tiêu đề Nhãn
- BIÊN KHẢO
- CÂU ĐỐI
- CỔ THI
- GIA CHÁNH
- GIẢI TRÍ
- HÌNH ẢNH HỘI NGỘ
- HÌNH ẢNH NAY
- HÌNH ẢNH XƯA
- HỘI HỌA
- KHOA HỌC
- LƯU NIỆM
- LỊCH SỬ
- LỜI HAY Ý ĐẸP
- NHẠC
- SƯU TẦM
- SỨC KHOẺ
- THƠ
- THƠ CẢM TÁC
- THƠ DIỄN NGÂM
- THƠ DỊCH
- THƠ NHẠC
- THƠ PHỔ NHẠC
- THƠ SƯU TẦM
- THƠ TRANH
- THƠ TRANH NGHỆ SĨ
- TIN BUỒN
- TIN VUI
- VĂN
- VŨ HỐI THƯ HỌA
- VƯỜN THƠ VIÊN NGOẠI
- XƯỚNG HỌA
- YOUTUBE
Thứ Tư, 16 tháng 7, 2025
Giọng Hát Trong Đêm - Ngô Thụy Miên & Phạm Anh Dũng - Vân Châu
Phố Núi Trả Về Khuya

(Một chuyến dự trại sáng tác Dalat 2005)
Đêm nay trời không có sao
Gió mang lạnh đến bạc đầu non xa.
Ngồi bên phố núi ngàn hoa,
Thấy người xuôi ngược,Thấy ta một mình.
Lặng thầm về hướng mông mênh
Phía sau taVẫn bồng bềnh khói mây
Biết rằng; Rồi một đêm nay,
Cõi sơ nguyên mộng còn say cuộc tìm.
Quanh đời Bóng ngả chùng đêm,
Quanh ta Đèn hắt hiu thềm bóng suông.
Đường về bước dôc qua truông,
Trả sương khói lạnh đêm buồn lại khuya!
Mặc Phương Tử
Tướng Quân Trương Quang Ân Và Phu Nhân (Bà Dương Thị Kim Thanh)
Tin tức: Cà phê Hòa Tan Có Thể Làm Tăng Nguy Cơ Thoái Hóa Điểm Vàng (AMD) Khô, Đặc Biệt Ở Người Có Yếu Tố Di Truyền
Nguồn tin và chi tiết:
https://www.medicalnewstoday.
Huỳnh Chiêu Đẳng: Tóm tắt bài báo
- Thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (AMD) là nguyên nhân hàng đầu gây mất thị lực ở người lớn tuổi, ảnh hưởng đến khoảng 200 triệu người toàn cầu. AMD có hai dạng: dạng khô (phổ biến hơn) và dạng ướt.
- Các yếu tố không thể thay đổi như di truyền, tuổi tác, và các yếu tố có thể thay đổi như chế độ ăn uống, hút thuốc, béo phì đều ảnh hưởng đến nguy cơ mắc bệnh.
- Một nghiên cứu mới từ Trung Quốc, công bố trên tạp chí Food Science & Nutrition, phát hiện mối liên hệ giữa yếu tố di truyền và việc uống cà phê hòa tan với nguy cơ cao mắc AMD khô.
Chi tiết nghiên cứu:
- Dữ liệu thu thập từ hơn 500.000 người trong cơ sở dữ liệu UK Biobank, phân nhóm theo loại cà phê tiêu thụ: cà phê xay, cà phê hòa tan, không chứa caffein.
- Kết hợp với dữ liệu về tình trạng AMD từ người trên 50 tuổi trong Finngen GWAS, nghiên cứu sử dụng các phân tích di truyền để đánh giá mối liên hệ.
- Kết quả nổi bật:
- Những người có khuynh hướng di truyền thích uống cà phê hòa tan có nguy cơ mắc AMD khô cao gấp 7 lần.
- Không thấy mối liên hệ giữa cà phê và AMD ướt.
- Giải thích: Có thể có các cơ chế sinh học chung giữa sở thích cà phê hòa tan và tiến trình thoái hóa điểm vàng.
Ý kiến chuyên gia:
- Tiến sĩ Geffen (Mỹ) cảnh báo: nghiên cứu này chỉ là bước đầu, chưa đủ để khuyên bệnh nhân nên tránh cà phê hòa tan, vì còn nhiều yếu tố như lượng tiêu thụ, lối sống, tầng lớp xã hội...
- Tiến sĩ Bert đánh giá cao hướng tiếp cận mới: dinh dưỡng cá nhân hóa theo gene và khẳng định đây là bằng chứng thêm về rủi ro của thực phẩm chế biến cao như cà phê hòa tan, vốn ít tự nhiên hơn cà phê xay.
Kết luận:
Nghiên cứu cho thấy sự kết hợp giữa di truyền và tiêu thụ cà phê hòa tan có thể làm tăng nguy cơ mắc AMD khô. Tuy nhiên, cần thêm nghiên cứu để xác nhận mối liên hệ nhân quả và đánh giá ảnh hưởng của các thực phẩm chế biến cao khác.
Người có yếu tố nguy cơ nên cân nhắc lựa chọn cà phê ít chế biến hơn và chế độ ăn giàu chất chống oxy hóa để bảo vệ thị lực khi về già.
-----===<o0o>===-----
Tản Mạn: Trở Lại Tuổi Hai Mươi
Thứ Ba, 15 tháng 7, 2025
Gửi Người Phương Xa - Sáng Tác: Liên Bình Định - Ca Sĩ:Diệu Hiền
Ca Sĩ:Diệu Hiền
Trả Em ...
Cho nắng hờn thương vay
Bờ môi mềm thương nhớ
Tình xa giọt lệ đầy
Lá vàng nhẹ buông rơi
Tình mong manh theo gió
Tìm đâu hình bóng người
Sương lạnh thấm vào hồn
Để tình thêm vương vấn
Xa chi cuộc tình buồn
Nụ hôn nồng ta trao
Vòng tay nào sưởi ấm
Lời yêu dấu nghẹn ngào
Bên nhau chuỗi ngày sầu
Bao giờ ta quên hết
Một lần thôi mất nhau
Vần thơ khép mi sầu
Những chiều mưa rớt nhẹ
Cho tình mãi thương đau
Đẹp Quá Những Bài Thơ
Em nhận được hai bài thơ anh gửi
Gửi riêng em vào buổi sáng mùa hè
Anh ca tụng, gọi em là "hoàng hậu"
Muôn tâu nàng, hoàng hậu của lòng anh!
Sáng hôm nay trời tuyệt đẹp trong xanh
Tim khô khan bỗng có người tưới tẩm
Tâm trống rổng, em không còn mơ mộng
Bỗng thấy vui, hồn thơ lại trở về
Cảm ơn anh thương thơ em vụng về
Cảm ơn anh cho em nhiều cảm hứng
Tâm an lạc vẫn làm thơ được chớ
Sẽ cố chìu, sẽ không bỏ bê thơ
Những bài thơ, đẹp quá những bài thơ!
Phải biết mơ, biết mộng mới làm thơ
Biết trãi lòng thêu dệt những câu thơ
Vui lãng mạn... vẫn còn yêu, thương, nhớ
Thơ của anh từng câu thơ nhả ngọc
Anh phun châu khen từng ngón tay xinh
Nhờ đọc thơ, thương nhân loại thương mình
Thấy hạnh phúc vì được làm... thi sĩ!
Quách Như Nguyệt
30 tháng 6, 2025
Buck Moon - Old Port Montreal - Ảnh: Vũ Ngọc Hiển
BUCK là tên do người ta gọi cho trăng rằm tháng 7. Trong 12 tháng họ đặt mỗi tháng một tên...
Trăng tròn tháng Bảy, còn được gọi là Trăng Buck, là trăng mọc vào những ngày nóng nhất của mùa hè.
Full Moon Names: Traditional Full Moon Names
Wolf Moon – January
Snow Moon – February
Worm Moon – March
Pink Moon – April
Flower Moon – May
Strawberry Moon – June
Buck Moon – July
Sturgeon Moon – August
Harvest Moon – September or October
Full Corn Moon (Harvest) – September
Hunter's Moon (Harvest) – October
Beaver Moon – November
Cold Moon – Decembe
Nhật thực toàn phần của Trăng ngô (Corn moon) tròn ngày 7 tháng 9 năm 2025
Dưới Đây Là Phần Bác Sĩ Dặn Người Già Đừng Ăn 7 Loại Trái Cây Vì Sẽ Đau Tim Đột Ngột
Người cao tuổi, tôi VAN XIN bạn hãy NGỪNG ăn 7 loại trái cây này vì chúng đang hủy hoại trái tim bạn - YouTube
https://www.youtube.com/watch?
Huỳnh Chiêu Đẳng: Dưới đây là phần Bác sĩ dặn người già đừng ăn vì sẽ đau tim đột ngột:
Bác sĩ tim mạch cảnh báo người cao tuổi nên hạn chế hoặc tránh 7 loại trái cây sau do tiềm ẩn nguy cơ gây đột quỵ, suy tim, cao huyết áp, thậm chí tử vong sớm:
- Sầu riêng
- Rất béo, ngọt, chứa nhiều chất béo bão hòa và đường đơn.
- Làm tăng mỡ máu, máu đặc lại, gây cao huyết áp, rối loạn nhịp tim.
- Đặc biệt nguy hiểm nếu ăn buổi tối hoặc sau bữa ăn chính.
HCD: Chúng ta phân tách chi tiết
1. "Sầu riêng rất béo, ngọt, chứa nhiều chất béo bão hòa và đường đơn." Đúng một phần
- Sầu riêng đúng là chứa nhiều năng lượng, do hàm lượng carbohydrate (đường) và chất béo cao hơn nhiều loại trái cây khác.
- Tuy nhiên, chất béo trong sầu riêng là chất béo không bão hòa – loại chất béo tốt, tương tự chất béo trong quả bơ, không gây hại như chất béo bão hòa trong mỡ động vật.
- Về đường, sầu riêng chứa nhiều đường đơn (glucose, fructose) nên có chỉ số đường huyết khá cao, dễ làm tăng đường máu nếu ăn nhiều.
Tóm lại: Sầu riêng béo và ngọt, nhưng chất béo không phải là chất béo bão hòa xấu. Câu này cần chỉnh lại cho chính xác hơn.
- Tăng mỡ máu: Có thể xảy ra nếu ăn quá nhiều do lượng calo cao, nhưng sầu riêng không chứa cholesterol, và chất béo trong sầu riêng là loại tốt (có thể giúp tăng HDL – cholesterol tốt).
- Máu đặc lại, cao huyết áp, rối loạn nhịp tim: Đây là những kết luận cường điệu hoặc chưa có cơ sở khoa học rõ ràng. Không có nghiên cứu trực tiếp nào cho thấy ăn sầu riêng gây những vấn đề này ở người bình thường.
- Tuy nhiên, người có bệnh tim mạch, tiểu đường, huyết áp cao nên cẩn trọng, vì sầu riêng giàu đường và năng lượng.Tóm lại: Những hậu quả này chỉ có thể xảy ra nếu ăn quá nhiều và ở người có bệnh nền. Không nên khẳng định tuyệt đối như vậy.
HCD: Bây giờ chúng ta sang món trái cây thứ 2
- Mít
- Nhiều đường, tinh bột và tính nhiệt cao.
- Gây đầy bụng, tim đập nhanh, tăng men gan, suy gan - tim nếu ăn nhiều.
- Nguy hiểm khi ăn vào buổi tối sau bữa ăn no.
HCD: Tôi thấy như sau: có một số ý đúng, nhưng nhiều chỗ chưa chính xác hoặc dùng từ phóng đại, gây hiểu lầm. Dưới đây là phần nhận xét chi tiết:
1. “Mít nhiều đường, tinh bột và tính nhiệt cao.”
Đúng một phần
- Mít chứa nhiều đường tự nhiên (glucose, fructose), nên vị ngọt rất rõ ràng. Đúng.
- Tinh bột: Mít gần chín có chứa một lượng tinh bột kháng, nhưng khi đã chín kỹ thì gần như không còn tinh bột, mà chánh yếu là đường. Vậy nên nói “nhiều tinh bột” là chưa chính xác (trừ khi nói về mít non).
- Tính nhiệt cao: Theo đông y, mít có tính “nhiệt” (nóng), nên ăn nhiều có thể gây nóng trong người, nổi mụn, nhiệt miệng, v.v. Nhưng đây là quan điểm y học cổ truyền, không có khái niệm "tính nhiệt" trong y học hiện đại.
Tóm lại:
- Đúng khi nói nhiều đường.
- “Nhiều tinh bột” chỉ đúng với mít non.
- “Tính nhiệt cao” là đúng theo đông y, nhưng không phải là khái niệm khoa học chuẩn trong y học hiện đại.
2. “Gây đầy bụng, tim đập nhanh, tăng men gan, suy gan - tim nếu ăn nhiều.”
Cường điệu và thiếu bằng chứng khoa học rõ ràng
- Đầy bụng: Có thể xảy ra nếu ăn nhiều mít, đặc biệt là với người hệ tiêu hóa yếu hoặc ăn khi đói, vì mít khó tiêu.
- Tim đập nhanh: Không có bằng chứng cho thấy mít gây rối loạn nhịp tim ở người khỏe mạnh. Tuy nhiên, người bị bệnh tim hoặc huyết áp có thể nhạy cảm với đường và lượng kali cao trong mít.
- Tăng men gan, suy gan – tim: Không có nghiên cứu khoa học đáng tin cậy nào chứng minh mít gây suy gan hay suy tim nếu ăn ở mức bình thường. Những hậu quả này chỉ có thể xảy ra trong điều kiện ăn cực kỳ quá mức và người đã có bệnh nền nghiêm trọng.
Tóm lại:
- Câu này dùng ngôn ngữ quá nặng, dễ gây sợ hãi.
- Chỉ có “đầy bụng” là có thể đúng. Còn lại cần chỉnh sửa cho khoa học và trung lập hơn.
HCD: Sang món trái cây thứ ba
- Xoài chín ngọt
- Rất giàu đường tự nhiên (fructose, sucrose).
- Làm tăng đường huyết nhanh, dễ gây đột quỵ, mệt tim.
- Người cao tuổi dễ ăn quá lượng vì vị ngọt dễ nghiện.
1. "Rất giàu đường tự nhiên (fructose, sucrose)."
Đúng
- Xoài chín chứa nhiều đường tự nhiên, bao gồm fructose, glucose và sucrose, nhất là khi chín đậm.
- Chỉ số đường huyết (GI) của xoài nằm ở mức trung bình đến cao, tùy độ chín.
Sai hoặc phóng đại
- Tăng đường huyết nhanh: Đúng với người tiểu đường hoặc khi ăn lượng lớn, đặc biệt là xoài chín ngọt.
- Gây đột quỵ, mệt tim: Đây là kết luận không có cơ sở khoa học rõ ràng. Không có nghiên cứu nào nói ăn xoài có thể gây đột quỵ hay suy tim trực tiếp. Đột quỵ thường do cao huyết áp, mỡ máu, xơ vữa mạch máu..., không phải từ một loại trái cây ngọt.
Nếu người bệnh tim mạch hoặc tiểu đường ăn quá nhiều xoài, về lâu dài có thể góp phần làm tăng đường huyết, tăng mỡ máu → gián tiếp làm tăng rủi ro, nhưng không thể nói xoài gây đột quỵ hay mệt tim trực tiếp.
- “Tăng đường huyết nhanh” là đúng.
· “Dễ gây đột quỵ, mệt tim” là không đúng, cần chỉnh sửa hoặc bỏ.
HCD: Sang trái cây khác
4. Chuối chín dục (quá chín)
o Giàu kali, đường, mềm nhũn, ngọt gắt.
o Với người già thận yếu, kali không đào thải kịp → loạn nhịp, ngưng tim.
o Nguy cơ tương tác nguy hiểm với thuốc huyết áp, tim mạch.
1. “Giàu kali, đường, mềm nhũn, ngọt gắt.”
Chính xác
· Chuối chín chứa nhiều kali – đúng. Trung bình 1 quả chuối (~100g) cung cấp khoảng 350–400mg kali, là mức cao so với nhiều loại trái cây khác.
· Khi chuối chín dục (quá chín), hàm lượng đường tăng mạnh do tinh bột chuyển hóa thành đường đơn (glucose, fructose), tạo vị ngọt gắt.
· Mềm nhũn là mô tả đúng về độ chín cao.
Tóm lại: Câu này đúng hoàn toàn.
2. “Với người già thận yếu, kali không đào thải kịp → loạn nhịp, ngưng tim.”
Có cơ sở khoa học, nhưng cần nói rõ hơn
· Kali thừa (tăng kali máu) là tình trạng nguy hiểm, có thể dẫn đến:
o Loạn nhịp tim
o Ngưng tim đột ngột (trong trường hợp nặng)
· Ở người già thận yếu, khả năng đào thải kali giảm. Nếu ăn nhiều chuối (hoặc thực phẩm giàu kali) mà không kiểm soát, có thể gây tăng kali máu.
· Tuy nhiên, việc ăn 1–2 quả chuối/ngày ở người khỏe mạnh thường không gây hại.
· Nguy cơ chỉ đáng lo khi:
o Chức năng thận suy giảm rõ rệt
o Đang dùng thuốc giữ kali (như spironolactone, ACEI...)
Tóm lại: Nhận định này đúng với người có bệnh thận, nhưng cần nhấn mạnh là không đúng với người khỏe mạnh. Nên nói rõ "người có bệnh thận hoặc đang dùng thuốc giữ kali".
5. Nhãn
o Đường cao, tính nhiệt mạnh.
o Gây tăng huyết áp, mất ngủ, rối loạn nhịp tim nếu ăn lúc đói hoặc buổi tối.
o Đặc biệt nguy hiểm với người có bệnh nền tim mạch, gan yếu.
Câu nói về nhãn tiếp tục là một ví dụ điển hình về việc trộn lẫn giữa kiến thức đúng, quan niệm dân gian và những khẳng định phóng đại, có thể gây hiểu lầm nếu không được trình bày cẩn trọng. Dưới đây là phân tích chi tiết từng ý:
1. “Đường cao, tính nhiệt mạnh.”
Đúng một phần
· Nhãn chứa nhiều đường (glucose, fructose, sucrose). 100g nhãn có thể cung cấp khoảng 15–17g đường, thuộc nhóm trái cây có chỉ số đường huyết (GI) cao.
· Tính nhiệt mạnh: Đây là nhận định theo y học cổ truyền – nhãn được xem là “nóng”, có thể gây “bốc hỏa”, “nhiệt miệng”, “nổi mụn”… nếu ăn nhiều.
Tóm lại:
· “Đường cao” đúng theo khoa học.
· “Tính nhiệt” đúng theo Đông y, nhưng không phải khái niệm dùng trong y học hiện đại.
· Câu này có thể chấp nhận được nếu phân biệt được 2 nền y học.
2. “Gây tăng huyết áp, mất ngủ, rối loạn nhịp tim nếu ăn lúc đói hoặc buổi tối.”
Phóng đại và thiếu bằng chứng khoa học rõ ràng
· Tăng huyết áp: Không có nghiên cứu cho thấy nhãn làm tăng huyết áp ở người khỏe mạnh. Tuy nhiên:
o Nhãn nhiều đường, nên có thể làm tăng đường huyết đột ngột, gián tiếp kích thích thần kinh giao cảm, khiến người bị cao huyết áp nhạy cảm hơn. Nhưng không thể nói nhãn gây tăng huyết áp ở tất cả mọi người.
· Mất ngủ:
o Theo Đông y, nhãn có thể bổ huyết, an thần nếu dùng đúng cách (ví dụ: long nhãn nấu chè).
o Tuy nhiên, do chứa nhiều đường, nếu ăn nhiều vào buổi tối → tăng đường huyết, rối loạn chuyển hóa → gây khó ngủ ở một số người.
· Rối loạn nhịp tim:
o Không có bằng chứng nào cho thấy nhãn trực tiếp gây loạn nhịp tim.
o Tuy nhiên, người có bệnh tiểu đường, tim mạch, ăn nhiều đường đơn có thể dẫn tới dao động đường huyết, ảnh hưởng gián tiếp tới nhịp tim.
Tóm lại:
· Chỉ nên nói là “có thể gây khó chịu hoặc ảnh hưởng đến giấc ngủ nếu ăn nhiều vào tối hoặc lúc đói” – không nên nói là gây tăng huyết áp, loạn nhịp một cách chắc chắn.
HCD: Sang trái cây khác
6. Dưa hấu lạnh
o Gây co mạch đột ngột, tụt huyết áp, tim đập loạn, sốc nhiệt.
o Gây tiểu đêm, mất ngủ, mỏi mệt nếu ăn vào buổi tối.
o Nên ăn ở nhiệt độ phòng, tránh để tủ lạnh quá lâu.
Câu nói về dưa hấu lạnh có một số điểm đúng trong bối cảnh y học thực hành và sinh lý học, nhưng nhiều chỗ diễn đạt chưa chuẩn hoặc có xu hướng cường điệu hóa tác hại. Dưới đây là phân tích chi tiết:
1. “Gây co mạch đột ngột, tụt huyết áp, tim đập loạn, sốc nhiệt.”
Phóng đại, cần làm rõ và diễn đạt lại chính xác hơn
· Dưa hấu lạnh (vừa lấy từ tủ lạnh ra) khi ăn quá nhanh hoặc khi đang nóng (sau vận động, ra mồ hôi...) có thể gây:
o Co mạch tạm thời ở niêm mạc miệng – thực quản – dạ dày, tạo cảm giác “tê”, “đau bụng”, “lạnh bụng”, nhưng hiếm khi gây co mạch toàn thân hay tụt huyết áp.
· Tụt huyết áp, tim loạn nhịp, sốc nhiệt:
o Không có bằng chứng khoa học nào cho thấy dưa hấu lạnh trực tiếp gây các phản ứng nghiêm trọng như sốc nhiệt hay loạn nhịp tim ở người bình thường.
o Những phản ứng như vậy chỉ có thể xảy ra trong điều kiện đặc biệt, như:
§ Người cao tuổi, có bệnh tim mạch nặng, huyết áp thấp, mẫn cảm với lạnh
§ Ăn một lượng lớn dưa hấu lạnh đột ngột, sau khi cơ thể đang ở trạng thái mất cân bằng nhiệt (ví dụ: vừa đi nắng về)
Tóm lại:
· Có thể gây khó chịu, đau bụng lạnh, ảnh hưởng tiêu hóa ở người nhạy cảm, nhưng không nên dùng từ "sốc nhiệt", "loạn nhịp" hay "tụt huyết áp" như thể là phản ứng phổ biến.
HCD: Sang trái chà là khô
7. Chà là khô
o Chứa tới 70% đường (glucose, fructose tinh khiết).
o Gây tăng đường huyết nhanh, sốc tim mạch, suy gan – tụy.
o Rất nguy hiểm nếu dùng như bữa sáng thay thế liên tục.
Chà là khô cũng giống như các câu trước: có điểm đúng, nhưng lại chứa nhiều yếu tố cường điệu, thậm chí sai lệch về mặt y học nếu không giải thích rõ bối cảnh. Dưới đây là phân tích chi tiết:
1. “Chứa tới 70% đường (glucose, fructose tinh khiết).”
Đúng về thành phần dinh dưỡng
· Chà là khô (dried dates) chứa khoảng 65–75% carbohydrate, phần lớn là đường đơn tự nhiên như:
o Glucose
o Fructose
o Sucrose (tùy loại)
· Chính vì vậy, chà là khô có chỉ số đường huyết (GI) cao, mặc dù có chất xơ và chất chống oxy hóa.
Tóm lại: Nhận định này chính xác.
Cường điệu hóa, không chính xác về mặt khoa học
· Tăng đường huyết nhanh: Đúng – do lượng đường đơn cao. Người bị tiểu đường, đề kháng insulin, hoặc hội chứng chuyển hóa cần đặc biệt cẩn trọng khi ăn chà là khô.
· Sốc tim mạch: Không đúng.
o Không có bằng chứng cho thấy ăn chà là có thể gây sốc tim mạch ở người bình thường.
o Nếu ăn quá nhiều đường liên tục trong thời gian dài, có thể làm tăng nguy cơ xơ vữa động mạch, cao huyết áp, nhưng đó là ảnh hưởng gián tiếp, lâu dài, không phải "sốc" cấp tính như cách dùng từ ở đây.
· Suy gan – tụy: Không đúng.
o Chà là không có độc tính với gan hay tụy.
o Tuy nhiên, nếu dùng quá thường xuyên với lượng lớn, ở người có bệnh lý chuyển hóa như gan nhiễm mỡ, tiểu đường, viêm tụy mạn, thì có thể làm nặng thêm bệnh nền. Nhưng không có chuyện gây suy gan, suy tụy trực tiếp từ chà là.
Tóm lại:
· “Tăng đường huyết” đúng.
· “Sốc tim mạch”, “suy gan – tụy” là những khẳng định sai hoặc cực đoan, không dựa trên bằng chứng khoa học.
Huỳnh Chiêu Đẳng Biên Soạn




