nghệ” vừa đập muỗi. Thôi đừng đập muỗi nữa bà con ơi. Mấy anh chị nghệ sĩ nghe tiếng đập muỗi tưởng là tiếng khán giả vỗ tay sẽ hứng chí biểu diễn suốt đêm thì “chết cả đám”. Khi chương trình văn nghệ dứt thì trời đã khuya, nhiều người ngồi dựa lưng nhau mà ngủ gà ngủ gật. Đến gần sáng thì xe nhà binh chở vào một khu Ấp Chiến Lược nào đó. Ngồi xe nhà binh cũng run lắm, ban đêm ban hôm rất dễ bị tai nạn vì mìn nổ. Trời vừa bình minh là học sinh và giáo sư cùng dân cán chính đã có mặt dàn chào ngay hàng thẳng lối, đứng ngay vị trí phơi nắng ngóng cổ chờ Tổng Thống tới làm lễ. Thường thì máy bay trực thăng của Tổng Thống đến khoảng 10 giờ sáng. Sau nghi lễ đọc diễn văn, đi diễn hành, là Tổng Thống lên máy bay ra về. Đây cũng là dịp để tôi cùng các em học sinh được nhìn Tổng Thống thật gần. Tan buổi lễ học sinh, giáo sư và dân cán chính đi rải ra mọi chỗ để tránh nắng chờ xe nhà binh lần lượt chở về. Thầy Mạnh lúc đó cũng sồn sồn rồi, thức một đêm, dang nắng nguyên buổi sáng đâu chịu thấu cho nên lò dò lại cái chợ chồm hổm, leo lên thớt thịt, trải cái áo mưa nằm dài, trông thật buồn cười. Dưới mắt học sinh và giáo chức, hiệu trưởng phải oai lắm chớ đâu nằm dài trên thớt thịt. Thật ra thì chẳng ai cười thầy cả, vì thầy rất được lòng giáo sư và học sinh, phải nói là thầy quá hiền. Gọi là thớt thịt chớ thiệt ra trong làng có mấy khi bán thịt heo, do vậy chẳng có chi là dơ bẩn.

Trong thời gian tôi dạy học ở trường Trung Học Kiến Hoà có rất nhiều chuyện vui về ông Thầy Mạnh của tôi. Xin kể thêm một chuyện. Anh Trần Công Danh (hiện ở Mytho) được bổ nhiệm về dạy ở trường Trung Học Kiến Hoà. Sáng hôm đó anh Danh mặc quần xanh áo trắng y như đồng phục nam sinh vào thời nầy, chỉ khác là anh Danh không bỏ áo vào quần theo nội qui bắt buộc. Ông hiệu trưởng Mạnh niềm nở đón tiếp ông giáo sư trẻ, hỏi thăm gia cảnh có vẻ thân tình lắm rồi dẩn anh Danh qua phòng kế toán giới thiệu để làm thủ tục giấy tờ ....Sau đó anh Danh một mình đi quanh trường cho biết. Đang lang thang trong sân trường thì chuông báo hiệu giờ chơi rung lên, học sinh túa ra sân. Anh Danh đang đi bị ông Hiệu Trưởng đứng trước văn phòng ngoắc lại và nói: "Ê trò, trò có biết nội qui trường phải mặc bỏ áo vô quần không, coi chừng tui phạt trò đó nghe". Anh Danh nhỏ nhẹ nói là anh mới vừa trình diện với ông xong. Ông Hiệu Trưởng tỉnh bơ: "Ủa vậy hả, xin lổi ông giáo sư". Từ đó có một số bạn bè giáo chức gặp anh Danh dùng hai chữ Ê Trò thay cho lời chào. Không biết ông Thầy Mạnh muốn “chọc quê” anh Danh hay sao, mới gặp mươi phút trước đó sao mà quên được.


Sau nầy khi qua Mỹ định cư rồi, mỗi lần gặp ông Thầy là mỗi lần có chuyện vui, xin kể tiếp. Lần nọ tôi có dịp lên San Jose chơi, muốn thăm thầy Mạnh ở tại thành phố Fremont, cách San Jose 20 miles. Tôi gọi điện thoại gặp thầy ở nhà. “Ê bồ có rảnh lên tôi ăn cơm đi”. “Tụi em không có xe, có cách nào đi xe bus lên thầy được không”. “Không sao đâu. Bồ đi xe bus lên ga xe BART, xong lên chuyến xe bus số x, xuống tại góc đường y, xong đi vô khu apartment tên z, tìm căn số vvv, ở đường nầy nầy, dễ tìm lắm”. Tôi ghi hết vô giấy. Sáng bửa sau hai cha con theo lời mua vé xe bus lên nhà thầy Mạnh. Lạ không, cái số nhà rành rành ghi trên giấy đây mà sao vô cái khu apartment của ông Thầy đi mỏi chân vẫn tìm không ra, vậy mà trong điện thoại ông Thầy nói dễ tìm lắm. Sao mà hàng ngang dãy dọc căn nào cũng giống y nhau. Cuối cùng rồi cũng gõ cửa được nhà ông Thầy. Ăn cơm trưa xong thầy phụ cô dọn dẹp, cha con tôi đâu thể làm khách, nhào vô dọn phụ. “Ê bồ, bây giờ mình đi xe BART lên San Francisco chơi đi bồ”. Nghe nói xe chạy qua đường hầm dưới biển cha con tôi cũng muốn biết coi ra sao, có ông Thầy là dân địa phương ở đây lâu hướng dẫn thì an tâm biết bao nhiêu. Hai cha cha con tôi theo thầy cô đi xe bus ra bến xe BART, vào mua giấy đi San Francisco, cách Fremont 40 miles. Tới nơi cha con theo chân thầy cô đi dạo phố San Francisco, ngớ ngẩn y như Tư Ếch đi “Thầy Gòn”. Chợt thấy chiếc “xe lửa treo” chạy tới, ông Thầy nói: “Bây giờ mình leo lên xe nầy đi ra bờ biển chơi đi bồ”. Khi chiếc xe dừng lại trạm thầy cô leo lên xe, cha con tôi hết chỗ, không “đeo” lên xe kịp. Ông thầy nhắn vói lại: “Thôi bồ chờ chuyến sau đi, tụi tôi lên đó trước, xuống xe chờ bồ”. Còn biết nói sao bây giờ. Cha con tôi lên chuyến xe kế, chừng 5 phút sau, ra tới bờ biển (chỗ hẹn) leo xuống. Người đi đông nghẹt, nhìn tới nhìn lui chẳng thấy thầy cô đâu cả. Cảnh đẹp hàng quán chung quanh đâu còn lòng dạ nào ngắm nhìn tới nổi, chỉ lo lắng cố kiếm cho ra ông Thầy. Cả giờ đi tới đi lui mỏi chân chẳng gặp. Thôi thì cha con đành vừa đi dạo phố vừa tìm thầy cô, chắc hai ông bà cũng đi loanh quanh ở đây chớ đâu, thế nào rồi cũng gặp, ông Thầy đã nhắn vói như vậy mà. Đi một hồi gặp cái điện thoại công cộng, cha con góp bạc cắc bỏ vô, sao nó đòi nhiều quá vậy cà, quay số điện thoại về nhà ông Thầy cầu may. Nghe giọng ông Thầy trong điện thoại “Alô” tôi tá hoả: “Ủa thầy về nhà rồi sao?”. “Ừ, về rồi nãy giờ, thôi bây giờ chiều rồi, bồ lên xe BART trở về nhà tui ngủ đi, sáng mai hãy về San Jose. Giờ nầy không còn xe bus về San José đâu bồ”. Ông Thầy ơi ông Thầy, sao ông đành đem tụi em bỏ giữa chợ San Francisco vậy thầy, tụi em mới qua Mỹ còn khờ câm giờ biết làm sao tìm được đường về tới San Jose đây! Lúc nảy thầy cô dẫn đâu cha con tôi đi đó, bây giờ nhìn lại đường xá chằng chịt biết bến xe BART nằm nơi đâu mà tìm đến. Có về được tới Fremont thì cũng hết xe bus về San Jose. Cuối cùng cha con cũng mò tới được bến xe BART để mua vé về Fremont. Ngồi trên xe BART vừa lo sợ xuống xe không đúng trạm vừa lo sợ hết xe bus trở về San Jose. Mà chiếc xe BART nầy cũng kỳ, lúc đi muốn mầy chạy chậm để ngắm cảnh thì mầy chạy mau quá, giờ đây muốn mầy chạy nhanh nhanh may ra còn xe bus thì mầy lại cà rịch cà tang. Khi xe BART tới bến thì còn chuyến xe bus cuối cùng về San Jose. Đi chơi với ông Thầy thiệt là đứng tim!

Một lần nọ ông Thầy từ vùng San José xuống Los Angeles thăm con. Ông gọi anh Kiều Văn Chương (giáo sư trung học Kiến Hoà cùng thời với tôi, ở gần đây) lên Los chở thầy xuống thăm tôi. Nghe điện thoại mà cảm động biết bao nhiêu. Ba thầy trò ngồi ăn cơm chiều nhắc chuyện xưa lúc còn ở dạy tại Trung học Kiến Hoà vui lắm. Ông thầy chêm tiếng Anh um sùm y như lúc đọc “đít tê” bằng tiếng Pháp. Tôi hỏi thầy già rồi học tiếng Anh làm chi cho cực, ông Thầy nói “Mình phải học chớ bồ, học cho đầu óc trẻ trung. Tui gặp mấy bà đầm Mỹ tui nói chuyện bằng tiếng Anh mấy bả phục tui lắm”. Ông thầy dạy tôi rằng với ngoại ngữ muốn nói giỏi thì phải nói to lên chớ nói lí nhí thì không được. Xong ông Thầy biểu diễn liền mấy câu tiếng Anh um sùm lối xóm. Ổng mà chêm thêm hồi nữa hàng xóm Mỹ nghe không ra cứ tưởng trong nhà tôi gây lộn gây lạo dám kêu cảnh sát lắm. Đến khoảng 10 giờ đêm, ông Thầy bảo anh Kiều Văn Chương về đi, ông Thầy ngủ lại với tôi, sáng đến rước rồi chở ổng về. Tôi giựt mình nghĩ bụng chết em rồi thầy ơi, sao lúc gọi điện thoại ông Thầy không cho hay sớm để em thu xếp. Căn apartment của tôi ở Anaheim nhỏ xíu, không có giường, gia đình tôi bốn người nằm ngủ trên nệm mua garage sale bỏ trên sàn nhà. Bây giờ biết để ông Thầy ngủ nơi đâu coi cho được đây. Nhớ lại lần nào gặp thầy Mạnh đều lâm vô cảnh miệng cười méo xẹo hết, vui thiệt. Mà đâu đã hết chuyện. Cả nhà thu dọn để ông Thầy có chỗ nằm coi cho được. Nằm một lúc, chưa kịp ngủ, ông Thầy trờ dậy gọi: “Ê bồ, bây giờ bồ lấy xe chở tui về Los đi bồ”. Mèn đét ơi, gần 12 giờ khuya rồi, chiếc xe của tôi lại thuộc loại “đồ cổ” bán chưa tới năm trăm, chạy xa đâu được. Vả lại ban đêm ban hôm dễ gì tìm ra căn nhà của con thầy. Còn nếu nghe theo chỉ lời dẫn của ông Thầy mà chạy, chắc “tới Tết” cũng chưa tới nhà, ông Thầy đâu phải dân địa phương ở đây, hơn nữa tôi có bao giờ chạy xe lên Los đâu. “Bây giờ khuya rồi thôi thầy ngủ ở đây với em đi, sáng kêu anh Chương chở thầy về”. Ông thầy nói “Hỏng được đâu bồ, tui phải về”. Tôi chẳng biết làm sao đưa được ông Thầy về, ủa mà sao ông Thầy không gọi người nhà đến rước. Không lẽ ông Thầy nhớ cô, thầy mới xuống tôi hồi chiều đây mà, có lâu lắc chi đâu mà nhớ. (Sau nầy tôi mới biết qua một thân hữu là thầy cô rất khắn khít nhau). Cuối cùng phải quay điện thoại gọi anh Kiều Văn Chương dậy, tôi nghiệp ảnh bỏ ngủ đến đưa ông Thầy về Los, xong ảnh từ Los trở về nhà chắc mất trọn một đêm quá.

Trên đây là vài chuyện khá khôi hài giửa tôi và thầy Bùi văn Mạnh. Còn nhiều chuyện vui khác trong thời gian ba năm tôi đi dạy ở Trung Học Kiến Hoà mà thầy Mạnh làm Hiệu trưởng, xin để dịp khác sẽ kể tiếp. Buổi đầu thầy trò gặp nhau còn ghi rõ ràng trong ký ức thế mà giờ đây Thầy đã ra đi về miền miên viễn.Thời gian qua nhanh tương lai vô định.Ai có ngờ được giòng đời đưa đẩy tôi, một đứa bé sợ ma đi học ABC tại ngôi chùa ở làng quê hẻo lánh bùn lầy, tới thành phố Mỹ tho để rồi gắn chặt phần lớn cuộc đời với ngôi trường Nguyễn Đình Chiểu lúc là học trò cũng như khi làm thầy đứng trên bục giảng và sau cùng tới một thành phố tráng lệ huy hoàng tại Mỹ. Nhưng dù ở đâu, tình thầy trò giữa thầy Mạnh và tôi cũng lớn dần theo năm tháng.Tôi viết mấy hàng nầy gọi là để tưởng nhớ Thầy Bùi Văn Mạnh một nhà giáo mẫu mực trước mặt học trò lẫn ngoài đời.

Huỳnh Chiếu Đẳng 
(15-Jun-2005)

Chủ Nhật, 16 tháng 11, 2025

Nàng Thu

Nho leo trước cổng nhà ai ( nhà tui )

Lá thu óng ánh đỏ vàng
Nhẹ buông trong nắng tưởng ngàn bướm bay
Gió đưa cành khẻ nhẹ lay
Ô hay ! xao xuyến hồn ai thoáng nhìn
Tưởng như lá đang tỏ tình
Gió thu nhờ lá gởi mình cánh thư
Con tim rung động ngất ngư
Nàng thu vẫn tưởng như vừa được yêu

Trúc Lan Ktp

Đất Khách Làm Thơ

 

Nơi này đất khách làm thơ
Nhớ về quê Mẹ bây giờ đã xa
Tình quê sông nước đậm đà
Mênh mông ruộng lúa bao la một màu
Giờ thì ngồi ngắm mưa ngâu
Nhìn giọt mưa rớt trên đầu ngọn cây
Rồi mang thổn thức tim này
Dệt trong nỗi nhớ thơ đây tôi làm.
Bóng hoàng hôn ngã chiều tan
Tha hương đất khách lệ tràn mặn môi
Rượu thơm bạn hữu đâu rồi
Lòng nghe tê tái mưa rơi nhớ nhà.

Tạ Quang Tuấn
Ngày 12 tháng 09 năm 2020

Mùa Thu Ở Nơi Khác


Vì ở nhằm vào cái xứ nóng khắc nghiệt như cái xứ cao bồi tôi đang ở thì hằng năm tôi vẫn thường ngóng cổ chờ đợi sao cho những ngày hè nóng bức qua thật mau. Nhưng mau làm sao được! Việc vận hành Xuân - Hạ – Thu - Đông – bốn mùa là của đất trời, của ngài Tạo Hóa, của đấng Thiên Nhiên và các đấng vô hình vô tướng khác mà con người không thể biết trước được. Những động đất, những tsunami, những núi lửa, những cuồng phong bão tố, lụt lội… có con người và các loại máy móc tiên tiến nào biết trước trăm phần trăm để báo động cho thiên hạ có đủ thời gian bồng bế nhau mà chạy? Thiên hạ vẫn chết vì động đất, vì lụt lội, vì sóng thần… Đất cũng làm chết người. Nước cũng làm chết người. Lạnh cũng làm chết người và nóng cũng làm cho người hết sống.

Cái nóng ở xứ cao bồi này thường làm chết đám “nhỏ” hơn là đám “nhớn”. Thực ra thì không phải cái nóng giết chết đám “nhỏ” mà các đấng làm cha làm mẹ đã giết đám nhỏ. Đa số việc xảy ra là các đấng cha mẹ bỏ con ngồi trong xe giữa mùa hè trên trăm độ để vào tiệm vào quán mua thuốc lá, mua nước ngọt và những món tinh tinh khác rồi mãi mê vòng vòng trong tiệm mà quên rằng mình có một đứa con đang ngồi trong xe tắt máy đóng kín cửa. Đến lúc ra xe mở cửa thì đứa nhỏ ngồi ở sau đã trợn mắt và hết thở! Dĩ nhiên là các đấng cha mẹ này phải ăn cơm của chính phủ và nằm chơi xơi nước vòi. Có chuyện xảy ra cách nay ba năm là một “đấng cha”, buổi sáng chở đứa con nhỏ đến thảy ở trường trên đường đi đến sở làm. “Đấng cha” này thay vì ghé đến trường thảy con mình xuống để vào lớp học như mọi buổi sáng khác, đấng cha không biết đang suy tính chuyện gì, lo nghĩ chuyện gì nên lái xe một lèo đến sở làm luôn. Tám tiếng đồng hồ sau đấng cha tan sở, ra mở cửa nổ máy xe đi về nhà thì hỡi ôi, thấy đứa con nhỏ của mình ngồi ở ghế sau đã chết ngắt, mắt trợn tròng, mồm há hốc và trên mặt đầy vẻ kinh hoàng…

Trở lại chuyện chờ mong mùa thu của tôi. Trước hết tôi cũng mong mùa thu đến như nhạc sĩ Đoàn Chuẩn & Từ Linh như trong Thu Quyến Rũ:
Anh mong chờ mùa thu Trời đất kia ngả màu xanh lơ Đàn bướm kia đùa vui trên muôn hoa Bên những bông hồng đẹp xinh…

Nhưng trước hết tôi mong mùa thu đến để tống tiễn cái nóng của mùa hè. Tôi ở xứ này hơn ba chục niên và hưởng đủ (nếu không nói là dư) cái nóng của mùa hè nên vẫn ngóng mong mùa thu mau đến là như thế. Tôi biết ngày đầu tiên của mùa thu thường nhằm tuần lễ thứ ba của tháng chín mỗi năm mà người Việt ta gọi là “thu phân”. Mùa hè nơi đây bắt đầu từ tháng sáu dương lịch. Hơn ba tháng dài đằng đẵng tôi cứ mong đến ngày “thu phân” để được hưởng chút gió mát và được được ngắm bầu trời “xanh lơ”, được nhìn “bướm đùa trên hoa” và ngắm những “bông hồng đẹp xinh”. Nhưng năm nay ngày “thu phân” đã đến cả hơn cả tháng rồi mà sắc trời và khí trời vẫn không hề thay đổi. Nắng nóng vẫn làm cho con người khó chịu. Tôi tự nhủ: chắc vài hôm nữa mùa thu sẽ đến. Chắc vài bữa nữa sẽ có gió thu và chắc…chắc mùa thu rồi cũng phải đến. Thế mà đã hết tháng chín mong đợi, nhảy qua luôn đến trung tuần tháng mười mà vẫn còn “nắng hè rực rỡ!”. Nói theo kiểu người Việt ta là “trời phụ lòng người”. Trời cũng phụ lòng mong đợi của tôi…

Bởi duyên cớ trên nên tôi rất vui khi được con gái mua vé để bay qua nơi đang là mùa thu để – ngoài việc nhìn “bầu trời xanh lơ”, xem “bướm đùa trên hoa” và ngắm “bông hồng đẹp xinh” tôi còn cơ hội để ngắm lá vàng – điều mà tôi mong đợi.

Chuyến bay của hãng United Airlines thả cặp già chúng tôi và vợ chồng con gái xuống phi trường Seattle vào lúc quá mười hai giờ trưa. Seattle đi sau Houston hai tiếng đồng hồ. Rời khỏi khu vực bên trong sân bay, tôi đã nhận ra được ngay là mình đang được “nàng thu” nựng nịu trên toàn cơ thể, từ mấy sợi tóc loe hoe trên đầu cho đến tận mấy móng chân bên dưới. Biết điều nên tôi đã tròng vô người hai chiếc áo ấm trước khi leo lên xe về nơi tạm trú. Xe chạy ngang qua khu downtown thấy những con đường dốc quanh co lên xuống âm u lúc ẩn lúc hiện dưới những hàng cây cao thật thiểu nảo đang hứng chịu cơn mưa khá nặng. Cảm nhận được cái lạnh hiện hữu và cả cơn mưa – cũng hiện hữu là tôi đã thấy đã “huề vốn” rồi. Chẳng những thế mà tôi còn chộp ngay được cái lạnh rất quen của một Đà Lạt ngày nào xa rất xa khi tôi thường hay che chiếc dù đen đi bộ lên dốc xuống dốc quanh co với những nỗi buồn vu vơ của một thời biết buồn biết vui do ngoại cảnh và do cả nội tâm. Quên làm sao được những ngày ở nơi chốn ấy, cũng là nơi tôi được sinh ra và lớn lên với từng hơi thở của núi rừng, của sương mù và của những “bông hồng đẹp xinh”.

Đêm đầu tiên chúng tôi ở tại một ngôi nhà thuê. Sáng hôm sau con gái phàn nàn trong ngôi nhà này, chủ nhà còn cho một gia đình khác mướn và ban đêm họ nói chuyện đùa giỡn ồn ào nên chúng tôi phải bỏ để dời đến ở khách sạn. Như đã trình bày, mục đích chuyến đi này là để hưởng không khí mùa thu, đồng thời đi đây đó để xem lá vàng. Viết đến đây lại nhớ năm rồi, cũng vào giữa tháng mười có hai cặp bạn cũng rủ đi hưởng gió thu và ngắm lá vàng tại thành phố Little York, tiểu bang Arkansas. Trong suốt một tuần đi rảo hết nơi này đến chốn khác tôi chẳng tìm đâu cho ra một chiếc lá vàng để “làm thuốc”, thời tiết thì chẳng mát mẻ tí nào khiến tôi thất vọng ê chề. Năm nay hai cặp bạn không dám thỉnh tôi đi coi lá vàng với họ nữa. Trở lại với Seattle là nơi lần thứ hai tôi ghé đến, lần thứ nhất ghé đến để leo lên tàu đi Alaska, sang tận Vancouver và cũng ngắm được một vài cảnh đẹp như leo lên tận núi Rainier, thăm nhiều công viên nhưng tháng bảy chưa có lá vàng…


Phải nói rằng trong suốt mấy hôm ở Seattle tôi mãn nhãn lẫn mãn nguyện vì xem được lá vàng ở nhiều nơi, trong các công viên, trên đường lên núi xuống đồi, quanh bờ sông, hai bên bờ suối, trên đồi cao, dưới lũng thấp … nơi đâu cũng thấy được những tặng phẩm của tạo hóa trong sắc màu rực rỡ tuyệt vời. Có tận mắt nhìn một một rừng lá vàng đang chấp chới dưới ánh mặt trời như những chiếc lá được nạm vàng mới biết bàn tay của tạo hóa diệu kỳ đến cỡ nào! Tôi là người mê thiên nhiên từ nhỏ (dân Hướng Đạo mà) nên với tuổi này mà còn được đôi mắt chưa kèm nhèm để ngắm tặng phẩm của đất trời thì thật là một diễm phúc, một ân huệ. Còn một bên tai (một bên điếc) để nghe tiếng chim kêu, tiếng suối róc rách chảy ven sườn núi…thì còn gì hạnh phúc cho bằng. Tôi nhớ có một lần lên du thuyền đi ven một số các tiểu bang ở miền đông cũng thưởng thức được cái lạnh của mùa thu cùng với lá vàng lá đỏ lá nâu vẫn còn ghi đậm nét trong lòng tôi. 

Tôi không có đủ chữ nghĩa để diễn tả cái đẹp toàn mỹ của những chiếc lá chuyển từ màu xanh sang màu nâu, màu đỏ, màu tím sang đến màu vàng…nhưng tôi đã cảm nhận được thế nào là cái đẹp, cái toàn mỹ của bức tranh kỳ ảo của tạo hóa. Xin cám ơn Đất Trời. Xin cám ơn Thiên Nhiên – là bậc thầy của sự sáng tạo. Những sương, những khói, những giọt nước đọng trên những chiếc lá là những nốt nhạc thánh thót rơi vào hồn tôi vào buổi sớm mai với chút ánh nắng mặt trời ở phương đông. Tôi không biết phải viết gì hơn thế nữa…

Nhân lần đi tìm mùa thu và ngắm lá vàng tôi chợt biết thêm đôi điều về nơi mà tôi đã đến. Thành phố Seattle. Tiểu bang Washington. Có vài điều cũng xin ghi ra đây.

Ngoài chuyện xem lá vàng, tôi còn ghé thăm vài nơi nổi tiếng của Seattle. Đầu tiên là thăm tháp Space Needle nằm ngay trung tâm thành phố, tháp được xây năm 1962, cao 160 mét. Đứng ở trên tầng cao có thể nhìn toàn cảnh thành phố, thấy núi Olympus, núi Cascade, núi Rainier, có nhà hàng xoay 360 độ. Thứ đến là núi Rainier - biểu tượng hùng vĩ của tiểu bang Washington. Từ Seattle đến núi Rainier xa 60 dặm nhưng khi chúng tôi lên đến gần đỉnh thì đường bị chận vì trên núi có tuyết, lại phải quay xe về. Nằm gần Space needle là “Vườn Thủy Tinh” (Chihuly Glass Garden), nơi đây trưng bày các tác phẩm nghệ thuật bằng thủy tinh với nhiều hình ảnh với màu sắc lộng lẫy thu hút nhiều khách ghé thăm. Không chỉ ở trong không gian khép kín có máy lạnh có ánh đèn mà những tác phẩm nghệ thuật bằng thủy tinh còn được trưng bày khắp trong khu vườn rộng lớn, lồng trong sắc màu của hoa lá thiên nhiên còn có những lá hoa bằng thủy tinh khiến du khách viếng thăm từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác 
Hai công viên nổi tiếng chúng tôi không thể không đến xem là Goodland Garden và Kubota Garden. Mỗi công viên có diện tích trên hai trăm mẫu Anh, muốn đi thăm cho hết phải mất hai ngày nhưng chúng tôi chỉ ghé mỗi nơi một buổi. Lang thang trên những đoạn được quanh co ngoằn ngoèo dưới những tàn cây cổ thụ để ngắm lá mùa thu đang thay đổi với hàng chục màu sắc của thiên nhiên tô trên những chiếc lá vàng lá đỏ, những bông hoa vạn sắc khiến bước chân du khách khi rời công viên lòng vẫn mong quay lại một lần nữa…và một lần nữa. Nghe cái tên Kubota Garden tôi liên tưởng đến chiếc máy cày hiệu Kubota dạo thập niên sáu mươi của thế kỷ trước chính phủ Miền Nam Việt Nam đã nhập cảng cả ngàn chiếc Kubota của Nhật Bản để phân phối cho nông dân Miền Tây. Nghe tên biết là có dính dáng tới Nhật Bản. Đúng vậy! Toàn công viên Kubota, ngoài phần cây lá, hoa cỏ, suối hồ, đồi cao lũng thấp…thì toàn cảnh công viên được những bàn tay khéo léo của của con người kiến tạo thành một ký ức của những khu vườn mang bản sắc “Nhật Bản”, từ các lối đi quanh co lượn khúc, những tảng đá, những ghế ngồi hoặc vóc dáng của cỏ cây đều mang dáng dấp của những vườn hoa ở cổ thành Kyoto. 

Đến Seattle mà không ghé khu Public Market còn gọi là Pike Place Market là một thiếu sót lớn. Khu chợ này không giống những khu “chợ trời” ở một số nơi khác. Chợ thành lập năm 1907 và có diện tích chín mẫu Anh, gồm trên 500 cửa hàng bên trong nằm dọc theo bên bờ sông Duwamish. Vào chợ, điều đập vào mắt tôi trước tiên là vô số những quày bán đủ loại hoa tươi, thứ đến là trái cây loại organic và thứ ba là hải sản. Đây là giá cả vài thứ trong chợ tôi “ngắm” được: một bó hoa $19.99, một trái xoài $7.99, một quả táo $3.99, một pound cua từ $34.99 trở lên, lobster $69.00, King Crab $89.99…Đứng trước của chợ nhìn sang bên kia đường là tiệm cà phê Starbuck đầu tiên khai trương năm 1971. Tôi cũng tò mò muốn vào mua một ly cappuccino tôi vẫn thường hay uống nhưng nhìn thấy một hàng “ẩm khách” đứng chờ bên ngoài nên tôi đành phải “ngoảnh mặt làm ngơ”.


Ở Seattle cũng có khu buôn bán của người Á Châu nhưng không lớn và sầm uất như ở California hoặc Texas. Suốt mấy ngày ở Seattle tôi và gia đình có ghé vào các quán ăn Việt Nam. Nhận xét của tôi: Từ bên ngoài nhìn vào thấy chung chung là nơi nào cũng “thiếu thẩm mỹ” nếu không muốn nói là “luộm thuộm” với không gian nhỏ bé. Còn giá cả thì đây: một tô phở hoặc tô bún bò $19.99. Có lần tôi gọi thử một tô bún bò thì quá thất vọng, không có một chút hương vị bún bò và trong tô chỉ có một khúc sườn bò dài to hơn ngón chân cái. Trước các quán đều thấy có anh chị em homeless ôm đồ đạc đi qua đi lại rất vui. Chạy vòng trong khu Asian Plaza thấy mấy cây trụ cầu được các anh chị gốc Tàu sơn màu đỏ loét và vẻ rồng vẻ rắn trông rất “Bắc Kinh”.

Một con số tôi bắt gặp là giá ở các cây xăng. Nhiều cây xăng ghi giá 4.99/gallon, số còn lại ghi $5.13 hoặc $5.19/gallon. So với nơi tôi ở vào thời điểm đó là $2.31, có nhiều nơi $2.25 hoặc $2.27…

Cũng cần viết thêm là nạn “homeless” ở Seattle nói riêng và ở Washington State nói chung là khá trầm trọng như tin tức vẫn thường đề cập tới. Tôi chứng kiến cảnh những người homeless lôi thôi lếch thếch từng nhóm năm mười người lang thang ở các ngả tư ngả năm, hình như họ không có một chỗ cố định (có lẽ vì bị cảnh sát đuổi). Nói tới những người homeless là phải nói tới ma túy, chuyện thường tình này ai ai cũng rõ. Tôi được nghe câu chuyện ở Seattle như sau: Những kẻ bán ma túy thường thảy những gói ma túy vào trong những lều của những người homeless và chính những người homeless này đem ma túy phân phối cho người khác. Washington đang có đợt truy quét các tội phạm buôn ma tuy từ Mexico xâm nhập.  

Hôm 18 tháng 10 tôi chứng kiến cảnh dân Seattle cầm những tấm posters được viết nguệch ngoạc trên những miếng carton với chữ “No King”. Họ từ mọi phía đến nơi tập trung gần khu Space Needle từ 8 giờ sáng cho mãi đến trưa, có cảnh sát đứng ven đường giữ an ninh, không thấy xảy ra bạo động.

Đến Seattle mà không bỏ chút thời gian lái xe qua biên giới Mỹ – Canada cũng phí nên chúng tôi cũng mất hơn hai tiếng để chạy đến Vancouver ngắm cảnh đồng thời ghé chợ Việt mua một mớ trái cây để xơi hết ngay tại chỗ trước khi quay xe trở về Mỹ. Phải nói rằng: trái cây ở đây mắc đã đành, nó không tươi ngon như ở Toronto mà có lần tôi đã lái từ New York qua đó để xơi.  

Vòng vòng Seattle và các vùng phụ cận cũng tạm đủ nên chúng tôi, vào ngày cuối cùng, lái xe đến một thành phố khác có tên Leavenworth cách Seattle 135 dặm, hơn hai tiếng lái xe. Đến được Leavenworth phải vượt qua dãy núi Cascade có phong cảnh hữu tình. Dòng sông Wenatchee trong vắt chảy dọc theo chân núi đầy cây xanh lá vàng của mùa thu đang tới cùng với rừng thông bạt ngàn. Tôi cơ hồ như mình đang được ngắm cảnh Đà Lạt hơn nửa thể trước khi vượt đèo Bảo Lộc (Blao), đèo Prenn, đèo Ngoạn Mục (Belle Vue), đèo Đơn Dương (Dran)…Dưới chân núi Cascade là làng Bavarian, vùng này trước kia là lãnh địa của những người Da Đỏ. Kiến trúc Leavenworth mang sắc thái Âu Châu thời thế kỷ 19. Nơi đây tập trung nhiều quán ăn Âu Châu, đặc biệt của Đức với món xúc xích và bia nhân tháng Oktoberfest 2025. Tôi mua một cây xúc xích và một ly bia ngồi nhâm nhi để ngắm lá vàng ở phía núi xa. Có gió nhưng không lạnh lắm. Trong khi người nhà đi shopping thì tôi đi tà tà thăm phố xá cùng nhiều du khách từ xa đến để ngắm lá vàng dọc hai bên bờ núi, ngắm một phần kiến trúc Âu Châu và thưởng thức vài món ăn của trời Âu. 


Trên đường về vào lúc trời vừa chập choạng tối. Có mưa nhẹ suốt con đường giữa một bên là núi, một bên là dòng chảy trắng xóa của con sông Wenatchee. Về đến Seattle thì phố đã lên đèn từ lâu…

Chúng tôi trở về Houston vào sáng sớm ngày 23 tháng 10. Đáng lẽ đã đến lúc 12 giờ trưa ngày 22. Máy bay hỏng. Chờ chuyến bay “nửa đêm về sáng” nên về đến nhà ai cũng “ngất ngư con tàu đi…”. Vì trong thời gian chính phủ còn đóng cửa nên chỉ sợ mấy ông kiểm soát không lưu không làm việc thì chắc chúng tôi phải còn tạm trú ở Seattle dăm ba hôm nữa cũng không chừng… Có một điều lạ là, hình như có chút gió lạnh từ Seattle bám vào người chúng tôi để theo về đến Houston. Buổi trưa không còn cái nóng của mùa hè “trong mùa thu” nữa mà đã có một tí mát mẻ. Tôi nói với người nhà rằng “chúng ta đã mang mùa thu từ Seattle về Houston”. Chắc cũng không ngoa. Chẳng những thế mà đến ngày 25 trên đường lái xe đến dự buổi tiệc “tiền đại hội” của cựu nữ sinh Trưng Vương do chị Hồng Thủy – chủ tịch hội Văn Bút Miền Đông Bắc Hoa Kỳ mời, tôi cảm thấy Houston thực sự đang đón mùa thu tới. Gặp chị Hồng Thủy tôi nói “Chị đã mang mùa thu từ Maryland sang Texas”. Chị cười…

“Mùa Thu Ở Nơi Khác” cũng đã san sớt cho xứ nóng tình nồng “Hữu Tình = Houston” này – dù muộn màng. Phần tôi – tôi cũng đã tận hưởng được cái lạnh của mùa thu khi cuối tuần cuối tháng 10 đã vác ba lô lều chõng vô rừng cắm trại ba hôm. Ban đêm nằm trong lều nghe gió thổi qua rừng thông vi vu và buổi sáng được ngắm cảnh màn sương lượn lờ trên mặt nước hồ thu…

Phong Châu 
Ngày 5 Tháng 11 - 2025

Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2025

Mùa Thu Qua Ngõ -Lời: Mỹ Ngọc - Nhạc: Phạm Anh Dũng - Hòa Âm Anh Vũ - Hát: Thu Hiền


Lời: Mỹ Ngọc
Nhạc: Phạm Anh Dũng
Hòa Âm Anh Vũ
Hát: Thu Hiền

Vầng Thơ Ngỏ Ý

 

Mắt em một biển mùa Thu nhớ
Quyến rũ lòng anh vào bến mơ
Muốn nói đôi lời sao mắc cỡ
Thôi đành dệt vận ướm tình thơ.

Mới gặp nhưng sao rực rỡ tình

Dâng tràn thương nhớ kiếp phù sinh
Mỗi lần đứng cạnh tim hồi hộp
Nhịp đập liên hồi tợ chiến chinh.

Có phải hồn anh sa cõi mê

Ngao du bất tận lạc đường về
Thời gian ngưng đọng trong tiềm thức
Kiếp trước cùng em đã ước thề.

Nếu đọc vầng thơ ngỏ ý này

Xin em đừng trách mộng thêm cay
Biết đâu duyên phận tô mầu thắm
Chấp nhận tình anh trót đắm say…

Lâm Hoài Vũ
1972

Cô Bạn Cũ

 

Bài Xướng:

Cô Bạn Cũ

Chúng mình quen cũ học cùng thời
Phượng thích học hành Đức thích chơi
Thế cuộc xoay dần chia mỗi ngã
Sự đời thay đổi khiến hai nơi
Tình cờ tìm được nhau trên mạng
Nên vẫn lại qua chẳng tiếc lời
Câu chữ sao gieo nhiều cảm xúc
Mình đây vui lắm Phượng Lê ơi.

Quên Đi
***

Bài Họa:

Những Ngày Xưa Ấy

Chân sáo tung tăng đã một thời
Mộng ngoài cửa lớp tuổi rong chơi
Tương lai khát vọng từ muôn hướng
Thế sự thăng trầm khắp mọi nơi
Năm tháng xứ người mong mỏi bạn
Sớm hôm đất mẹ thiết tha lời
Tâm giao vẫn đấy thời thơ dại
Đất Vĩnh muôn đời Hữu Đức ơi.

Kim Phượng

Trí Tuệ Thật Và Giả


Xin được góp một vài suy tư về AI sau khi tôi đón nhận những chia sẻ sáng tác âm nhạc (nhạc đời và thánh ca) của các nhạc sĩ gửi riêng cho tôi (cũng như gửi chung cho Hội) trong thời gian qua, và yêu cầu tôi cho ý kiến, cho nhận xét…

Nay, xin được trả lời chung.

Tôi nghĩ rằng, cái quý và giá trị nhất trong sáng tác nghệ thuật, đặc biệt là trong lĩnh vực sáng tác Thánh ca chính là sự rung cảm phát xuất từ nội tâm con người. Một tác phẩm có hồn không thể chỉ được “tạo ra”, mà phải được “sinh ra” từ cảm xúc; từ trải nghiệm, từ những xao động rất thật của tâm hồn. Mỗi nốt nhạc, mỗi lời ca chỉ trở nên sống động khi người viết đã thực sự trải qua và cảm được điều mình viết.

Âm nhạc Thánh ca dùng trong Phụng vụ lài càng quan trọng hơn, vì không đơn thuần là sản phẩm sáng tạo kỹ thuật, mà là lời cầu nguyện được dệt bằng âm thanh, là tiếng lòng của con người hướng về Thiên Chúa. Nếu thiếu vắng cảm xúc thật, tác phẩm dù trau chuốt đến đâu, dù hay ho đến thế nào cũng chỉ là một khối âm thanh lạnh lẽo, thiếu vắng linh hồn. Vì thế, những so sánh mà “thầy cả” Nguyễn Công Hùng cho là “phân tích và so sánh tỉ mỉ” thật ra lại quá khập khiễng, phiến diện và tôi không muốn nói đó là sự hồ đồ.

Nghệ thuật không thể được cân đo bằng những con số hay thuật toán. Một nốt nhạc, một giai điệu, thậm chí một chuỗi hợp âm cùng những ca từ của bài hát được tạo ra bởi cảm xúc con người không thể đem so với những gì máy móc tổng hợp ra từ dữ liệu vô tri. Cảm xúc không có công thức; linh hồn con người không thể bị thay thế bởi lập trình.

Tôi chân thành khuyên các nhạc sĩ, nhất là những ai đang phục vụ và sáng tác Thánh ca, đừng lạm dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để “làm ra” bài hát. AI có thể là một công cụ hỗ trợ, nhưng không thể là nguồn cảm hứng. Nếu để máy móc dẫn dắt quá nhiều, trí óc ta sẽ trở nên lười biếng, con tim trở nên chai sạn, não ta sẽ bị teo lại và khả năng rung cảm, vốn là cội nguồn của sáng tạo sẽ dần mất đi.

Hãy nhớ rằng: AI chỉ bắt chước, còn con người mới biết cảm.

Âm nhạc hay một bài hát hay, thật không nằm ở chỗ đúng sai mà ở hơi thở của người viết trong từng giai điệu, thậm chí trong từng hợp âm được tính toán dựa trên tình cảm và kiến thức, cũng như chuỗi âm thanh của ca khúc ta dệt, màu của hòa âm/phối khí ta muốn, nhất là lời ca ta muốn chuyển tải như tôi nói ở trên.

Nếu chúng ta để “Giả” lấn át “Chân”, thì đến một lúc nào đó, nghệ thuật sẽ mất linh hồn của nó, và âm nhạc Thánh ca sẽ không còn là lời cầu nguyện, mà chỉ là một sản phẩm nhân tạo vô cảm. Trong khi Thiên Chúa muốn "lòng thành" hơn "của lễ" của ta muốn dâng Ngài.

Làm nghệ sĩ (nhạc sĩ) là dám trung thực với chính mình. Là dám thổn thức, dám yếu mềm, dám để cảm xúc thật chạm đến điều thiêng liêng. Vì chỉ khi ấy, âm nhạc mới chạm được tới trái tim người nghe, và tới trái tim của Đấng Tạo Hóa.

Tôi tin rằng đây là một đề tài rất đáng để chúng ta cùng suy ngẫm, nhất là trong thời đại mà trí tuệ nhân tạo (AI) đang từng bước len lỏi vào mọi lĩnh vực của đời sống con người, kể cả những lĩnh vực tưởng như chỉ thuộc về tâm hồn và cảm xúc, như văn chương, thi ca, âm nhạc, hội họa…

Thật ra, viết văn, làm thơ, dệt nhạc, nói chung là làm nghệ thuật, không chỉ là một hành động kỹ thuật, mà là một sự sáng tạo thiêng liêng, một thổ lộ tâm tình, một khát vọng được sẻ chia những rung cảm và khắc khoải sâu kín của con người.

Một tác phẩm nghệ thuật đích thực luôn bắt nguồn từ nội tâm, từ nơi trái tim con người rung lên cùng niềm vui, nỗi buồn, mất mát, hy vọng, và cả những điều không thể diễn tả bằng lời. Chính cảm xúc ấy, mới là linh hồn của nghệ thuật.

Cha xứ của tôi là Linh mục Nguyễn Đức Vượng, cũng là một nhạc sĩ và là hội viên Hội Nhạc Sĩ Công Giáo Việt Nam Hải Ngoại. Thay vì sáng tác nhiều thể loại, ngài chọn chuyên tâm vào một hướng duy nhất: thánh ca về Đức Mẹ La Vang. Suốt hơn 20 năm, cha đã viết gần 50 ca khúc, tất cả đều xoay quanh chủ đề Đức Mẹ.

Người đời có thể hỏi: “Sao không sáng tác đề tài khác cho phong phú hơn ?” Nhưng với ngài, tình yêu dành cho Đức Mẹ La Vang là nguồn cảm hứng bất tận. Chính tình yêu đó, niềm tin đó, đã chảy thành giai điệu. Mỗi ca khúc của vị linh mục đều chứa đựng niềm xúc động thật, không vay mượn, không mô phỏng. Đó là nghệ thuật được sinh ra từ trái tim, từ niềm tin sống động. Cảm xúc ấy không thể “tạo” bằng máy móc, không thể “học” từ dữ liệu. Nó phải được sống, được trải nghiệm và được cầu nguyện.

Ngày nay, công nghệ AI có thể tạo ra nhạc, thậm chí mô phỏng cả giọng ca. Chúng ta không thể phủ nhận sự kỳ diệu của nó. Một bản nhạc được AI tạo ra có thể nghe rất mượt, rất hay, nhưng nhiều bạn tôi đã xác nhận rằng: “nghe qua 3 lần thì không còn cảm xúc nữa”.

Nhiều người, vì tò mò hay vì muốn nhanh chóng có “tác phẩm”, đã lạm dụng AI. Có người dùng nó để soạn nhạc, rồi ký tên mình và chia sẻ với niềm hãnh diện. Nhưng họ quên rằng: nghệ thuật không chỉ là sản phẩm, mà là chứng tích của một tâm hồn.

Một bài thơ hay, một trang văn cảm động, mỗi con chữ, mỗi nốt nhạc, mỗi dấu chấm, phẩy trong văn chương hay trong âm nhạc đều có linh hồn riêng. Nó mang hơi thở của người viết, mang dấu vết của mồ hôi, nước mắt, khổ đau và niềm vui sống, mà không thể được sinh ra chỉ bằng vài cú nhấp chuột hay vài “mệnh lệnh”. Nó phải đi qua từ khối óc và con tim của người, qua quá trình học hỏi (Học từ trường lớp và cả trường đời) qua những năm tháng lắng nghe, cảm nhận, chịu đựng, trau dồi, chiêm nghiệm. Nói một cách khác đó là trải nghiệm, điều mà AI không bao giờ có được.

Nếu con người đánh mất niềm tin vào cảm xúc thật, phó mặc cho công nghệ “sáng tạo thay”, thì sớm muộn gì người nghệ sĩ cũng đánh mất chính mình. Bởi đó không còn là sự sáng tạo, mà chỉ là sự sao chép cơ học, một bản sao vô hồn, không tim, không máu, không nước mắt. Tác phẩm ấy có thể khiến người đọc trầm trồ trong giây lát, nhưng rồi nó tan biến nhanh chóng, vì nó không chạm được vào trái tim người khác.

Tôi nhớ lời một ai đó đã từng nói: “Một bài thơ thật không cần hoàn hảo. Nó chỉ cần thật.”

Quả thật, câu nói ấy giản dị mà thấm thía. Nghệ thuật không cần trau chuốt đến mức vô cảm, mà cần chân thành. Sự chân thành ấy không thể được lập trình, không thể “tải về”. Nó phải được vun đắp bằng đời sống, bằng những rung động thật sự của trái tim người nghệ sĩ. Nghệ thuật, tự bản chất, là tiếng nói của con người hướng đến con người. Nó không chỉ nói lên cái đẹp, mà còn chạm đến chiều sâu nhân bản, nơi mỗi người nhìn thấy một phần của chính mình trong đó.

Tôi rất mong quý văn hữu dù ở bất kỳ lĩnh vực nào; thơ, văn, nhạc hay họa, cũng hãy giữ lấy ngọn lửa sáng tạo và tính trung thực nội tâm của chính mình. Có như thế, nghệ thuật mới là ánh sáng soi tâm hồn, mà không phải chỉ là ánh đèn giả lập, sáng chói mà lạnh lẽo.

Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn quý văn hữu, quý nhạc sĩ, những người đã lắng nghe, đã gửi thư đồng cảm, đã chia sẻ và cùng tôi thao thức trong chủ đề này.

Chúng ta, những người cầm bút, viết từng con chữ, dệt từng nốt nhạc, pha từng gam màu… có thể không chống lại được bước tiến của công nghệ, nhưng ta có thể giữ vững nhân tính trong nghệ thuật, và bảo vệ phần người trong chính mình.

Đừng để công nghệ làm chủ tâm hồn ta. Vì chỉ khi người nghệ sĩ còn cảm xúc thật, còn thao thức, còn đau, còn yêu, còn cầu nguyện, thì tác phẩm ấy mới giá trị.

Văn Duy Tùng

The Ghan Xe Lửa Huyền Thoại Xuyên Lục Địa Úc

 
 
Nhắc tới nước Úc, thiên hạ hay nghĩ tới kangaroo nhảy loi choi ngoài đồng cỏ, koala ôm gốc bạch đàn, hay mấy bãi biển nắng vàng cát trắng. Nhưng có một chuyện khác ít ai biết, đó là chuyến xe lửa The Ghan – một biểu tượng vừa lịch sử vừa du lịch. Nó nối liền từ Adelaide ở miền Nam lên tận Darwin miền Bắc, băng qua gần 3,000 cây số đường “ray”, chẻ dọc đất Úc ra làm đôi.

Đi một vòng trên The Ghan, người ta không chỉ coi cảnh, mà còn như sống lại câu chuyện mở đất của xứ sở này – một chuyện dài bằng mồ hôi, nước mắt và khát vọng chinh phục hoang mạc đỏ.
Cái tên The Ghan, chuyện mấy ông phu lạc đà

Nghe cái tên The Ghan, ai không rành tưởng là tên Tây, chớ thiệt ra nó rút gọn từ chữ “Afghan”. Nguyên do là hồi cuối thế kỷ 19, người Anh đem phu lạc đà từ Afghanistan, Pakistan, Ấn Độ qua Úc. Họ dắt theo mấy con lạc đà, chở đồ tiếp tế, nước uống, gỗ đá… để mở đường vô miền Outback khô khốc.

Nói vậy để thấy, cái xe lửa bây giờ có chạy ngon lành thì cũng nhờ bước chân ròng rã của mấy ông phu ấy ngày xưa. Người Úc đặt tên The Ghan là để nhớ ơn họ. Cái nghĩa cử ấy cũng đẹp – giữa đất khách quê người, những con người lặng lẽ mà để lại dấu ấn dài lâu.

Ước mơ Bắc – Nam nối liền

Ý tưởng vẽ đường sắt chạy từ Nam chí Bắc có từ 150 năm trước. Nhưng nói thì dễ, làm thì khó. Năm 1878, người ta mới khởi công đoạn đầu từ Adelaide đi dần lên hướng Bắc. Công trình thì kéo lê, khi có khi không, khi hết tiền thì ngưng, lúc có thì nối thêm được chút.

Cái khổ nhất là nước. Sa mạc đỏ, khát cháy, máy móc làm việc thì nóng ran. Công nhân cực khổ, phu lạc đà gánh nước từng thùng. Bởi vậy tới tận năm 2004, đường ray mới nối tới Darwin, để chiếc xe lửa The Ghan chính thức chạy một lèo xuyên lục địa.

Bữa nay, The Ghan do công ty Journey Beyond Rail Expeditions lo liệu. Nó trở thành chuyến xe lửa du lịch danh giá nhất nước Úc, được dân quốc tế nhắc tới ngang hàng với Orient Express bên Âu châu hay Trans-Siberian Railway bên Nga.
3 ngày đi xuyên tim nước Úc.

Một chuyến The Ghan trọn gói kéo dài 3 tới 4 ngày. Xe lửa rời Adelaide, chạy ngang mấy cánh đồng nho xanh ngút ngàn, rồi từ từ tiến vô Red Centre – trung tâm sa mạc đỏ khét lẹt.

Chặng dừng quan trọng là Alice Springs, một thị trấn nhỏ nhưng được coi là “trái tim nước Úc”. Ở đây du khách coi hội họa Aboriginal, nghe kể chuyện Dreamtime, hay ghé thăm mấy khu di tích của thổ dân.

Kế đó là Katherine Gorge. Con sông Katherine chẻ núi đá ra làm mấy hẻm sâu, vách dựng đứng, nhìn hùng vĩ thiệt. Du khách có thể đi thuyền trên sông, hoặc chịu khó leo lên chỗ cao ngó xuống – cảnh đẹp tới mức thở cũng muốn chậm lại.

Rồi cuối cùng, xe lửa tới Darwin, thành phố cảng miền Bắc. Darwin khác hẳn Adelaide: nóng ẩm, gần gũi Đông Nam Á, văn hóa thì pha trộn đủ loại – bản địa, Á châu, Âu châu.

Xe lửa mà như khách sạn


Người ta gọi The Ghan là khách sạn 5 sao trên đường ray cũng không sai. Giá vé đã bao gồm ăn, ở, rượu bia, cà phê, và cả mấy tour du ngoạn ngoài ga.

Khoang Gold Service thì nhỏ gọn, giường gấp. Khoang Platinum Service thì sang trọng, có phòng tắm riêng. Nhà hàng trên xe phục vụ kiểu fine dining, nhấn mạnh đặc sản Úc: cá barramundi, thịt kangaroo, kèm rượu vang Nam Úc.

Ban đêm, ai rảnh thì ra Outback Explorer Lounge, làm ly vang đỏ, nhìn cửa kính thấy sa mạc chạy qua vùn vụt, trong khi ngồi trò chuyện với bạn đồng hành. Cái thú đó, giống như thời xe lửa còn là vua của các nẻo đường – đi không chỉ để tới nơi, mà để tận hưởng chuyến đi.

Hơn cả một chuyến xe

Nói cho ngay, The Ghan không chỉ là phương tiện du lịch. Nó là ký ức lịch sử bằng thép. Nó kể rằng nước Úc đâu chỉ toàn nhà cao cửa rộng, bãi biển đẹp; mà còn có những ngày gian khổ, có những phu lạc đà gồng gánh, có những công nhân đào đá, kéo ray trong nắng cháy.

Bởi vậy, đi một chuyến The Ghan cũng như nghe một bản hùng ca. Người Úc bây giờ sống trong tiện nghi, nhưng quá khứ mở đất đầy gian nan thì vẫn còn in dấu trên từng thanh ray.

Kết lời

Nếu Orient Express được gọi là chuyến xe lửa lãng mạn nhất Âu châu, thì The Ghan chính là hồn nước Úc. Ai đã từng ngồi trên The Ghan, để bánh sắt gõ nhịp rầm rầm xuyên qua hoang mạc đỏ, để hoàng hôn đổ xuống hẻm núi Katherine, sẽ hiểu: cái giá trị lớn nhứt của The Ghan không nằm ở chỗ đưa ta tới Darwin hay Adelaide, mà nằm ở chính hành trình đó.

Một hành trình làm con người chậm lại, để nhìn kỹ hơn đất trời, để nhớ ơn người xưa đã mở lối. Và cũng để thấy rằng, giữa thế giới vội vàng ngày nay, vẫn còn những cảm nghiệm khiến người ta giữ mãi trong lòng.

Đoàn Xuân Thu

Thứ Sáu, 14 tháng 11, 2025

Trở Về Phố Xưa - Nhạc & Lời: Khanh Phương (Trần Văn Khang) - Ca Sĩ: Tấn Đạt


Nhạc & Lời: Khanh Phương (Trần Văn Khang)
Ca Sĩ: Tấn Đạt

Hoa Xứ Cũ



Hoa xứ cũ thôi cài trên mái tóc
Nỗi niền đau ai khóc buổi chia tay
Gió thu đông thấm lạnh nỗi u hoài
Tình đã chết sao lần trao trọn vẹn!

Tưởng tình ta bao la như biển hẹn
Còn đời mình là thuyền nhỏ mong manh
Vui hạnh phúc thuyền yêu về bến mộng
Nhưng phũ phàng sống dữ dậy mênh mông!

Thuyền xa bến em ơi xa mãi mãi
Không bao giờ ta có buổi trùng lai
Hồn bơ vơ ôm trọn nỗi u hoài
Đời xa vắng trong nỗi sầu khắc khoải!

Không oán nhau hồn sầu khi ly biệt
Thuyền yêu thương sẽ lặng lẽ về xa
Là cố nhân mai nầy ta luyến tiếc:
-Đã một thời ta sống trọn tình ta !

28-5-2024
Hàn Thiên Lương