Thứ Tư, 23 tháng 3, 2022

Tiếng Yêu Mùa Xuân - Nhạc&Lời Khanh Phương(Trần Văn Khang)-Hòa Âm Quốc Dũng-Ca Sĩ: Hạnh Nguyên


Nhạc Và Lời: Khanh Phương(Trần Văn Khang) 
Ca Sĩ: Hạnh Nguyên

Vạn Vật Vui Xuân


Hôm nay Xuân mới đã về đây
Bình minh rạng rỡ cuối chân mây
Cây hồi sinh đâm chồi nở lộc
Chim líu lo chuyền hót trên cây
Đàn bướm lượn nhởn nhơ khoe sắc
Hoa Anh Đào nở khắp đó đây
Trên gác trọ, đứng bên song cửa
Nhìn cảnh Xuân lòng thấy vui lây.

Trần Công/Lão Mã Sơn

Thơ Say


Loạng choạng thành sầu quên rồi lại nhớ
Một khoảng trời xa, ngơ ngẩn biết yêu
Gặp gỡ em trong khoảng tối mưa chiều
Xin cạn chén sầu, cô liêu muốn khóc.

Quên và nhớ là hai điều nghịch lý
Trời đất quay hay tâm trí ta say
Uống chén rượu, quên và nhớ đêm nay
Dáng em gầy, mảnh lụa cuốn gió bay.

Tình yêu đến, sao hồn ta cô độc
Chút men say, loạng choạng bước lang thang
Say tình yêu, men rượu sẽ hoang đàng
Tìm dĩ vãng, tình hoá thành quên lãng.


Lê Tuấn 


Niềm Đau Của Lá - Cát Bụi Trần Gian

 

Bài Xướng:

Niềm Đau Của Lá

Xào xạc lá vàng ngỡ bước chân
Đêm sâu khua động thoáng nghe gần
Dăm ba phiến lá vừa rơi rụng
Người ở phương nào hỡi cố nhân

Cám cảnh ưu tư lá chuyển màu
Ấy màu mang dại của thương đau
Rung theo cánh gió niềm u uất
Lay động sương khuya những giọt sầu

Nhạc sĩ trầm hồn nhả khúc tơ
Vẻ lên trang giấy ý tình thơ
Của ngàn phiến lá rung giai điệu
Mang khối sầu riêng đến thẩn thờ


Kim Phượng
***
Bài Họa:

Cát Bụi Trần Gian


Cát kêu xào xạo dưới bàn chân
Vang động thanh âm đã rất gần
Khua nhịp thời gian nghe lộng óc
Ta-bà nghiệp quả với nguyên nhân

Không không sắc sắc cát thay màu
Biến đổi hình dung cứa vết đau
Vạn vật xưng bầm như bị chém
Tâm tư chĩu nặng khối u sầu

Thi nhân cố sức dệt đường tơ
Sáng tạo dăm vần đoản khúc thơ
Dấu cát hằn in trong ý tưởng
Nhưng điều Chân Thiện vẫn tôn thờ.


ChinhNguyên/H.N.T. Mar.14.22 (509)

Lưỡng Đồng Tâm 兩同心 – Án Kỷ Đạo



兩同心 - 晏幾道 Lưỡng Đồng Tâm – Án Kỷ Đạo

楚鄉春晚。 Sở hương xuân vãn.
似入仙源。 Tự nhập tiên nguyên.
拾翠處、閒隨流水,Thập thúy xứ, nhàn tùy lưu thủy,
踏青路、暗惹香塵。Đạp thanh lộ, ám nhạ hương trần.
心心在, Tâm tâm tại,
柳外青簾, Liễu ngoại thanh liêm,
花下朱門。 Hoa hạ chu môn.

對景且醉芳尊。 Đối cảnh thả túy phương tôn,
莫話消魂。 Mạc thoại tiêu hồn.
好意思、曾同明月,Hảo ý tứ, tằng đồng minh nguyệt,
惡滋味、最是黃昏。Ác tư vị, tối thị hoàng hôn.
相思處, Tương tư xứ,
一紙紅箋, Nhất chỉ hồng tiên,
無限啼痕。 Vô hạn đề ngân.

Chú Thích

1. Lưỡng đồng tâm两同心: tên từ bài, tất cả 68 chữ. Đoạn trước 7 câu 3 bình vận. Đoạn sau 7 câu, 4 bình vận. Cách luật:

X B B T cú
X T B B vận
X T X, X B B T cú
X X T, X T B B vận
X B X cú
X T B B cú
X T B B vận
T X X T B B vận
X T B B vận
T T X, X B X T cú
X X T, X T B B vận
X B X cú
X T B B cú
X T B B vận

B: bình thanh; T: trắc thanh; X: bất luận; cú: hết câu; vận: vần
2. Sở hương 楚鄉 = Sở địa 楚地: vùng đất thuộc nước Sở cũ.
3. Xuân vãn 春晚: cuối xuân.
4. Tiên nguyên 仙源 = Đào hoa nguyên 桃花源: Ông Đào Uyên Minh vào thời Đông Tấn mô tả một cảnh giới gọi là Đào Hoa Nguyên 桃花源, nơi đó mọi người sống an lạc, tư do bình đẳng.
5. Thập thúy 拾翠: đi nhặt những lông chim đẹp như lông chim trả, chim công để làm vật trang sức. Về sau chữ này được dùng để chỉ phụ nữ đi chơi xuân.
6. Đạp thanh 踏青: hội đạp thanh: hội đi chơi ngoài giao dã vào tháng 2 hoặc tháng 3 âm lịch.
7, Nhạ 惹: nhiễm, thấm.
8. Hương trần 香塵: bụi quyện với mùi hoa thơm, bụi thơm.
9. Tâm tâm 心心: tình ý giữa 2 người.
10. Thanh liêm 青簾: cái cờ của tửu quán. Chữ này được dùng để chỉ quán rượu.
11. Chu môn 朱門: cửa sơn son, chỉ nhà giầu, quý tộc.
12. Thả且: hãy.
13. Phương tôn 芳尊: chén uống rượu.
14. Mạc thoại tiêu hồn 莫話消魂: Đừng nói đến chuyện thương tâm.
15. Ý tứ 意思: tâm tình, tình tự.
16. Tằng đồng minh nguyệt 曾同明月: đã từng cùng nhau ngắm trăng sáng.
17. Tư vị 滋味: mùi vị. Ác tư vị: mùi vị đau khổ.
18. Tương tư xứ 相思處: lúc nhớ nhung, lúc tương tư.
19. Hồng tiên 紅箋: giấy viết thư mầu hồng.
20. Đề ngân 啼痕: vệt nước mắt.

Dịch Nghĩa

Đất Sở vào ngày cuối xuân,
Như đi vào cảnh giới đào nguyên.
Đi nhặt lông chim đẹp, hái hoa, nhàn nhã đi theo dòng nước chẩy.
Trên đường lễ hội Đạp thanh, bụi bay ám nhiễm mùi hoa thơm.
Trong tim có tình ý rung động,
Tửu điếm ở ngoài khóm liễu,
Cửa son gác tía dưới khóm hoa.
Trước cảnh đẹp, hãy uống say (cho vui),
Đừng nói những chuyện buồn bã thương tâm.
Tình ý đẹp, Chúng ta đã cùng nhau ngắm trăng sáng,
Mùi vị đau khổ, nhất là buổi hoàng hôn.
Lúc nhớ nhung,
(chỉ có) một lá thư hồng,
Đầy vệt nước mắt (trên áo).

Phỏng Dịch:

Vui Xuân Nhớ Bạn


Quê hương ngày ấy cuối xuân,
Đào nguyên cảnh giới xa gần như mơ.
Hái hoa nhặt thúy vui đùa,
Bước theo dòng nước lững lờ uốn quanh.
Bụi thơm tỏa, hội đạp thanh,
Tấc lòng rung động tâm tình vương tơ.
Bóng cờ tửu điếm, liễu thưa,
Cửa son gác tía mập mờ dưới hoa.
Nhắp chén quỳnh, cảnh chan hòa,
Xin đừng nói chuyện ngày qua âu sầu.
Đã từng tình đẹp ý sâu,
Ngắm vầng trăng sáng tâm đầu luyến thương.
Hoàng hôn những buổi đoạn trường,
Còn đây tư vị buồn vương não lòng.
Tương tư một lá thư hồng,
Áo hoa thấm đậm những dòng lệ rơi.


HHD 
11-2020
***
Lưỡng Đồng Tâm

1/
Cuối xuân đất Sở
Như vào đất tiên
Bước dạo chơi nhàn theo nước chảy
Hội đạp thanh vương bám hương trần
Động tình ý
Quán rượu liễu ngoài
Hoa dưới cửa son
Trước cảnh say khướt chén con
Chớ nói chuyện buồn
Tình ý đẹp, từng ngắm trăng sáng
Vị khổ đau, nhất lúc hoàng hôn
Khi nhung nhớ
Một lá thư hồng
Ngấn lệ sầu tuôn!


2/
Cuối xuân đất Sở thần tiên
Hái hoa nước chảy theo triền bước chân
Đạp thanh vương bám hương trần
Trong tim rung động phân vân ý tình
Liễu ngoài quán rượu cờ tinh
Khóm hoa dưới cửa, linh đình gác son
Cảnh bày say khướt rượu ngon
Chuyện buồn chớ kể héo hon tấc thành
Tình ý đẹp ngắm trăng thanh
Khổ đau mùi vị, đoạn đành hoàng hôn
Nhớ nhung một lá thư hồng
Sầu tuôn lệ ngấn chờ trông tháng ngày!


Lộc Bắc
Dec20


Môi Trường Giảng Dạy Của Giáo Chức Thời Việt Nam Cộng Hòa


Năm 1967 tôi 19 tuổi, vừa tốt nghiệp Tú Tài toàn phần là chuẩn bị khăn gói vào Đại chủng viện Sài Gòn, gọi là “đi tu” để tương lai trở thành linh mục Công giáo. Nhưng Ơn Trên định cho tôi con đường khác: đúng năm ấy thân phụ tôi qua đời. Mẹ tôi loay hoay với nhà thuốc bắc bố tôi để lại. Tôi thì đông em. Vị linh hướng của tôi là linh mục Trần Văn Hiến Minh gọi tôi vào văn phòng và dạy rằng tôi không được nhập Đại chủng viện mà phải ở nhà lo giúp mẹ phụ nuôi các em.

Trường công lập và trường tư thục

Tôi vốn là học sinh trường Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn suốt từ năm đệ Thất đến đệ Nhất. Đây là trường trung học Công giáo. Ban Giám đốc gồm toàn linh mục và hầu hết là thầy dạy của tôi. Chắc hồi đi học tôi cũng là học sinh khá và ngoan nên các vị này bàn bạc với nhau sao đó rồi cho tôi dạy hai lớp đệ Thất. Nhà trường gửi tên tôi lên Nha Trung Học. Nha cấp cho tôi Giấy phép dạy học bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp (từ đệ Thất đến đệ Tứ.)
Tôi kể trường hợp riêng để thưa với người đọc rằng thời VNCH có hai hệ thống trường học song hành: trường công lập và trường tư thục.
Giáo chức trường công lập phải tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm, Quốc Gia Sư Phạm Sài Gòn, hay Đại Học Sư Phạm, được Bộ Quốc Gia Giáo Dục (thông qua Nha/Ty Tiểu học và Nha Trung học) bổ nhiệm. Giáo chức trường tư thục do Ban Giám đốc nhà trường tuyển dụng, tùy theo bằng cấp và khả năng mà xếp cho dạy lớp thuộc cấp nào. Giáo chức trường công lập lấy làm hãnh diện vì đã tốt nghiệp trường Sư Phạm, có giai đoạn đi thực tập, sau đó được bổ nhiệm, trở thành công chức ngành giáo dục. Giáo viên trường tư thục cũng “vẻ vang” không kém vì có khả năng và đủ bằng cấp mới được trường mời giảng dạy.


Bộ Quốc Gia Giáo Dục quy định:

Người có bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp (học xong lớp đệ Tứ, học sinh được quyền thi để lấy bằng này) được phép dạy các lớp bậc Tiểu học.
Người có bằng Tú Tài toàn phần được phép dạy các lớp bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp (đệ Thất - đệ Tứ.)
Người có bằng Cử nhân hay Cao học được phép dạy các lớp bậc Trung Học Đệ Nhị Cấp (đệ Tam - đệ Nhất.)
Trong bài này, tôi không đề cập đến các vị giáo sư, giảng sư, phụ khảo Đại học.

Tình cảm thầy trò và phụ huynh

Giáo viên, giáo sư được phụ huynh và học sinh kính trọng lắm. Thời ấy người ta vẫn giữ lễ như thời Nho học còn thịnh hành. Tết nhất phụ huynh thường biếu quà thầy/cô. Quà không đắt tiền nhưng thể hiện lòng tôn kính. Thầy/cô tiếp nhận quà, đôi khi lại nhờ học sinh gửi lại quà tặng cho cha mẹ. Học trò rất kính trọng và quý mến thầy/cô.
Tôi có kinh nghiệm đi thăm cô giáo bị bệnh. Năm học lớp Nhì, tôi học với cô giáo Lan (hiện cô ở Texas.) Cô đẹp và hiền. Cô bị yếu mệt phải nằm nhà thương Chợ Rẫy. Bảy đứa con trai góp tiền mua được sáu trái cam, đi thăm cô. Có bao nhiêu tiền đã mua cam hết rồi, không còn tiền đi xe buýt. Thì cứ leo đại lên xe, chui dưới chân người lớn. Nhưng các bác soát vé lanh lắm. Lâu lâu bác kiếm được một đứa, xách tai "ném" ra khỏi xe. Bị ném khỏi xe này lại leo lên xe khác. Cuối cùng cả bọn cũng gặp nhau đủ bảy đứa trước cổng nhà thương. Tìm đến phòng cô, cả bọn tranh nhau kể khổ cho cô nghe. Cô khóc rồi lấy dao xẻ cam cho cả bọn ăn sau đó cho tiền xe về.
Lớn lên, đi dạy học, tôi không có kinh nghiệm dạy trường miền xa như vùng lục tỉnh hay các tỉnh miền Trung hoặc Cao Nguyên Nam Trung Phần. Tuy nhiên có những cuối tuần đi thăm các bạn dạy trường công lập ở vùng lục tỉnh, thấy các đồng nghiệp ấy được phụ huynh thương mến mà ham. Có nải chuối, trái mít, trái sầu riêng ngon, phụ huynh cũng sai con biếu thầy/cô. Có những đồng nghiệp đang đêm nghe đập cửa, mở cửa nhìn ra thì là một phụ huynh nào đó tới mời đi nhậu cá lóc nướng trui ngoài đồng. Tôi được được mời ké. Bữa nhậu giữa đồng, trăng thanh gió mát, đương nhiên có “nước mắt quê hương,” vui và ngon hết biết!


”Mỗi năm đến hè thầy man mác buồn..."

Giáo chức dạy trường công lập có việc làm vững chắc, vì là công chức, trước sau cũng nhận được sự vụ lệnh bổ đi dạy trường này trường nọ. Chỉ có điều may mắn thì được dạy trường gần nhà. Thí dụ, ở Sài Gòn mà lại được dạy tại Sài Gòn thì còn gì bằng. Không may thì phải đi dạy trường xa. Khi ấy phải dời nhà đến gần trường mà dạy. Gọi là “may” hay “không may” là theo quan niệm chung thôi. Thật ra về trường xa, thầy/cô thường được phụ huynh học sinh rất kính trọng, quý mến như nói ở trên.
Giáo chức dạy trường tư thục, việc làm bấp bênh hơn. Cứ gần đến hè, thầy giáo thường “hát” câu “Mỗi năm đến hè thầy man mác buồn." Lý do là không biết nhà trường còn tiếp tục mời mình dạy niên học tới hay không. Vào dịp đó, ban Giám đốc nhà trường Trung học thường gửi các giáo sư một lá thư, bỏ trong phong bì rất trịnh trọng, gọi là “Thư cám ơn.” Mở thư mà thầy hồi hộp. Thư có hai phần: phần đầu là lời lẽ cám ơn rất lịch sự về sự cộng tác trong suốt một năm. Phần này thì thư nào cũng như nhau. Phần hai mới là quan trọng vì nó không giống nhau: ban Giám đốc hân hạnh mời thầy tiếp tục dạy vào niên học tới và xin thầy vui lòng chấp thuận; hoặc ban Giám đốc lấy làm tiếc không thể mời thầy tiếp tục cộng tác, chúc thầy may mắn và hy vọng có cơ hội mời thầy trở lại trong tương lai…
Đó là trường hợp thầy là giáo chức bình thường, việc dạy học không lấy gì làm xuất sắc. Đối với các giáo sư có uy tín, được học sinh mong ước theo học thì lại khác. Ban Giám đốc thường phải thưa chuyện với thầy từ rất sớm, mong thầy xếp đặt giờ giấc, đừng nhận dạy ở trường khác vào những ngày giờ mà nhà trường dự định dành cho thầy vào niên học tới. Những giáo sư này thường dạy nhiều trường; xong giờ dạy trường này là lên xe phóng sang trường khác ngay, mà thời ấy chúng tôi gọi là “chạy trường.” Cá nhân tôi vào những năm cuối nền đệ Nhị Cộng Hòa cũng dám nhận dạy một niên khoá tới 4, 5 trường: Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn, Cứu Thế Học Đường (đường Kỳ Đồng), Phước An (Thị Nghè), Tân Khoa (Gia Định), Chân Phước Liêm và Dũng Lạc (Gò Vấp). Ấy là chưa kể buổi tối dạy luyện thi mà tôi sẽ nói sau. Nghĩ lại, lấy làm sợ hãi.


“Bài soạn”

Nói chung, thời VNCH, có thể nói hơi ngoa ngữ một chút là “đã biết cầm cục phấn là biết dạy học.” Có những vị có khiếu dạy học, dạy rất hay, mặc dù có thể không tốt nghiệp trường Sư Phạm. Năm học đệ Tứ, tôi có một thầy dạy Toán tuyệt vời. Thầy có thể cầm phấn vẽ trên bảng 10 vòng tròn đồng tâm chỉ trong nháy mắt. Lại có những giáo sư dạy Quốc Văn hay Sử Địa, giảng bài hay đến độ học trò ngồi im phăng phắc cả tiếng đồng hồ mà không biết chán. Tôi nghe nói, bộ ba giáo sư “Tế-Khoan-Đáng” (Nguyễn Sỹ Tế, Vũ Khắc Khoan, Tô Đáng) khi lên lớp giảng bài, học trò lớp khác bỏ lớp, đứng ngoài cửa lớp của các thầy để nghe ké.
Giáo chức dạy học không có “giáo án” nhưng có cuốn “bài soạn”. Việc hình thành một bài soạn để dạy trong lớp gọi là “soạn bài”. Vậy thôi. Mỗi năm, thầy/cô bổ túc cho “bài soạn” của mình thêm phong phú, đem lại kết quả tốt hơn. Bình thường thì như thế, nhưng cũng có giáo sư dạy tùy hứng và có khiếu ăn nói. Những vị này thường được nhà trường xếp dạy lớp đệ Tam là lớp cuối năm không phải đi thi, học sinh gọi đùa là “năm dưỡng lão."Thầy giảng thao thao bất tuyệt, học trò cứ há miệng nghe mà không biết chán. Tôi nói vụng, thầy tôi, giáo sư Vũ Khắc Khoan (dạy tôi môn Hát Bội ở Đại học Văn khoa Sài Gòn,) khi dạy Sử Địa ở trường Trung học, suốt một niên khóa vẫn chưa dạy xong bài “Quân Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ nhất!” Ấy là tôi “nghe nói” như thế.

Lương bổng giáo chức

Cuộc sống nhà giáo được xem là “thanh bạch” (cách nói khác của “nghèo”) nhưng thực tế thì không đến nỗi. Một thí dụ: năm 1964 là năm giao thời giữa đệ Nhất và đệ Nhị Cộng Hòa, một giáo sư Trung học đệ Nhị cấp (dạy từ lớp đệ Tam đến đệ Nhất) mới tốt nghiệp ba năm Đại học Sư Phạm bắt đầu đi dạy, lương và phụ cấp chức nghiệp cộng phụ cấp đắt đỏ, tổng cộng khoảng 7,405 đồng, phụ cấp cho vợ 1,000 đồng, phụ cấp cho ba con, mỗi con 800 đồng, sẽ là 10,805 đồng một tháng. Trong khi đó, một ký gạo giá chỉ có 5 đồng rưỡi.
Cuối thập niên 1960 đầu thập niên 1970, giáo sư dạy trường Trung học tư thục, thù lao một giờ dạy, thấp nhất khoảng 250 đồng, cao nhất khoảng 1,000 đồng. Nếu vị có lương giờ thấp nhất, dạy một ngày bốn tiếng, mỗi tuần sáu ngày (ngày thứ Bảy cũng dạy bình thường,) lương tháng vào khoảng 24,000 đồng. Vị có lương giờ cao nhất, cũng dạy với số ngày, giờ như thế, lương tháng sẽ vào khoảng 96,000 đồng. Trong khi đó, giá tiền một ký gạo năm 1971 là 48 đồng, năm 1974 là 171,3 đồng (*). Như thế thì không thể nói nhà giáo sống thiếu thốn được.
Giáo sư Trung học có uy tín, được mời dạy luyện thi Trung học đệ Nhất cấp, Tú Tài 1, Tú Tài 2 thì khó mà có con số lương bổng rõ ràng. Những môn học sinh thường học thêm để luyện thi là Toán, Lý, Hóa, Vạn vật, Ngoại ngữ, Triết học, Quốc văn. Lớp luyện thi không những dành cho các quân nhân không có cơ hội đến trường học toàn thời gian mà còn dành cho các học sinh muốn trau dồi thêm một số môn mà mình cảm thấy còn yếu kém. Các trung tâm luyện thi có thể trả những vị giáo sư này đến 1,500-1,600 đồng một giờ.
Vì tiền lương không đến nỗi chật hẹp, giáo chức không phải làm thêm nghề phụ, có thì giờ để chuyên tâm vào việc dạy học, kết quả đương nhiên là tốt đẹp.
***

Viết bài này, tôi hồi tưởng lại đời dạy học, từ khi là một “cậu giáo” 19 tuổi mặt mũi non choẹt, không chút kinh nghiệm cho đến khi lớn hơn, được gọi là “ông Giáo sư Trung học” với lương giờ khá cao, lại cũng vì muốn có nhiều tiền giúp mẹ nuôi các em nên còn nhận dạy luyện thi buổi tối. Mỗi tháng đem về nhà mấy trăm ngàn đồng.
Nhưng chuyện ấy không làm tôi nhớ bằng tình thầy trò. Tôi đã vừa là trò, vừa là thầy, nên có thể làm chứng rằng đời sống tinh thần và tình cảm của người thầy/cô thời Việt Nam Cộng Hòa thật phong phú mà ai từng trải qua, suốt một đời không thể nào quên.

Quyên Di
______________________________
(*) Giá gạo, dựa vào bài “Thời nào dân Việt sướng nhất?” (ngodinhdiem.net)

Thứ Ba, 22 tháng 3, 2022

Lá Rơi - Thơ Cao Nguyên - Nhạc Nguyên Bích - Tiếng Hát Vân Châu & Nhóm Bè Cadillac


Thơ: Cao Nguyên
Nhạc: Nguyên Bích
Tiếng Hát: Vân Châu & Nhóm Bè Cadillac

Khối Tình Thu

 

Xuân người giấc đẹp chưa xong
Thu ta dìu lá mơ lòng cùng ai
Hồn xanh mộng ước chưa phai
Gợi lòng lưu luyến nhớ hoài mùi hương
Đàn hòa ru khúc đêm trường
Xạc xào lá hát tơ vương cung lòng
Trăng soi đáy mắt hồ trong
Chợt thuyền lá nhẹ khuấy vòng vỡ tan...
Giọt bi lụy cảm dâng tràn
Dòng thu lặng lẽ cùng mang nỗi sầu
Bến tương nhung nhớ về nhau
Hai bờ chia cách bóng câu tạ từ
Mộng vàng một cõi riêng tư
Góc chờ vẫn đợi ấy chừ người đâu
Thương vay sương phủ bạc đầu
Canh tàn mộng vỡ chôn sâu khối tình!

Kim Oanh

Mùa Xuân Còn Nán Lại



Lại một đêm thiếu ngủ
Em nằm đợi nhớ nhung
Chan hoà trên mặt gối
Những giọt lệ mông lung

Vùi đầu giữa gối chăn
Tưởng châu thân ấm áp
Hoá ra lòng bâng khuâng
Tiếc thương bao mất mát

Trăng rơi vào rét mướt
Hồn bất chợt chơi vơi
Em chờ nghe tiếng bước
Anh về từ xa xôi

Hai mươi lăm tháng ba
Mùa xuân còn nán lại
Bông hồng vàng kiêu sa
Mỗi năm thêm hoang dại

Anh nhìn em ái ngại
Thương xót cuộc tình buồn
Người yêu ơi huyễn mộng
Che kín cả nụ hôn ...

Cao Mỵ Nhân


Your Blue Dress - Áo Nàng Xanh

Your Blue Dress * Áo Nàng Xanh

(watercoled pencils and watercolor * bút chì mầu nước và mầu nước, 11”x14”).After a photograph on the Internet * Theo một bức ảnh trên Mạng

Họa Sĩ Mùi Quý Bồng


Tìm Đâu Người Ngọc Gót Chân Son



Khi ánh trăng đêm còn lấp loáng
Tôi nhìn phản chiếu qua mắt em
Lọn tóc em buông vờn trên trán
Má hững hờ nhưng đã cài then.

Vạt nắng hanh hao chiều hôm ấy
Em ngồi bên gốc liễu cạnh hồ
Tôi đứng nhìn em lòng sóng dậy
Thần hồn điên đảo chuyện vu vơ.

Sao ngày ấy dại khờ câm nín
Mơ dáng em từ thuở dậy thì
Để đến lúc vườn hồng kịp chín
Ngẩn ngơ nhìn em đã bước đi...

Nay tôi trở lại vùng kỷ niệm
Đã xa nhau năm chục năm tròn
Nhạc khúc đổi thay chừng lạc điệu
Tìm đâu người ngọc gót chân son?!

Dương Hồng Thủy
21/03/2022

Phu Thê - Vợ Tốt

Bài Xướng:

Phu Thê

Vợ chồng hai chữ nghĩa phu thê
“Tương kính như tân” đủ mọi bề
Trời đất nhiều khi còn nghịch ý
Người đời sao tránh khỏi khen chê


Vung nào khít mãi nồi đâu nhỉ

Cơm nấu vạn lần có lúc khê
Nhường nhịn giảng hòa là thượng sách
Lòng vui hạnh phúc đến tràn trề

Dương Việt-Chỉnh
***
Bài Họa:

Vợ Tốt

Chìu chàng nâng túi ấy hiền thê
Mỉm nụ cười tươi ổn mọi bề
Thanh lịch lời êm hoà chữ quý
Hiền từ mắt dịu bớt điều chê


Cần cho duyên nợ luôn hoàn hảo

Muốn giữ cuộc tình chẳng khét khê
Và sống an vui đầy hạnh phúc
Đừng nên... má phụng với môi trề!

Phương Hoa 
MAR 7th 2022

Ngư Ông 漁翁 - Liễu Tông Nguyên


Sau đây là bài thơ NGƯ ÔNG 漁翁 của ông làm cũng trong thời gian bị đày ở Vĩnh Châu; mặc dù thất ý trong chính trường ông vẫn tỏ cao nhã trong cuộc sống với bản chất cao khiết của mình chứ không bi quan yếm thế. Ta hãy đọc bài thơ NGƯ ÔNG của ông sau đây sẽ rõ...

      漁翁                        Ngư Ông

  漁翁夜傍西巖宿,    Ngư ông dạ bạng tây nham túc,
  曉汲清湘燃楚竹。    Hiểu cấp thanh Tương nhiên Sở trúc.
  煙銷日出不見人,    Yên tiêu nhật xuất bất kiến nhân,
  欸乃一聲山水綠。    Ải nãi nhất thanh sơn thủy lục.
  回看天際下中流,    Hồi khan thiên tế há trung lưu,
  巖上無心雲相逐。    Nham thượng vô tâm vân tương trục!
                                      Liễu Tông Nguyên

* Chú thích:
  - Ngư Ông 漁翁: NGƯ 漁 có ba chấm Thủy 氵bên trái, có nghĩa là Cái gì đó thuộc về Cá hay có liên quan đến Cá; nên NGƯ ÔNG là Ông lão đánh bắt cá; NGƯ THUYỀN là thuyền dùng để đi bắt hoặc câu cá... 
  - Dạ Bạng 夜傍 : BẠNG là bên cạnh; nên DẠ BẠNG là Cạnh đêm, có nghĩa là Gần tối, là Hoàng hôn, là Chạng vạng tối.
  - Tây Nham 西巖 : NHAM là hòn núi, tảng đá lớn.TÂY NHAM là Ngọn núi phía tây.
  - Cấp 汲: là Múc nước.
  - Yên Tiêu 煙銷 : YÊN ở đây chỉ khói sương trên sóng nước, nên YÊN TIÊU là Khói sương trên sóng nước tan đi.
  - Ải Nãi 欸乃 : Từ thượng thanh chỉ tiếng "kẽo kẹt" của mái chèo khi xoay chèo lướt tới.
  - Tương Trục 相逐 : TƯƠNG là Với nhau; TRỤC là rượt đuổi, nên TƯƠNG TRỤC là Đuổi bắt nhau.

* Nghĩa Bài thơ:

Ông Lão Đánh Cá

Ông lão đánh cá lúc gần tối thì tá túc qua đêm ở bên bờ núi tây; Buổi sáng thì múc nước trong của dòng sông Tương rồi nấu bằng tre của đất Sở. Khi mặt trời lên, lúc khói sóng tan đi thì cũng chẳng thấy bóng một người nào cả. "Kẽo kẹt" một tiếng thuyền lại lướt đi giữa non xanh nước biếc. Quay nhìn dòng nước chảy tận phía chân trời xa xa ở hạ lưu, chỉ thấy trên núi cao các đám mây như vô tình cứ rượt đuổi nhau mãi tận bên trời.
Vui với cuộc sống giản dị, nhàn nhã thanh cao với non xanh nước biếc, xuôi thuyền trên sông để ngắm núi xanh mây trắng mà lãng quên thế sự.

* Diễn Nôm:

Ngư Ông

Đêm xuống ngư ông trọ núi tây
Nước Tương tre Sở sáng là đây
Nắng lên sương khói mờ nhân ảnh
Kẽo kẹt chèo buông sóng nước đầy
Quay nhìn mút mắt theo dòng chảy
Đầu núi đuổi nhau trắng những mây!
 
Lục bát:

Ngư thuyền đêm trọ núi tây,
Nước Tương tre Sở sáng ngày loay hoay.
Khói tan nắng đẹp sương phai,
Non xanh nước biếc thuyền ai kẽo-cà...
Quay đầu mặt nước xa xa,
Núi xanh mây trắng bay qua bên trời!

Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức
***
Ông Chài

Chiều tối ông chài nghỉ núi tây,
Nước Tương , trúc Sở nấu ban mai 
Sương tan trời sáng người không thấy,
Núi biếc sông xanh vỗ mạn chài 
Nhìn lại bóng trời trong nước chảy  
Hững hờ mây núi đuổi nhau bay.

Lục Bát:.

Ông chài đêm nghỉ non đoài 
Nươc Tương, trúc Sở sớm ngày nấu ăn.
Không người, trời sáng sương tan 
Non xanh nước biếc hò khoan một mình,
Bóng trời nước chảy mông minh,
Mây cao trên núi vô tình đuổi nhau.


Song Thất Lục Bát:

Ông chài đến núi tây đêm đậu 
Lấy Sở tre sớm nấu nước Tương 
Không người, trời sáng tan sương 
Non xanh nước biếc thân thương câu hò 
Trời in bóng lửng lơ giòng nước 
Mây vô tình đuổi rượt trên non 


Mỹ Ngọc phỏng dịch

Số Khổ


Chị Bông đọc xong email của người bạn chỉ cách muối cà pháo ăn liền, lại còn minh họa theo một bát cà pháo dầm nước mắm tỏi ớt trông thật ngon lành hấp dẫn. Suốt hai tuần lễ qua chị lấy vacation về phố Bolsa California thăm người nhà, ăn uống thịt thà, tôm cá mỡ màng nên bỗng thèm món ăn nhà quê dân dã này. Chị lái xe ngay ra chợ mua vài pound cà pháo, ăn đổi món và để giảm cân. Sau chuyến đi chơi Cali chị đã tăng 2 pounds.Về nhà chị thực hiện như bạn chỉ, xẻ cà ra, ngâm nước muối cho ra bớt chất độc hại thâm đen. 

Trong khi chờ đợi cà còn ngâm trong chậu, chị Bông pha sẵn một bát nước mắm tỏi ớt đậm đà. Món này chỉ ăn với cơm trắng cũng đủ ngon nhớ đời. Khi chị vớt cà ra rửa lại để ngâm nước mắm thì anh Bông đi làm về đến. Nhìn thấy chậu cà pháo anh Bông kêu lên:
- Em rước cái món “Một quả cà ba thang thuốc” này về làm gì?
- Em ăn đấy, ai không thích thì thôi, đừng động chạm vào nhau.
- Anh mới hỏi mà em đã đành hanh rồi. Vậy mà em ước ao ở Mỹ có cuộc thi “vợ hiền” hay “Người phụ nữ dịu dàng” để em tham dự thi thố bản năng.
- Ai bảo anh hỏi kiểu “móc lò” làm chi.
Anh Bông vội dịu giọng lấy lòng vợ, cuộc đời anh đã từng trải qua thời đất nước chinh chiến nên bây giờ anh rất sợ “chiến tranh” dù với mụ đàn bà, vợ anh:
- Hình như em còn thích món gì nữa nhỉ? Tự dưng anh quên mất…
Thấy chồng hỏi sở thích, chị Bông vui vẻ nhanh nhẩu:
- Khô cá lù đù.
Và tiếp luôn:
- Mà phải là khô cá lù đù từ Houston nước Mỹ nhé, do ngư dân Việt Nam đánh bắt và chế biến thành cá khô ngay trên tàu nên chất lượng còn tươi ngon. Khô cá đù chiên ăn cơm hay cho mấy ông nhậu lai rai với vài lon bia thì không gì bằng. Anh nhắc làm em nhớ là nhà hết rồi, cuối tuần này đi chợ mua thêm mấy pao…dự trữ.Anh Bông chép miệng, ái ngai kết luận:
- Em quanh năm suốt tháng phải ăn đói, nhịn thèm vì sợ mập, lại chỉ thích những món “cơ hàn”. Số em chắc là “Số khổ”?
- Số khổ!

Chị Bông lập lại và than thở:
- Em mà không nhịn ăn thì người em mập như cái lu mái vú hứng nước mưa ở nhà quê rồi. Chỉ riêng nước Mỹ có biết bao nhiêu người số khổ như em, kể cà các tài tử diễn viên hay các cô người mẫu nổi tiếng, kiếm tiền bạc triệu nhưng ai cũng phải ăn kiêng để giữ gìn sức khỏe và vì lý do thẩm mỹ. Họ phải ăn dĩa sà lách to, ăn trái cây, uống mấy lít nước lã và đi bộ hay tập thể dục cả giờ mỗi ngày, điều ấy có sung sướng gì đâu. Rồi chị khoe:
- Chuyện “số khổ” của em, tuy hình thức “cơ hàn” nhưng nội dung “quý tộc” đấy anh. Cà pháo trắng tươi $2.99 một pound, khô cá đù không rẻ, ở nơi mình $8 một pound, tương đương với giá thịt bò ngon, nhưng hôm em ở phố Bolsa, vào chợ Việt Nam khô cá lù đù giá 9 đồng mấy một pound.
- Dù giá cả thế nào, cà pháo và cá khô vẫn là món nhà nghèo. Đã thế thỉnh thoảng em còn thèm… khoai mì, khoai lang nữa chứ. Tội nghiệp!
- Hai món khoai quê ấy người Việt Nam nào mà không thèm! Bảo đảm trong cuộc đời ai cũng đã ăn qua, cho dù là kẻ bần cố nông hay dân cao cấp lá ngọc cành vàng.
- Nhưng sau 1975 Việt Cộng bắt toàn dân ăn độn khoai mì khoai lang nên anh sợ cho đến hết cuộc đời luôn.

Anh Bông đi vào phòng tắm thay đồ, chị Bông vừa làm cà pháo vừa nhớ lại những ngày vừa qua ở Cali. Bố chị đang sống chung với gia đình người em trai, rồi họ hàng chú, bác, anh chị em họ và bạn bè. Nên hai tuần vẫn chưa thấm vào đâu để chị thăm cho đủ những người thân. Hết người nọ đến nhà kia mời đến nhà chơi, mời đi ăn nhà hàng. Khu Bolsa có nhà hàng nào ngon nổi tiếng là chị được chiêu đãi ngay. Rồi lại tụ họp nhau ở nhà ai đó ăn uống “Pot Luck”, mỗi người mang đến một vài món, ăn đủ thứ ngon đến ngao ngán. Chưa hết, một chị bạn còn hớn hở mang đến tặng chị món chả gìo tôm thịt loại đặc biệt do chính tay chị sản xuất và 2 khay bánh cam lăn mè chiên giòn góp phần làm cho chị thêm béo mập. Ăn xong hai món này chị vừa thích thú vừa “ oán” bạn hiền. Chị đến thăm một chị bạn khác là chị Lan, bạn thân từ khi còn ở Việt Nam, chị Lan cũng như nhiều cư dân Bolsa California nhất định mời chị Bông đi ăn nhà hàng cho đúng phép xã giao khi tiếp bạn bè ở xa. Chị Bông phải hết lời “năn nỉ”:
- Mấy bữa nay tôi ngán nhà hàng lịch sự qúa trời rồi, chị chiêu đãi tôi món… cơm chỉ đi. Nghe tiếng đồn người Việt mình ở Cali có món “cơm chỉ” mà tôi chưa được ăn bao giờ.
Chị Lan ngỡ ngàng nhìn chị Bông, tưởng đang đùa hay thử lòng dạ chị:
- Ai lại thế, bạn bè lâu mới gặp nhau chẳng lẽ để bạn ăn món bình dân bụi đời?
Chị Bông mỉm cười, xác nhận:
- Chị tưởng tôi mát dây hay dở hơi hả? Vì tôi thích mà, để biết thế nào là Bolsa thượng vàng hạ cám.
Thế là chị Lan bất đắc dĩ phải dẫn bạn ra chợ để… chỉ tay mua món ăn nào mình muốn, vừa nhanh vừa rẻ tiền.
Ăn xong chị Lan pha cho chị Bông một ly nước đá chanh tươi, chanh hái ngay trong vườn nhà, chị Bông khen mùi nước chanh thơm mát thì chị Lan nói:
- May qúa, bạn không bắt tôi dẫn ra ngồi uống cà phê giải khát ở vỉa hè, nhìn ông đi qua bà đi lại cho đủ bộ với món cơm chỉ này.

Bữa ăn “Cơm Chỉ” bình dân lại là bữa ngon nhất trong cuộc thăm viếng California của chị Bông. Anh Bông đã tắm xong mát mẻ đi ra. Chị Bông hào hứng nhắc lại:
- Hôm đi Cali em chỉ thích món “cơm chỉ ” rẻ tiền. Canh bầu nấu tôm khô và đậu hũ chiên giòn chấm nước mắm tỏi ớt.
- Anh đã nói số em “số khổ” mà. Ngoài cái chuyện “diet” khổ cực như người ta, em còn nhiều thứ khổ khác. Này nhé, từ ngày đến Mỹ đến giờ vẫn ở căn nhà thuở đầu đời, dù chúng ta có thể mua căn nhà to hơn, đẹp hơn, ra tittle company chỉ mất thời gian làm giấy tờ chưa đến 1 tiếng đồng hồ là xong ngay vì chúng ta trả bằng tiền mặt.
Chị Bông cười cười công nhận:
- Sorry làm anh “khổ” lây, nhưng bản tính em ít khi thay đổi, với lại căn nhà cũ rích cà tàng này là kỷ niệm qúy gía trong những năm đầu tiên vợ chồng mình đến Mỹ, con mình đã lớn lên ở đây, những khổ cực vất vả, những toan tính ước mơ, ôi bao nhiêu là chuyện buồn vui cũng ở đây… nên em chẳng muốn rời xa. Với lại, các con đã đi học xa, chúng mình sẽ càng ngày càng gìa, mua nhà to đẹp ai ở cho hết, mất công anh… hút bụi lau nhà giùm em và làm em… sợ ma thêm chứ ích gì, được tiếng khen thì ho hen kèn cựa.
- Nhưng em cũng thích những căn nhà đẹp lắm mà? Mỗi lần đến nhà ai em đều khen và mơ ước.
- Trong phút giây cao hứng ấy thôi, về nhà mình em lại thấy căn nhà xấu của mình… đẹp nhất, vì một người bạn em đã nói “Căn nhà đẹp nhất là căn nhà trả hết nợ”. Vậy việc gì mình phải dọn đi đâu?
- Có nghĩa là mình cứ ở căn nhà xấu này suốt đời hả em?

Chị Bông vui vẻ:
- Miễn là lòng mình thanh thản. Bản tính chung thủy của em cũng được… một người ghi nhận rồi đấy. Cách đây vài năm khi vợ chồng mình về thăm Việt Nam, em ra chợ, nơi mà ngày xưa sáng nào em cũng xách giỏ đi mua đồ ăn, em thích hàng nào là mua kinh niên ở hàng đó luôn, thí dụ thịt heo của bà Năm, thịt bò bà Sáu, cá tôm bà Bảy vv… còn món hành ngò, tỏi ớt, thì em chuyên mua của một con bé chừng mười mấy tuổi, hàng của nó bày trên một cái mẹt, kê trên một cái thùng không, để dễ dàng “di tản” mỗi khi cảnh sát trật tự ra xua đuổi những kẻ bán hàng trên lòng lề đường. Khi vừa trông thấy em sau hơn 10 năm xa vắng, con bé “hành ngò” ngày xưa, khi ấy đã là một thiếu phụ trẻ, đã nhận ra em ngay và reo lên: “Cô này ngày xưa hay mua hành ngò của em nè”. Làm em bồi hồi cảm động như khi người ta gặp lại tình cũ.
Anh Bông cũng cảm động:
- Sao em không vào trong chợ ra mắt các bà hàng thịt, hàng tôm cá, hàng rau ria của em ngày xưa luôn thể?
- Hôm ấy em bận qúa, chỉ lướt qua ngoài chợ mà thôi. Lần sau nếu về Việt Nam em sẽ thăm các bà ấy. Bảo đảm các bà sẽ nhận ra em vì em không bao giờ đi thẩm mỹ viện nên không thay đổi gì ngoài chuyện tuổi đời gìa theo thời gian.
- Sẵn hôm nay em cởi mở anh liệt kê luôn một “nỗi khổ” nữa của em là chỉ thích đi xe rẻ tiền nhất, không chịu mua xe sang hơn, đầy đủ tiện nghi hơn….
Chị ngắt lời chồng:
- Tính em đơn gỉan và nhà quê anh ơi, càng văn minh tiện nghi càng…làm khổ những người xớn xác, ba chớp ba nhoáng như em.

Xe thì loại rẻ tiền như Toyota Corolla là đủ rồi việc gì phải mua những loại cao cấp hơn cho rắc rối. Cái gì cũng tự động thêm…phiền. Thà cứ để em quay kính cửa xe bằng tay còn đúng ý hơn bấm nút cái rẹt mà vẫn có lúc cao lúc thấp phải bấm tới bấm lui. Anh Bông ý kiến:
- Ở đời, người ta cũng hay đánh giá người khác qua căn nhà và cái xe.
- Nhưng kẻ giàu người nghèo thì đủ loại tầng lớp, biết đâu là ranh giới? Em “khổ” vậy còn có kẻ khổ hơn. Ở hãng em có một chị Mỹ trắng đi làm bằng cái xe đời tám hoánh nào không biết, thỉnh thoảng lại thấy chị qúa giang ai đó đi làm vì xe hư, cho đến một ngày xe chị phải bán rẻ, bán tống táng đi vì sửa hoài tốn kém qúa. Thế là chị phải thương lượng đi nhờ người khác và trả tiền xăng cho họ trong khi chị để dành tiền mua một cái xe cũ khác.

Anh Bông gật gù:
- Nhiều người khó khăn lắm mới mua trả góp một chiếc xe cũ đấy.
- Bởi thế em chạy xe Toyota Corolla mới tinh dù là loại rẻ tiền trong họ hàng xe nhà nó cũng le lói lắm rồi. Còn những người giàu có cao sang hay người thích bề ngoài, chảnh chọe thì em không chạy theo họ được. Em chỉ sống cho chính mình nếu cảm thấy thoải mái. Cũng như vào mùa hè em không bao giờ xấy quần áo trong máy, mang ra vườn sau phơi, nắng gió làm khô nhanh và thơm tho quần áo một cách tự nhiên, khỏi cần xài giấy “Bounce” đỡ tốn tiền và đỡ tốn điện.
Anh trêu chọc vợ:
- Sống thì đơn giản thế mà toàn là mơ ước cao xa chín tầng mây. Có hai đứa con đều khích lệ, cầu mong chúng học ra bác sĩ, nha sĩ. Nhưng tiếc rằng mộng không thành.

Chị Bông lại tiếc rẻ:
- Vì làm bác sĩ hay nha sĩ trước là sung túc cho bản thân mình và gia đình mình, sau là có cơ hội giúp đỡ những người nghèo khó. Người ta không dễ dàng móc túi ra cho người nghèo một vài trăm đô la, nhưng bác sĩ, nha sĩ có thể khám bệnh miễn phí, hay giảm gía tiền khám bệnh cho người nghèo, cũng là làm điều lành, điều phước thiện.
Anh Bông đồng tình:
- Ừ, đó là hai ngành nghề thuận tiện và có điều kiện để giúp đỡ người khác, còn làm dược sĩ, dù có thương xót cho bệnh nhân nghèo không có bảo hiểm, không đủ tiền mua thuốc thì ông dược sĩ cũng không thể tự tiện lấy thuốc của cửa hàng mà cho không biếu không họ được.
- Vậy mà có vài bác sĩ vô lương tâm, lòng tham không đáy, chỉ biết vơ vét tiền làm giàu chẳng cần thương xót ai. Thậm chí bệnh nhân không đáng tái khám cũng hẹn tái khám để được charge tiền hãng bảo hiểm. Đã giàu rồi càng muốn giàu thêm.

Anh Bông phụ họa:
- Ngay cả mấy ông thợ sửa xe hơi hay sửa điện lạnh vào mùa hè cũng kiếm cớ chém đẹp, có ít thì xít ra nhiều kìa.
Chị Bông tiếp:
- Còn chuyện hai con mình không học được nghề bác sĩ, nha sĩ, nếu con làm thợ sửa xe hơi, sửa điện lạnh trong nhà, em cũng sẽ khuyên con sống cho trung thực, làm việc đúng lương tâm, lấy tiền đúng với khả năng công sức của mình chứ đừng gian dối tham lam là thất đức lắm. Mình gian tham qua mặt khách hàng, dù họ không biết nhưng trời đất biết và lương tâm mình biết.
Rồi chị Bông kết luận:
- Thôi nhé, mình chuẩn bị ăn cơm đi, người vợ “số khổ” của anh sẽ ăn cơm với rau muống luộc, cà pháo ngâm nước mắm để “thanh toán” 2 pounds dư thừa từ Calif. mang về. Còn anh, có món cá Thu rim mà anh ưa thích đây.
- Cám ơn em đã biết mọi ý…đồ, sở thích của anh.
Chị Bông đi ra bếp dọn cơm và nói:
- Chúng ta sống ở Mỹ thì cứ ăn các món đánh bắt ở Mỹ cho chắc ăn anh ạ, như cá Trout, cá Hồi, cá lù đù, cá Thu, tôm khô v..v.. vừa tươi tốt, không độc hại như một số cá nhập khẩu từ China hay Việt Nam vừa ủng hộ ngư dân ở Mỹ, như mình đã ăn gạo Louisiana trồng tại Mỹ để ủng hộ nhà nông Mỹ, kinh tế Mỹ.
- Hoan hô em, ăn cây nào rào cây nấy.
Chị Bông hào hứng nói thêm:
- Mỹ mà sản xuất ra…nước mắm, mắm tôm em cũng mua luôn vì “Made in USA” là em tín nhiệm liền.

Nguyễn Thị Thanh Dương

Thứ Hai, 21 tháng 3, 2022

Nhung Nhớ

(Ảnh: NguyễnThànhTài)

Một chiếc lá rơi tuyết phủ mờ
Biết bao kỷ niệm gởi vào thơ
Đầy vơi tâm sự từng đêm vắng
Gợi nhớ nhung hoài trong giấc mơ.


Nguyễn Thành Tài  
MTL 2022-02-28