tiêu đề Nhãn
- BIÊN KHẢO
- CÂU ĐỐI
- CỔ THI
- GIA CHÁNH
- GIẢI TRÍ
- HÌNH ẢNH HỘI NGỘ
- HÌNH ẢNH NAY
- HÌNH ẢNH XƯA
- HỘI HỌA
- KHOA HỌC
- LƯU NIỆM
- LỊCH SỬ
- LỜI HAY Ý ĐẸP
- NHẠC
- SƯU TẦM
- SỨC KHOẺ
- THƠ
- THƠ CẢM TÁC
- THƠ DIỄN NGÂM
- THƠ DỊCH
- THƠ NHẠC
- THƠ PHỔ NHẠC
- THƠ SƯU TẦM
- THƠ TRANH
- THƠ TRANH NGHỆ SĨ
- TIN BUỒN
- TIN VUI
- VĂN
- VŨ HỐI THƯ HỌA
- VƯỜN THƠ VIÊN NGOẠI
- XƯỚNG HỌA
- YOUTUBE
Thứ Ba, 29 tháng 7, 2014
Tình Yêu ax2+bx+c=0
Em là dòng dõi bậc hai
Nhìn thêm duyên dáng tình ai nhạt hồng
Số một em sáng khác 0
Trãi bao năm tháng tấm lòng chẳng thay
A-B-C găp duyên may
Cũng không chứa x em nay hình thành
Delta lập tức đệ trình
Bê bình phương nhé! Khối tình đam mê
Đem trừ lại 4a-c
Xét Delta để tìm về với em
Số em thôi thật dịu mềm
Chuyện tình dang dở nổi niềm gạt ngang
Em không có nghiệm rõ ràng
Còn gì đâu nữa, chào nàng nàng ơi!
Số 0 nghiệm kép đây rồi
Trừ B hớn hở chia đôi ân tình
Từ đây chủ đứng một mình
Dầu em biến dạng ý tình như xưa
Trời dù gió lạnh gió đông
Mai trong nắng hạ vẫn đồng điệu ca
Âm B trừ cộng Delta
Chia cho tích số 2a xong rồi
(Khuyết Danh)
Tống Ngọc Nhan sưu tầm
Thứ Hai, 28 tháng 7, 2014
Chiều Lên Chùa
Dạo:
Gập
ghềnh sơn đạo nhỏ
Hiu
hắt ánh dương tà
Mái
chùa cong ngói đỏ
Chầm
chậm bóng mây qua
* * *
Đến thăm chùa một
chiều thanh vắng
Trên triền cao mây
trắng bay bay
Trời hồng vạt nắng
phai phai
Thông ngàn vi vút,
bóng dài lung linh
Trông xa xa chập chùng
rừng núi
Lưng chừng đồi dòng
suối uốn quanh
Đầu non mây xám xây
thành
Hiu hiu cơn gió
mong manh tơ trời
Trên vách đá chơi vơi
thông bám
Cành la đà nắng ráng
còn vương
Dưới khe sâu thẳm mờ
sương
Nai con tai lắng tiếng
rừng vang vang
Mái chùa cong nắng
vàng xao xuyến
Trong chánh điện khói
quyện hương lan
Trên đài tượng Phật
hào quang ,
Bâng khuâng giây phút
lòng tràn cảm thương
Tiếng chuông ngân hồn
vương theo gió
Khói nhang đèn , khánh
mõ lâu lâu
Bờ mê bến giác nơi đâu?
Ngậm ngùi năm tháng
mái đầu như bông!
Kiếp nhân sinh mênh
mông bể khổ
Đời nổi chìm gót rỗ
chông gai
Tử sinh ly biệt lệ
dài
Mịt mù sương khói
trắng tay đường về!
Hoàng hôn xuống tư
bề quạnh vắng
Tiếng chuông càng sầu
lắng tâm tư
Ô hay ! trước cảnh
thực hư
Hồn ta bay bổng phiêu
du mây ngàn
Mailoc
Cali 7-20-14
Nhớ Tiếng Chuông Xưa
( Cảm tác từ Chiều Lên Chùa của Mai Lộc)
Tiếng chuông nay reo vui giữa phố
Giục người công đức để chia nhau
Thả chim bệnh để ta bắt lại
Phật cầm tiền giúp! Được tiêu đâu?
Ta đi hết một vòng chùa lớn
Đẹp ôi chao ! xanh đỏ lắm màu!
Kìa là ông bồ tát hiện đại!
Thỉnh cầu ông phước lộc dài lâu?
Chuông nhộn nhịp tuyên truyền khắp nẻo
Lòng dân ta quay quắt trăm đường
Tiếng chuông xưa tỏa trùm thôn xóm
Như quyện hồn ấm áp niềm thương
Chân Diện Mục
Giọt Buồn Tháng Bảy
Tháng bảy mùa ngâu rót giọt buồn
Hiên đời vắng mẹ một đời vương
Chắt chiu kỷ niệm thời niên thiếu
Man mác mưa lòng quyện gió sương!
Yên Dạ Thảo
24.07.2014
Tháng Bảy
Tháng bảy trở về nặng nỗi buồn
Đời con vắng bóng mẹ yêu thương
Phố Vắng Lá Đêm lòng chạnh nghĩ
Kiếp sống con người tựa giọt sương.
Anh Tú
20.07.2014
Chủ Nhật, 27 tháng 7, 2014
Ngủ Trần
Tôi tự ru tôi
Hãy ngủ một giấc trần trụi
Như thiếu nữ khỏa thân trong góc tối
Như con thằn lằn đeo trên tường
Quần áo xếp trong rương
Như đứa trẻ tấm dưới mưa
Đừng bối rối
Chưa có cơn say
Vội gì tỉnh vội
Hãy quên hôm qua
Đừng nhớ ngày nay
Và đòi hỏi ở mai sau
Cứ để mặt trời từ từ
Chiều chầm chậm xuống
Những ánh sao khuya
Chẳng vì trăng mà ngượng
Căng thẳng chiêm bao lạc mất đời thường
Nhạc cuồng mê tầm ruồng mê hoặc
Hãy nhìn tận xanh
Lắng lòng
Và ngủ tiếp
Phong Tâm
Hoài Cổ - 懷 古 - Phạm Đình Hổ
懷 古 Hoài cổ
去歲桃花發, Khứ tuế đào hoa phát;
鄰女初學笄。 Lân nữ sơ học kê.
今歲桃花發, Kim tuế đào hoa phát
已嫁鄰家西。 Dĩ giá lân gia tê.
去歲桃花發, Khứ tuế đào hoa phát;
春風何凄凄。 Xuân phong hà thê thê.
鄰女對花泣, Lân nữ đối hoa khấp;
愁深眉轉低。 Sầu thâm mi chuyển đê
今歲桃花發, Kim tuế đào hoa phát;
春草何萋萋。 Xuân thảo hà thê thê
鄰女對花笑, Lân nữ đối hoa tiếu;
吟成手自題。 Ngâm thành thủ tự đề
去歲桃花發, Khứ tuế đào hoa phát;
鄰女初學笄。 Lân nữ sơ học kê.
今歲桃花發, Kim tuế đào hoa phát
已嫁鄰家西。 Dĩ giá lân gia tê.
去歲桃花發, Khứ tuế đào hoa phát;
春風何凄凄。 Xuân phong hà thê thê.
鄰女對花泣, Lân nữ đối hoa khấp;
愁深眉轉低。 Sầu thâm mi chuyển đê
今歲桃花發, Kim tuế đào hoa phát;
春草何萋萋。 Xuân thảo hà thê thê
鄰女對花笑, Lân nữ đối hoa tiếu;
吟成手自題。 Ngâm thành thủ tự đề
Nguyên tác: Phạm Đình Hổ
Dịch Nghĩa:
Cảm Nhớ Chuyện Cũ
Năm ngoái hoa đào nở Cô láng giềng mới học cài trâm Năm nay hoa đào nở , Cô đã lấy chồng nhà láng giềng ở phía tây
Năm ngoái hoa đào nở Gió xuân sao lành lạnh Đứng trước hoa cô láng giềng khóc Buồn quá đôi lông mày sa xuống .
Năm nay hoa đào nở , Cỏ xuân sao mà xanh tươi Đứng trước hoa cô láng giềng tươi cười
Thơ làm xong tự tay cô viết
Các Bản dịch
(1)
Năm ngoái hoa đào nở
Em láng giềng bỡ ngỡ cài trâm
Năm nay hoa đào nở
Em lấy chồng nhà ở xóm trên
Năm ngoái hoa đào nở
Gió xuân ơi! Sao chở men sầu
Ngồi nhìn hoa rầu rầu lệ nhỏ
Em chau mày biết tỏ cùng ai!
Năm nay đào lại nở
Cỏ xuân xanh rực rỡ, lay lay
Trước hoa rộn rã lòng ai
Mấy vần thơ ngẫm qua tay em đề.
(2)
Năm ngoái hoa đào nở
Em mới học cài trâm
Năm nay đào lại nở
Bước theo chồng bâng khuâng
Năm ngoái hoa đào nở
Gió xuân sầu lê thê
Ngồi nhìn hoa, lệ nhỏ
Em chau mày ủ ê
Năm nay đào lại nở
Rực rỡ cỏ xuân tươi
Hoa cười , em hớn hở
Qua tay mấy vần thơ
Mailoc phỏng dịch
* * *
Nhớ Chuyện Xưa
Năm trước, hoa đào chớm nở
Em vừa bẽn lẽn cài trâm
Năm nay hoa đào rực rỡ
Thì em cất bước theo chồng
Năm trước hoa đào chớm nở
Gió xuân lành lạnh vừa sang
Nhìn hoa, mi sầu lệ ứa
Cong cong mày trĩu hai hàng.
Năm nay hoa đào lại nở
Cỏ xuân mơn mởn xanh tươi
Nhìn hoa, tủm tỉm em cười
Trải nỗi niềm vui, nắn bút.
Phương Hà phỏng dịch
* * *
Nhớ Xưa
Năm ngoái hoa đào nở
Cô hàng xóm cài trâm
Năm nay hoa đào nở
Cô em đã lấy chồng!
Năm trước hoa đào nở
Gió xuân vờn hây hây
Cô bé sầu hoa khóc
Ủ dột khép đôi mày!
Năm nay hoa đào nở
Mơn mởn cỏ xanh tươi
Thơ ngâm thành tay chép
Cô em nhoẻn miệng cười!
Đỗ Chiêu Đức
* * *
Nhớ Xưa
Năm rồi đào nở đầy sân
Em vừa độ tuổi phân vân trâm cài
Năm nay đào nở hồng vai
Em ra riêng lấy chồng ngoài thôn tây
Năm rồi đào nở sầu rây
Gió xuân lành lạnh chau mày cô em
Trước hoa rơi giọt lệ mềm
Cô đơn em thả buồn lên mái lầu
Năm nay đào nở thắm màu
Nụ cười em nở trên đầu cỏ xuân
Hồn say thơ thả mấy vần
Niềm vui mở cửa lâng lâng gió lùa
Trầm Vân
* * *
Nhớ Xưa
Năm ngoái hoa đào nở
Em mới học cài đầu
Năm nay hoa đào nở
Nhà người em làm dâu
Năm ngoái hoa đào nở
Man mác gió xuân sầu
Nhìn hoa em nức nở
Tê tái, đôi mày chau
Năm nay đào lại nở
Xanh tươi cỏ rực màu
Em cười xuân đang độ
Tay dệt mấy vần mau
Thanh Mai
Cali 7-1-14
* * *
Nhớ Xưa
Năm trước đào vừa nở
Em đến tuổi trâm cài
Năm nay hoa đào rộ
Nàng lấy chồng thôn tây
Năm qua đào mới nở
Xuân về lạnh tái tê
Nhìn hoa nàng đổ lệ
Sầu trĩu nặng đôi mày
Năm nay đào khoe sắc
Cỏ mượt đón xuân tươi
Cùng hoa em mỉm cười
Khe khẻ đề đôi câu.
Quên Đi
Dịch Nghĩa:
Cảm Nhớ Chuyện Cũ
Năm ngoái hoa đào nở Cô láng giềng mới học cài trâm Năm nay hoa đào nở , Cô đã lấy chồng nhà láng giềng ở phía tây
Năm ngoái hoa đào nở Gió xuân sao lành lạnh Đứng trước hoa cô láng giềng khóc Buồn quá đôi lông mày sa xuống .
Năm nay hoa đào nở , Cỏ xuân sao mà xanh tươi Đứng trước hoa cô láng giềng tươi cười
Thơ làm xong tự tay cô viết
Các Bản dịch
(1)
Năm ngoái hoa đào nở
Em láng giềng bỡ ngỡ cài trâm
Năm nay hoa đào nở
Em lấy chồng nhà ở xóm trên
Năm ngoái hoa đào nở
Gió xuân ơi! Sao chở men sầu
Ngồi nhìn hoa rầu rầu lệ nhỏ
Em chau mày biết tỏ cùng ai!
Năm nay đào lại nở
Cỏ xuân xanh rực rỡ, lay lay
Trước hoa rộn rã lòng ai
Mấy vần thơ ngẫm qua tay em đề.
(2)
Năm ngoái hoa đào nở
Em mới học cài trâm
Năm nay đào lại nở
Bước theo chồng bâng khuâng
Năm ngoái hoa đào nở
Gió xuân sầu lê thê
Ngồi nhìn hoa, lệ nhỏ
Em chau mày ủ ê
Năm nay đào lại nở
Rực rỡ cỏ xuân tươi
Hoa cười , em hớn hở
Qua tay mấy vần thơ
Mailoc phỏng dịch
* * *
Nhớ Chuyện Xưa
Năm trước, hoa đào chớm nở
Em vừa bẽn lẽn cài trâm
Năm nay hoa đào rực rỡ
Thì em cất bước theo chồng
Năm trước hoa đào chớm nở
Gió xuân lành lạnh vừa sang
Nhìn hoa, mi sầu lệ ứa
Cong cong mày trĩu hai hàng.
Năm nay hoa đào lại nở
Cỏ xuân mơn mởn xanh tươi
Nhìn hoa, tủm tỉm em cười
Trải nỗi niềm vui, nắn bút.
Phương Hà phỏng dịch
* * *
Nhớ Xưa
Năm ngoái hoa đào nở
Cô hàng xóm cài trâm
Năm nay hoa đào nở
Cô em đã lấy chồng!
Năm trước hoa đào nở
Gió xuân vờn hây hây
Cô bé sầu hoa khóc
Ủ dột khép đôi mày!
Năm nay hoa đào nở
Mơn mởn cỏ xanh tươi
Thơ ngâm thành tay chép
Cô em nhoẻn miệng cười!
Đỗ Chiêu Đức
* * *
Nhớ Xưa
Năm rồi đào nở đầy sân
Em vừa độ tuổi phân vân trâm cài
Năm nay đào nở hồng vai
Em ra riêng lấy chồng ngoài thôn tây
Năm rồi đào nở sầu rây
Gió xuân lành lạnh chau mày cô em
Trước hoa rơi giọt lệ mềm
Cô đơn em thả buồn lên mái lầu
Năm nay đào nở thắm màu
Nụ cười em nở trên đầu cỏ xuân
Hồn say thơ thả mấy vần
Niềm vui mở cửa lâng lâng gió lùa
Trầm Vân
* * *
Nhớ Xưa
Năm ngoái hoa đào nở
Em mới học cài đầu
Năm nay hoa đào nở
Nhà người em làm dâu
Năm ngoái hoa đào nở
Man mác gió xuân sầu
Nhìn hoa em nức nở
Tê tái, đôi mày chau
Năm nay đào lại nở
Xanh tươi cỏ rực màu
Em cười xuân đang độ
Tay dệt mấy vần mau
Thanh Mai
Cali 7-1-14
* * *
Nhớ Xưa
Năm trước đào vừa nở
Em đến tuổi trâm cài
Năm nay hoa đào rộ
Nàng lấy chồng thôn tây
Năm qua đào mới nở
Xuân về lạnh tái tê
Nhìn hoa nàng đổ lệ
Sầu trĩu nặng đôi mày
Năm nay đào khoe sắc
Cỏ mượt đón xuân tươi
Cùng hoa em mỉm cười
Khe khẻ đề đôi câu.
Quên Đi
Việt Nam Sử Lược - Quyển 1 Chương III : Bắc Thuộc Lần Thứ Hai
Các Phần Đã Đăng:
CHƯƠNG III
BẮC THUỘC LẦN THỨ HAI
43 — 544
BẮC THUỘC LẦN THỨ HAI
43 — 544
| I. NHÀ ĐÔNG-HÁN | 1. Chính-trị nhà Đông-Hán |
| 2. Lý Tiến và Lý Cầm | |
| 3. Sĩ Nhiếp | |
| II. ĐỜI TAM-QUỐC | 1. Nhà Đông Ngô |
| 2. Bà Triệu (Triệu thị Chinh) | |
| 3. Nhà Ngô chia đất Giao-châu | |
| III. NHÀ TẤN | 1. Chính-trị nhà Tấn |
| 2. Nước Lâm-ấp quấy nhiễu Giao-châu | |
| IV. NAM BẮC-TRIỀU | 1. Tình thế nước Tàu |
| 2. Việc đánh Lâm-ấp | |
| 3. Sự biến loạn ở đất Giao-châu |
I. NHÀ ĐÔNG-HÁN (25-220)
1. CHÍNH-TRỊ NHÀ ĐÔNG-HÁN. Mã Viện đánh được Trưng-Vương đem đất
Giao-chỉ về thuộc nhà Hán như cũ, rồi chỉnh-đốn binh-lương, đem quân đi
đánh dẹp các nơi, đi đến đâu xây thành đắp lũy đến đấy và biến-cải mọi
cách chính-trị trong các châu quận. Đem phủ-trị về đóng ở Mê-linh[1] và dựng cây đồng-trụ ở chỗ phân địa-giới, khắc sáu chữ: « Đồng trụ chiết, Giao-chỉ diệt. 銅 柱 折, 交 趾 滅 ». Nghĩa là cây đồng-trụ mà đổ thì người Giao-chỉ mất nòi.
Sử chép rằng người Giao-chỉ đi qua lại chỗ ấy, ai cũng bỏ vào chân
cột đồng-trụ một hòn đá, cho nên về sau chỗ ấy thành ra núi, phủ mất cả,
đến bây giờ không biết cột ấy ở vào chỗ nào.
Từ đó chính-trị nhà Đông Hán càng ngày càng ngặt thêm, mà những
quan-lại sang cai-trị Giao-chỉ thường có lắm người tàn-ác, tham-nhũng,
bắt dân lên rừng xuống bể để tìm những châu-báu. Dân ở quận Hợp-phố cứ
phải xuống bể mò ngọc trai khổ quá, đến đổi phải bỏ xứ mà đi.
Triều-đình thì xa, quan-lại ra cai-trị thì tha hồ mà tung-hoành,
tiếng oan-ức kêu không thấu vào đâu, cho nên thường hay có sự loạn-lạc,
làm cho dân-gian phải nhiều sự khổ-sở.
2. LÝ TIẾN VÀ LÝ CẦM. Quan cai-trị đã tàn-ác, nhà vua lại bạc-đãi
người bản-xứ. Đời bấy giờ người mình dẫu có học-hành thông-thái cũng
không được giữ việc chính-trị. Mãi đến đời vua Linh-đế 靈 帝(168-189) cuối
nhà Đông-Hán mới có một người bản-xứ là Lý Tiến 李 進 được cất lên làm
Thứ-sử ở Giao-chỉ. Lý Tiến dâng sớ xin cho người Giao-chỉ được bổ đi làm
quan như ở trung-châu bên Tàu. Nhưng Hán-đế chỉ cho những người đỗ
mậu-tài 茂 才hoặc hiếu-liêm 孝 廉 được làm lại-thuộc ở trong xứ mà thôi, chứ
không được đi làm quan ở châu khác. Bấy giờ có người Giao-chỉ tên là Lý
Cầm 李 琴 làm lính túc-vệ hầu vua ở trong điện, rủ mấy người bản-xứ ra
phục xuống sân mà kêu cầu thảm-thiết. Hán-đế mới cho một người Giao-chỉ
đỗ mậu-tài đi làm quan-lệnh ở Hạ-dương 夏 陽 令 và một người đỗ hiếu-liêm
làm quan-lệnh ở Lục-hợp 六 合 令. Về sau Lý Cầm làm đến quan Tư-lệ Hiệu-úy 司
隸 校 尉 và lại có Trương Trọng 張 重 cũng là người Giao-chỉ làm thái-thú ở
Kim-thành 金 成 太 守. Người Giao-chỉ ta được làm quan như người bên Tàu,
khởi đầu từ Lý Tiến và Lý Cầm vậy.
3. SĨ NHIẾP (187-226). Về cuối đời nhà Đông-Hán, giặc cướp nổi lên
khắp cả bốn phương, triều-đình không có uy-quyền ra đến ngoài, thiên-hạ
chỗ nào cũng có loạn. Đất Giao-chỉ bấy giờ nhờ có quan thái-thú là Sĩ
Nhiếp 士 燮 cùng với anh em chia nhau giữ các quận huyện, cho nên mới được
yên.
Tiên-tổ nhà ông Sĩ Nhiếp là người nước Lỗ 魯, vì lúc Vương Mãng 王 莽 cướp ngôi nhà Hán, mới tránh loạn sangở
đất Quảng-tín 廣 信, quận Thương-ngô 蒼 梧, đến đời ông thân-sinh ra Sĩ
Nhiếp là sáu đời. Ông thân-sinh tên là Sĩ Tứ 士 賜 làm thái-thú quận
Nhật-nam 日 南, cho Sĩ Nhiếp về du-học ở đất Kinh-sư, đỗ hiếu-liêm được bổ
Thượng-thư-lang, vì việc quan phải cách, rồi về chịu tang cha. Sau lại
đỗ mẫu-tài được bổ sang làm Thái-thú ở quận Giao-chỉ.
Năm quí-mùi (203) là năm thứ 3 đời vua Hiến-đế 獻 帝, quan Thứ-sử là
Trương tân 張 津 cùng với quan Thái-thú Sĩ Nhiếp dâng sớ xin cải Giao-chỉ 交
趾 làm Giao-châu 交 州. Vua nhà Hán thuận cho. Sau vì trong châu có lắm
giặc-giã, Sĩ Nhiếp mới tâu xin vua nhà Hán cho mấy anh em làm Thái-thú
quận Cửu-chân, quận Hợp-phố và quận Nam-hải. Sĩ Nhiếp giữ được đất
Giao-châu khỏi loạn và vẫn giữ lệ triều cống như cũ, cho nên vua Hiến-đế
lại phong cho chức An-viễn tướng quân 安 遠 將 軍 Long-độ đình-hầu 龍 度 亭 侯.
Sĩ Nhiếp trị dân có phép tắc, và lại chăm sự dạy-bảo dân cho nên lòng
người cảm-mộ công-đức, mới gọi tôn lên là Sĩ-vương.
Nhà làm sử thường cho nước ta có văn-học là khởi đầu từ Sĩ Nhiếp. Cái
ý-kiến ấy có lẽ không phải. Vì rằng từ khi nhà Hán sang cai-trị đất
Giao-chỉ đến đời Sĩ Nhiếp đã được hơn 300 năm, người Giao-chỉ đã có
người học-hành thi đỗ hiếu-liêm, mậu-tài. Vậy nói rằng đến ông Sĩ Nhiếp
mới có nho-học thì chẳng sai lắm ru. Hoặc-giả ông ấy là một người có
văn-học rồi trong khi làm quan, lo mở-mang sự học-hành, hay giúp-đỡ
những kẻ có chữ-nghĩa, cho nên về sau mới được cái tiếng làm học tổ ở
nước ta, tưởng như thế thì có thể hợp lẽ hơn.
II. ĐỜI TAM-QUỐC (220-265)
1. NHÀ ĐÔNG-NGÔ (222-280). Nhà Đông-Hán mất ngôi thì nước Tàu phân ra
làm ba nước: Bắc-ngụy 北 魏, Tây-thục 西 蜀, Đông-ngô 東 呉. Đất Giao-châu
bấy giờ thuộc về Đông-ngô.
Sĩ Nhiếp ở Giao-châu được 40 năm, tuy thiệt có uy-quyền ở cõi
Giao-châu, nhưng vẫn theo lệ triều cống nhà Hán, và đến khi nhà Hán mất
thì lại triều cống nhà Ngô.
Năm bính-ngọ (226) là năm Hoàng-vũ 黄 武 thứ 5 nhà Ngô, Sĩ Nhiếp mất,
con Sĩ Huy 士 徽 tự xưng làm Thái-thú. Ngô-chủ là Tôn Quyền 孫 權 bèn chia
đất Giao-châu, từ Hợp-phố về bắc gọi là Quảng-châu 廣 州, từ Hợp-phố về
nam gọi là Giao-châu 交 州. Sai Lữ Đại 呂 岱 làm Quảng-châu thứ-sử, Đái
Lương 戴 良làm Giao-châu thứ sử, và sai Trần Thì 陳 辰 sang thay Sĩ Nhiếp
làm thái-thú quận Giao-chỉ.
Bọn Đái Lương và Trần Thì sang đến Hợp-phố thì Sĩ Huy đem quân ra
chống giữ. Thứ-sử Quảng-châu là Lữ Đại mới tiến quân sang đánh-dẹp, và
cho người đến dụ Sĩ Huy ra hàng. Sĩ Huy đem 5 anh em ra hàng, Lữ Đại sai
bắt Sĩ Huy đem chém đi, còn mấy anh em thì đem về Ngô-triều làm tội.
Ngô-chủ lại hợp Quảng-châu và Giao-châu lại làm một, và phong cho Lữ
Đại làm Thứ-sử. Lữ Đại đem quân đi đánh quận Cửu-chân có công được phong
làm Giao-châu-mục 交 州 牧.
2. BÀ TRIỆU (TRIỆU THỊ CHINH)[2]. Năm mậu-thìn (248) là năm Xích-ô 赤 烏 thứ 11 nhà Đông-ngô, Ngô-chủ sai Lục Dận 陸 胤 sang làm thứ-sử Giao-châu.
Năm ấy ở quận Cửu-chân 九 真 có người đàn-bà tên là Triệu thị Chinh khởi binh đánh nhà Ngô.
Sử ta chép rằng bà Triệu là người huyện Nông-cống bấy giờ. Thủa nhỏ
cha mẹ mất cả, ở với anh là Triệu quốc Đạt 趙 國 達, đến độ 20 tuổi gặp
phải người chị dâu ác-nghiệt, bà ấy giết đi rồi vào ở trong núi. Bà ấy
là một người có sức mạnh, lại có chí-khí và lắm mưu-lược. Khi
vào
ở trong núi chiêu mộ hơn 1.000 tráng-sĩ để làm thủ-hạ. Anh thấy thế mới
can bà, thì bà bảo rằng: « Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp đường sóng
dữ, chém cá tràng-kình ở bể đông, quét sạch bờ-cõi, để cứu dân ra khỏi
nơi đắm-đuối, chứ không thèm bắt-chước người đời cúi đầu cong lưng để
làm tì-thiếp người ta.»
Năm mậu-thìn (248) vì quan-lại nhà Ngô tàn-ác, dân-gian khổ-sở, Triệu
quốc Đạt mới khởi binh đánh quận Cửu-chân. Bà đem quân ra đánh giúp
anh, quân-sĩ của Triệu quốc Đạt thấy bà làm tướng có can-đảm, bèn tôn
lên làm chủ. Khi bà ra trận thì cưỡi voi và mặc áo giáp vàng là Nhụy-kiều tướng-quân.
Thứ-sử Giao-châu là Lục Dận đem quân đi đánh, bà chống nhau với nhà
Ngô được năm sáu tháng. Nhưng vì quân ít thế cô, đánh mãi phải thua, bà
đem quân chạy đến xã Bồ-điền (nay là xã Phú-điền thuộc huyện Mỹ-hóa) thì
tự-tử. Bấy giờ mới 23 tuổi.
Về sau vua Nam-đế nhà Tiền-Lý, khen là người trung-dũng sai lập miếu thờ, phong là: « Bật chinh anh-liệt hùng tài trinh nhất phu-nhân ». Nay ở xã Phú-điền, tỉnh Thanh-hóa còn có đền thờ.
4. NHÀ NGÔ CHIA ĐẤT GIAO-CHÂU. Năm giáp-thân (264) là năm Nguyên-hưng
nguyên-niên, vua nhà Ngô lại lấy đất Nam-hải, Thương-ngô và Uất-lâm làm
Quảng-châu 廣 州, đặt châu-trị ở Phiên-ngung 番 禺; lấy đất Hợp-phố,
Giao-chỉ, Cửu-chân, và Nhật-nam làm Giao-châu 交 州, đặt châu-trị ở
Long-biên 龍 編. Đất Nam-Việt của nhà Triệu ngày trước thành ra Giao-châu
và Quảng-châu từ đấy.
Đất Giao-châu đời bấy giờ cứ loạn-lạc mãi, những quan-lại nhà Ngô thì
thường là người tham-tàn, vơ-vét của dân, bởi vậy người Giao-châu nổi
lên giết quan thái-thú đi rồi về hàng nhà Ngụy.
Năm ất dậu (256) nhà Tấn 晉 cướp ngôi nhà Ngụy, rồi sai quan sang giữ Giao-châu. Nhà Ngô sai Đào Hoàng 陶 璜 sanglấy
lại. Đào Hoàng được phong là Giao-châu-mục. Năm canh-tí (280) nhà Ngô
mất nước. Đào Hoàng về hàng nhà Tấn, được giữ chức cũ. Đất Giao-châu từ
đó thuộc về nhà Tấn.
III. NHÀ TẤN (265-420)
1. CHÍNH-TRỊ NHÀ TẤN. Nhà Tấn 晉 được thiên-hạ rồi, thấy nhà Ngụy 魏 vì
thế cô mà mất, bèn đại phong cho họ-hàng và sai ra trấn các nơi để làm
vây-cánh cho nhà vua. Nhưng cũng vì lẽ ấy mà các thân-vương thường vì
lòng tham danh-lợi cứ dấy binh đánh giết lẫn nhau, làm cho anh em trong
nhà, cốt-nhục tương tàn, mà ngôi vua cũng thành ra suy-nhược.
Thời bấy giờ ở phía tây-bắc có những người nhung-địch thấy nhà Tấn có
nội loạn, bèn lũ-lượt nổi lên chiếm giữ dần dần lấy cả vùng phía bắc
sông Trường-giang 長 江 rồi xưng đế, xưng vương, như nước Triệu 趙, nước
Tần 秦, nước Yên 燕, nước Lương 凉, nước Hạ 夏, nước Hán 漢 v. v... cả thảy
trước sau đến 16 nước, gọi là loạn Ngũ-Hồ 五 胡 [3].
Nhà Tấn làm vua được hơn 50 năm thì mất cả đất ở phía tây-bắc. Dòng
dõi nhà vua lại dựng nghiệp ở phía đông-nam, đóng đô ở thành Kiến-nghiệp
建 業 (tức là thành Nam-kinh bây giờ) gọi là nhà Đông-Tấn 東 晉.
Đất Giao-châu ta vẫn thuộc nhà Tấn. Những quan lại sang cai-trị cũng
như quan-lại đời nhà Hán, nhà Ngô, thỉnh-thoảng mới gặp được một vài
người nhân-từ tử-tế, thì dân-gian mới được yên-ổn, còn thì là những
người tham-lam, độc-ác, làm cho nhân dân phải lầm-than khổ-sở. Cũng lắm
khi bọn quan-lại có người phản-nghịch đánh giết lẫn nhau, làm cho trong
nước cứ phải loạn-lạc luôn.
2. NƯỚC LÂM-ẤP QUẤY-NHIỄU GIAO-CHÂU. Đất Giao-châu lúc bấy giờ trong
thì có quan-lại nhũng-nhiễu, ngoài thì có người nước Lâm-ấp 林 邑 vào đánh
phá.
Nước Lâm-ấp (sau gọi là Chiêm-thành 占 城) ở từ quận Nhật-nam vào cho
đến Chân-lạp, nghĩa là ở vào quãng từ tỉnh Quảng-bình, Quảng-trị cho đến
đất Nam-Việt bây giờ. Người Lâm-ấp có lẽ là nòi-giống Mã-lai, theo
tông-giáo và chính-trị Ấn-độ. Nước ấy cũng là một nước văn-minh và
cường-thịnh ở phía nam lúc bấy giờ, nhưng không chắc rõ nước ấy khởi đầu
thành nước từ lúc nào. Sách « Khâm-định Việt-sử 欽 定 越 史 » chép
rằng: năm nhâm-dần (102) đời vua Hòa đế 和 帝 nhà Đông-Hán 東 漢, ở phía nam
quận Nhật-nam có huyện Tượng-lâm 象 林, người huyện ấy cứ hay sang cướp
phá ở quận Nhật-nam, bởi vậy vua nhà Hán mới đặt quan cai-trị ở huyện
ấy, để phòng giữ sự rối-loạn.
Đến cuối đời nhà Hán có người huyện Tượng-lâm tên là Khu Liên 區 連
giết huyện-lệnh đi, rồi tự xưng làm vua, gọi là nước Lâm-ấp 林 邑. Dòng
dõi Khu Liên thất truyền, bởi vậy cháu ngoại của Phạm Hùng 范 熊 lên nối
nghiệp.
Trong đời Tam-quốc, người Lâm-ấp hay sang cướp phá ở quận Nhật-nam và
quận Cửu-chân, bởi vậy khi nhà Tấn đã lấy được Đông-ngô rồi, ý muốn
giảm bớt quân ở các châu quận, nhưng quan thứ-sử Giao-châu là Đào Hoàng 陶
煌 dâng sớ về tâu rằng: « Vua nước Lâm-ấp là Phạm Hùng thông với nước
Phù-nam 扶 南 hay sang quấy nhiễu ở đất Nhật-nam, nếu lại giảm bớt quân ở
Giao-châu đi, thì sợ quân Lâm-ấp lại sang đánh phá ».
Xem như vậy thì nước Lâm-ấp đã có từ đầu đệ-nhị thế-kỷ.
Phạm Hùng truyền cho con là Phạm Dật 范 逸. Phạm Dật mất, thì người gia
nô là Phạm Văn 范 文 cướp mất ngôi. Phạm Văn truyền cho con là Phạm Phật 文
佛.
Năm quí-sửu (353) đời vua Mục-đế 穆 帝 nhà Đông-Tấn, thứ-sử Giao-châu là Nguyễn Phu 阮 敷 đánh vua Lâm-ấp làPhạm
Phật, phá được hơn 50 đồn-lũy. Phạm Phật mất, truyền ngôi lại cho con
cháu là Phạm hồ Đạt 范 胡 達. Năm kỷ-hợi (399) Phạm hồ Đạt đem quân sang
đánh lấy hai quận Nhật-nam và Cửu-chân rồi lại đi đánh Giao-châu. Bấy
giờ có quan thái-thú quận Giao-chỉ là Đỗ Viện 杜 瑗 đánh đuổi người
Lâm-ấp, lấy lại hai quận. Đỗ Viện được phong làm Giao-châu thứ-sử.
Năm quí-sửu (413) Phạm hồ Đạt lại đem quân sang phá ở quận Cửu-chân.
Khi bấy giờ con Đỗ Viện là Đỗ tuệ Độ 杜 慧 度 làm Giao-châu thứ-sử đem binh
ra đuổi đánh, chém được tướng Lâm-ấp là bọn Phạm Kiện 范 健 và bắt được
hơn 100 người.
Người Lâm-Ấp vẫn có hay tính đi cướp phá, cứ năm ba năm lại sang quấy
nhiễu ở đất Nhật-nam. Đỗ tuệ Độ định sang đánh Lâm-ấp để trừ cái hại về
sau, bèn đến năm canh-thân (420) cất binh mã sang đánh, chém giết tàn
hại, rồi bắt người Lâm-ấp cứ hàng năm cống tiến: voi, vàng, bạc, đồi-mồi
v.v. Từ đó mới được tạm yên.
Dòng-dõi Phạm hồ Đạt làm vua được mấy đời lại bị quan Lâm-ấp là Phạm
chư Nông 范 諸 農 cướp mất ngôi. Phạm chư Nông truyền cho con là Phạm dương
Mại 范 陽 邁.
Khi Phạm dương Mại làm vua nước Lâm-ấp, thì nhà Tấn đã mất rồi, nước
Tàu phân ra Nam-triều và Bắc-triều. Phạm dương Mại lại nhân dịp đó mà
sang quấy nhiễu ở Giao-châu.
NAM BẮC-TRIỀU (420-588)
1. TÌNH-THẾ NƯỚC TÀU. Năm canh-thân (420) Lưu Dụ 劉 裕 cướp ngôi nhà
Đông-Tấn, lập ra nhà Tống ở phía nam. Lúc bấy giờ ở phía Bắc thì nhà
Ngụy 魏 gồm được cả nước Lương 凉, nước Yên 燕, nước Hạ 夏. Nước Tàu phân ra
làm Nam-triều 南 朝 và Bắc-triều 北 朝.
Bắc-triều thì có nhà Ngụy 魏, nhà Tề 齊, nhà Chu 周 nối nhau làm vua;
Nam-triều thì có nhà Tống 宋, nhà Tề 齊, nhà Lương 梁và nhà Trần 陳 kế
nghiệp trị-vì.
Lúc bấy giờ ở đất giao-châu phụ thuộc về Nam-triều.
2. VIỆC ĐÁNH LÂM-ẤP. Trong đời nhà Tống về năm quí-dậu (433) đời vua
Văn-đế 文 帝, vua nước Lâm-ấp là Phạm dương Mại 范 陽 邁 thấy nước Tàu
loạn-lạc, bèn sai sứ sang cống nhà Tống và xin lĩnh đất Giao-châu để
cai-trị. Nhưng vua nhà Tống không cho.
Từ đó nước Lâm-ấp lại sang cướp phá ở mạn Nhật-nam và Cửu-chân. Vua
nhà Tống bèn sai quan thứ-sử là Đàn hòa Chi 檀和 之 và Tông Xác 宗 愨 làm phó
tướng đem binh sang đánh Lâm-ấp. Phạm dương Mại đem quân ra chống cự.
Đàn hòa Chi và Tông Xác tiến quân chém được tướng, phá được thành,
quân Lâm-ấp vỡ tan, Phạm dương Mại cùng với con chạy thoát được. Đàn hòa
Chi vào đất Lâm-ấp lấy được vàng bạc châu-báu rất nhiều. Sử chép rằng
Đàn hòa Chi lấy được một cái tượng bằng vàng mấy người ôm không xuể, đem
nấu-đúc được hơn 10 vạn cân. Từ đấy người Tàu biết Lâm-ấp có nhiều của,
cứ chực sang lấy. Đàn hòa Chi cũng từ đấy mà bị gièm pha, phải cách
chức đuổi về.
3. SỰ BIẾN-LOẠN Ở ĐẤT GIAO-CHÂU. Năm Kỷ-mùi (479) nhà Tống mất ngôi,
nhà Tề kế nghiệp, trị-vì được 22 năm thì nhà Lương lại cướp ngôi nhà Tề.
Trong đời Nam Bắc-triều, đất Giao-châu không được mấy khi yên-ổn, vì
quan Tàu sang cai-trị có nhiều người thấy bên Tàu loạn, cũng muốn tìm
cách để độc-lập, bởi vậy quan lại cứ giết lẫn nhau.
Đời nhà Lương lại sai Tiêu-Tư 蕭 諮 sang làm thứ-sử Giao-châu. Tiêu Tư
là một người tàn-bạo, làm cho lòng người ai cũng oán-giận. Bởi vậy ông
Lý Bôn 李 賁 mới có cơ-hội mà nổi lên, lập ra nhà Tiền Lý 前 李.
Chú thích cuối trang
- ▲ Về cuối đời Đông-Hán lại dời về Long-biên 龍 編.
- ▲ Bà Triệu, các kỳ xuất-bản trước để là Triệu Ẩu. Nay xét ra nên để là Triệu thị Chinh.
- ▲ Ngũ-Hồ là 5 rợ: Hung-nô 匈 奴 và rợ Yết 羯 (chủng-loại Mông-cổ), rợ Tiên-ti 鮮 卑 (chủng-loại Mãn-châu), rợ Chi
- 氏 và rợ Khương 羌 (chủng-loại Tây-tạng).
Huỳnh Hữu Đức sưu tầm
Thứ Bảy, 26 tháng 7, 2014
Giọt Nước Mắt
(Kính dâng hương hồn anh Phạm Hữu Nghĩa)
Đã vĩnh viễn nhau - biền biệt tin
Anh đi, sầu đọng mấy thâm tình
Ở đây em tưởng đời phố cũ
Bằng những hình dung buốt trái tim.
Từ thuở ấu thơ đã bơ vơ
Mẹ cha như dòng nước đôi bờ
Anh đau từng bước chân hè phố
Tìm kiếm cho đời chút mộng mơ.
Như mặt trời cho những đứa em
Anh yêu từng dáng, nhớ từng tên
Dù xa trăm núi ngàn sông nước
Đời vẫn dìu nhau mỗi bước nghiêng.
Rồi dạo anh đi tìm lý tưởng
Chiến trường đành gác chuyện tương lai
Đất trời nào phải trong gang tấc
Chợ có hằng muôn kẻ lạc loài.
Em chỉ là thư sinh yếu đuối
Mang trên thân đầy dẫy nhục nhằn
Nhà nghèo hai bữa cơm dưa muối
Mẹ đặt niềm tin theo tháng năm.
Nhưng niềm tin mẹ như ngọn bấc
Nhỏ bé làm sao chịu gió sương
Em hai mươi tuổi rồi lưu lạc
Quờ quạng như anh khắp nẻo đường.
Hôm nay mặt đất ngời chân lý
Là lúc không anh để phố cười
Là lúc em đang ngồi tưởng niệm
Sầu xưa như vết chém trong đời.
Đã vĩnh viễn rồi - Anh ở đâu?
Nhớ anh, buồn bã một tinh cầu
Lưỡi dao đã cắm trong đời sống
Đã để nhiều thương tích rất sâu.
Từ lâu rồi em bỏ làm thơ
Vì thấy đời không giống mộng mơ
Hôm nay tim bỗng trào ra ý
Rớt xuống thành ngôn ngữ đợi chờ...
Phạm Hồng Ân ( Viết ở Bến Tre 1985, viết tiếp ở Escondido 20/06/2014)
Em Đi Xem Hội Trăng Tròn - Nguyễn Nghị - Như Quỳnh
Những năm đầu của thế kỷ trước những lễ hội dân gian truyền thống của nước ta diễn ra trong thanh bình yên ả, trai gái xem đó là dịp để mọi người gặp gỡ vui chơi, cũng có những cặp tình nhân quen nhau rồi hẹn hò nên duyên từ những đêm lễ hội đó.
Đêm trăng rằm cũng là những lễ hội đẹp và vui như thế, các cô thì quần lãnh áo tứ thân dập dìu đi xem lễ hội để mong mình có gặp một chàng trai nào vừa ý không?
Và các chàng trai cũng mong tìm cho mình một giai nhân trong mộng.
Sáng Tác: Nguyễn Nghị
Tiếng Hát: Như Quỳnh
Thực Hiện: Nguyễn Thế Bình
Trái Mật Tình Sầu
Sáng nay mặt trời chín đỏ au
Trên nhành rừng nhỏ sương nhẹ màu
Tôi thắng xe vào một lối nhỏ
Chợt hay bỏ lại đời phía sau
Hơi thở thành sương quyện mắt sâu
Mặt trời rướm mật thơm ngọt ngào
Sỏi đá rộn ràng chờ mật thấm
Như chiếc hôn đầu ngày thật lâu
Đạp sỏi như giành một nụ hôn
Chơ vơ tôi đứng giữa con đường
Tựa ngáng bướm ong từ mọi phía
Riêng một vòng tay chuyện yêu đương
Như trái mặt trời em lên cao
Tôi còn ngơ ngẩn giữa rừng sầu
Mây trắng lụa hờ khêu gợi thoảng
Cảm giác tình tê lịm tế bào
Mặt trời ướm mật đã lên cao
Vòng tay hụt hẫng hơi hướm đâu
Như trái tình xưa thèm chưa tới
Với mãi một người mật thương đau
Hoài Tử
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

















