Thứ Ba, 21 tháng 10, 2025

Trường Tương Tư Kỳ Nhì 長相思其二 - Lý Bạch(Thịnh Đường) Từ


Lý Bạch 李白 (701-762), (kém Vương Xương Linh 3 tuổi), tự Thái Bạch 太白, hiệu Thanh Liên cư sĩ 青蓮居士, sinh ở Tứ Xuyên (làng Thanh Liên, huyện Chương Minh, nay là huyện Miện Dương). Lý Bạch xuất thân trong một gia đình thương nhân giàu có. Lúc nhỏ học đạo, múa kiếm, lớn lên thích giang hồ ngao du sơn thuỷ, 25 tuổi "chống kiếm viễn du", đến núi Nga My ngắm trăng, ngâm thơ rồi xuôi Trường Giang qua hồ Động Đình, lên Sơn Tây, Sơn Đông cùng năm người bạn lên núi Thái Sơn "ẩm tửu hàm ca" (uống rượu ca hát), người đời gọi là Trúc khê lục dật. Sau đó được người bạn tiến cử với Đường Minh Hoàng, ông về kinh đô Trường An ba năm, nhưng nhà vua chỉ dùng ông như một "văn nhân ngự dụng" nên bất mãn, bỏ đi ngao du sơn thuỷ.

Đến Lạc Dương, gặp Đỗ Phủ kết làm bạn vong niên (Đỗ Phủ kém Lý Bạch 11 tuổi). Họ Lý cùng Cao Thích vui chơi, thưởng trăng ngắm hoa, săn bắn được nửa năm. Rồi ông lại tiếp tục chia tay Đỗ Phủ viễn du về phương nam. Những năm cuối đời ông ẩn cư ở Lư Sơn. Tương truyền năm 61 tuổi ông đi chơi thuyền trên sông Thái Thạch, tỉnh An Huy, uống say, thấy trăng lung linh đáy nước, nhảy xuống ôm trăng mà chết đuối. Nay còn Tróc nguyệt đài (Đài bắt trăng) ở huyện Đăng Đồ, An Huy, là địa điểm du lịch nổi tiếng. Người đời phong danh hiệu cho ông là Thi tiên, Trích tiên, Tửu trung tiên,...

Sau khi ông qua đời, Lý Đăng Dương sưu tầm thơ ông, được khoảng 20.000 bài, nhưng không để tâm cất giữ nên nay chỉ còn khoảng 1.800 bài. Thơ ông viết về đủ mọi đề tài: vịnh cảnh, thưởng hoa, tình bạn, nỗi khổ đau của người dân, nỗi cay đắng của người vợ trẻ xa chồng (chinh phụ, thương phụ), của người cung nữ, nỗi cô đơn và bất lực trước vũ trụ vô cùng vô tận, nỗi cay đắng vì có tài mà không được dùng... Đề tài nào cũng có những bài tuyệt tác.

Nguyên tác Dịch âm

長相思其二 李白 Trường Tương Tư kỳ nhì

日色欲盡花含煙 Nhật sắc dục tận hoa hàm yên
月明如素愁不眠 Nguyệt minh như tố sầu bất miên
趙瑟初停鳳凰柱 Triệu sắt sơ đình phụng hoàng trụ
蜀琴欲奏鴛鴦絃 Thục cầm dục tấu uyên ương huyền
此曲有意無人傳 Thử khúc hữu ý vô nhân truyền
願隨春風寄燕然 Nguyện tùy xuân phong ký Yên Nhiên
憶君迢迢隔青天 Ức quân thiều thiều cách thanh thiên
昔時橫波目 Tích thì hoành ba mục
今作流淚泉 Kim tác lưu lệ tuyền
不信妾腸斷 Bất tín thiếp trường đoạn
歸來看取明鏡 Qui lai khán thủ minh kính tiền

Chú giải:

燕然 yên nhiên: nơi chàng đang ở.
趙瑟 Triệu sắt: người nước Triệu khéo gẩy đàn sắt nên xưng là Triệu sắt.
蜀琴 Thục cầm: đàn Thục. Tư Mã Tương Như khéo gẩy đàn cầm nên người đời gọi là Thục cầm.
橫波目 Hoành ba mục: nói về con mắt nhìn nghiêng giống như làn sóng nước nằm ngang.
鳳凰柱 Phụng hoàng trụ: cái trụ của đàn sắt có khắc hình chim phượng.

Dịch từ

Trường Tương Tư kỳ 2

Vừng ô sắp tắt hoa ngậm sương
Buồn trông trăng lụa thức canh trường
Đàn sắt vừa ngừng Phụng Hoàng trụ
Đàn cầm khởi tấu khúc uyên ương
Nhạc khúc hữu tình mình tự luyện
Gởi tới Yên Nhiên theo gió xuân
Nhớ chàng thăm thẳm trời xanh ngắt
Xưa long lanh sóng mắt
Nay lệ chảy thành sông
Không tin thiếp đau lòng
Quay về nhìn thiếp trước gương trong

Lời bàn: 

Nếu trong kỳ 1 Lý Bạch không nhớ vợ thì kỳ này ắt là vợ của Lý nhớ chồng. Vợ của một thi sĩ phong lưu như Lý thì thiệt thòi lắm (chính Lý đá từng thú nhận như vậy: đọc Biệt nội phó trưng kỳ 1, 2 & 3 và bài Tặng nội thì rõ).
Trong bài tặng nội Lý đã thú thật rằng:
Tuy vi Lý Bạch phụ, Tuy có chồng là Lý Bạch.
Hà dị Thái thường* thê? Nào khác chi vợ Thái thường.
*Thái Thường: Chỉ Chu Trạch làm quan Thái thường đời Hậu Hán. Ông vì coi sóc tôn miếu nên giữ gìn trai giới rất nghiêm, thường ngủ ở nhà trai ít khi về với vợ. (Chu Trạch không về với vợ vì bận việc quan nhưng Lý Bạch không về với vợ chỉ vì bận ve gái và uống rượu).

Con Cò
***

Nhớ Nhau Hoài.Kỳ 2.

Nắng sắp tàn hoa ủ khói sương,
Ánh trăng như lụa giấc sầu thương.
Vừa ngưng Triệu Sắt trên giây Phụng,
Đã dạo Thục Cầm phím uyên ương.
Khúc ấy ý nhiều không giữ lại,
Gửi Yên Nhiên bám gió xuân hương.
Nhớ Chàng thăm thẳm mãi ngàn phương.
Xưa đong đưa sóng mắt,
Nay suối lệ buồn vương.
Không tin Thiếp nát dạ,
Quay về mà ngắm bóng trong gương.

Mỹ Ngọc phỏng dịch.
Oct. 12/2025.
***
Trường Tương Tư Kỳ 2

Mặt trời sắp tắt, hoa ngậm sương
Sầu dâng chẳng ngủ, trăng lụa tuôn
Đàn Triệu vừa ngưng phụng hoàng trụ
Thục cầm đã thúc dây uyên ương.
Khúc này có ý, sao chẳng lường?
Gởi Yên Nhiên, mong gió đưa hương
Nhớ chàng xa thẳm một trời thương
Xưa đưa ngang sóng mắt
Nay thành suối lệ vương
Chẳng tin thiếp ruột đứt
Về đây mà ngắm vẻ trong gương!

Lộc Bắc
***
Trường Tương Tư

Nhớ em nhiều
Tại Trường An
Bờ giếng nỉ non tiếng dế trùng
Chiều về sương khói xuống chập chùng.
Ngọn đèn cô độc soi sầu muộn
Rèm cuốn ngắm trăng thấy lạnh lùng
Người đẹp nét hoa xa vạn dặm
Trời xanh thăm thẳm tận vô cùng
Triền miên sóng biếc con sông chảy
Diệu vợi đất trời cõi mịt mùng
Phách hồn muốn vượt quan san mộng
Nhớ em nhiều
Ruột nát tan

Thanh Vân
***
Góp Ý Cho Bài Trường Tương Tư Kỳ 2 Của Lý Bạch.

Trong 2 bài Trường Tương Tư của Lý Bạch, BS thích bài kỳ 2 hơn, và như đã nói cách đây vài năm, BS rất mê 2 câu dịch của Chi Điền Hoàng Duy Từ:

Tích thời hoành ba mục,
Kim tác lưu lệ tuyển.
Ngày xưa sóng mắt đưa tình,
Bây giờ lệ thảm chảy quanh đôi tròng.


Đọc lại bài 276b, BS thấy đoạn mình mới viết, và bài Ký Viễn của anh Tâm.

Anh Giám góp ý rất nhanh, kể điển tích liên quan đến Yên Nhiên, nhắc tới Đậu Hiến và Lý Quảng Lợi làm BS rất thích, vì đúng với sở thích của mình. Lý Quảng Lợi là tướng của Hán Vũ Đế, đánh thắng Đại Uyển, nhưng thua Hung Nô, hàng giặc, sau bị giết.

Lý Quảng, cũng thời Hán Vũ Đế, là danh tướng, lập nhiều công trận, sau cùng Vệ Thanh và Hoắc Khứ Bệnh đi đánh Hung Nô, ông đến điểm hẹn trễ vì lạc đường, bị Vệ Thanh hạch tội nên tự sát. Lý Quảng nổi tiếng bắn giỏi, nên trong truyện Thủy Hử, có người bắn rất giỏi, tên Hoa Vinh, xưng là Tiểu Lý Quảng.
Con Quảng là Cảm, cháu Quảng là Lý Lăng, đánh Hung Nô, bị thua vì ít quân, phải hàng, bị Vũ Đế bắt tội cả nhà. Tư Mã Thiên, vì bênh vực Lăng mà bị tội hoạn, nhưng viết bộ Sử Ký, nổi danh muôn đời.
Xin lỗi ACE, BS ba hoa, lạc đề, nhưng vì gặp tủ nên mới như vậy.

Trở lại với Trường Tương Tư.

Bài cổ phong này ít chữ khó.
Yên Nhiên là địa danh, anh Giám đã giảng rồi.
Thiều thiều, còn phiên âm là điều điều: xa xôi, dằng dặc.
Vì mê câu dịch của Chi Điền, BS xin mượn mấy chữ sóng mắt đưa tình.

Tương Tư Hoài, Kỳ 2.

Mặt trời sắp lặn, hoa ngậm sương,
Trăng như giải lụa, buồn vấn vương.
Sắt Triệu vừa ngừng, trụ hình phượng,
Đàn Thục muốn tấu, giây uyên ương,
Nhạc khúc ý hay không ai dậy,
Nguyện gửi Yên Nhiên theo gió nương.
Nhớ chàng dằng dặc, trời xanh ngắt…
Xưa đưa tình sóng mắt,
Nay suối lệ sầu thương,
Chẳng tin thiếp khổ não,
Thì về mà ngắm ở trong gương.

Bát Sách.
(Ngày 15/10/2024)


Trường Tương Tư Kỳ Nhị - Lý Bạch

長相思其二 - 李白

Nguyên tác Trường Tương Tư Kỳ 2 được chép trong sách của Lý Bạch:

Lý Thái Bạch Văn Tập Quyển Ngũ - Đường - Lý Bạch soạn 李太白文 集-唐-李白 có tựa TTT và không dị bản.

Lý Thái Bạch Tập Phân Loại Bổ Chú Quyển Lục - Tống Dương Tề Hiền tập chú - Tiêu Sĩ Bân bổ chú 李太白集分類補註-唐-李白 có tựa TTT với ghi chú như sau:

Tề Hiền nói rằng nhạc phủ của Lục Thế Hoành có một bài ca dài về thời cổ đại và hiện đại. Ghi chú nói rằng tuổi thọ do số phận quyết định và không nên tìm kiếm một cách vô ích.

齊賢曰陸士衡樂府有長歌行古今注長歌言夀命長短定分不妄求也 Tề Hiền viết Lục Sĩ Hành nhạc phủ hữu trường ca hành cổ kim chú trường ca ngôn thọ mệnh trường đoản định phân bất vọng cầu dã.

Lý Thái Bạch Tập Chú Quyển Lục - Tiền Đường Vương Kỳ soạn 李太白集注-唐-李白 có tựa TTT và ghi chú dài ở cuối bài.

Bài thơ còn có mộc bản trong các sách:

Nhạc Phủ Thi Tập - Tống - Quách Mậu Thiến 樂府詩集-宋-郭茂倩
Tài Điều Tập - Thục - Vi Hộc 才調集-蜀-韋縠
Cổ Thi Kính - Minh - Lục Thì Ung 古詩鏡-明-陸時雍
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐 詩-清-聖祖玄燁

Dịch nghĩa:

Trường Tương Tư Thương Nhớ Dài Lâu

Nhật sắc dục tận hoa hàm yên
Mặt trời sắp lặn, hoa như chìm trong sương,
Nguyệt minh dục tố sầu bất miên
Ánh trăng sáng như lụa, lòng trĩu nặng ưu sầu, không sao ngủ được.
Triệu sắt sơ đình phượng hoàng trụ
Tiếng đàn sắt với trụ phượng vừa dứt,
Thục cầm dục tấu uyên ương huyền
Thì tiếng đàn cầm đã dục tấu khúc uyên ương.
Thử khúc hữu ý vô nhân truyện
Khúc này có ý nghĩa nhưng chẳng có ai lưu truyền.
Nguyện tùy xuân phong ký Yên Nhiên
Ước gì gió xuân mang nó đến bên kia núi Yên Nhiên.
Ức quân điều điều cách thanh thiên
Nhớ chàng nơi xa cách trời xanh chẳng thể nhìn thấy nhau.
Tích thì hoành ba mục
Xưa thì mắt sáng ngời như làn sóng,
Kim vi lưu lệ tuyền
Nay chúng đã thành suối lệ tuôn rơi.
Bất tín thiếp trường đoạn
Nếu không tin thiếp buồn đứt ruột gan,
Quy lai khán thủ minh kính tiền
Xin hãy về mà ngắm mặt hốc hác trong tấm gương sáng.

Bài thơ lấy cảm hứng từ hoa xuân và làn gió xuân, khắc họa nỗi nhớ nhung của người phụ nữ dành cho người yêu. Ngắm trăng, nàng khao khát, gảy đàn tranh để bày tỏ tình cảm, giãi bày tâm sự, rơi những giọt nước mắt đau khổ, và khao khát tha thiết, thể hiện nỗi nhớ nhung sâu sắc dành cho người mình yêu chinh chiến nơi xa xôi. Những suy nghĩ và nỗi nhớ nhung dành cho chàng tràn ngập nỗi buồn và tình cảm dạt dào, gợi lên lời than thở: "Nàng giờ xơ xác như hoa tàn".

Dịch thơ:

Thương Nhớ

Hoàng hôn sương khói che hoa,
Lòng buồn thao thức trăng ngà mông lung.
Đàn sắt trụ phượng vừa ngưng,
Đàm cầm khởi khúc uyên ương ảo huyền.
Khúc ý nghĩa không lưu truyền,
Ước chi gió đến Yên Nhiên bên chàng.
Trời xanh xa cách muôn ngàn,
Ngày xưa mắt sáng như làn sóng ngang.
Ngày nay dòng lệ tuôn tràn.
Nhớ chàng thiếp nát tâm can,
Chẳng tin về ngắm hoa tàn trước gương.

Longing for Love (Part 2) by Li Bai

As the sun sets, the flowers seem shrouded in mist.
The moonlight is like water, and my heart is filled with sorrow, unable to sleep.
The phoenix-shaped Zhao zither has barely stopped,
The Shu qin picks up with the mandarin duck tune.
It's a pity that the song, though meaningful, has no one to pass it on.
I wish it would fly all the way to Yanran on the spring breeze.
I miss you, though we cannot see each other across the vast blue sky.
Those eyes that once shone with light,
Today, they have become springs of tears.
If you don't believe how much pain I've suffered,
Please return and look at my haggard face in the mirror.

Phí Minh Tâm

***
Góp ý:

願隨春風寄燕然 nguyện tùy xuân phong ký Yên Nhiên

Lý Bạch bị sử liệu về người Hung Nô ám ảnh khi làm hai bài nhạc phủ Trường Tương Tư này, có lẽ vì ông sống qua thời loạn An Lộc Sơn (安祿山), một người có dòng dõi Khiết Đan-Hung Nô.

Vì địa danh Yên Nhiên (燕然) đã hiện diện trong nhiều thi văn biên tái (Lý Bạch, Phạm Trọng Yêm, Lục Du thời Tống), người đọc cần biết chút ít về điển cố đó để có thể hiểu trọn ý bài nhạc phủ này. Một bài chữ Hán trên internet về điển tích này đặt câu hỏi cho tựa đề mà ta có thể dịch đại khái là “Tại sao Yên Nhiên lưu danh thiên sử nhưng Đậu Hiến lại lưu xú vạn niên?” Thi văn Hoa Lục có thành ngữ "khắc đá Yên Nhiên" để nói đến mộng làm chuyện hãn hữu. Đậu Hiến, anh của Chương Đức hoàng hậu, vợ của Hán Chương Đế thời Đông Hán là người khởi đầu điển tích. Vì chồng qua đời sớm (tuổi 30, năm 88 CE), Đậu hoàng hậu trở thành hoàng thái hậu và nhiếp chính cho đứa con vừa lên ngôi lúc 10 tuổi. Góa chồng lúc còn trẻ, hoàng thái hậu họ Đậu có người tình tên Lưu Chương rất thông minh. Đậu Hiến ganh ghét và sợ mất quyền lực nên ám sát người tình của em. Đây là tội tử hình nên Đậu Hiến tình nguyện đi bình định Bắc Hung Nô để chạy tội và bà em nhiếp chính đồng ý tha thứ.

Đoàn quân của tướng xa kỵ Đậu Hiến đi chừng ba ngàn dặm (quanh 450 km bắc biên giới nhà Hán thời đó) để tới Yên Nhiên (chấm đỏ trong hình dưới). Sử liệu nói 13 ngàn binh lính Hung Nô bị giết, kể cả một số phó vương Hung Nô thời đó và 200 ngàn người dân đầu hàng quân Hán. Vua (thiền vu) cuối cùng của Hung Nô đầu hàng 30 năm sau và tên nước Hung Nô đi vào lịch sử vì con dân di tản đi nơi khác (có thể gây ra nạn người Hung tàn phá Âu châu). Thật sự ra họ Đậu thành công một phần vì phải quyết tử để tránh bị em xử tử, một phần nhờ may mắn vì đất Hung Nô đang yếu kém (nội chiến và thiên tai, đất nước chia đôi Nam-Bắc) và miền Nam mời nhà Hán trợ lực diệt miền Bắc. Người Hung Nô sống lối du mục, không có chữ viết (ta không biết tên của nhiều thiền vu), không để lại di tích cho người đời sau làm chuyện khảo cổ nên trong khoảng một ngàn chín trăm năm tiếp theo, không ai biết Yên Nhiên ở đâu! Không ai biết một phần có lẽ vì lý do rằng Đậu Hiến bị vua 14 tuổi Hán Hòa Đế gài bẫy bắt và buộc phải tự vận năm 92 CE cho tội mưu toan thí vua. Sử gia Ban Cố (班固), người tháp tùng họ Đậu và viết bài Phong Yên Nhiên san minh (封燕然山銘) khắc trên đá cũng bị thất sủng và chết trong ngục. Ta có thể hiểu là các sử gia đương thời không dám viết về hai người đó.


(hình không ảnh Google, phóng đại hết mức)

[cho dù cái tên Yên Nhiên đã được ghi lại trong sử liệu thời Tây Hán, (khi tướng Lý Quảng Lợi thống lãnh 7 vạn quân bị phuc kích và thua trận ở đó); sử gia thời Đường định vị nó ở gần thủ đô Ô Lan Ba Thác (烏蘭巴托/Ulaanbaatar, hơn 400 km hướng đông-bắc); các nhà địa dư thời Thanh cho rằng Yên Nhiên là núi Hàng Ải (杭爱山) 400 km hướng tây-bắc của địa điểm thật sự. Và Yên Nhiên không phải là một núi hùng vĩ mà chỉ là một ngọn đồi giữa sa mạc mênh mông như trong hình dưới]


Mãi tới năm 1990, hai người mục đồng tránh mưa dưới đồi đó nhìn lên đầu và thấy chữ Hán khắc trên sườn đồi. Và phải qua thập niên thứ nhì của thiên kỷ nguyên thứ 3, các nhà nghiên cứu (Đại học Nội Mông và Học viện Thành Cát Tư Hãn) mới công bố việc đọc được 244 chữ trong chừng 260 chữ khắc trên đá – một số đã phai mòn với thời gian – và xác nhận đây là di tích lịch sử thật sự ghi công trạng của Đậu Hiến trong việc đàn áp và tiêu diệt Bắc Hung Nô.

Thi nhân họ Lý tán thán cảnh lính Hán viễn chinh hay sự suy tàn của người Hung Nô? Và ông sẽ nghĩ sao nếu biết rằng 500 năm sau, hậu duệ của người Hung Nô sẽ thành lập nhà Nguyên?

Dĩ nhiên vào thời Đường binh lính người Tàu không còn viễn chinh vào trung tâm Mông Cổ như 6-7 thế kỷ trước nên việc người vợ nhờ gió nhắn tin tới một nơi không ai biết ở đâu chỉ có thể hiểu là làm chuyện ... vô vọng.

Tương tư dài lâu đến thế là cùng!

Huỳnh Kim Giám


Chủ Nhật, 19 tháng 10, 2025

Xin Trả Lại Em - Liên Bình Định - Thanh Hoài


Sáng Tác: Liên Bình Định
Trình Bày: Thanh Hoài
Thực Hiện: Thanh Hoài Official

Phương Trời Cũ

Trong khuôn viên trường Trung Học  Gia Long HTU, người thứ 2, mái tóc ngắn.

PHƯƠNG TRỜI CŨ

Thoảng nhớ vế một phương 
Trời xa cũ Lòng bâng khuâng như trong giấc chiêm bao 
Kỷ niệm xưa ngọt ngào khung trời cũ 
Đến và đi lòng chạnh thấy nao nao. 

 NHỚ VỀ PHƯƠNG TRỜI XA CŨ 

Chạnh nhớ về một phương trời xa cũ 
Bao hành trang đã xếp lại năm xưa 
Thoáng trở lại nơi quê hương xa đó 
Ẩn hiện trong bao kỷ niệm mịt mù. 

 Trong ký ức một khung trời thương nhớ 
 Như mây bay, như giọt nắng mong manh 
Hình bóng xưa, tuổi ngọc ngà trong trắng 
Một khung trời đầy mộng đẹp long lanh 

 Nhớ tuổi thơ tìm về khung trời cũ 
Kỷ niệm xưa thấp thoáng dáng học trò 
Sách vở đó và bạn bè năm cũ 
Chuyện vui buồn cùng lo lắng vu vơ. 

 Những năm xưa bên song thân đầy đủ 
Anh chị em cùng thân quyến thuận hòa 
Tuổi thơ ấu được dưỡng nuôi ấp ủ 
Tình thương yêu của cha mẹ bao la. 

 Nhớ những chiều tan trường qua phố nhỏ 
Bước chân chim trên sỏi đá đường mòn 
Hàng cây cao vươn mình che nắng đổ 
Bông cỏ may thấp thoáng ngủ bên đường 

 Những trưa Hè tiếng ve sầu rộn rã 
Trong công viên Phượng thắm đỏ tươi màu 
Bao tà áo tung bay theo chiều gió, 
Ngắm đàn chim đang nhảy nhót cùng nhau 

 Mùa Thu đến công viên đầy lá đổ 
Lá vàng nâu rơi rụng phủ sân trường 
Tan học về, tay ôm cặp sách vở 
Lòng an vui, đầy hạnh phúc thân thương. 

 Có những đêm nghe mưa rào trên mái 
Mưa tí tách..rào rạt tiếng mưa rơi 
Từng cơn gió len vào trong bóng tối 
Đắp chiếc mền, Mẹ sưởi ấm tìm tôi. 

 Những bữa cơm trong gia đình đông đủ 
Nghe anh chị kể nhiều chuyện buồn vui 
Đời học sinh đắp xây nhiều mộng ước, 
Để mai sau thành công giúp cho đời. 

 Thoáng trở về khung trời xưa hạnh phúc 
Bao yêu thương chép lại những vần thơ, 
Tìm quá khứ, bóng hình phương Trời cũ 
Là hành trang tô điểm đẹp giấc mơ. 

 Dẫu biết rằng quá khứ đừng tưởng nghĩ 
Chuyện tương lai không với tới làm gì 
Hiện tại đây nhận bao niềm hạnh phúc 
Là ngày mai sẽ trọn vẹn giấc mơ. 

 Thời gian trôi mãi tựa giòng sông 
Buồn nhớ thương yêu chép bao lần, 
Quá khứ nay đã vào dĩ Vãng 
Đời đẹp buồn vui như bức tranh...

Hoàng Thục Uyên

Nhung Nhớ Gọi Tên Anh

 

Trăng lung lay, trăng lung lay
Trên mặt hồ gió đẩy, trăng say
Trăng lung lay, trăng lung lay
Rung động tình như vạt sương bay

Ai khiến hồn mình thổn thức đêm nay!
Bạn tri âm xúi ta cạn chén thề
Trăng lung lay, tay trong tay
Ta muốn, và chưa, ngại ai quên lối về

Trong hoang vắng vọng tìm hư ảnh
Hai nửa đời thiếu nhau, thêm lạnh
Tình xa tình nên cũng trăng đau
Người xa người trăng cũng phai màu

Sẽ ta như bèo nước lênh đênh
Cùng mảnh trăng trôi cuối bãi, đầu ghềnh
Trăng úa vàng, tình như vết phỏng
Thổn thức say, nhung nhớ gọi tên anh.

Mỹ trí tử


Đối Diện Trường Gia Long



Chuông reo, là đã tan trường
Là trăm tà áo làm thơm đất trời
Mỗi cô, rẻ một đường ngôi
Tóc, theo mộng, chảy xuống đời lênh đênh
Mỗi cô sáng một hành tinh
Những đường quỹ đạo xung quanh … mệt nhoài!
Tôi: vì-sao lạc đến đây
Cô đơn châm thuốc đốt ngày quạnh hiu
Đường Phan thanh Giản một chiều
Mà tôi chưa có người yêu để … về (!)
Cho nên, có lắm chiều đi
Đi xuôi cũng được, ngược thì .. cũng xong
Cho nên, có lắm bông hồng
Tôi theo sau, để cho lòng vấn vương!
Xe qua, mỗi ngã tư đường
Nhà nàng sắp đến! Tôi buồn chết thôi …!

10/1974
BP


Em Ra Đi Mùa Thu

 

Những cây hoa anh đào sau sân nhà tôi đã rụng hết lá để nhô ra những cành xương xẩu - chông chênh - trơ trọi. Mới đây thôi, khi mùa thu đến, mỗi sáng tôi đều phải ra sân sau quét lá, những chiếc lá úa màu teo tóp nằm buồn bã trên nền đất thấy mà tội nghiệp; chúng không còn màu xanh tươi, chúng không còn sức để bám víu vào cành nên chi với chỉ một cơn gió nhẹ thoảng qua là chúng lả tả cuốn theo chiều gió.

Hình ảnh mùa thu hình như ở nơi đâu cũng vậy. Nó ảm đạm đủ để gieo vào lòng người một nỗi buồn vô cớ. Một người dù cho có lạc quan yêu đời cách mấy mà đứng trước khung cảnh mùa thu, nhìn những chiếc lá rơi thì cũng có lúc cũng phải chạnh lòng một cách vu vơ…buồn như một người làm thơ dạo tiền chiến là Xuân Diệu đã viết “tôi buồn không biết làm sao tôi buồn”.

Mùa thu đã đi vào dòng văn học của nhân loại từ đông sang tây, từ cổ chí kim. Vô số thơ văn nói về mùa thu, tả về mùa thu với bao tâm trạng khắc khoải của tâm tư người viết. Năm trước tôi cũng có viết một bài nói về mùa thu và không quên nhắc tới những nhà thơ Việt Nam với những bài thơ thu đã in đậm vào lòng người của nhiều thế hệ Việt Nam. Năm nay không đề cập đến những bài thơ nói về mùa thu nữa mà viết về một bài hát có dáng dấp mùa thu…

Tôi vẫn còn nhiều hệ lụy với mớ ngôn ngữ nói về mùa thu qua những lời thơ tiếng nhạc. Vậy nên, đã từ lâu rồi, mỗi lần có những cơn gió heo may thổi về từ phương bắc là tôi biết mùa thu đã đến và tự mình nhắc nhở bằng câu hát “Em ra đi mùa thu, mùa thu không trở lại. Em ra đi mùa thu, sương mờ giăng âm u…Em ra đi mùa thu, mùa thu không còn nữa. Đếm lá úa mùa thu, đo sầu ngập tim tôi…”. Tác giả bài hát “Em Ra Đi Mùa Thu” của nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu, ông này có thời gian ở ngay trong lòng thành phố Paris nên chẳng xa lạ gì với vườn Luxembourg, nơi đã đem bao nhiêu nguồn cảm hứng không những cho người bản xứ và cả cho những ai có cơ hội đến thủ đô ánh sáng và đã một lần – dù một lần ghé thăm vườn Luxembourg. Không hiểu những lời than oán trong bài hát là chính tâm trạng của tác giả hay là những lời “than vay khóc mướn” cho một mối tình của thiên hạ chỉ còn lảng vảng trong đám sương mù nơi vườn hoa cỏ và chập chờn trôi theo dòng nước sông Seine?

Lời ca có những câu tiếp: “Ngày em đi…nghe chơi vơi não nề, qua vườn Luxembourg. Sương rơi trên phố mờ, buồn này ai có mua…Từ chia ly, nghe rơi bao lá vàng, ngập ngừng nước sông Seine. Mưa rơi trên phím đàn…chừng nào cho tôi quên…”. Tôi nghĩ có lẽ tác giả đã có một mối tình với một em tóc vàng (hoặc một em tóc đen) nào đó ở kinh thành Paris và rồi ghế đá công viên giờ đây chỉ còn một mình chàng ngồi ngắm lá thu rơi…em đã ra đi…chẳng bao giờ trở lại.

Hình như chàng nghệ sĩ đã có một mối tình…nhưng chàng không có một lời nào mô tả - dù chỉ một mảng nhỏ hạnh phúc hay một khoảnh khắc yêu đương mà chỉ ghi một dấu ấn thời gian vô định “Hôm em ra đi mùa thu, mùa thu không trở lại…”. Hôm của định mệnh! Hôm của ngày tháng trước, Hôm của năm tháng trước hay là Hôm của tiền kiếp nhân duyên? Cuộc chia ly nào mà không chòng chành những giọt nước mắt dù là nước mắt của người đi hay nước mắt của người ở lại. Đã đến lúc chàng nghệ sĩ không thể nào che dấu mãi tâm trạng “thất tình” của mình để rồi thốt lên “Lá úa khóc người đi, sương mờ giăng lên mi…”. Lá khóc hay là người ngồi trong công viên khóc? Hay lá khóc cùng người? Lá lìa cành lá khóc. Người lìa người…người khóc. “Sương mờ giăng đôi mi” hay nước mắt đã biến thành một màn sương mờ mờ ảo ảo…

Bài hát của Phạm Trọng Cầu kết thúc: “Em ra đi mùa thu, mùa lá rơi ngập ngừng. Đếm lá úa sầu lên, bao giờ cho tôi quên…”. Dù muốn dù không thì “em cũng đã ra đi”. Không còn gì để níu kéo. Thời gian từ cái “Hôm” nào đó cũng đã thành dĩ vãng chất chồng những lá úa, những chiếc lá định mệnh đã cắm sâu vào trái tim. Quên ư? Biết đến bao giờ….

Có một lần tôi ghé đến kinh thành Paris và đến vườn Luxembourg vào một buổi chiều bầu trời u ám. Tôi lang thang dưới hai hàng cây cây xanh không một bóng người. Những chiếc ghế chong chanh nằm ven hai bên lối đi trải rộng trước mắt. Mùa này lá chưa rụng nên chẳng có ai đến khóc cho mùa thu lá rụng như bài hát em ra đi mùa thu, mùa thu không trở lại…

Phong Châu

Tìm Mây


Trời cuối thu, những chiếc lá vàng bay lượn trên không rồi từ từ thả mình xuống mặt đất. Thỉnh thoảng một cơn gió nhẹ lướt qua, đám lá trên cành lao xao và khi trời lộng gió từng đám lá lià cành tung mình khắp không trung. Cảnh đẹp như tranh vẽ. Chỉ vài ngày nữa thôi, chiếc lá cuối cùng rụng xuống, cây sẽ chỉ còn những cành trơ trụi, khẳng khiu.

Bà bước ra khu vườn nhỏ, lững thững đặt chân trên thảm lá vàng, những chiếc lá khô như vỡ vụn dưới từng bước chân. Không gian tĩnh lặng, êm đềm. Bà hít thật sâu, thở ra thật nhẹ. Bà đếm từng hơi thở, chú tâm đến từng bước chân đi, đầu óc nhẹ nhàng, tâm hồn thanh thản. Cứ lẳng lặng như thế cho đến lúc thấm mệt bà ngả người trên chiếc võng ngước nhìn lên trời cao tìm mây. Trời xám buồn, chỉ có vài quầng mây mỏng, ửng nắng.

Như vòng xoay của tạo hoá, một năm có bốn mùa: Xuân, hạ, thu, đông. Một ngày có bốn buổi: Sáng, trưa, chiều, tối. Bà đang ở vào giai đoạn cuối của cuộc đời: Buổi tàn thu hay lúc chiều tà chạng vạng.
- Bà ơi, tôi đi đây!
Tiếng ông từ trong nhà vọng ra. Bà nhỏm dậy định bước vào. Ông như biết ý nói thêm:
- Tôi thấy giỏ đồ ăn bà sắp sẵn đây rồi. Cứ ở ngoài đó đi, tôi tự đóng cửa được mà.
- Ờ, trời lạnh, khi cho chúng nó ăn ông nhớ bỏ vào “microwave” hâm nóng. Mỗi hộp chỉ cần bốn mươi giây là đủ ấm, vừa ăn đó nha!
- Nhớ rồi, cứ ở đó đi, khi thấy lạnh bà phải nhớ vào nhà. Tôi đi!

Chả là mỗi ngày, cỡ hai giờ chiều ông sang nhà con trai cũng ở gần, cách khoảng mười phút lái xe. Đợi các cháu đi học về, ông trông cho chúng nó làm bài vở, cho chúng ăn uống rồi ông ngồi chơi cho có người lớn trong nhà. Đợi đến khi bố mẹ chúng nó về thì ông từ giã. Hôm nào có giờ bơi lội hay học đàn, tập võ, ông chở luôn cả đám trẻ đi. Và lúc ông sửa soạn ra đi thì bà luôn lăng xăng bên ông, tiễn ông ra tới ngoài đường mới quay vào đóng cửa nhà xe.

Hồi còn ở nhà cũ bên tiểu bang Texas, khi đã về hưu ông vẫn có thói quen mỗi ngày phải lái xe ra khu chợ Việt Nam gặp mấy ông bạn già, chỉ để ngồi bên tách cà phê chuyện gẫu, hết chuyện nước non nhà lại đến chuyện nhân tình thế thái. Hình như các ông không thể ngồi nhà cả ngày. Hễ hôm nào biếng đi là y như rằng không nhức đầu cũng cảm mạo, ho hắng. Bà chỉ thích quanh quẩn trong nhà, thu xếp dọn dẹp rồi ra cắt tiả ngoài vườn. Bà chơi với vườn rau, vườn hoa của bà cả ngày không biết chán. Thêm nữa bà có nhiều thú vui khác như sơn phết, trang hoàng nhà cửa, may vá, viết văn, đọc sách, nghe nhạc... Đôi khi bà thấy một ngày có hai mươi tư tiếng với bà không đủ. Mặc dù vậy bà vẫn dành những phút thả hồn theo những cụm mây trắng lang thang, bềnh bồng phiêu lãng.


Ông bà có hai người con, một gái một trai, xong trung học cả hai đều được nhận vào trường đại học Berkely, California. Khi ra trường cả hai đều gặp được người ý hợp tâm đầu, lại được công việc tốt nên lập nghiệp bên ấy. Khi ông bà về hưu đã có hai thằng cháu ngoại, cậu con trai cũng lập gia đình rồi. Cả hai đều có nhà riêng.

Cuộc sống hưu trí của hai vợ chồng già êm ả trôi cho đến ngày nghe tin con trai sắp có con đầu lòng, bà bàn với ông:

- Mình dọn nhà về ở gần các con được không ông?
Ông còn ngần ngừ:
- Chúng nó có cần không mà về? Nhà Cali đắt đỏ, sao mình mua nổi? Đang ở bên này nhà cửa rộng rãi, thoải mái!
Như có thần giao cách cảm, cô con gái điện thoại sang thủ thỉ với mẹ:
- Mẹ ơi, bố mẹ sắp có cháu nội. Bố mẹ thu xếp sang ở gần chúng con. Bố mẹ ngày một già, có chuyện gì chúng con ở gần vẫn dễ hơn. Bây giờ đứa nào gia đình cũng đùm đề. Bố mẹ ở xa chúng con cũng khó thăm viếng. Vả lại các cháu cũng cần nhờ ông bà trông nom, dậy dỗ.
Khi các bà bạn nghe nói ông bà có ý định dọn về Cali, ở gần con để trông cháu, có bà đã nói:
- Cẩn thận nghe bà, đừng mắc bẫy chúng nó. Khi cần thì nói ngon nói ngọt. Khi hết cần thì chúng sẽ có cả ngàn lý do để quét mình đi thẳng cánh. Già rồi, hãy lo cho thân mình đi.
Bà bạn già khác cũng nhắn nhủ:
- Cô đừng tưởng không có mình trái đất sẽ ngừng quay. Không có cô mọi việc cũng sẽ đâu vào đấy. Hồi chúng mình mới sang đây, có nội ngoại nào ở gần đâu, vậy mà chúng nó cũng nên người đó thôi. Việc chính là hai vợ chồng già phải lo cho nhau. Khi rảnh rỗi thì đi chơi chứ vướng cháu thì chả còn đi đâu được nữa.
- Mẹ chồng nàng dâu là truyện truyền kiếp, từ xưa đến nay, từ Âu sang Á. Bà hãy nghĩ cho kỹ trước khi quyết định. Đừng để mắc vào cảnh dở khóc dở cười. Nhất là đừng ở chung, phức tạp lắm.
- ...........

Những lời dặn dò cũng khiến bà nao núng. Những kinh nghiệm và hoàn cảnh đau thương cuả những người quen mà bà chứng kiến cũng khiến bà ngại ngùng. Bà nhớ ngày xưa ấy, buổi tối trước ngày bà lên xe hoa, mẹ bà đã dặn dò con gái về nhà chồng phải nhớ chữ nhẫn nhịn và trong đời cứ đối xử tốt sẽ gặp hay. Cứ ăn ở cho đầy đượm, hết lòng, cho phải đạo làm người. Gieo nhân lành sẽ gặp quả tốt... Bà đã về nhà chồng với niềm tin phơi phới, với hành trang là trái tim đầy ắp yêu thương. Tình thương bà sẵn sàng cho đi trước để mong được nhận lại. Nhưng thực tế đã khiến bà ngỡ ngàng, những đối xử khó khăn của mẹ chồng làm bà không hiểu nổi, chỉ biết im lặng chịu đựng. Cuối cùng nhân lành của bà gieo cũng nhận được quả ngọt. Những năm tháng về sau hai mẹ con đã thông cảm nhau hơn, thương yêu nhau hơn, nhất là những ngày sau biến cố Tháng Tư năm bẩy lăm. Trong phút lâm chung cụ đã nắm tay bà mà nói: “ Bỏ qua nhé, bỏ qua hết nhé... Mẹ sẽ phù hộ cho các con, mẹ sẽ phù hộ cho các cháu...”. Khi đi vượt biên, lúc nào bà cũng cảm thấy như có cụ ở kế bên. Nguy hiểm nào cũng như được cụ phù hộ để vượt qua.

Bây giờ bà là mẹ chồng và có nàng dâu. Bà tâm niệm rằng sẽ yêu thương dâu, rể hết lòng để lịch sử không hay về mẹ chồng nàng dâu không tái diễn. Lịch sử phải sang trang!
Cô con dâu phải sinh mổ nên đã chọn ngày. Bà sắp sẵn công việc để sang Cali trước ngày sanh cháu. Bà muốn là người đầu tiên ôm cháu nội vào lòng như trước kia bà đã vào phòng sanh với con gái và là người thân đầu tiên bế thằng cháu ngoại. Con bé thật xinh, đôi mắt tròn to, vầng trán cao thông minh. Ôm con bé vào lòng mà bà sung sướng ngất ngây, niềm yêu thương dào dạt. Bà gửi hình cho ông và báo cho ông biết là bà sẽ ở lại chơi với cháu, trông nom mẹ con nó cho đến khi đầy tháng bà mới về. Ông biết là ông lại bị bà bỏ rơi như khi bà sang chăm lo cho thằng cháu ngoại.

Một tháng nuôi gái đẻ bà đã lo lắng chu toàn như mẹ đẻ lo cho chính con gái ruột. Cô con dâu theo kiểu xưa nên kiêng rất kỹ. Cô ở trên lầu, bếp ở nhà dưới, hàng ngày bà phải ba bữa sửa soạn cơm nước sắp vào khay bưng lên tận phòng. Bà nấu cơm nghệ, hầm chân giò với hạt sen, rim thịt thăn với nước mắm, hạt tiêu, thật khô cho bà đẻ. Mỗi ngày bà lại nấu một nồi nước xông bỏ thêm vỏ bưởi, vỏ quít để cô hơ mặt, lau mình. Bà đã làm tất cả bằng sự thương yêu, tự nguyện. Con bé cháu thì bà vuốt ve, nắn bóp chân tay. Ầu ơ ví dầu hát ru cháu, cả ngày bà thủ thỉ chuyện trò với con bé. Mỗi sáng bà bế nó sang giường bà phơi nắng. Những vạt nắng vàng tươi, trong trẻo, xuyên qua cửa sổ ngay cạnh giường bà. Nắng vuốt ve, ôm ấp cái lưng xinh xinh, bé xíu.

Sau ngày đầy tháng con bé bà trở về Texas. Bà nhớ quắt quay ba đứa cháu nội, ngoại bên Cali. Bà nài nỉ:
- Ông ơi, mình dọn về Cali nhá!
- Mình đang sống yên ổn bên này. Chúng mình mỗi ngày một già, bà liệu còn sức mà chạy theo mấy đứa nhỏ không? Cố gắng rồi gục xuống, đau ốm lại khổ.
- Đến đâu hay đến đó ông à. Mình ở đây rảnh rang, chúng nó thì bận rộn. Giúp cho chúng nó được lúc nào hay lúc ấy. Ông lo gì xa quá.
Bà hạ giọng thuyết phục thêm:
- Ông này, nhìn con bé tôi thương lắm. Hay là mình về trông cháu vài năm. Khi con bé biết nói thì thôi. Nghĩ đến việc mướn người hay gửi người ta trông tôi ngại lắm ông ạ. Nhỡ nó bị hành hạ... Nó đã biết nói đâu mà mách. Ông xem trên truyền hình hay trên mạng đi. Bây giờ có nhiều kẻ bịnh hoạn, nhiều người độc ác lắm đó ông ơi... Về nhá...!
Ông nghe cũng hơi xiêu lòng:
- Để tôi nói chuyện với chúng nó xem sao. Bà sửa soạn đặt vé máy bay đi. Bà với tôi cùng về Cali một chuyến. Tôi cũng muốn sang thăm mấy đứa cháu. Đi về rồi mới tính được.
Nghe nói bố mẹ sang chơi thăm thú tình hình để xem có thể dọn về không, hai người con đều dọn dẹp một phòng riêng tươm tất ở mỗi nhà để tuỳ bố mẹ thích ở nhà nào cũng được vì hai nhà cũng gần nhau.

Gặp mặt ba đứa trẻ ông như bị hớp hồn. Thằng cu Bi, cháu ngoại lớn, mới ngày nào đến thăm ông, nó mới biết đi lẫm chẫm mà mỗi buổi chiều khi nghe chuông cửa đã biết ông đi làm về để lủn tủn như con chó con vẫy đuôi chào rồi cất mũ, cất giầy cho ông, bây giờ đã học lớp hai tiểu học. Thằng cu Tý, em nó, khi mới đẻ nằm trong nôi cứ toét miệng cười đã sắp vào mẫu giáo. Con mé MiMi trắng trẻo, bụ bẫm, đôi mắt tròn xoe đã biết nhìn ông hóng chuyện. Ông bà ở chơi một tuần với con cháu, đi thăm khắp vùng xung quanh. Hai thằng cháu ngoại đưa ông bà đến thăm ngôi trường chỉ cách nhà hơn một block. Khung cảnh quanh đó cũng êm ả, thanh bình.

Nhà hai con ông chỉ cách nhau vài khúc rẽ. Đi bộ thì mất độ nưả giờ mà lên xe thì không đến mười phút. Cả hai nhà đều tươm tất, sạch sẽ; vườn trước, vườn sau rộng rãi, khang trang. Đi xem giá nhà thì quá đắt so với bên chỗ ông. Bằng căn nhà ông đang ở thì bên này giá gấp bốn hoặc năm lần. Nếu dọn về thì đó thật là vấn đề nan giải.

Những cặp mắt đen láy của các cháu ngước nhìn ông, những câu nói ngây thơ hồn nhiên, những tràng cười khanh khách, giòn tan của hai thằng nhỏ quyến rũ ông, khiến ông bà quyết định về gần chúng nó.

Những năm đầu thật hạnh phúc, đúng như ao ước của bà, nhà có già có trẻ, vui vẻ, ấm cúng. Thoạt đầu ông bà ở nhà con trai vì bé Mimi nhỏ nhất. Bà trông nom con bé, nấu ăn cho cả hai nhà. Mỗi buổi sáng ông xách giỏ đồ ăn bà nấu sẵn sang nhà con gái, trông nom dậy dỗ hai thằng cháu ngoại. Được một năm cô con thèm một đứa con gái nên ráng sanh thêm, nhưng lại ra thằng con trai nữa. Thằng bé tuổi chó nên ông gọi là con chó Lu. Ông bà lại dọn sang nhà bé Lu vì bé nhỏ nhất. Bé Mimi lớn hơn nên mỗi buổi sáng bố nó phải đưa sang nhà bác trước khi đi làm. Buổi chiều mẹ nó đến đón, tiện xách cơm về luôn. Ông bà quên hết các thú vui khác, suốt ngày chạy theo các cháu.
Ông bà như trái banh bị đá qua đá lại giữa hai nhà vì năm sau cô con dâu cũng lại sanh thêm đứa nữa.


Thấm thoắt ông bà về Cali đã hơn mười năm, cu Bi sắp vào đại học. Nếu ở Việt Nam thì Mimi sắp là nữ sinh Trưng Vương. Thời gian qua thật nhanh, ông bà cũng già yếu đi nhiều. Các cháu đã lớn không cần sự săn sóc nhiều nữa, cu út cũng lên bẩy, đã đến trường. May mắn gặp được căn nhà nhỏ vừa túi tiền, vừa với nhu cầu nên ông bà đã ra ở riêng. Sống với con cái cũng có những đụng chạm, bà coi như đó chỉ là những chuyện nhỏ, những suy nghĩ khác nhau cuả hai thế hệ, cung cách sống, quan niệm về đời sống khác nhau giữa già và trẻ để giữ cho mình được cái tâm thanh thản. Mình không biết trước được những gì xẩy ra nhưng được an lạc hay không là do tâm mình.

Bây giờ bà đã chính thức về hưu chỉ còn ông vẫn “đi làm” ngày vài tiếng, để ông khuây khoả, khỏi phải lái xe đi tìm bạn già chuyện gẫu. Bà cũng có một khoảng thời gian riêng, không gian riêng của mình bà. Bà lại ngước mắt tìm mây, những cụm mây trắng nhẹ như bông lang thang trong bầu trời, ở đó bà đã gửi gấm những mộng mơ, lãng mạn của thời niên thiếu. Bà cũng đi tìm mây để hỏi khi vướng phải những trắc trở, chông gai. Bà đã biết chấp nhận những đau khổ, đã tìm ra những khiá cạnh lạc quan của sự việc và cho rằng đó chỉ là những thử thách nên mọi chuyện cũng thoáng qua, nhẹ bay đi như những làn mây trắng.

Thu tàn trời sẽ sang đông. Mỗi muà đều có những vẻ đẹp riêng. Hết muà đông cây cối sẽ đâm chồi nẩy lộc. Xuân về với những chùm Wisteria tím rung rinh trong nắng. Muôn hoa sẽ khoe sắc, toả hương. Buổi sáng ông bà sẽ cùng đi bộ trên những con đường có hai rặng anh đào hồng thắm, những rặng Dogwood trắng muốt tinh khôi. Mây trắng trên cao vẫn lờ lững theo bà. Chim chóc ríu ríu hát ca. Cảnh thiên nhiên khiến bà ngất ngây. Bà muốn ôm hết vũ trụ này, lòng bà ngập tràn hạnh phúc.

Đỗ Dung

Thứ Bảy, 18 tháng 10, 2025

Ban Chấp Hành Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại VĐBHK Phân Ưu Cùng Gia Đình Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ

 


Thư Họa: Tưởng Nhớ Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ

 

Thơ: Doãn Quốc Vinh (Con Trai Của Doãn Quốc Sỹ)
Thư Họa: Quang Hà

Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Thành Kính Phân Ưu Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ

Thay Mặt BCH: Cung Thị Lan

Trích Từ Sách " Gìn Vàng Giữ Ngọc" Của Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ


Lời: Doãn Quốc Sỹ
Sưu Tầm: Hoàng Yến


Hoài Niệm Cố Giáo Sư Doãn Quốc Sỹ

 
 

(Tưởng nhớ một người thầy)

Doãn Quốc Sỹ mới ra đi về miền vĩnh cửu
Là một Nhà Giáo và một Nhà Văn
Hưởng thượng thọ một-trăm-lẻ-hai tuổi
Tin buồn phổ biến trên mạng toàn cầu
Nền văn học mất đi một nhà văn lỗi lạc
Độc giả từng say mê những tiểu thuyết tuyệt vời
Ngành giáo dục mất đi một nhà mô phạm
Học trò đã được nghe lời giáo huấn quý báu của Người
Chúng con_ những cựu học sinh Chu Văn An,Sư Phạm
Nhớ dáng Thầy mảnh khảnh trán cao đứng trên bục giảng
Kính phục Thầy về những tác phẩm để đời
Và đạo đức sáng ngời làm gương cho tuổi trẻ
Giờ đây GS Doãn Quốc Sỹ đã giã từ trần thế
Thành tâm kính chúc Người an nghỉ giấc ngàn Thu.

ChinhNguyên/H.N.T., 
Atlanta,GA,USA ,Oct.17.2025 (706)
-------
Doãn Quốc Sỹ (17 tháng 2 năm 1923 – 14 tháng 10 năm 2025), 
còn được biết đến với tên Doãn Quốc Sỹ, là một nhà văn Việt Nam…...

Vĩnh Biệt Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ (1923-2025)


Thầy đi, lá rụng ven đồi
Trăm năm chữ nghĩa hóa lời thiên thu
Bao trang sách, tựa lời ru
Ươm hồn dân tộc giữa mùa điêu linh

Một đời bền chí quang minh
Gieo nhân ái giữa chông chênh phận người
Phấn son bục giảng xa xôi
Mà hương đạo hạnh vẫn soi tâm hiền

Từng câu văn, giọt chữ tiên
Thấm trong huyết mạch bao miền Việt Nam
Nửa đời bút mực tang thương
Vẫn tin vào ánh bình dương rạng ngời

Nay thầy rũ cánh nhẹ trôi
Hồn thơ bay giữa đất trời vô biên
Xin dâng nén tạ triền miên
Cầu cho thầy sớm an nhiên Niết Bàn

phamphanlang
15/10/2025
* Tưởng niệm Nhà văn/Nhà giáo Doãn Quốc Sỹ đã tạ thế ngày 14 tháng 10 năm 2025, tại Orange County, California, hưởng thọ 103 tuổi.
Xin thành kính chia buồn cùng tang quyến của nhà văn Doãn Quốc Sỹ.
Cầu nguyện hương linh nhà văn Doãn Quốc Sỹ sớm được siêu sinh tịnh độ về Cõi Niết Bàn.
Pham Phan Lang.

Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ Qua Đời 14/10/25


Chúng tôi vừa nghe tin:

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ vừa qua đời lúc khoảng 10 giờ sáng ngày 14 Tháng Mười 2025, tại bệnh viện West Anaheim Medical Center, thành phố Anaheim, California, thọ 103 tuổi.

Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17 Tháng Hai, 1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, Hà Nội. Ông từng tham gia Việt Minh kháng chiến chống Pháp.
Vào năm 1946, ông lập gia đình với bà Hồ Thị Thảo, ái nữ của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu.
Năm 1954, hiệp ước Geneva chia đôi đất nước, ông di cư và mang gia đình vào miền Nam.

Doãn Quốc Sỹ có hai sự nghiệp song song; một sự nghiệp nhà văn, một sự nghiệp nhà giáo. Ông thường nói: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.”

Ông từng giảng dạy tại các trường Trung Học Công Lập Nguyễn Khuyến (Nam Định 1951-1952), Chu Văn An (Hà Nội), Hồ Ngọc Cẩn (Sài Gòn, 1961-1962), Trường Quốc Gia Sư Phạm Sài Gòn, Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn. Ông từng là hiệu trưởng trường Trung Học Công Lập Hà Tiên (1960-1961) và từng đi tu nghiệp về sư phạm tại Hoa Kỳ (1966-1968).
Năm 1956, ông đồng sáng lập nhà xuất bản Sáng Tạo, và tạp chí văn nghệ cùng tên với Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Duy Thanh và Ngọc Dũng.

Ông có tác phẩm đăng trên các tạp chí Sáng Tạo, Văn Nghệ, Bách Khoa, Văn Học, Nghệ Thuật…

Sau 30 Tháng Tư, 1975, Doãn Quốc Sỹ cùng các văn nghệ sĩ như Trần Dạ Từ, Thanh Thương Hoàng, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Nguyễn Sỹ Tế, Chóe… bị chế độ Cộng Sản bắt giam. Đến năm 1980, ông được thả tự do nhờ sự can thiệp của nhiều tổ chức quốc tế.

Trong thời gian chờ đợi được con gái bảo lãnh đi nước ngoài, ông tiếp tục viết thêm nhiều tác phẩm nữa, trong đó có quyển “Đi,” ký bút hiệu Hồ Khanh. Ông gửi tác phẩm này sang Pháp để xuất bản tại hải ngoại. Cũng vì lý do này, ông bị bắt lần thứ hai vào tháng Năm, 1984. Cùng bị giam với ông trong đợt này có ca sĩ Duy Trác, nhà báo Dương Hùng Cường, hai nhà văn Hoàng Hải Thủy và Lý Thụy Ý. Ông bị kết án mười năm tù và mãn hạn tù lần thứ hai vào Tháng Mười Một, 1991.

Năm 1995, ông được con trai là Doãn Quốc Thái bảo lãnh sang Houston, Hoa Kỳ.

Nhận định về ảnh hưởng của tác phẩm Doãn Quốc Sỹ, nhà thơ Trần Mộng Tú từng viết trên VOA: “Những người yêu chữ nghĩa văn chương ở Việt Nam thời 1954-1975 ở miền Nam Việt Nam không ai là không đọc những tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ. Những tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ cho người đọc thấy yêu quê hương, yêu gia đình, bạn hữu hơn mặc dù trong những dòng chữ đó không hề nhắc đến một bổn phận nào.”

Nhà thơ, nhà báo Đỗ Quý Toàn, nhận định với Người Việt: “Doãn Quốc Sỹ xuất hiện trong nhóm Sáng Tạo nhưng ông tạo một phong cách văn chương riêng biệt. Ông theo lối cổ truyền: Dùng văn chương chuyên chở đạo lý.”

Nhà thơ, hoạ sĩ thuộc thế hệ hậu bối, Đinh Trường Chinh, nhận định với Người Việt: “Doãn Quốc Sỹ là một trong những con chim đầu đàn của nhóm Sáng Tạo, nhóm đã làm thay đổi diện mạo văn học miền Nam sau 1954 và góp phần thay đổi cảm quan người đọc thời ấy ra khỏi mỹ cảm Tự Lực Văn Đoàn và văn thơ tiền chiến vốn đã hiện diện và ăn sâu vào người đọc thời ấy.”

Là người gần gũi và có nhiều kỷ niệm với Doãn Quốc Sỹ và gia đình, nhà báo Đinh Quang Anh Thái kể: “Đọc tác phẩm của bác, mê văn bác từ nhỏ, nhưng mãi tới sau ngày 30 Tháng Tư 75, lúc bấy giờ tôi ngoài 30 tuổi, tôi mới có cơ duyên được hầu chuyện bác, tôi cảm ngay được nhân cách hiền hòa, kín đáo của bác. Bác chừng mực nhưng không xa cách. Bác đôn hậu nhưng không vồn vã. Đúng cung cách “Quân Tử Chi Giao Đạm Nhược Thủy”, tình cảm thâm trầm, lắng đọng vào bên trong, không sôi nổi, bộc lộ ra ngoài.”

Doãn Quốc Sỹ là nhà văn có sức sáng tác phong phú và đa dạng. Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhấtb của ông là tiểu thuyết Khu Rừng Lau, gồm 4 tập: Ba Sinh Hương Lửa (1962), Người Đàn Bà Bên Kia Vỹ Tuyến (1964), Tình Yêu Thánh Hóa (1965) và Những Ngã Sông (1966).

Nhiều truyện ngắn của ông được độc giả ghi nhớ lâu dài. Trong đó có thể kể đến: Gìn Vàng Giữ Ngọc, Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều, Mình Lại Soi Mình, Đàm Thoại Độc Thoại, Dấu Chân Cát Xóa, Dốc Sương Mù…

Tổng số tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ là 25 cuốn.
https://www.facebook.com/share/p/1AMhpfJeRT/?mibextid=wwXIfr

Hai anh em chúng tôi (Đàm Trung Pháp và Phán) đã may mắn được GS Doãn Quốc Sĩ dạy môn Việt Văn tại Trường Trần Lục, Saigon năm chúng tôi học Đệ Ngũ (1956, 1957).

Đàm Ttrung Phán đã được nghe Thầy Sỹ đọc mấy bài thơ theo thể thơ Tự Do và nhờ vậy mà chúng tôi đã có thể viết ra một số bài thơ thể tự do trong lúc đi thực tập ngành công chánh trong đại lục Úc Châu vào thập niên 1960. Một kỷ niệm khó quên!

Xin chia buồn cùng đại gia đình Thầy Doãn Quốc Sỹ. Nguyện cầu hương linh Thầy sớm tiêu diêu miền cực lạc.

Đàm Trung Phán
Giáo Sư Công Chánh hồi hưu
Canada

Doãn Quốc Sỹ, Chất Chiến Đấu Từ Những Lời Đôn Hậu


Trường thiên tiểu thuyết Khu Rừng Lau dày hơn 2000 trang là tác phẩm dài hơi nhất của Doãn Quốc Sỹ. Ký giả Lê Văn của Đài BBC đã ca ngợi tác phẩm này như tác phẩm Chiến Tranh và Hòa Bình của Việt Nam, kín đáo ca ngợi Doãn Quốc Sỹ của Việt Nam như Lev Nikolayevich Tolstoy của Nga là những Văn Hào của Thế giới.Một ngòi bút sắc xảo tinh tế nhưng rất lãng mạn đôn hậuđã truyền đạt một thông điệp sống động về Nhân Bản chống lại Vô Thần. Và đó chính là chất chiến đấu kiên trì đối kháng với bạo ngược, gian trá.

Truyện ngắn đầu tiên tôi được đọc của Doãn Quốc Sỹ là Cánh Tay Nối Dài. Lúc đó năm 1967, tôi mới 17 tuổi, đang học lớp Đệ Nhị trường Nguyễn Bá Tòng , Saigon.
Trong lớp có một người bạn chơi chung là Vũ. Vũ ở đường Vườn Chuối, khi tới nhà Vũ để rủ Vũ đi chơi, cả nhóm bạn đứa nào cũng sợ phải gặp mặt ông cụ thân phụ của Vũ. Không phải tại cụ khó mà bởi vì cụ hay gọi cả nhóm vào trò chuyện, trong đó khuyên nhủ, dạy dỗ...Cả bọn đẩy đưa, cuối cùng, tôi là đứa bị đẩy ra làm đại diện vào nhà xin phép cho Vũ, trong lúc cả bọn đứng chờ ngoài đầu hẻm. Tôi bị đẩy ra làm công việc này, vì trong nhóm bạn, tôi lọt vào mắt xanh của cụ, Cụ rất quý tôi và thường dễ dãi chấp thuận lời xin của tôi để Vũ đi chơi.

Lần đó, khi tới, Vũ không có nhà, tôi vừa định chào ra về, thì cụ gọi lại bảo vào chơi uống nước. Cụ lấy một cuốn sách đưa tôi và nói, Đất nước sau này có tiến bộ hay không là nhờ vào lớp trẻ sau này lớn lên có tiếp nối được khao khát của cha ông hay không. Cuốn này hay mà bác mới đọc được và rất tâm đắc với tác phẩm, cùng với kính trọng tác giả, Bác cho cháu mượn xem, tuần sau đến đây trả lời với bác cháu đọc được gì nhé.

Tôi nhận cuốn sách Cánh Tay Nối Dài của Doãn Quốc Sỹ mà lòng run vì sợ. Đề đã ra và tuần sau phải trả bài. Thật không ngờ, đó lại là một cơ hội tuyệt vời cho tôi bắt đầu một niềm vui mới là tìm thấy trong dòng chữ viết đã mở ra biết bao chân trời, biết bao ước mơ và biết bao giải đáp cho cuộc đời sau này.
Khi đó, tôi không biết tác giả đang là một Giáo Sư dạy Đại Học, không biết tác giả là một Nhà Văn nổi tiếng từ lúc tôi chưa sinh ra, lại càng không biết gì về Tạp Chí Sáng Tạo đã từng một thời lẫy lừng nay đã đình bản.

Cánh Tay Nối Dài là chuyện kể về một thanh niên tên Tiến, nhà ở một vùng quê, khi còn là học sinh trung học nỗi khao khát thèm muốn được trở thành một Sinh Viên, được sống trong một Đại Học Xá. Ước mơ tưởng rất gần những bỗng ngàn dặm vì hoàn cảnh gia đình phải về quê lập gia đình từ rất sớm. Khi chia đôi đất nước, Tiến vào Nam đã có một gia đình ấm êm, đi dạy học nhiều nơi dù chưa đạt được bằng tú tài và chưa đạt được giấc mộng trở thành sinh viên và sống trong môi trường Đại Học Xá, niềm khao khát đóchưa bao giờ nguôi ngoai. Cho đến khi đứa con trai đầu lòng tốt nghiệp trung học, xin được một căn phòng trong khu đại học xá Minh Mạng, Tiến dẫn bạn nay đã là hai ông già, đến thăm con, lặng lẽ đứng bên ngoài nhìn vào phòng người con trai đang chăm chú học bài dưới ngọn đèn neon trong căn phòng cư xá :“ Tiến ngồi bên tôi im lặng không nói gì, tôi đưa mắt ngắm nhìn khuôn mặt anh thỏa mái trong ánh sáng mờ mờ, con anh quả đã là cánh tay nối dài của anh để hái một trái mộng. Mộng Sinh Viên”

Ý nghĩa câu chuyện đó ám ảnh tôi cho tới bây giờ, và tôi nghĩ chắc rằng ám ảnh nhiều người nữa khi đã đọc truyện đó, bằng chứng là chữ Cánh Tay Nối Dài ngày nay đã trở thành một thành ngữ quen thuộc cho rất nhiều mô tả một mong ước của cha anh hướng về thế hệ nối tiếp của mình.

Năm 1968 mở đầu bằng trận chiến tết Mậu Thân. Lằn ranh Quốc Cộng đã chạm vào thành phố, hay nói đúng hơn là chạm vào lứa tuổi mới lớn của chúng tôi. Ngơ ngác với cuộc đời, lúng túng và lạc lõng khi gặp gỡ trò chuyện với những người thiên tả nói về chính trị, không biết gì về một chủ nghĩa lạ lẫm và một đời sống bên kia bức màn sắt. Những kích thích đó đưa tôi vào sách vở và tìm đọc nhiều hơn những tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ.

Với những truyện ngắn như “Chiếc chiếu hoa cạp điều”, hay “Gìn Vàng Giữ Ngọc”, chân dung những con người nhân hậu chí tình đã khiến cho độc giả cảm thấy cuộc đời không phải chỉ toàn người xấu. Trái lại người tốt rất nhiều và trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù khốn cùng đến đâu, cái chất nhân bản vẫn rõ nét. Quả thật, văn chương của ông bình dị không lên mặt dậy đời mà lại có sức thuyết phục.
Khi bước vào quân ngũ, tôi đã đã có dịp may được đọc trường thiên tiểu thuyết Khu Rừng Lau.

Nguyễn Mạnh Trinh đã có những tóm lược như sau: “Trường thiên “ Khu Rừng Lau” vẽ lại cả một thời kỳ nhiễu nhương của lịch sử Việt Nam. Đời sống của một lớp thanh niên tiểu tư sản được dựng lại trong cái phong cảnh hoành tráng của một đất nước không may trở thành nơi chốn đọ sức của những ý thức hệ quốc tế. Những nhân vật như Miên, Kha, Tân, Hiển, Hãng, Lăng, Khiết… từ lúc trưởng thành, tham gia kháng chiến chống Pháp ,rồi trải qua những ngày cải cách ruộng đất, trở về thành rồi di cư vào Nam , tất cả những quặn mình của cả một thế hệ được nhà văn tạo thành tiêu biểu. Tuổi tác họ chênh lệch nhau nhưng cùng có chung một mẫu số yêu đất nước như yêu tự do và cùng mong ước cho một ngày đất nước hùng cường .Hình như, họ có chung nỗi hoang mang của những người trí thức luôn đi kiếm tìm cho mình một con đường nhưng lại thấy bơ vơ khi chọn lựa. Ở với kháng chiến , thấy lòng yêu nước bị lợi dụng bởi những con người Bolcheviks tàn bạo vô nhân, về thành thì thấy giặc Pháp nghênh ngang, chính phủ quốc gia chỉ là cái bóng. Di cư vào Nam, thì chế độ độc tài và gây ra nhiều kỳ thị bất công.

Dòng đời trôi, qua bao năm tháng, chiến tranh lại tiếp chiến tranh, hết độc tài Cộng sản đến độc tài gia đình trị, thế nước nghiêng ngửa như những cuộc đời ngả nghiêng theo. Bộ trường thiên này có lẽ là một phác họa lịch sử hoành tráng và tiêu biểu nhất của văn học Việt Nam…”

Không lập lại những nhận định đã có của Nguyễn mạnh Trinh vì quá chính xác, cái mà tôi nhận được từ trường thiên này là một cái tâm đắc khác, đó là cách dựng truyện và hành văn của Doãn Quân.

1/ Cách dựng truyện.

Các nhân vật của Khu Rừng lau là lứa tuổi sinh vào thập niên 1913-1926 của thế kỷ trước. Là lứa tuổi cùng thời với tác giả. Tình hình đất nước đã giao cho thế hệ này sự chọn lựa đúng sai, chính tà thật khắc nghiệt. Khi biến động rộng lớn từ 1945 giữa Pháp, Nhật, các đảng phái quốc gia, Việt Minh (lúc đó chưa ra mặt Cộng Sản, mà dương danh là tập họp các đảng phái chính trị, các tổ chức quần chúng chung tay chống Pháp) lớp thanh niên mới lớn rung động từ lòng yêu nước dễ bị cuốn hút vào kháng chiến. Kháng chiến như ánh mặt trời mà trăm hoa hướng về. Nhân vật lớn tuổi nhất là Khiết và Khóa sinh năm 1913 thì ngoài 30 tuổi, nhỏ nhất là Miên sinh năm 1926 thì mới vừa 19 tuổi.

Những con người có học thức, sống ở thành thị, yêu nước với tất cả nhiệt huyết của trái tim thanh niên đã thoát ly gia đình lên đường chiến đấu chống ngoại xâmvới khao khát độc lập, và tự do như những lời cổ vũ.

Doãn Quốc Sỹ đã tâm sự:

“Khu Rừng Lau tôi cũng viết bằng cả cái kinh nghiệm bản thân của tôi, có nhân vật từ thuở gia nhập chống Pháp. Thời đó chống Pháp là tất cả các thanh niên và chính bản thân tôi ở trong Đoàn Thanh Niên Cứu Quốc để mà chống Pháp. Rồi thì chính tôi, bản thân tôi đã từng họp dân chúng biểu tình để đi phá kho thóc của Nhật để phân phát gạo cho người dân vào cái thời đó.

Với cái việc của bản thân như vậy thì tôi dựng lại thành cái bộ truyện trường thiên tiểu thuyết Khu Rừng Lau đó. Và cái bối cảnh cùng những tình tiết thì đều là lẽ cố nhiên là viết dưới hình thức tiểu thuyết, nhưng mà kinh nghiệm là do kinh nghiệm bản thân của tôi với những điều mắt thấy tai nghe, và rồi thì là để vào viết thành cuốn tiểu thuyết như vậy” (RFA, 23/6/2008).

Trải qua rất nhiều tình huống khi sống trong chiến khu, lăn lộn qua nhiều chiến trường,những người thanh niên yêu nước, có học và cao vọng đó đã dần dần hiểu được mặt trái của lời tuyên truyền, Họ đấu tranh với chính bản thân bằng những lý lẽ nhân bản để rồi quyết định rời bỏ kháng chiến về thành, không phải vì khó khăn hay sợ hãi mà vì thất vọng với những điều mắt thấy tai nghe. Để tiếp tục đi tìm tiếp một nguồn sống khác, chân lý khác cho cuộc sống. Những lập luận đó đã thuyết phục tôi suốt một thời thanh niên mới lớn, khi tôi bằng tuổi với các nhân vật trong truyện ở thời điểm đó.

2/ Hành Văn.

Trong một bài viết, Nguyễn Mộng Giác đã ghi nhận:
Doãn Quốc Sỹ vẫn viết với giọng điềm tĩnh đôn hậu cố hữu. Ông không "nổ" như Nguyễn Mạnh Côn, không "độc" như Võ Phiến. Người Cộng sản ông từng biết thời thanh niên của ông, qua lời ông viết, là những nạn nhân của một chủ thuyết ngoại lai, không phải là tác nhân. Và đó là chủ đề những truyện ngắn chống Cộng Doãn Quốc Sỹ viết thời kỳ sau hiệp định Genève.

Chính xác là trường thiên Khu Rừng Lau, ở bất tranh luận hay bất cứ sự kiện nào của truyện, chúng ta được thuyết phục bằng những văn phong qua chính những tính cách của các nhân vật. Chất chiến đấu chính là sự kiên trì với chính bản thân đi tìm chân lý bằng những lời đôn hậu. Rất gần gũi và rất thuyết phục.

Mỗi người là một hoàn cảnh khác nhau để người đọc nhìn rất nhiều sự kiện xẩy ra. Đầu tiên là Miên, người trẻ nhất trong các nhân vật, rồi các nhân vật khác đều gặp những sự thật khác đầy gian trá, bất nhân, luia72 phỉnh và khống chế, rồi sau tự vấnvới lương tâm đã lần lượt rời bỏ kháng chiến, .

Mai Kim Ngọc đã tóm lược: Họ gặp nhau lại tại Hà Nội, trong ánh sáng quốc gia, dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ của cựu hoàng.
Qua đôi mắt quan sát của Doãn Quốc Sỹ, qua màng lọc tâm hồn ông, Con Người được viết hoa. Ông dành chỗ rộng trong tiểu thuyết cho những người trung thực đôn hậu. Ông yêu âm nhạc, ghét những tiếng ồn, và những nhân vật ông thân yêu nếu không mê ca dao thì cũng mê thích một loại nhạc khí cổ điển nào đó, hoặc vỹ cầm, hoặc dương cầm.

Văn phong truyền cảm xúc của Doãn Quốc Sỹ thực sự thuyết phục người đọc hiểu được tại sao, và làm như thế nào của những chàng trai thời loạn đó đã chọn con đường dấn thân vào kháng chiến rồi đưa đến dứt khoát rời bỏ để về thành. Giống như trường hợp Phạm Duy viết “Bên Cầu Biên Giới” trước khi rời kháng chiến về thành.

Nguyễn Mộng Giác nhận định: Trong các nhà văn lớp trước, tôi cho rằng Doãn Quốc Sỹ và Võ Hồng là hai cây bút có văn phong lãng mạn và một tâm hồn đôn hậu rất Việt Nam, cái chất Việt Nam nhân ái hiếu hòa, cần cù lương thiện, hớn hở vui mừng khi gặp người đồng điệu, mà cũng dứt khoát phẫn nộ nói ra thành lời khi gặp chuyện bất bằng, cái chất Việt Nam chưa bị những lý thuyết ngoại nhập làm cho thui chột để trở thành tàn nhẫn, độc địa, lai căng, lưu manh, lố bịch.

Toàn bộ trường thiên Khu Rừng Lau và kể cả các tác phẩm khác của Doãn Quốc Sỹ đều được xây dựng trên các nhân vật có phẩm chất lương thiện, cao quý và tư cách được điễn tả trong các lời văn đôn hậu trong sáng mà luôn toát ra được chất kiên định chiến đấu cho Lẽ Phải.

Bài viết này thực hiện nhân dịp mừng Trăm Tuổi của một đại thụ văn học, Người viết thuộc hàng con cháu của Cụ, Và nhất là bài này viêt sau hàng loạt những nhận định giá trị khác đã từng phổ biến, cho nên xử dụng các tư liệu chuẩn mực mà người khác đã viết chính là sự bày tỏ lòng đồng tình với các nhận định đó.

Cuộc đời của Doãn Quốc Sỹ gắn liền với hai thiên chức là viết văn và dạy học, Cụ có một đời sống đạo đức và mẫu mực. Văn của Doãn Quốc Sỹ là văn phong điềm đạm, thong dong và giáo dục đời sau. Bằng những lời đôn hậu đã chuyên chở cả một tính chiến đấu kiên cường bền bỉ cho một chân lý ngàn đời, hướng tới sự thật, sự thiện lành và tốt đẹp. Văn của Doãn Quốc Sỹ đương nhiên là kẻ thù của sự dối trá, ác độc và xấu sa. Và sau chót, cuộc đời trăm năm đã qua của Cụ đã là tấm gương của người thực hiện chức năng Nhà Giáo và Nhà Văn với tất cả ý nghĩa tốt đẹp nhất của hai từ này.Cụ đã phải trải qua nhiều lần tù tổng cộng tới 14 năm với tội danh “Viết văn chống phá cách mạng”, chính Thái độ sống, và Ngôn Ngữ đôn hậu đó là đối nghịch lớn nhất không thể nói ra của chính quyền trong nước.

Xin kết bài này bằng một câu nhận định của Võ Phiến về Văn Doãn Quốc Sỹ “ Đọc sách của ông thơm tho cả tâm hồn.”

12/2022.
Nguyễn Minh Nữu