Thứ Ba, 30 tháng 4, 2024

Sài Gòn Bây Giờ Buồn Không Em - Sáng Tác: Song Ngọc - Tiếng Hát: Lệ Thu


Sáng Tác: Song Ngọc
Tiếng Hát: Lệ Thu

Chiêu Hồn Tử Sĩ

 
(Ảnh: Nhiếp Ảnh Gia Ngọc Hạnh)

Nước mất nhà tan luống nghẹn ngào
Mệnh chung tổ quốc vấn tang nhau
Đời tù không tội mồ hoang lạnh
Chim Việt cành Nam ngấn lệ trào

Đất khách ly hương trọn ý tình
Chiêu hồn tử sĩ thác anh linh
Trung kiên tuẫn tiết còn lưu đấy
Tô đẹp muôn đời gót chiến chinh


Kim Phượng
30.4.2024

Lời Nguyện Cầu Tháng Tư

   

Nơi đây thiếu ánh nắng hè
Không đủ sưởi ấm nhạc ve im lìm
Nơi đây thu sầu chiêu niệm
Tháng Tư gục đầu chết lịm đớn đau
Nơi đây mây phủ ngang đầu
Chít màn khăn trắng chung sầu Quốc tang
Nơi đây héo hắt tâm can
49 năm vẫn bàng hoàng vần vũ
Nơi đây sương giăng bao phủ
Trăng lu mờ cờ rủ tối Ba Mươi
Nơi đây huyết lệ ngậm ngùi
Nén hương cầu nguyện xác vùi biển đông
Nơi đây bia mộ tạc lòng
Tri ân Chiến Sĩ giống giòng hùng anh
Nơi đây mặc niệm xin dành
Hồn thiêng sông núi yên lành nghỉ ngơi

Kim Oanh
Melb. 30.4.2024


Nhớ Chuyện Chúng Mình

 

Lòng vẫn chưa quên chuyện chúng mình
Từ thời áo trắng, tuổi thư sinh
Em còn gối mộng nơi khuê các
Anh vội lên đường buổi chiến chinh
Những tưởng quê hương tàn khói lửa
Nào ngờ dân tộc đắm điêu linh
Hôm nay giữa đất trời xa lạ
Anh biết tìm đâu một bóng hình!


Nguyễn Kinh Bắc



Nhớ Cố Hương



" Tuổi trẻ nước còn lo ngăn giặc
Bạch đầu vong quốc nhớ cố hương"

Nước mất còn cố hương
Yêu quê phải ly hương
Đất khách đời quạnh quẽ
Quê người kiếp tha phương

Muôn loài sống hang ổ
Nước mất còn núi sông
Loài người yêu đất tổ
Mất nước phải lưu vong

Nước mất còn quê hương
Quê hương cách đại dương
Những đêm rằm trăng sáng
Quay quắc nhớ cố hương

Tôn Thất Hùng
 

Nỗi Buồn Tháng Tư



Sen hồng chớm nụ rước hè sang
Tờ lịch Tháng Tư xé lệ tràn
Ngẩn mặt thương nhà tan nát dạ
Cúi đầu hận nước tím bầm gan
Rừng vàng thuở ấy xa biền biệt
Biển bạc từ lâu cách ngút ngàn
Biết đến bao giờ châu phố hiệp
Rượu mừng ly cụng tiếng cười vang

Phương Hoa
APR 2, 2024
 

Đêm Cuối Cùng Ở Hòn Tre



Gối đầu trên tiếng gió xa
nằm nghe biển gọi sóng va vách ngoài
trở mình tìm chút an bài
thấy đêm vẫn tối bóng hình hài trôi

Mới hay biển mặn pha đời
trong yêu thương lẫn ngọt bùi đắng cay
những căn nhà nấp hàng cây
theo hơi sương phủ kín ngày tháng sau

Nửa đêm bãi Dứa nghiêng đầu
nghe câu vọng cổ nỗi sầu thế nhân
nhà ai đèn thắp thật gần
nửa đưa tiễn ngọn nửa cầm chân đêm...

Cúi đầu từ biệt cố hương
sao lòng nghe lạnh những thương nhớ đầy
bóng người tưởng một vòng tay
nào ngờ biển rộng sóng dài trăm năm...

Durham, North Carolina
Nguyễn Vĩnh Long


Mỗi Năm

 

Mỗi năm tôi nhớ một ngày:
ngày tôi mất nước
và mất tất cả:
Núi Ngự,sông Hương, trường xưa, xóm cũ
Góc phố Tự Do, con đường Công Lý

Mỗi năm tôi sống lại một lần
nỗi gian truân, cảnh hãi hùng phút cuối
Nhớ bến Bạch Đằng, hải quân công xưởng
chật ních người chen
Nhớ thằng bé lên năm
sẩy tay mẹ
rớt xuống sông chìm mất xác
Nhớ viên phi công máy bay trinh sát
nhảy ra cửa phi cơ, rơi xuống biển
đầu không ngoi lên mặt nước

Mỗi năm tôi tìm về một đêm
thấy mình trên đảo
ngồi trước căn lều thao thức
lòng trăm mối ngổn ngang
Nơi chờ đến
mình không muốn đến
Chốn chọn về
không biết sẽ về đâu

Mỗi năm, mỗi ngày
tôi nhắc tôi phải nhớ:
tôi là thằng tôi tị nạn
tôi là thằng tôi bị tước mất quê hương
tôi là thằng tôi ngong ngóng ngày về
một ngày về
không bao giờ còn tính chuyện phải ra đi

Mỗi năm, trải bao năm
trắng đen nhìn đã rõ:
Núi sông này
không phải đất của phi nhân
không phải đất để gieo mầm tội ác
Núi sông này
là gia sản của cha ông
lấy nhân nghĩa dựng gầy nên xã tắc

Trang Châu
Tháng 4/ 2024

Thứ Hai, 29 tháng 4, 2024

Về Thăm Mộ Chàng - Thơ: Tâm Tiễn - Phổ Nhạc: Liên Bình Định - Hòa Âm: Quang Đạt Studio - Tiếng Hát: Diệu Hiền


Thơ: Tâm Tiễn
Phổ Nhạc: Liên Bình Định
Hòa Âm: Quang Đạt Studio
Tiếng Hát: Diệu Hiền

Đừng Trở Lại Sài Gòn - Thơ:Trần Trung Đạo - Nhạc: Phạm Anh Dũng - Trình Bày: Tâm Thư


Thơ:Trần Trung Đạo
Nhạc: Phạm Anh Dũng
Trình Bày: Tâm Thư

Còn Vương Kỷ Niệm

 

Chân trời ngàn dặm xa xăm
Quê hương nơi ấy bao năm xa vời
Đại dương sóng cả chân trời
Để ai khắc khoãi đoạn đời tuổi thơ
Nghìn năm sóng bể vỗ bờ
Hải âu bay lượn lững lờ chòm mây
Thuyền câu cặp bến khoan đầy
Cá tươi quãy gánh đường dài chợ đông
Lúa xanh bát ngát hương đồng
Từng đàn cò trắng lượn vòng lũy tre
Nắng trưa đánh đáo bên hè
Vi vu tiếng sáo diều tre lượn lờ
Tung tăng bới lội bên bờ
Giòng sông lấp lánh cánh cò trắng bay
Cô nàng má đó hây hây
Chống đò đưa khách tháng ngày bên sông
Mênh mang kỷ niệm tuổi hồng
Còn không mây nước xa trông mịt mờ
Người đi bến đợi sông chờ..........!
Lũy tre khóm trúc trăng thơ ngày nào ...


Ngư Sĩ

Xa Nhau Tháng Tư

 

Xa nhau ngày đó tháng tư về
Lạc mất tình xuân lỗi hẹn thề
Chia cắt đôi bờ xa khuất bóng
Cõi hồn thương nhớ buồn lê thê.

Dấu đi góc khuất một hồn thơ
Tiếng nấc chưa ngưng vẫn đợi chờ
Ngôn ngữ còn tuôn đầy nỗi nhớ
Lòng như chất chứa đầy trong mơ.

Người yêu biển nhớ mối tình đầy
Biền biệt tha phương giữa chốn này
Mỏi cánh chim bay trời gió lạnh
Buồn nào day dứt ngày chia tay.

Cơn đau thân phận cũng qua mau
Số phận chia đôi cả nỗi sầu
Năm tháng vấn vương ngày ly biệt
Tháng Tư, vận nước đã thay màu.

Tế Luân

Tuyết Không Đổ Giữa Đêm Hè

 

Tuyết không đổ giữa đêm Hè
Mùa Xuân không có tiếng ve gợi sầu
Tình không hẹn bến giang đầu
Thu không lá úa ai sầu hơn ai
Em đang cần một bò vai
Đưa em ra khỏi đêm dài âu lo
Qua mùa rét mướt co ro
Thì Anh sẽ tới đưa đò em qua
Một lần ân ái thiết tha
Yêu nhau giây phút tới già chưa quên
Một lần thắp ngọn nến lên
Soi cho rõ cõi thần tiên tuyệt vời
Một lần đẹp nhứt trong đời
Vòng tay mở rộng anh mời em vô
Đắm say trên vũng mơ hồ
Quên đi ngày tháng cằn khô hững hờ
Phút giây khao khát mong chờ
Môi anh khép kín hai bờ môi em
Thế rồi vứt bỏ y xiêm
Như đôi rắn nhỏ rất mềm quấn nhau
Thế rồi quên cả cơn đau
Và quên ngày tháng qua mau bên đời
Môi em nở một nụ cười
Chơi vơi quên cả tuyết rơi đêm hè

Mường So Đèo Văn Trấn

秋泉 Thu Tuyền 薛濤 Tiết Đào Xiē Tāo(Trung Đường)

 

Nguyên tác         Phiên âm

秋泉                    Thu Tuyền

冷色初澄一帶烟 Lãnh sắc sơ trừng nhất đới yên
幽聲遥瀉十絲弦 U thanh dao tả thập ty huyền
長來枕上牽情思 Trường lai chẩm thượng khiên tình tứ
不使愁人半夜眠 Bất sử sầu nhân bán dạ miên

Tiết Đào Lý Dã Thi Tập - Đường - Tiết Đào 薛濤李冶詩集-唐-薛濤
Vạn Thủ Đường Nhân Tuyệt Cú - Tống - Hồng Mại 萬首唐人絕句-宋-洪邁
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全 唐詩-清-聖祖玄燁 cho dị bản sầu 愁 thay vì tình 情 trong câu 3.

Ghi chú:

Thu: mùa thu tượng trưng cho buồn, nên Tiết Đào mượn mùa thu để viết về nỗi buồn
Trừng: rõ.
Tả: âm thanh có tính lan tỏa.
Huyền: chỉ đàn dây lớn.
Trường lai: dài hạn, đến thường xuyên, bất tận
Bất sử: đừng làm

Dịch nghĩa:

Suối Mùa Thu

Suối lạnh lẽo, dãi sương mù trên núi dần dần tan biến,
Tiếng suối trong đêm thanh vắng tỏa ra như tiếng đàn mười dây.
Âm thanh vô tận, nằm gối đầu cảm xúc trằn trọc đã lâu,
Hơn nửa đêm người buồn vẫn chưa ngủ được.

Dịch thơ:

Tiếng Thu

Suối lạnh đêm dài khói núi tan,
Đêm thanh róc rách như ai đàn.
Âm thanh bất tận nằm cô quạnh,
Gần sáng tình sầu vẫn chứa chan.

Autumn Spring by Xie Tao

Spring water was cold and clear, and the single layer of smoke (fog) on the mountains slowly disappeared
The running water in the quiet night sounded like the ten-string zither.
The sound was endless; head resting on a pillow, I felt lonely and sad,
And could not fall asleep until past midnight.

Phí Minh Tâm
***

Chú giải

初澄 sơ trừng: vừa mới lắng xuống, trong trẻo..
一帶烟 nhất đới yên: một dải mây.
幽聲 u thanh: âm thanh u-ẩn.
遥瀉 dao tả: diễn tả từ xa xa, xa xa nghe như…
十絲弦 thập ti huyền: cây đàn 10 dây.
長來 trường lai: nghĩa đen là: tới lâu dài, Trong câu này có nghĩa lả ở bất tận.
牽 khiên: Dắt đi; tiến thoái không được tự do cũng gọi là khiên.
牽情思 khiên tình tứ: bị tâm tư dẫn dắt đi bất định; dịch thoát là trằn trọc suy nghĩ.
長來枕上牽情思 Trường lai chẩm thượng khiên tình tứ: Nghĩa đen là: đầu kê trên gối quá lâu, trằn trọc suy nghĩ. Dịch thoát là: kê đầu trên gối nằm trằn trọc.
不使愁人半夜眠 bất sử sầu nhân bán dạ miên: nghĩa đen là: chẳng khiến cho người đang buồn rầu ngủ được suốt nửa đêm đài; dịch thoát là: lòng buồn, tới quá nửa đêm vẫn chưa ngủ được; Dịch gọn là: Quá nửa đêm buồn ngủ chẳng an.

Dịch nghĩa

Suối thu

Nước suối lạnh, sương khói tan dần,
Tiếng suối reo âm-u như tiếng đàn mười dây.
Kê đầu trên gối nằm trằn trọc đã lâu,
Lòng buồn, tới quá nửa đêm vẫn chưa ngủ được.

Dịch thơ

Suối Thu

Suối lạnh màn sương khói mới tan,
Âm-u như gẩy chục dây đàn.
Kê đầu trên gối nằm trằn trọc,
Quá nửa đêm buồn ngủ chẳng an.

Con Cò
***
Suối Thu

Suối lạnh núi cao sương dần tan biến
Róc rách đêm thanh như tiếng đàn khơi
Gối đầu trằn trọc âm vọng khôn ngơi
Nửa đêm về sáng chẳng vơi nỗi sầu

Kim Oanh
***
Suối Thu.

Suối lạnh sương mờ khói núi bay,
Tiếng reo vọng lại tưởng đàn dây.
Gối đầu trằn trọc tơ vương mãi,
Quá nửa đêm sầu giấc chẳng say.

Mỹ Ngọc 
Apr. 5/2024.
***
Suối Vào Thu

Suối lạnh khói mờ sương mãn khai
Đêm thanh nước chảy ngỡ đàn ai
Âm trong thánh thót… buồn cô đọng
Trăn trở đêm dài sầu chẳng phai

Kiều Mộng Hà
Austin.4.5.24
***
Suối Thu

Khí lạnh vừa ngưng sợi khói bay
Suối từ thanh vắng tựa đàn dây
Đã lâu bên gối gieo tình tứ
Chẳng khiến người sầu dỗ giấc say!

Lộc Bắc
***
Thu Tuyền

Sương khói tan dần chốn lãnh tuyền
Suối reo đêm vắng tựa đàn huyền
Âm thanh vang vọng chập chờn giấc
Trăn trở thâu đêm nỗi muộn phiền

Thanh Vân
***
Năm 2019, BS có viết bài “ Lá Gió Cành Chim “, nhắc tới 2 câu thơ của Tiết Đào, làm tiếp thơ của cha là Tiết Trịnh:

Chi nghinh nam bắc điểu,
Diệp tống vãng lai phong,

mà Tố Như đã mượn ý mà viết trong Kiều:

Dập dìu lá gió cành chim,
Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh.

BS kể về cuộc đời thăng trầm của nàng và mối tình với Nguyên Chẩn.. Tiết là người có tài, có sắc mà đa truân, sau chán đời, đi tu.
Bài thơ anh Tâm đưa ra rất hay, nhưng dịch hơi khó.

Chữ Thu, anh Giám giải thích khác với Tạ Quang Phát trong “Hán Văn Giải Tự”: thu giả bách cốc thành thục chi kỳ, thu vi thu thành.

Chữ Sầu, là ghép 2 chữ Thu và Tâm : cảnh mùa thu làm lòng người buồn bã.

Suối Thu

Suối lạnh xuôi dòng, khói đã tan,
Âm thanh văng vẳng tựa ai đàn,
Mơ màng trên gối, lòng xao xuyến,
Khiến kẻ u buồn giấc chẳng an.

Bát Sách.
(ngày 06/04/2024)
***
Thơ Cảm Tác:

Mái tôn tí tách mưa đàn
Nhạc trời ủ rũ tuôn màn nước rơi
Em ở đâu? Anh một nơi
Tình nồng nhớ lại hết ngơi đêm dài!

Đồ Cóc

***
Góp Ý

Tôi không dùng Hán Văn Giải Tự nên không biết Tạ Quang Phát lấy câu "thu giả bách cốc ... " từ đâu ra nhưng câu văn đó là như thế này trong Khâm Định Tứ Khố Toàn Thư: 麦秋至秋者百榖成熟之期此于时虽夏于麦则秋故云麦秋也汲蒙书作小暑至=mạch thu chí thu giả bách cốc thành thục chi kỳ thử vu thì tuy hạ vu mạch tắc thu cố vân mạch thu dã cấp mông thư tác tiểu thử chí. [ 蒙书=mông thư hình như loại sách không rõ xuất xứ, hay không chính xác, và toàn câu lược dịch thành: mạch thu chí là lúc ngũ cốc chín, lúc đó tuy còn là mùa hạ nhưng vì lúa mạch chín nên cũng là mùa thu, và vài sách viết thành tiểu thử chí]

Đây là một đoạn văn nói về tứ thời bát tiết. Vì văn trong Tứ Khố Toàn Thư không có chấm câu, TQ Phát - một người theo Tây học rồi tự hoc chữ Hán! - bắt đầu câu thiếu chữ 麦=mạch ở đầu câu rồi hiểu tào lao; câu đó nói về 至=chí mạch thu, không phải là câu định nghĩa mùa thu hay giải thích ngữ nguyên của từ thu.

***
Mùa thu và nỗi buồn trong văn thơ Hoa Lục.

Nhiều người Tàu dùng câu 秋字下加心是愁=thu tự hạ gia tâm thị sầu [chữ thu thêm tâm ở dưới là sầu] khi bàn về bài Thu Tuyền này y như thể muốn giải thích ngữ nguyên của chữ 愁=sầu, nhưng có đúng vậy không?

Từ 秋=thu bây giờ viết với bộ 禾=hòa và từ 火=hỏa. Đây không phải là lối đặt chữ hình thanh mà có thể xem như là hội ý, hoặc hàm nghĩa lúa chín đầu thu, hay sự kiện người Tàu đốt ruộng lúa sau mùa gặt (để giết trứng côn trùng). Giải thích thứ nhì có vẻ hợp lý hơn vì chữ giáp cốt văn nguyên thủy cho thu vẽ hình một con côn trùng nào đó ở trên núi, hay từ núi đến (h. 1). Quách Mạt Nhược nghĩ rằng đây là hình tượng con dế kêu trong mùa thu; nhưng cũng có thể rằng đây là hình vẽ con cào cào – nạn cào cào cắn lúa là thiên tai tạo nhiều nạn đói xưa nay. Lối viết cho thu thay đổi dần với thời gian, một phần có lẽ vì nạn Tần Thủy Hoàng đốt sách, các bộ 禾 và 火 xuất hiện với hàm ý không rõ, nhưng tôi vẫn tìm được các lối viết này (h. 2,3)


và thế có nghĩa rằng, trong một thời điểm nào đó, người Tàu xem mùa thu là mùa đốt rơm rạ ngoài ruộng để ngừa côn trùng trước mùa trồng trọt tới.

Từ 愁=sầu, trái lại, là một từ hình thanh, viết với bộ 心 và âm 秋, và chỉ có mặt trong tiểu triện, nghĩa là ra đời sau 秋 rất xa.

[《說文》: 憂也。从心,秋聲 Thuyết Văn: ưu dã. tòng tâm, thu thanh ]

Thời bây giờ hai từ 愁=sầu/chóu và 秋=thu/qiū phát âm khác nhau trong tiếng Tàu lẫn Việt nhưng thời cổ cả hai đều phát âm với nguyên/chánh âm /iw/. Và như thế có nghĩa rằng, cho dù mùa thu có thể là hình tượng của nỗi buồn, thu không phải là ngữ nguyên cho sầu.

Huỳnh Kim Giám

Đường Bộ Vượt Biên

 

Tôi bán hàng giải khát trước cổng nhà máy, khách hàng là những công nhân, bộ đội và cán bộ trong nhà máy. Tôi là “mụ” bán hàng “phản động” luôn tơ tưởng đến chuyện vượt biên. “tri kỷ” của tôi có chị Ky buôn bán ở xa cảng miền Tây, nghề mới của chị sau cuộc đổi đời 1975, trước kia chị là nhân viên một ngân hàng quận Gò Vấp. Chị Ky là hàng xóm, hôm nào ghé quán tôi không chỉ để uống ly đá chanh, uống ly cà phê mà cũng là dịp cùng tôi tâm tình than thở cuộc sống dưới thời xã hội chủ nghĩa, mơ ước chuyện vượt biên.

Một hôm chị Ky ghé vào quán vui mừng báo tin con gái chị đi cùng với em gái chị ở Xóm Mới vượt biên đường bộ từ Campuchia sang Thái Lan êm ru trót lọt chỉ trong vòng 3 tuần lễ, dân Xóm Mới tin tưởng đường dây tổ chức vượt biên này lắm, nhà nọ đi được giới thiệu nhà kia, tất cả ba bốn chuyến đều thành công.

Người tổ chức là “Anh Minh bộ đội
”. Anh Minh người miền Bắc, là bộ đội từng đóng quân ở Campuchia nên anh Minh rất rành đường đi nước bước và quen biết nhiều, những chuyến xe chở khách vượt biên anh Minh đều “mua” bến bãi cả, thậm chí nếu bị lính Miên bắt anh Minh vẫn có thể “chạy” ra. Cuối cùng chỉ cần vượt qua một eo biển nhỏ là sang đất Thái.
Nghe chuyện vượt biên là tôi mê liền, lại là đường bộ tôi càng mê vì tôi tin là an toàn hơn đường biển, nhưng tôi hơi khựng lại, vụ này vẫn phải đi qua biển. Chị Ky thản nhiên:
- Chỉ một khúc biển nhỏ thôi, thuyền anh Minh chở người sang đó và quay thuyền về ngay như đi chợ ấy mà.

Nghe thế tôi hào hứng muốn cho Thoa đứa em gái áp út đi dù cha và các em tôi đang có giấy tờ bảo lãnh đi Mỹ. Tôi sốt ruột, đợi chờ bảo lãnh lâu quá, phí phạm thời gian tuổi trẻ của Thoa, mà đi vượt biên dễ dàng như thế này, không phải trả trước đồng nào tội gì không thử, nếu chuyến đi không thành công thì Thoa về nhà lại chờ đợi bảo lãnh, chẳng sứt mẻ gì. Tối về tôi bàn với bố và các em, tôi nói đường dây tổ chức rất tốt, nhất là đường bộ không có mưa bão sóng gió hiểm nguy, không lo hải tặc cướp bóc. Bố tôi nói nếu Thoa đồng ý đi thì bố cũng tán thành, Thoa nghe tôi ca tụng chuyện vượt biên ngon lành nó đồng ý liền, cứ làm như sắp được “du lịch” Campuchia. Thế là tôi nhờ chị Ky giới thiệu “Anh Minh bộ đội”.

Anh Minh đến quán như một người khách vào uống nước nhưng chúng tôi đã trao đổi chuyện trò. Giá cả là 3 cây vàng, đúng như chị Ky nói không phải trả trước xu nào, khi tôi nhận được tin nhắn của người thân đã bước chân sang đất Thái Lan thì mới chung tiền. Tôi kỳ kèo trả giá mỏi miệng từ 3 cây vàng xuống…1 cây vàng rồi nhúc nhích lên từ từ tới 2 cây rưỡi. Anh Minh sốt cả ruột:
- Tổ chức một chuyến vượt biên là bao công phu, bao tốn kém mà chị mặc cả như mua con cá bó rau ngoài chợ.
- Tại tôi quen trả giá khi đi chợ rồi, đi vượt biên cũng có quyền trả giá chứ anh.
Cuối cùng anh Minh chịu bớt 5 chỉ vàng. Tôi hân hoan nghĩ thầm “Anh Minh chắc giá thế, là tiền nào của nấy” chuyến vượt biên sẽ an toàn cao.
……………………
Thoa đã sửa soạn vài thứ đồ dùng tối cần thiết cho chuyến đi vượt biên . Tôi đưa cho Thoa một chỉ vàng mà tôi đã thuê anh thợ bạc ở Xóm Mới cán mỏng ra làm mấy miếng và vài cục gum để mang theo, khi nào bắt đầu vào cuộc hành trình có vẻ gian nan thì nhai gum ra và dán dính những miếng vàng này vào trong mái tóc để tránh bị rơi rớt và tránh cả kẻ cướp. Nghĩ tới phải qua một khúc đường biển mới sang đến đất Thái tôi liền tức tốc đi mua một cái phao nhỏ và dặn Thoa, tôi nói chung chung, kiêng cử không dám nói đến cảnh nguy biến nước tràn vào thuyền vì sợ bị xui xẻo:
- Khi nào… cần thiết thì thổi phao lên mà…xài. Nếu Thoa không đủ sức thổi cái phao thì nhờ mấy đàn ông chung chuyến thổi giùm.
Nhưng Thoa nghĩ sao nói vậy:
- Chị ơi giây phút đắm tàu thì ai rảnh mà thổi phao giùm mình? Có khi họ cướp cả phao của em luôn, có khi chưa kịp thổi phao thì nước đã cuốn phăng cả người và phao ra biển rồi.
- Ấy chết em đừng nói những điều ghê gớm ấy, thuyền chỉ đi qua một eo biển nhỏ …êm đềm thôi mà.

Tôi nào biết eo biển nhỏ ấy ra sao, chỉ nói đại cho xong, tuy trấn an Thoa thế mà lòng tôi càng thêm lo, tôi bắt Thoa thực tập thổi cái phao, nó phồng mang phồng má lên thổi mãi cũng xong.
Gia đình chúng tôi có 2 căn nhà, một căn trong xóm để ở và một căn ngoài mặt đường là nơi kinh doanh quán cà phê giải khát bấy lâu nay. Sau biến cố buồn riêng mẹ mất và biến cố buồn chung tháng Tư 1975, cha con, chị em chúng tôi ở chung nhau, đùm bọc lẫn nhau.

Tuy hai chị em nôn nóng chuyến vượt biên nhưng hôm chồng tôi từ nhà trong chở Thoa ra điểm hẹn ở bến xe Bà Hạt để khởi hành sang Campuchia tôi không dám ở nhà vì tôi biết giây phút tiễn đưa này tôi sẽ không chịu nổi, vội vàng đội chiếc nón lá ra quán giải khát dù hôm nay tôi chẳng còn lòng dạ nào mà bán hàng, vừa đi tôi vừa khóc, nhờ đội nón lá nên hàng xóm không ai biết tôi đang khóc. Ở nhà trong Thoa cũng khóc và chào tạm biệt mọi người, thằng Bi con tôi nằm cuộn chăn trong giường khóc nức nở, Dì cháu cách nhau 9 tuổi, dì là người từng bồng bế cháu khi nó còn bé nên hai dì cháu thân nhau lắm. Cuộc chia tay đầy nước mắt liệu có là điềm …xui xẻo gì không?

Tôi ngồi thẫn thờ ngoài quán nước mà tưởng tượng suy đoán ra từng giai đoạn một: Giờ này Thoa đang ngồi trên chuyến xe đò Bà Hạt. Giờ này xe đò đang chạy đến Mộc Hóa Long An. Giờ này Thoa sang tới đất Campuchia. Giờ này Thoa …đang ở đâu?

Chiều tối tôi dọn hàng về nhà trong xóm, thấy đôi dép Thoa còn để trước cửa tôi lại khóc òa, đôi dép đây mà Thoa thì đi xa. Ôi, giá mà Thoa vượt biên hụt trở về nhà ngay lúc này chắc tôi sẽ mừng vui hơn là thất vọng nữa đấy.

Đã hai lần tiễn hai thằng em đi vượt biển, đứa đến Thái Lan đứa đến Mã Lai, nghe kể lại những ngày hãi hùng lênh đênh trên biển gia đình tôi sợ biển quá rồi, nay Thoa đi vượt biên bằng đường bộ thì đỡ lo hơn. Người đi cảm giác lo lắng hồi hộp bao nhiêu thì người ở nhà cũng bấy nhiêu. Xóm tôi có mấy vụ vượt biển thất bại đau thương, những chuyến tàu bặt vô âm tín, bác hàng xóm một lúc mất mấy đứa con, bác gầy sộc hẳn đi, buồn thảm, phờ phạc thất thần trông bác như một bà điên.
………………….
Ngày từng ngày trôi qua, tôi ăn không ngon ngủ không yên. Tôi chờ tin anh Minh, chờ bóng hình anh cứ như là chờ người yêu. Sau ba tuần thì anh Minh bộ đội đến quán nước gặp tôi, anh đến là có hi vọng có tin vui rồi. Tôi luống cuống pha vội cho anh ly cà phê đá mang ra bàn, anh đưa tôi một mẩu giấy nhàu nhòe Thoa viết vài chữ như sau: “Chị Thanh ơi, em vẫn bình yên”

Trước khi Thoa đi chị em tôi đã có 3 mật hiệu để báo tin về nhà:
1) Mật hiệu ” Ba ơi, con vẫn bình yên” là an toàn 100% nhà cứ việc trả vàng cho anh Minh.
2) Mật hiệu ”Chị Thanh ơi, em vẫn bình yên” là 50/50. Tùy ..
3) Mật hiệu “Anh Thu ơi, em vẫn bình yên” là xấu nhất, bị lừa hay chưa đến Thái Lan. Không trả.
Tôi nghi ngại hỏi anh Minh:
- Nghĩa là hiện nay em tôi cũng như khách trên chuyến vượt biên đang ở trên đất Thái Lan?
- Phải. Chúng tôi đã làm xong nhiệm vụ giao ước. Bây giờ xin chị trả chi phí 2 cây rưỡi vàng.
Tôi trì hoãn:
- Hẹn anh ba ngày nữa tới đây. Tôi cần bàn với gia đình .

Buổi tối về nhà trong, gia đình tôi cùng quây quần bàn bạc, nửa vui nửa lo cái ám hiệu “ba phải” 50/50 kia. Có nghĩa là gì? Không hoàn hảo nhưng cũng không quá xấu? Nếu không giao vàng cho người ta thì mình thành thất hứa. Nếu giao vàng mà Thoa chưa đến nơi thì coi như mất toi món tiền lớn.

Bố tôi quyết định bảo tôi:
- Làm người phải có chữ tín. Con cứ giao vàng cho anh Minh. Mật hiệu lửng lơ thế cũng tạm coi như an toàn rồi. Chứ chờ Thoa đến Thái ổn định viết thư về thì lâu lắm.
Ba ngày sau anh Minh đến quán, tôi trao đủ 2 cây rưỡi vàng cho anh, mặt anh tươi rói nhưng vẫn than thở:
- Không phải ai cũng tử tế sòng phẳng như chị, nhiều người còn đang hẹn chày hẹn cối khi nào con em họ tới Thái Lan gởi thư về có đóng dấu bưu điện Thái Lan họ mới chồng vàng cho tôi.

Anh Minh ra về, anh khen tôi tử tế trả tiền sòng phẳng mà chẳng bớt thêm cho tôi đồng nào trong khi mấy người kia đang lấy cớ quỵt tiền công anh.
………………………
Gần 2 tháng sau thì tôi nhận được thư Thoa gởi từ trại Panatnikhom Thái Lan, có đóng dấu bưu điện Thái Lan đàng hoàng, tôi tự hỏi không biết giờ này anh Minh có đòi thêm được người nào không? Hay họ lại hẹn chày hẹn cối tiếp khi nào con em họ qua tới Mỹ gởi thư về có đóng dấu bưu điện Mỹ mới chịu trả tiền?

Thoa đã ổn định trong trại tị nạn do cao ủy phụ trách, gia đình tôi yên tâm. Lần lượt Thoa viết thư về kể mới biết cuộc vượt biên đường bộ cũng đầy hiểm nguy, mỗi một bước chân đi là một bất trắc đang đón chờ, anh Minh chẳng ba đầu sáu tay, anh Minh chẳng là thần thánh phù phép lo hết được khi qua những trạm lính Miên, khi băng rừng xuyên đêm và chỉ một khúc đường biển mà thật khủng khiếp. Từ thành phố cảng Kompong Som, là thành phố cảng đẹp nhất của Campuchia nhưng thuyền chở khách vượt biên của anh Minh phải tìm một “hóc bà tó” nào đó của biển bên này mà lén lút vượt qua để sang bên kia vùng biển Tha Luông tỉnh Chad của Thái Lan, nào thuyền có “hiên ngang” cặp bến biển Tha Luông như ước mong, họ chở khách ra giữa dòng, đậu lại lửng lơ con thuyền không bến. Nơi đây họ yêu cầu mọi người viết tin nhắn về cho gia đình rồi đợi chiều tối mới đi tiếp. Mọi người trên thuyền như cá nằm trên thớt họ bảo gì nghe nấy dù chỉ…sắp sửa đặt chân lên đất Thái. Đó là lý do Thoa viết mật mã “nửa nạc nửa mỡ.”

Họ đổ khách vào một hòn đảo đá ong lúc 7 giờ chiều. Họ chỉ chỏ bờ Thái bên kia rồi vội vàng quay thuyền trở về đất liền Campuchia. Mọi người nhìn xa mờ thấy một giải đất dài nên cũng tạm yên tâm, tưởng có thể lội bộ tới, nào ngờ chưa biết tính sẽ lội bộ thế nào thì nước thủy triều bắt đầu dâng lên trong vòng một tiếng đồng hồ nước từ từ ngập phủ đảo, lên tới chân, tời đầu gối, tới đùi mọi người, cứ cái đà nước dâng thế này thì cả bọn sẽ bị nhấn chìm trong nước biển. Mọi người kêu la khóc lóc cầu nguyện.

Chẳng lẽ cả đám chịu trận chờ chết thảm cùng nhau, anh Phương một người biết bơi tình nguyện nhảy xuống biển để bơi sang bờ Thái hầu tìm người đến cứu, nhưng anh ta vừa thò chân xuống nước đã kinh hãi vì nước quá sâu, nếu không đủ sức bơi sang bờ kia thì sẽ chết chìm như chơi. Lúc này Thoa nhớ tới cái phao cá nhân của mình liền đưa ra nhờ cánh đàn ông khỏe thổi phao cho căng phồng, đưa phao cho anh Phương Thế là anh Phương chòang cái phao vào nách yên tâm nhảy xuống biển bơi đi thật nhanh, khi anh sang tới bờ bên kia hình bóng anh xa tít mù khơi, thì ra nhìn tưởng gần nhưng đi rất xa. Nếu không có cái phao thì anh Phương không đủ sức bơi và chết chìm trước khi thấy bến bờ Thái.

Anh Phương đã đi tìm gặp dân ở gần đó nhờ họ mang thuyền ra cứu mọi người trên đảo đá ong. Họ chẳng tử tế cứu giùm, mà phải trả công bằng vàng, trong giây phút tử sinh ai dấu vàng ở đâu cũng moi ra trả chủ thuyền để mà sống sót, một vài người thật sự không có vàng thì mượn hay đi ké theo người có vàng cũng xong.

Những lá thư, những điều Thoa kể làm tôi kinh hãi và hối hận vô cùng, chính tôi đã có ý tưởng cho Thoa đi vượt biên, chính tôi đã nghe chị Ky kể chuyện vượt biên đường bộ mà mê tơi lên, cứ tưởng anh Minh tài ba, chở người vượt biên nhởn nhơ trên các nẻo đường Campuchia và bước chân sang Thái Lan như khách lãng du. Nếu Thoa có mệnh hệ nào thì tội của tôi to như cái đình và chắc tôi sẽ khổ đau điên dại giống như bác hàng xóm kia.

Sau vài ngày, sau vài thủ tục khai báo tại trại nhỏ, cả đám được chuyển đến trại tị nạn lớn. Tại đây Thoa mới biết thời gian này trở đi sẽ có cuộc thanh lọc ai đủ tiêu chuẩn đậu thanb lọc mới có cơ hội đi định cư nước thứ ba.

Người mới đến hỏi han người đến trước, truyền tai nhau những kinh nghiệm, tô vẽ cho mình một lý lịch gay go, một cảnh đời bầm dập để khai với cao ủy tị nạn. Còn Thoa chẳng tìm ra cớ gì đành khai thành thật vì chán chế độ cộng sản muốn tìm cơ hội tiến thân nơi đất nước tự do dân chủ hi vọng họ sẽ cảm thông cho đậu thanh lọc.

Cuối cùng sau gần 3 năm qua bao trắc trở Thoa may mắn đậu thanh lọc và chờ đợi hơn một năm sau mới được đi định cư nước thứ ba như một phép màu vì có nhiều người với lý lịch rõ ràng là lính Việt Nam Cộng Hòa, là dân “phản động” từng bị chính quyền cộng sản Việt Nam bắt đi tù, từng bị trả thù còn bị rớt thanh lọc chờ ngày hồi hương.

Sự may mắn của Thoa nhờ công của người này người kia, họ chỉ dẫn, họ giúp đỡ, họ cảm thương và biết đâu nhờ chút tử tế, chút điều lành của gia đình tôi trong đó. Gia đình tôi đã giữ chữ tín, chồng vàng đầy đủ cho anh Minh như đã giao ước và nhờ cái phao của tôi bắt Thoa mang theo, cái phao đã cứu sống mấy chục mạng người trên hòn đảo đá ong khi nước thủy triều dâng cao, họ không chết chìm cũng chết khát chết đói vì chẳng ai biết mà đến đây cứu họ.

Nhưng trên hết là nhờ trời Phật, thương đế đã ban cho gia đình tôi ơn phước này.

Thế là gia đình tôi đã tham gia vượt biên đủ cả đường biển và đường bộ, ngoài ra còn đi chính thức bằng đường bay. Sau khi Thoa đi định cư, vài năm sau đó gia đình chúng tôi cũng lần lượt sang Mỹ định cư theo diện HO và ODP đoàn tụ gia đình.

Chị Ky “tri kỷ” hàng xóm của tôi được con gái bảo lãnh sang Mỹ đoàn tụ. Chúng tôi lại là tri kỷ của nhau trên đất Mỹ, cùng vui hưởng cuộc sống văn minh tự do với bao điều mà ngày xưa còn ở Việt Nam chúng tôi đã từng khao khát chờ mong.

Nguyễn Thị Thanh Dương
( Feb.. 22, 2024)