Thứ Tư, 21 tháng 1, 2026

Trả Lại Cho Đời

 

Nhớ ngày nào ta về qua xóm nhỏ
Thật bình yên ta xuống một con đò
Nghĩ cuộc đời mình đang vui hạnh ngộ
Đâu còn gì phải khắc khoải chờ mong!

Thật đâu có ngõ nào đầy hoa mộng
Nên chiều nay cô lẻ đứng bên thềm
Nhìn xa xa sông xưa trôi lặng lẽ
Giữa muộn chiều hoang vắng ngậm ngùi thêm!

Đời chi là môt cõi vô thường nhi?
Không giữ được, dù chỉ mối tình con
Thôi tỉnh lại hướng lòng về bến giác
Nỗi trái ngang xin trả lại cho đời!

Hàn Thiên Lương

14-1-2026

Vớ Vẩn

 

Nhắm mắt trông cảnh trời chiều
Để nghe lục bát câu Kiều Nguyễn Du
Gió lên giữa chốn mịt mù
Ta đi về giữa thiên thu cõi người
Bước ra từ mộng đười ươi
Trăm năm hóa kiếp khóc cười vẩn vơ
Nụ hồng úa nở câu thơ
Trăng treo lơ lửng bên bờ tử sinh
Thuyền trôi con nước dập dềnh
Cũng xin một chút bình sinh với đời
Câu thơ vớ vẩn khơi khơi
Nắng chiều đang rụng bên đời hắt hiu


Phong Châu

Tề Thiên Nhạc 齊天樂 - 王沂孫 Vương Nghi Tôn



Xin Chân Thành Cảm Tạ Quý Vị Độc Giả của “Tống Từ” trong 6 Năm Qua.300 Bài Tống Từ Chú Giải

Bài 300

Vương Nghi Tôn 王沂孫 tự là Thánh Dữ 聖與, hiệu là Bích Sơn 碧山 và Trung Tiên 中仙, quê quán ở Cối Kê 會稽 (nay là thị trấn Thiệu Hưng紹興市, tỉnh Chiết Giang浙江, TH). Vào đầu thời kỳ nhà Nguyên 元朝ông đã từng giữ chức vụ “Học Chính學正” ở Khánh Nguyên Lộ 慶元路 (Nay là thị trấn Ninh Ba寧波市, tỉnh Chiết Giang浙江, TH). Ông thường vãng lai vùng Hàng Châu杭州, Thiệu Hưng, giao du xướng họa với bọn Chu Mật 周密, Trương Viêm 張炎, Tưởng Tiệp 蔣捷. Từ của ông thường là vịnh vật, cảm khái với thời cuộc, lời văn chải chuốt, ôm mối hờn vong quốc. Ông còn để lại bộ “Bích Sơn Nhạc Phủ 碧山樂府” hay còn gọi là “Hoa Ngoại Tập 花外集”.


齊天樂 - 王沂孫 Tề Thiên Nhạc – Vương Nghi Tôn

蟬                              Thiền

一襟餘恨宮魂斷, Nhất khâm dư hận cung hồn đoạn,
年年翠陰庭樹。 Niên niên thúy âm đình thụ.
乍咽涼柯, Sạ yết lương kha,
還移暗葉, Hoàn di ám diệp,
重把離愁深訴。 Trùng bả ly sầu thâm tố,
西窗過雨。 Tây song quá vũ.
怪瑤佩流空, Quái dao bội lưu không,
玉箏調柱。 Ngọc tranh điều trụ.
鏡暗妝殘, Kính ám trang tàn,
為誰嬌鬢尚如許。 Vi thùy kiều mấn thượng như hứa.

銅仙鉛淚似洗, Đồng tiên diên lệ tự tẩy,
嘆攜盤去遠, Thán huề bàn khứ viễn,
難貯零露。 Nan trữ linh lộ.
病翼驚秋, Bệnh dực kinh thu,
枯形閲世, Khô hình duyệt thế,
消得斜陽幾度? Tiêu đắc tà dương kỷ độ?
餘音更苦。 Dư âm cánh khổ.
甚獨抱清商, Thậm độc bão thanh thương,
頓成悽楚? Đốn thành thê sở?
謾想薰風, Mạn tưởng huân phong,
柳絲千萬縷。 Liễu ty thiên vạn lũ.

Chú Thích

1- Tề thiên nhạc 齊天樂: tên từ bài, tên khác là “Thánh thọ tề thiên nhạc mạn 聖壽齊天樂慢”, “Đài thành lộ 臺城路”, “Ngũ phúc giáng trung thiên 五福降中天”, “Như thử giang sơn如此江山”. Bài này có 102 chữ, đoạn trước 10 câu, đoạn sau 11 câu. Cách luật:
X B X T B B T cú

B X T B X T vận
X T B B cú
X B X T cú
X T X B X T vận
X B X T vận
T X T B B cú
X B B T vận
X T B B cú
X B X T T B T vận

X B X T X T cú
T B B T T cú
X X B T vận
X T B B cú
X B X T cú
X T B B X T vận
X B X T vận
T X X B B cú
T B B T vận
X T B B cú
T B B T T vận

2- Thiền 蟬: ve sầu
3- Nhất khâm 一襟: tràn ngập tấc lòng.
4- Cung hồn 宮魂: tức là hồn của Tề vương hậu. Sách “Cổ kim Chú 古今注” quyển hạ của Thôi Báo 崔豹 đời Tấn 晉 chép rằng:
“Ngưu Hanh vấn viết: ‘Thiền danh Tề nữ giả, hà dã?’ Đáp viết: ‘Tề vương hậu phẫn nhi tử, thi biến vi thiền, đăng đình thụ, huệ lệ nhi minh, Vương hối hận. Cố thế danh thiền viết Tề nữ dã’牛亨問曰: ‘蟬名齊女者,何也?’答曰: ‘齊王后忿而死,尸變爲蟬,登庭樹,嘒唳而鳴,王悔恨。故世名蟬曰齊女也。” (Ông Ngưu Hanh hỏi rằng: “Ve sầu được gọi là Tề nữ, là sao vậy?” Đáp rằng: “Tề vương hậu phẫn uất mà chết, thây biến thành ve sầu, bay lên cây trong sân, rơi lệ mà kêu, vua hối hận, Vì thế gọi ve sầu là Tề Nữ vậy”).

Đoạn trên không nói vì sao mà Tề vương hậu phẫn uất nhưng điển tích này thường trên thi từ đàn xuất hiện. Ví dụ như Lý Thương Ẩn 李商隱 trong bài Hàn Hoành Xá Nhân tức sự 韓翃舍人即事 (Truyện kể về quan Trung Thư Xá Nhân 中書舍人 Hàn Hoành) có thơ rằng:

鳥應悲蜀帝,Điểu ưng bi Thục đế, Chim (cuốc) là buồn Thục đế,
蟬是怨齊王。Thiền thị oán Tề vương. Ve sầu thì oán Tề vương.

5- Thúy âm 翠陰 = lục âm 綠蔭: lùm lá cây xanh.
6- Yết 咽: nức nở.
7- Lương kha 涼柯:cành cây trong mùa thu.
8- Ám diệp 暗葉: lá cây um tùm, u ám.
9- Ly sầu 離愁: nỗi sầu vì ly biệt.
10- Tây song 西窗: cửa sổ phía tây. Lấy chữ từ bài thơ “Dạ vũ ký bắ c夜雨寄北” của Lý Thương Ẩn 李商隐:

何當共剪西窗燭,Hà đương cộng tiễn tây song chúc,
卻話巴山夜雨時。Khước thoại Ba sơn dạ vũ thì.

Khi nào chúng lại cùng cắt (bấc) nến ở tây song,
Rồi lại nói chuyện lúc đêm mưa ở Ba sơn.

Vốn là để nói lúc lữ hành nhớ vợ con ở quê nhà. Về sau cũng dùng để chỉ bạn bè hội tụ nói chuyện lúc đêm khuya. Trong bài này chữ “Tây song” phiếm chỉ cửa sổ.

11- Quái 怪= quái lạ. Dao bội 瑤佩 = dao bội thanh 瑤佩聲: (Tiếng ve sầu nghe như) tiếng ngọc chạm vào nhau.
12- Ngọc tranh 玉箏: cây đàn tranh quý báu.
13- Điều 調: điều chỉnh cái trụ để căng dây đàn tranh. Ngọc tranh điều trụ 玉箏調柱: điều chỉnh các trụ căng dây trên cây đàn tranh. Câu này ám chỉ tiếng ve kêu réo rắc như tiếng đàn tranh.
14- Kính ám trang tàn 鏡暗妝殘:gương mờ, trang sức tàn nhạt. Câu này và câu dưới có ý nói không trang điểm mà vì sao bộ tóc đẹp như thế. Cung nhân Mạc Quỳnh Thụ 莫瓊樹 của Ngụy Văn Đế Tào Phi 魏文帝曹丕 sáng chế kiểu búi tóc hình cánh ve sầu gọi là “Thiền mấn 蟬鬢”, lan truyền trong giới cung nhân và dân gian thời bấy giờ.
15- Vi thùy 為誰: vì đâu. Kiều mấn 嬌鬢: mái tóc đẹp, chỉ cánh ve đẹp mỹ lệ.
16- Thượng như hứa 尚如許: còn như thế!
17- Đồng tiên 銅仙 = Kim đồng tiên nhân 金銅仙人 hay Kim đồng tiên nhân thừa lộ bàn 金銅仙人承露盤. Sách Hán Thư 漢書 chép rằng: vua Hán Võ Đế 漢武帝 cho đúc 2 pho tượng hình người tiên bằng đồng ở trước Bách Lương Đài 柏梁台 và Kiến Chương Cung建章宫, trên tay pho tượng bưng một cái mâm cũng bằng đồng để hứng sương trời. Sương hứng được sẽ trộn với ngọc tán nhỏ, làm thành nước uống để tăng tuổi thọ. Pho tượng dựng trước Bách Lương Đài bị phá hủy do hỏa hoạn vào năm 104 trước Tây Lịch.
18- Diên lệ 鉛淚: giọt nước mắt (của pho trượng đồng long lanh) như giọt chì hóa lỏng, lấy chữ từ bài “Kim đồng tiên nhân từ Hán ca 金銅仙人辭漢歌” của Lý Hạ 李賀 đời Đường:

空將漢月出宮門,Không tương Hán nguyệt xuất cung môn,
憶君清淚如鉛水。Ức quân thanh lệ như diên thủy.

Chỉ cùng vầng trăng thời triều Hán đi ra khỏi cửa cung,
(Tượng đồng) nhớ quân vương, rơi lệ trong như giọt chì hóa lỏng.

Trong thời Tam Quốc 三國, vua Ngụy Minh Đế Tào Duệ 魏明帝曹叡 cũng muốn luyện thuốc trường sinh bèn sai người di dời pho tượng đồng ở Kiến Chương Cung từ Trường An 長安 (kinh đô nhà Hán) về Lạc Dương 洛陽 (kinh đô nước Ngụy). Với phương tiện thời bấy giờ thì pho tượng này nặng quá, không đem nổi, đành phải bỏ lại ở Bá Thành霸城 (tức Bá Lăng huyện 霸陵) gần thị trấn Tây An 西安市, Trung Quốc.

19- Huề bàn khứ viễn 攜盤去遠: đem mâm đi xa. Bàn 盤 = thừa lộ bàn 承露盤 tức là mâm hứng sương trên tay tượng đồng của Hán Võ Đế. Theo truyền thuyết dân gian thì loài ve sầu chỉ ăn những giọt sương mà sống. Tác giả đem ghép việc pho tượng hứng sương của Hán Cung bị di dời đi, không còn hứng sương nữa, với lúc tàn lụi của mùa ve sầu để giúp cho bài từ thêm thú vị hoặc giả ông muốn ám chỉ việc Triều Đình Nam Tống bị sụp đổ?
20- Linh lộ 零露: Giọt sương rơi xuống tự nhiên. Lấy chữ từ Kinh Thi, Phẩm Trịnh Phong, bài Dã Hữu Mạn Thảo “詩經·鄭風·野有蔓草”:

野有蔓草,零露漙兮。 dã hữu mạn thảo, linh lộ đoàn hề.  
Bãi hoang dã có cỏ mọc tràn, giọt sương rơi xuống nhiều chừ.

21- Bệnh Dực kinh thu 病翼驚秋: cánh ve sầu bệnh suy tàn, sợ mùa thu.
22- Khô hình 枯形: thân hình khô héo. Có thuyết cho rằng câu “Khô hình duyệt thế枯形閲世” ám chỉ nạn dân di tản khốn khổ trong chiến tranh.
23- Tiêu đắc 消得: chịu đựng được (bao lâu).
24- Tà dương 斜陽: ánh nắng buổi chiều.
25- Thanh thương 清商 = thanh thương khúc清商曲: loại nhạc phủ cổ xưa, âm điệu buồn bã, chỉ tiếng kêu của ve sầu.
26- Thậm 甚= sao, vì sao.
27- Đốn 頓 = đốn thời 頓時: tức thời, bỗng nhiên.
28- Mạn tưởng 謾想 = mạn tưởng漫想: không tưởng空想, tưởng đến cũng vô ích; Mạn謾 = mạn漫 = đồ nhiên徒然: uổng phí, in vain.
29- Huân phong薰風: gió nồm, gió nam ấm áp, chỉ mùa hè.

Dịch Nghĩa

Ve sầu.

Hận lòng tràn ngập, cung phi hồn đoạn (hoá thành ve sầu),
Hằng năm đều tại lùm cây xanh trong sân kêu lên buồn bã.
Vừa tại cành cây mát nức nở,
Đã dời đến chùm lá u ám,
Lại đem chuyện ly biệt sầu khổ thố lộ.
Ngoài tây song mưa vừa tạnh.
Quái lạ, (tiếng ve sầu nghe như) tiếng ngọc đụng chạm nhau lưu truyền trên không trung.
(Tiếng ve sầu kêu nghe như) tiếng đàn tranh (réo rắc).
Kính đã mờ, dung mạo đã tiều tụy,
(Nhưng) vì đâu cánh ve sầu còn đẹp như vậy?

Tượng người tiên bằng đồng (khi đi khỏi Hán cung) rơi lệ long lanh như tắm,
(Đáng) than là (tượng) đem cái mâm đi xa,
Không còn chứa sương rơi nữa.
Đôi cánh bệnh hoạn sợ mùa thu.
Thân hình khô héo đã trải cuộc đời,
(Ve) còn chịu đựng được mấy độ hoàng hôn?
Tiếng kêu càng tỏ ra bi khổ.
Vì sao tự mình kêu lên những tiếng ai oán,
(Để) bỗng nhiên thành thê lương khổ sở?
Mơ tưởng vô bổ đến mùa gió ấm (khi xưa),
(Có) tơ liễu (bay) ngàn vạn cành.

Phỏng Dịch

1 Tề Thiên Nhạc – Ve Sầu

Ngập lòng thừa hận cung phi táng,
Năm năm góc vườn cổ thụ.
Chợt khóc cành thu,
Lại kêu lá ám,
Cùng với ly sầu minh tỏ.
Mưa tàn cửa sổ.
Lạ tiếng ngọc trên không,
Ngọc tranh căng trụ.
Tàn áo mờ gương,
Vì đâu đôi cánh đẹp như cũ?

Tiên đồng rơi lệ như tắm,
Thán đem mâm viễn xứ,
Khó chứa sương lộ.
Cánh bệnh sợ thu,
Thân khô trải thế,
Còn ngắm tà dương mấy độ?
Dư âm càng khổ.
Thảm thiết một mình sao?
Chợt thành thê sở.
Gió ấm mơ chi,
Vạn ngàn tơ liễu rủ.

2 Ve Sầu

Khi xưa oán hận trên đời,
Cung nhân oan thác chưa nguôi tâm tình.
Ve sầu ngưng tụ tinh anh,
Năm năm tìm đến bóng xanh sân vườn.

Cành thu nức nở thê lương,
Chợt về khóm lá khóc thương ly sầu.
Tây song mưa tạnh chưa lâu,
Lạ thay tiếng ngọc chuyển bầu không gian.

Tiếng nghe rền rĩ cung đàn,
Gương loan mờ ám điểm trang nhạt nhòa.
Vì đâu mãi vẫn mượt mà,
Cánh ve búi tóc cung nga tạo hình.

Tiên đồng tắm lệ long lanh,
Than vì mâm hứng sương linh xa vời.
Cánh tàn thu đến chơi vơi,
Thân khô trải thế, cuộc đời còn bao?

Dư âm càng khổ, vì đâu,
Tự mình mang nỗi oán sầu xướng ca.
Gió nồm mơ đến hè qua,
Vạn ngàn tơ liễu lòa xòa trời không.

HHD 
12-2025
Đính Chính: Trong bài 215 Hoán Khê Sa của Chu Bang Ngạn, câu “出簾踏襪趁蜂兒 Xuất liêm đạp miệt sấm phong nhi”, xin đọc là “Xuất liêm đạp miệt sấn phong nhi”. Xin thành thực cáo lỗi cùng quý vị độc giả.

Tề Thiên Nhạc

1-

Một khăn tràn hận, hồn Phi đứt
Hằng năm bóng râm cổ thụ
Nưc nở cành tươi
Dời qua lá ám
Lại đem ly sầu thố lộ
Song tây mưa tạnh
Lạ, tiếng ngọc không lưu
Đàn tranh chỉnh trụ
Kính mờ, phấn phai
Vì đâu tóc mây đẹp thế đó?

Tượng tiên, lệ tuôn như tắm
Than, đem mâm đi khỏi
Sương rơi không chỗ
Cánh bệnh e thu
Thân khô từng trải
Chịu thêm hoàng hôn mấy độ?
Dư âm lại khổ
Sao tự kêu tiếng sầu
Bỗng thành buồn khổ?
Gió ấm mơ hoang
Liễu tơ muôn vàn đổ

2- Ve Sầu

Cung Phi thác, khăn tràn hận đọng
Cây sân đình, rợp bóng hàng năm
Cành tươi khóc, tới lá râm
Lại đem sầu biệt âm thầm thở than

Ngoài song tây mưa ngàn thôi khóc
Trôi hư không tiếng ngọc lạ thay
Đàn chỉnh trục, ảnh mờ phai
Vì đâu mà mái tóc mây đẹp ngời?

Tượng đồng tiên, lệ rơi lả chả
Than thêm rằng mâm đã tít mù
Sương không chỗ, cánh e thu
Thân khô từng trải, chiều ru mấy thì?

Dư âm khổ, sầu bi sao giữ?
Bỗng dưng thành buồn khổ thê lương
Mơ hoang gió ấm ngát hương
Muôn ngàn tơ liễu rải buông khắp trời!

Lộc Bắc
Dec25



Món Canh Bắp Chuối Của Mẹ

 

Có những kỷ niệm thấm sâu vào tâm trí bắt nguồn từ những món ăn dân dã, đậm chất quê nhà. Ở đó có bàn tay chăm lo của mẹ qua từng cách chế biến tạo thêm sự phong phú trong mỗi món tưởng chừng như đơn giản ấy tượng trưng cho tình yêu mà mẹ dành cho các con.

Nghe mẹ kể lại rằng lúc xưa quê miền Trung nghèo khổ của mẹ, vùng đất với những hạt cát khô cằn cộng những sỏi đá nhấp nhô hay những cánh đồng trải dài được bao bọc bởi núi đồi và uốn quanh là dòng sông hiền hoà, đậm chất mộc mạc của miền Trung nắng gió. Miền Trung đất cày lên sỏi đá, mùa hạn nắng chói chang và mùa mưa thì ngập úng, lũ quét và mất mùa. Với khí hậu khắc nghiệt như thế, khi thì cơn nóng cháy da, lúc thì gió cuồng mưa lũ, nhưng cây chuối vẫn kiên gan, chống chỏi quyết liệt, nhiều khi đến trụi hết lá. Không những thế, cây chuối còn rất hữu dụng cho con người. Những thân chuối thường được dùng kết làm chiếc bè để di chuyển trong những mùa nước lũ, tàu lá kết thành mũ để đội che nắng che mưa. Công dụng cây chuối không chỉ có bao nhiêu đó mà còn có vô số lợi ích khác nữa. Cây chuối là loại cây rất phổ biến ở các vùng nông thôn Việt Nam. Đây là loại cây dễ trồng, bất kỳ chỗ nào và loại đất gì cũng có thể trồng được. Chuối là loại cây ăn quả chỉ cho ra quả một lần, sau đó cây chuối có thể vẫn phát triển tươi tốt nhưng lại không thể kết trái được nữa. Cũng vì vậy mà sau khi cây chuối cho ra buồng chuối có thể thu hoạch thì người trồng thường chặt thân của cây ấy đi. Từ gốc của thân cây bị chặt sẽ lại mọc ra cây mới và có thể kết trái nên người trồng cũng không phải mất công trồng lại nữa. Cho nên chỉ cần trồng một ít cây chuối trong vườn lúc đầu, sau đó có thể sinh sôi nảy nở thành một vườn chuối. Các sản phẩm từ cây chuối như bắp chuối, quả chuối, thân chuối, củ chuối và lá chuối, người dân quê khi không dùng hết thì mang bán cũng kiếm được ít tiền. Thân chuối có thể chế biến thành nhiều món ăn, cứ việc thái nhỏ thân chuối ra rồi chế biến như những loại thực phẩm khác nhau, kể cả làm thực phẩm cho gia súc như: gà, heo. Lá chuối dùng để gói nhiều loại bánh bánh và trái chuối chín hoặc sống đều có thể chế biến những món ăn dân dã nhưng hương vị thì đậm hồn quê hương. Quả chuối là loại trái cây quen thuộc, giàu chất dinh dưỡng, mang lại nhiều lợi ích cho cơ thể. Từ những quả chuối bình dị và quen thuộc của làng quê Việt Nam, người ta đã sáng tạo và chế biến những món ăn vặt hấp dẫn và ngon lạ lùng: chuối sống nấu, chuối chín cũng nấu được, chuối sống ăn sống với cơm và mắm, chuối chín ăn bình thường hoặc nấu chè, luộc hoặc phơi khô để dành ăn trong nhiều ngày.

Bắp chuối hay hoa chuối cũng là món ăn phổ biến đối với những gia đình Việt Nam. Riêng mẹ tôi thì đã chế biến rất nhiều món từ bắp chuối. Khi hái một bắp chuối từ trên cây xuống là ngầm hiểu rằng đang ăn những thứ tinh hoa nhất từ chuối. Cách thái thường vẫn là mỏng và nhỏ thành sợi. Món đầu tiên tôi được ăn sơ chế khá đơn giản bằng cách cho đường, muối trộn đều vào bắp chuối đã được thái nhỏ, sau đó cho thêm đậu phộng rang là có thể thành món gỏi bắp chuối hay nộm hoa chuối. Nếu ai đó thích đậm đà hơn thì trộn thêm thịt heo ba chỉ, tôm luộc hay tôm khô vào. Hoa chuối sau khi thái nhỏ rửa sạch có thể ăn như rau sống, chấm các loại nước chấm đều ngon và càng hấp dẫn hơn khi cho vào nồi lẩu

Bắp chuối xào với các loại thịt, tôm cũng là một món ăn ngon miệng, Có thể xào chay với cà chua, mẻ gạo, thêm gia vị vào là có thể ăn. Nhiều người thích ăn bắp chuối nấu với đậu và ốc. Nhiều món khác nữa chế biến từ bắp chuối như nấu canh, kho, xào, hấp, trộn...với những thứ khác tùy mỗi người. Bắp chuối cũng có thể nấu với các loại rau quả khác như khế hoặc đôi khi chỉ đơn giản xào lên với ít dầu và nêm nếm ít gia vị là đã có một bữa ngon rồi. Bắp chuối vừa ngọt thơm vừa có chút vị chát càng làm cho vị giác phong phú thêm. Nhiều người lúc đầu không biết ăn bắp chuối nhưng khi đã biết ăn rồi dần dần cũng đâm nghiện luôn.

Nói gì thì nói chứ món mà mẹ thường nấu mà tôi thích nhất vẫn là món canh bắp chuối. Thái từng lát bắp chuối thật mỏng sau đó ngâm vào thau nước muối pha loãng có vắt thêm một ít nước cốt chanh để tránh bị đen. Bắc nồi lên bếp, đổ một ít dầu vào, cho đậu phộng đã giã nhỏ vào phi, thêm một ít lát hành củ. Tiếng xèo xèo đậu phộng quyện lẫn mùi hành khi được phi lên làm thơm nức mũi, chưa ăn mà đã thấy thèm. Sau khi phi xong đậu phộng thì thêm nước vào nồi, đậy nắp vung chờ nước sôi. Khi nồi nước sôi lên thì nhìn thấy nước trắng như sữa đó là màu của đậu phộng giã nhỏ. Vớt những lát bắp chuối đang ngâm trong thau ra cho ráo nước rồi bỏ vào nồi đậy nắp vung lại đun cho đến khi sôi. Nồi canh sôi tầm khoảng năm phút thì những lát bắp chuối chín mềm chuyển qua màu nâu, tắt bếp và thái lá lốt thêm vào nồi canh, quậy đều, nêm nếm thêm gia vị vừa ăn. Một mùi thơm ngậy của lá lốt quyện với đậu phộng, màu trắng của nước đậu, màu xanh của lá lốt, màu nâu của bắp chuối và màu đỏ của vải vụn ớt bột hòa quyện vào nhau rất đẹp mắt. Vị béo của đậu phộng và vị hơi chát của bắp chuối tạo thành vị khó tả, nó rất riêng không lẫn vào đâu được.

(Mặc dù món này mẹ hay nấu nhưng cũng nghe mẹ nói rằng xuất xứ món canh này, có người nói đó là món ăn của người bản địa nhưng lại có người nói rằng đó là món ăn dân dã của người dân Bắc bộ mang theo trong mỗi chuyến di dân).

Giờ đây, mỗi lần có dịp đi xa, thấy có nhà ai đó trồng vài bụi chuối, tôi cảm nhận được từng cành cây ngọn cỏ như thấm đẫm giọt mồ hôi của mẹ. Và cho đến bây giờ, tuy mẹ đã không còn trên cõi đời, cũng không được diễm phúc có thể ở nơi mà mẹ đã sinh ra và không thấy vườn nhà còn nhiều cây chuối theo như mẹ kể. Nhưng ở trong tâm trí tôi vẫn in đậm hình ảnh món canh bắp chuối tuyệt vời trong những năm tháng ngọt ngào bên mẹ.

Mỹ trí tử


Thứ Ba, 20 tháng 1, 2026

Nha Trang Bìển Gọi - Thơ:Hồng Thúy, Sáng Tác: Nguyễn Tuấn - Trình Bày: Hà Thanh


Thơ:Hồng Thúy
Sáng Tác: Nguyễn Tuấn
Trình Bày: Hà Thanh
Thực Hiện: Hùng Đặng

Vô Đề



Tàn canh lạnh giấc dương gian ngủ
Một nén hương lòng tiễn biệt ai
Trăng khuya soi vết ân tình cũ
Thế thái liêu xiêu một chữ tình!


01.08.2025
Lê Diễm Chi Huệ

Hoàng Hôn

pasted-image.jpeg

Hoàng hôn đến, chiều đang rơi dần xuống

Dải nắng vàng còn lưu luyến ngọn cây 

Gió vấn vương quyện với lá đang bay

Đàn én nhỏ bâng khuâng quay về tổ

Bãi cỏ xanh trải dài, 

bên cửa sổ

Nụ hồng tươi, cười chúm chím xinh xinh

Chim Sẻ gọi nhau, ríu rít trên cành

Ôi! êm ả, thời gian đi chậm chậm…


Sao Khuê 
 9 -2016


Buông Tay

Buông tay cũng là một cách ta yêu thương
Buông tay cho lòng thôi hết vấn vương
Buông tay như là ta hy sinh cho nhau
Buông tay để một cuộc sống mới bắt đầu
(Buông tay- Đức Thành và Phúc Chinh)

Ngắm dáng chàng nằm ngủ thật yên trên chiếc giường rộng của hai vợ chồng, đôi mi khép thật bình an, chiếc miệng hơi mở như một nụ cười toại nguyện. Tôi rúc đầu vào lồng ngực rộng của chàng, đã rất lâu tôi mong có được sự chở che này trong giấc ngủ. Cái hạnh phúc giản dị ấy, rất dễ với mọi người nhưng với chúng tôi, thật khó lắm!
o O o

Cách đây trên 25 năm, hồi chúng tôi học trung học ở Sài Gòn, tuổi ô mai 15-16 ăn chưa no, lo chưa tới, chàng đã từng chơi u, quay dây nhảy, ăn hàng với bọn con gái chúng tôi. Tiếng cười hồn nhiên theo tôi mãi trong ký ức cho đến khi tôi theo gia đình định cư tại Cali, miền đất ấm áp, nơi rất đông người Việt. Kỷ niệm ấy chôn vùi tận sâu trong ký ức với tuổi đời ngày càng lớn, bận rộn cuộc sống.

Sau khi ra trường với mảnh bằng kế toán, tôi được một người quen đưa vào làm ở một công ty may mặc, nơi ấy tôi quen với ông chủ hãng, giàu có, lớn hơn tôi gần 20 tuổi, anh lại là con trai của một người bạn thân của ba tôi khi còn ở quê nhà, và chúng tôi mau chóng tiến đến hôn nhân theo sự thúc giục của ba mẹ hai bên; ba tôi lúc đó sức khỏe không khả quan mấy, ông ta muốn tôi có nơi nương tựa, để nếu ông ra đi cũng yên lòng nơi chín suối, tôi chưa yêu ai nên đã chấp thuận để trả chữ hiếu cho tròn đầy.

Chúng tôi có với nhau một con gái thật ngoan và kháu khỉnh sau một năm, anh ít có thì giờ với nó, sự có mặt của anh ở nhà rất hiếm, với lý do công việc. Tôi tuy cũng bận công việc sở, nhưng phải về nhà đúng giờ để bù đắp sự vắng lặng thiếu sót của cha đối với con bé.
5 năm sống bên cạnh nhau, số ngày thì nhiều, nhưng những cuộc nói chuyện, tâm sự của chúng tôi như đếm trên đầu ngón tay, chúng tôi thực sự không hiểu nhau; mỗi lần bàn chuyện là to tiếng, làm cho bé Hiên bịt tai, lúc đó bé mới 3 tuổi, cả người nó co rúm lại mỗi lần gặp cha nó, nó núp dưới gầm bàn, hoặc sau bức tường, giọng nói lí nhí, bé ít ăn, người gầy nhom, bác sĩ nói:
– Bé có triệu chứng trầm cảm.
Tôi xót xa, chảy nước mắt mỗi khi nhìn thấy con ngày càng xuống cân, đôi mắt sợ hãi nhìn cha, nửa đêm ngủ mớ, rồi cả thân người co rúm lại như con tôm, hai tay bịt tai.
Tôi suy nghĩ rất nhiều, muốn đem con xa khỏi cái không khí thiếu tình gia đình này. Tôi đưa ra quyết định…ly hôn!
Tôi tưởng anh sẽ chống lại, bào chữa, hay tự sửa mình; nhưng không!… Anh cầm bút nhẹ nhàng ký vào đơn ly hôn; anh không đòi nuôi con, cũng chả làm khó dễ gì, hình như anh đang chờ đợi lời đề nghị này của tôi lâu lắm rồi vậy!
Anh trợ cấp cho tôi và con một số tiền kha khá để mua một căn condo gần Bolsa. Trước khi ra đi, anh còn nói một câu:
– Có thể từ nay trở đi, tôi sẽ không về thăm… Hãy sống và dạy bảo con cho tốt.
Đôi mắt tôi ráo hoảnh, hững hờ nhìn dáng anh khuất sau cánh cửa.

o O o

Mười mùa lá vàng trôi qua, tôi 42 tuổi, mẹ đơn thân, một mình kiên cường với cuộc sống, bé Hiên là mục đích, hy vọng duy nhất. Tôi làm việc ngày đêm để quên thời gian, để dành tiền nuôi con ăn học. Con gái Hiên đã 14 tuổi, cái tuổi mà tôi đã từng trải qua, hồn nhiên thánh thiện và bắt đầu bước vào đời.

Giáng Sinh năm ấy, sở tôi tổ chức đi ăn ngày cuối năm, giữa những tiếng cười, tiếng ly chạm nhau, những lời chúc kết thúc một năm cũ, tôi nghe tiếng nói trầm ấm bên tai:

– Cô… Cô ơi, chiếc áo khoác của cô rơi xuống đất rồi…
Tôi quay lại, người đàn ông dáng cao với khuôn mặt thanh tú nhặt giùm chiếc áo dưới đất lên, đưa cho tôi mỉm cười; ánh mắt chàng thật quen lắm, và nhất là kiểu tóc mái rũ…Chàng và tôi nhìn nhau không chớp mắt.
Một lúc, chàng lên tiếng:
– Có phải… hồi xưa cô học ở… Lê Quý Đôn không?
-… Phải rồi… hình như anh là Thiện phải không?
-…Bích Mai phải không?… lúc này làm gì? ở đâu? Gia đình ra sao?…
Chúng tôi rất vui mừng gặp lại bạn xưa, hỏi tin nhau dồn dập.
Thiện nhắc lại kỷ niệm cũ làm chúng tôi cười thật vui như sống lại thuở học trò:
– Mai có nhớ hồi đó Thiện bị mất dép không?… các bạn nữ đã giấu đôi dép mình tuốt trên ngọn cây bồ kết trong sân trường, làm kỳ đó bên đội nam phải chịu thua, cõng từng cô bên đội nữ một vòng sân. Kỳ đó Thiện cõng Mai đó nhớ không?
– Nhớ chứ, mấy tên kia cõng đi nhanh là hết một vòng sân rồi, ai như Thiện cõng Mai đi từ từ, bị chọc là cõng đi ngắm hoa hay sao đó mà lâu mới về đích!
– Ngàn năm một thuở mà, phải tận dụng chớ!
Đã rất lâu, tôi mới được cười hả hê đến thế!
o O o


Thiện cũng như tôi, đã ly dị và có một cháu trai 16 tuổi.
Tình bạn từ trung học ngày xưa làm chúng tôi gắn kết lại một cách dễ dàng, nhanh chóng, nhiều khi không cần nói, chỉ nhìn trong ánh mắt nhau, chúng tôi hiểu đối phương muốn nói gì. Những buổi hẹn hò đi uống nước cuối tuần, chúng tôi như đôi chim sẻ, huyên thuyên kể chuyện, hạnh phúc, quên tất cả mọi mỏi mệt của cuộc sống.

Một buổi chiều, sau 2 năm qua lại, ngồi trong góc một tiệm ăn tối, Thiện bỗng đan tay chàng vào bàn tay tôi, hôn nhẹ lên tóc tôi, dưới ngọn nến lung linh lãng mạn, chàng lướt chiếc nhẫn kim cương lóng lánh sáng vào ngón tay áp út, đề nghị một cách giản dị và chân tình:
– Em và con gái về sống với cha con anh nhé, mình cùng nhau xây lại tổ ấm…
Hơi chút bất ngờ, cảm động, nhưng tôi vẫn ghẹo vui:
– Ủa! sao anh nói ở một mình có cái hạnh phúc riêng mà?
– Nhưng sẽ không hạnh phúc bằng khi có hai người!… Cuối tuần sau anh sẽ đến đón em và con gái nhé?… Không cần mang theo gì đâu, đi tay không là được!
– Ôi sao nhanh thế?… Để em hỏi ý con bé đã, xem nó có chịu cho mẹ nó …đi lấy chồng không đã!
– Chắc chắn con bé sẽ hoan nghênh ngay đấy!
– Anh tự tin quá há!…còn nếu không thì sao?
– Ôi thế thì… người ba dượng này sẽ phải nhanh tay lo đút lót cho con bé mới được!

o O o

Bé Hiên nhìn mẹ vui và hạnh phúc bên chú Thiện, nó không nỡ làm trái ý mẹ, nó đành miễn cưỡng gật đầu theo mọi người về bên chú ấy sống.

Ngày đầu tiên bước vào nhà Thiện, phòng khách và phòng ăn liền nhau, rộng rãi, sáng sủa; nhà có 3 phòng ngủ trên lầu, chàng đã sửa soạn cho bé Hiên một phòng màu hồng xinh xắn, với một cửa sổ nhỏ nhìn xuống sân sau; bên cạnh là phòng của Huy, con trai chàng, căn phòng xanh dương nhẹ, có tầm nhìn xuống góc trái của căn nhà, ánh sáng rộng từ cửa sổ hắt vào làm căn phòng đầy sức sống và cuối dãy là phòng của chúng tôi.
Tôi và con gái cảm thấy vui, hạnh phúc, nghĩ đây chính là gia đình mơ ước cuối đời của chúng tôi.
Buổi tối đầu tiên, bữa ăn còn gượng gạo của hai đứa trẻ, chàng gắp đồ ăn cho bé Hiên, cho tôi, rồi cho Huy, tôi cũng chọn miếng gà nạc cho Huy, miếng cá ngon cho Hiên, chúng cúi đầu ăn nhanh, không nói gì, rồi chuồn vào phòng riêng.

Những ngày tháng tiếp theo, tôi và Thiện thật hạnh phúc, mỗi buổi chiều về nhà đều có tiếng cười, tiếng nói của nhau, đã 10 năm hơn tôi mới được người lo lắng chăm chút, làm tôi thật cảm động, trân quý từng phút giây, nhưng điều làm tôi áy náy nhất là Huy vẫn khuôn mặt không cười và Hiên với cặp mắt chỉ nhìn xuống đất, chúng vẫn không hợp được với nhau! Tôi vẫn giữ hy vọng chúng sẽ hiểu nhau hơn sau này.

Một buổi chiều khi tôi đi làm ra, vội vàng ghé qua chợ mua một giỏ thức ăn, định về nhà sẽ làm món cá chiên chấm nước mắm mà bé Hiên rất thích, và cả tôm càng cho Huy. Vừa mở cửa ra, tôi đã nghe tiếng Huy giận dữ:
– Trả lại cái remote control đây!
-…Em xem TV trước mà… Em…
Thằng bé nhào đến giật cái remote trên tay Hiên:
– TV là của ba tao mua! Về phòng mày đi!
Nghe thấy tiếng “mày tao” của Huy, tôi bỏ giỏ thức ăn ngay ngoài cửa, vội vàng đến cạnh bé Hiên, ôm con gái vào lòng, nói với Huy:
– Sao con lại gọi em bằng mày?… Nó đang xem trước mà, con đến sau phải chờ chứ!
Bỗng Thiện xuất hiện ngay trước cổng nhà, chàng vừa đi làm về, cũng nói:
– Huy nhường em đi, con đi học bài trước rồi lát xem cũng được!
Huy vùng vằng, chạy vội vào phòng, vừa nói:
– Ba lại bênh nó!

Tôi nghe tiếng đóng cửa rầm trên lầu. Bé Hiên không còn lòng dạ nào ngồi xem TV nữa, nó tắt TV và trốn về phòng.

Thiện giúp tôi làm bếp, chàng rửa rau, tôi nấu nồi soup, chàng nói:
– Thằng Huy đã thiếu tình thương của mẹ từ khi nó mới 6 tuổi, anh chỉ có mình nó, nên bao nhiêu tình thương đều dồn cho nó cả, nay anh san sẻ tình thương này cho em và con gái, nên chắc nó tủi thân, em đừng giận hành động vừa qua của nó nhe, hãy bỏ qua cho nó, tìm cách gần gũi để bù đắp cho nó sự thiếu thốn tình mẫu tử.
– Vâng! Em đang cố gắng cân bằng cho cả hai đứa… con trai thật khó, nó không chịu mở lòng, nhưng em sẽ ráng hết sức…
o O o

Một buổi sáng đầu tuần, chúng tôi ai nấy bận rộn sửa soạn bữa sáng và lấy đồ ăn đem đi làm, tôi nghe tiếng đập cửa inh ỏi trên lầu, cả tôi và Thiện bỏ hết mọi thứ, chạy lên xem, thấy Huy đang đập cửa nhà tắm, giọng vang lên:
– Có ra ngay không, ngủ trong đó sao lâu vậy?…trễ rồi đây, mở cửa ra!
Không có tiếng đáp lại từ bên trong.
Thiện lên tiếng giải quyết:
– Con có thể vào buồng tắm của ba dùng cũng được mà, chắc em Hiên đang bận trong ấy.
– Không! Đây là buồng tắm của con, có bàn chải, khăn và đồ dùng của con trong đó mà, tại sao nó lúc nào cũng chiếm đồ của người khác mà không biết xấu hổ vậy!
Hiên mở cửa phòng tắm bước ra, mắt nhìn xuống đất, miệng lí nhí:
– Xin lỗi… không cố ý.
Con bé chạy ngay về phòng, thay đồ đi học, nó chạy như trốn khỏi chúng tôi, tôi gọi:
– Hiên! Hiên! Con quên lấy đồ ăn nè!
Bóng nó đã lao vút ra khỏi nhà như không muốn đem theo bất kỳ cái gì từ «căn nhà của ba tao» nữa.
Huy lê chiếc ba lô từ trên lầu xuống nhà, mặt tỏ vẻ vô cùng tức giận:
– Từ ngày hai mẹ con nó vào nhà này, ba chỉ bênh mẹ con nó thôi, con không muốn về đây nữa nếu họ còn ở đây ngày nào!
Quay sang tôi, nó ngước lên, giọng gay gắt:
– Tôi xin Bà và con Hiên hãy trả lại sự ấm êm cho cái nhà nầy! Hãy…cút về nhà bà đi!
Tôi còn đang chôn chân ở một chỗ, bàng hoàng với thái độ hỗn láo của thằng bé 16 tuổi.
Thiện hùng hổ tiến tới, «bốp» giáng cho Huy một cái tát nẩy lửa!
Thằng bé lấy tay ôm má, nhìn ba nó lạnh lùng, không một giọt nước mắt, cặp mắt lì lợm:

– Ba vì mẹ con bà ấy đánh con!… Được rồi, mọi người cứ vui vẻ hạnh phúc ở đây đi, con sẽ không về nữa!
Nó hấp tấp, khuôn mặt đỏ gay, chạy ra khỏi nhà, đóng sầm cánh cửa lại sau lưng.
Tôi vẫn đứng chết trân tại chỗ, tay bám chặt vào thành!
Thiện bỏ hộp cơm vào giỏ, lặng lẽ ra khỏi nhà, không nói với tôi lời nào.
Tôi ngồi thụp xuống ghế, nước mắt ràn rụa, bẽ bàng, đau khổ tột cùng!

Tôi phone vào sở xin nghỉ một ngày. Tôi muốn một mình suy nghĩ cho thật kỹ để đừng quyết định lầm lỡ, bước lại vào vết xe đổ như với người chồng trước.

Tôi ngắm ngôi nhà xinh xắn hạnh phúc này, tôi ngỡ sẽ trải qua phần cuối đời nơi đây, tôi tưởng sẽ chắp nối một cách yên lành cho con gái tôi có thêm một người anh trai, có người bố dượng tốt, có gia đình yên ấm để sau này sẽ không phải cô đơn trong cuộc sống! Nhưng chỉ mới có 4 tháng thôi!

Bốn tháng vỏn vẹn để biết rằng … có hợp rồi có tan!
Nước mắt tuôn chảy không ngừng, mệt quá, tôi gục xuống thành ghế sofa thiếp đi hồi nào không hay.
Tôi tỉnh dậy khi nghe tiếng thét trên lầu của Hiên, mới biết nó vừa đi học về, tôi chạy ba chân bốn cẳng lên lầu.
Trước mắt tôi cả căn phòng bừa bộn, mấy tấm ảnh chụp của bé Hiên treo trên tường bị ném hết xuống đất, tấm nào cũng có bút mực đỏ, đen gạch chéo trên đó, tôi nhìn lên tấm gương to ở bên cạnh, vết viết bằng cây son môi đỏ chói:
– Hãy cút về nhà mày! Trả lại ba cho tao!
Tôi và Hiên sững sờ, nhìn cảnh tan hoang của căn phòng, đoán được rằng hồi sáng trước khi ra khỏi nhà, Huy đã phá nát tan căn phòng của con bé!
Hiên sà vào lòng, ôm lấy tôi, gào to:
– Mẹ ơi, con không ở đây đâu, con không muốn ở nhờ nhà người ta để bị xỉa xói mỗi ngày, con không thể sống nổi nữa đâu mẹ ơi!… Mình về nhà mình đi mẹ! con xin mẹ!
Tôi vuốt tóc con, nước mắt đầm đìa, trấn an:
– Mẹ lúc nào cũng ở bên con, mẹ xin lỗi, mẹ đã sai rồi, mẹ đã làm điều không đúng!

o O o

Hai tháng trôi qua trong ngôi nhà cũ thân thương, yên ấm, bé Hiên đã lấy lại được nụ cười hồn nhiên, con bé vẽ những bức tranh có bầu trời ngập ánh nắng, hoa đủ màu nở rộ và những chú bướm bay lượn; tôi không còn bận rộn làm những bữa cơm cầu kỳ nữa, tôi có nhiều thì giờ bên con gái hơn, xem bài vở, nói chuyện và hướng dẫn con bước vào đời qua những mẩu chuyện con gái kể về bạn bè trong lớp học.

Thiện có text cho tôi:
– Anh xin lỗi em và con gái, thằng bé Huy chưa chuẩn bị tâm lý để có mẹ kế cũng như em gái, hãy cho các con của chúng ta thêm thời gian em nhé. Thằng Huy bỏ nhà đi theo mấy thằng bạn hư hỏng mấy ngày nay, anh gọi phone nó cũng không bắt; anh không muốn làm nó bị tổn thương hơn nữa, xin em hãy thông cảm cho anh, mong em và con gái nhiều sức khỏe và anh không dám hứa điều gì cho tương lai. Bye em!
Tôi không trả lời Thiện, 2 tháng nay chúng tôi không hẹn gặp mặt, ít nhiều gì lòng tự trọng cũng đã bị tổn thương, tôi nhớ chàng đã từng nói:
– Dù gì cuộc đời mình cũng coi như xong, bây giờ anh chỉ muốn cho thằng Huy cũng như con gái em một gia đình có cha, có mẹ, hòa thuận, để sau này chúng ra đời sẽ vững chãi hơn…
Ai ngờ…

Đặt dấu chấm không viết về anh nữa
Đem thu xưa gửi lại thuở bên người
Năm tháng ấy thuộc về miền quá vãng
Vé khứ hồi không hẹn chuyến tàu xưa

(Buông- thơ Hoàng thị Bích Hà)

Sỏi Ngọc
Montreal, Nov’25

Thứ Hai, 19 tháng 1, 2026

Hỏi Anh

Thơ & Trình Bày: Ý Nga

Viễn Du



Ta vẫn coi đời như viễn du
Bước đi, đi mãi chẳng lui về
Dấu chân xưa đã mờ cát bụi
Mà thời gian vẫn chửa xóa nhòa.

Ta vẫn coi đời như viễn du
Gửi tình theo sóng vỗ xa mù
Gởi sầu vào mắt ngàn ngấn lệ
Chia ly, hội ngộ hỏi ai ngờ.

Ta vẫn thả hồn về chốn xưa
Xanh lá me bay những chiều mưa
Thiết tha vui hay buồn da diết
Ai đợi chờ ai, ai đón đưa …

Ta bước xuống đời chân viễn du
Thuyền mê bến giác vẫn xa mù
Lạc nẻo đường về, trăng chuyển bến
Ta vẫn xem đời như viễn du…

Sao Khuê
11-2011


Một Thuở Sinh Viên


(Ảnh: Tác Giả)

Chào quý bạn,

Theo thông lệ hằng năm thì sau ngày Lễ Lao Động ở xứ Mỹ, học sinh các trường tại Portland và các vùng phụ cận khai trường trở lại. Thời gian trôi qua nhanh quá, mới đó ba tháng hè trôi qua nhanh chóng. Cô cháu nội Mya của tôi mới ngày nào còn bé tí tẹo trong vòng tay của bà nội, bây giờ lại là học sinh lớp 1 của trường tiểu học Montclair ở Beaverton. Nhìn cái cặp đi học của cháu đựng đầy dụng cụ học sinh theo sự đòi hỏi của nhà trường, người viết thấy tội nghiệp cho Mya quá vì ngày mai Mya phải vác cái cặp to tướng này vào trường trên đôi vai bé bỏng của cháu để bắt đầu một niên học mới.

Rồi đây Mya sẽ phải học hết chương trình tiểu học, chương trình trung học, chương trình đại học, rồi ra trường tranh đấu với đời để mưu sinh trong cuộc sống như người viết đã làm cách đây mấy chục năm về trước. Cái vòng lẩn quẩn đó lại tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác. Những người già nằm xuống, những đứa trẻ lớn lên, bánh xe thời gian vẫn quay và con người vẫn phải lập đi lập lại những gì các thế hệ cha ông đã làm trong cái vòng sinh tử luân hồi của kiếp nhân sinh.

Người viết đã kể cho bạn nghe tâm tình của tuổi học trò tiểu học và học trò trung học của người học sinh vào thập niên 60 qua bài viết Lưu Bút Ngày Xanh (bài số 136 MCTN-ORTB 534 ngày 7-23-2012).

Năm năm tiểu học và bảy năm trung học của tôi có biết bao nhiêu là kỷ niệm đáng yêu đáng quý làm sao nói hết cho đủ được trong phạm vi một bài viết chỉ 3 trang đánh máy theo sự yêu cầu của ban biên tập Oregon Thời Báo. Thôi thì nhớ đến đâu thì tôi tâm tình đến đó mà thôi. Người viết đã nhận được nhiều lời khích lệ, cảm thông của những độc giả cùng thế hệ với tôi. Có nhiều vị đã gặp người viết và thú thật họ đã khóc khi người viết nhắc lại thể lệ thi cử và sinh hoạt của đời học sinh những ngày xưa cũ vì họ đã thấy hình ảnh của mình thấp thoáng trong đó. Họ và tôi đã có cùng những cảm nghĩ, những sinh hoạt, những kỷ niệm tuổi học trò giống như nhau nên vô tình tôi đã “động mối thương tâm” của họ khi tôi đã đưa họ quay về với dĩ vãng ngày xưa.

Cũng có một lần qua bài viết Cô Giáo xứ Mỹ, người viết đã tâm sự rằng tôi vẫn thích làm cô giáo hơn và đã không có duyên với bằng Cử nhân Khoa Học. Đôi khi “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên” khi tôi được may mắn trúng tuyển vào Học Viện Quốc Gia Hành Chánh năm1964. Đây là trường đào tạo các cấp chỉ huy hành chánh phục vụ ở trung ương và ở địa phương. Khi đi học, sinh viên được hưởng học bổng với quy chế đặc biệt hơn hẵn sinh viên các đại học có thi tuyển khác như Đại học Sư Phạm, Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ, Nông Lâm Súc v..v…. Những người ôm mộng quan trường thường mơ ước được trúng tuyển vào HVQGHC vì đường công danh sẽ rộng mở sau khi tốt nghiệp với ngạch trật Đốc Sự Hành Chánh công chức hạng A. Đa số sinh viên là người miền Trung và miền Bắc của Miền Nam Việt Nam ngày xưa. Riêng người viết, một nữ sinh miền Nam, tính tình nghệ sĩ, yêu văn chương nghệ thuật, mộng tầm thường bé nhỏ, nhờ có phúc duyên nào đó lại được Phật Trời ban phúc cho được trúng tuyển vào trường này sau một cuộc thi tuyển thật là khó khăn. Đúng là ý trời đã định!

Trong phạm vi bài viết này người viết chỉ tâm tình một đôi điều cần thiết theo lời yêu cầu của một số thân hữu muốn biết về ngôi trường đặc biệt này để mở mang kiến thức mà thôi. Dĩ nhiên trong phạm vi giới hạn của một bài viết 3 trang giấy, làm sao người viết có thể nói hết được những điều mình muốn nói, mong sao quý bạn thông cảm cho tôi nhé. Xin đa tạ.

Trước hết xin mời bạn đọc qua đôi dòng về HVQGHC, bạn nhé.

ĐÔI DÒNG VỀ HỌC VIỆN QUỐC GIA HÀNH CHÁNH

( Ảnh: Sương Lam)

Học viện Quốc Gia Hành Chánh là một cơ sở giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa đặt trọng tâm vào việc đào tạo nhân viên hành chánh cao cấp cho chính phủ..

Đầu tiên, Trường Quốc Gia Hành Chánh được thành lập tại Đà Lạt do sắc luật của Quốc trưởng Bảo Đại ký ngày 7 tháng 4 năm 1952. Trường lúc đó thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục với học trình hai năm nhưng sau được chuyển giao cho Phủ Thủ tướng rồi Phủ Tổng thống. Đến năm 1955 sau khi về nước chấp chánh, Thủ tướng Ngô Đình Diệm vì nhận thấy vai trò quan trọng của cán bộ hành chánh trong công cuộc xây dựng quốc gia nên đã cho dời trụ sở của trường về Sàigòn và cải danh thành Học viện Quốc Gia Hành Chánh (QGHC), trụ sở đặt tạm tại số 4 đường Alexandre de Rhodes, sau này là trụ sở của Bộ Ngoại giao. Đến năm 1962, Học viện được chánh thức chuyển về trường sở mới to lớn và khang trang tại số 10 Trần Quốc Toản. Cơ sở vật chất gồm có giảng đường 500 chỗ ngồi, ký túc xá cho 114 sinh viên, thư viện lớn nhứt Việt Nam với 100.000 văn bản, nhà sinh hoạt, sân quần vợt, sân bóng chuyền, câu lạc bộ.

Mục đích của Học viện QGHC là nhằm đào tạo cán bộ cho guồng máy hành chánh của quốc gia qua 4 chương trình học gồm ban Cao học, ban Đốc sự, ban Tham sự, và ban Nặng lực Hành chánh.

Ban Cao học có học trình hai năm và Đốc sự có học trình ba năm rưởi nhằm đào tạo công chức hạng A cho các ngành hành chánh và chuyên môn như kinh tế, tài chánh, thuế vụ, xã hội, ngoại giao…

Môn học gồm những kiến thức như soạn thảo công văn, kế toán thương mại, tư tưởng và định chế chính trị, quản trị công quyền, quản trị nhân sự, luật hành chánh, luật thuế vụ… và cả huấn luyện quân sự.

Khi thi mản khóa ngoài các bài thi về các môn đã học, sinh viên còn phải nộp một Luận văn tốt nghiệp về một đề tài được giáo sư hướng dẫn chấp thuận.

Ban Tham sự với học trình hai năm nhằm đào tạo công chức hạng B.

Còn ban Năng lực Hành chánh là những lớp học buổi tối dành cho quân nhân và công chức để giúp họ cải tiến kỹ năng và kiến thức chuyên môn hành chánh để dự thi vào các ngạch hành chánh.

Ngoài ra, Học viện cũng là trung tâm phụ trách nghiên cứu hành chánh và tu nghiệp quốc gia. Về tu nghiệp Hoc viện phụ trách các chương trình tu huấn cho chánh phủ như chương trình phát triển chỉ huy cao cấp, chương trình quản trị hành chánh cao cấp dành cho các viên chức giữ các chức vụ cao tại các phủ bộ, và chương trình tu nghiệp cho cựu sinh viên QGHC đã tốt nghiệp quá 5 năm.

Muốn được nhận vào Học viện QGHC các ứng viên phải qua một kỳ thi nhập học khá gay go. Trong số hàng ngàn người dự tranh trên toàn quốc, mỗi năm Học viện chỉ nhận một số nhỏ hội đủ tiêu chuẩn, khoảng 50 người cho ban Cao học, và khoảng 100 người cho ban Đốc sự, và ban Tham sự.

Nhưng bù lại các sinh viên trúng tuyển được nhận một học bổng $2000.00 mỗi tháng cho sinh viên thường, còn sinh viên nguyên là công chức được tiếp tục lảnh lương cũ, ngoại trừ phụ cấp chức vụ.

Ngoài ra, từ năm 1960 trở đi với sự yểm trợ của Đại học Michigan State University (MSU), các sinh viên tốt nghiệp thủ khoa của các khoá Đốc sự hầu hết đã được cấp học bổng để du học lấy bằng Master tại Hoa kỳ, sau đó thủ khoa các khoá Cao học cũng được học bổng đi Mỹ học lấy bằng Ph.D. Đa số các cựu sinh viên có bằng Ph.D. và một số có bằng Master tại Mỹ đã trở về giảng dạy cho Học viện.

So với các trường đại học khác như các phân khoa thuộc Viện Đại học Saigòn, Viện Đại học Huế, Viện Đại học Đàlạt, Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú thọ, Trường Đại học Nông Lâm Súc, Học viện QGHC đã có một ban giảng huấn rất hùng hậu. Ngoài nhiều giáo sư cơ hữu có bằng Tiến sĩ tốt nghiệp trong nước và ngoại quốc, Học viện còn mời được nhiều chánh khách có tăm tiếng và nhiều viên chức hành chánh cao cấp trong chánh phủ giàu kinh nghiệm đến giảng dạy về các đề tài thuộc lãnh vực chuyên môn của họ.

Về phương diện học trình, với sự hỗ trợ của Institute of Public Administration (IPA) tại New York chương trình học tại Học viện cũng luôn được cải tiến để sinh viên tốt nghiệp có được những kiến thức hiện đại về các lãnh vực quản trị công quyền, quản trị nhân sự, về các lãnh vực kinh tế, tài chánh, thuế vụ, về lãnh vực quyết định hành chánh, cũng như các kiến thức về văn hoá và luật pháp quốc gia. Không giống như tại các trường đại học khác, sinh viên QGHC ngoài việc theo dõi các bài giảng tại lớp học có tánh cách lý thuyết, còn phải tham gia các buổi thuyết trình và hội thảo với các chánh khách và chuyên gia về các đề tài chuyên môn.

Ngoài ra, sinh viên còn đuợc đi thực tập 6 tháng tại các cơ quan công quyền ở địa phương và trung ương như một công chức thực sự. Và để chuẩn bị cho các viên chức tương lai biết sống hòa đồng với dân chúng, học trình cũng đòi hỏi các sinh viên phải tham gia vào các công tác xã hội hằng tuần do Học viện tổ chức. Ngoài ra, sau khi tốt nghiệp tại Học viện các nam sinh viên còn được gởi đi thụ huấn về quân sự tại trường sĩ quan Thủ đức trước khi đi nhận nhiệm sở.

Sau khi ra trường các sinh viên tốt nghiệp được bổ dụng đến nhiều cơ quan, các Bộ, Nha ở trung ương cho đến các ty, các sở ở địa phương và Phó tỉnh trưởng hoặc Phó quận trưởng.
Nhờ vào tất cả những ưu điểm về huấn luyện đó mà Học viện QGHC không những là một cơ sở giáo dục được trong nước biết tiếng mà cả các quốc gia vùng Đông Nam Á cũng thừa nhận Học viện như một trong nhiều trung tâm có uy tín về đào tạo nhân sự cho ngành quản trị công.

Với một quá trình hiện diện dài 23 năm, Học viện QGHC đã đào tạo được 2784 sinh viên gồm:

8 khóa Cao học với 323 sinh viên tốt nghiệp.
20 khóa Đốc sự với 1650 sinh viên tốt nghiệp.
5 khóa Tham sự với 622 sinh viên tốt nghiệp và
5 khóa Tham sự Đặc biệt dành cho đồng bào sắc tộc có 189 sinh viên tốt nghiệp.

Đó là chưa kể 527 sinh viên chưa kịp tốt nghiệp vào năm 1975 gồm:

161 sinh viên Cao học khóa 9 và khóa 10
316 sinh viên Đốc sự các khóa 20, 21 và 22
50 sinh viên Tham sự khóa Đặc biệt.

Với một số lượng tốt nghiệp khá đông đảo như vậy, các cựu sinh viện QGHC với một kiến thức chuyên môn dồi dào và một kiến thức căn bản về quân sự đã một thời như Nguyễn Công Trứ có nói:

“Trong lăng miếu ra tài lương đống,
Ngoài biên thùy rạch mũi can tương ”.

Nhưng tiếc thay ngày lịch sử định mệnh 30 tháng 4 đã xảy đến làm ngôi trường QGHC phải bị đóng cửa và các cựu sinh viên QGHC phải tứ tán khắp bốn phương trời. Nhưng dù sống ở đâu, những ngày xưa thân ái dưới mái trường QGHC và giai đoạn dấn thân phục vụ cho quê hương xứ sở vẫn không phai nhòa trong tâm trí họ.

Để kết thúc, xin có 4 câu thơ:

Tài lương đống một thời ngang dọc
Mộng can tương bỗng chốc khói mây
Dù cho lưu lạc đó đây
Trường xưa vẫn mộng một ngày đoàn viên…
(Nguồn: Trích bài viết của Nguyễn Minh Triết- Xin cám ơn anh NMT)

Người viết hy vọng rằng những gì bạn muốn biết về trường QGHC đã được anh Nguyễn Minh Triết trình bày rõ ràng rồi. Người viết sẽ tâm tình tiếp với quý bạn trong những bài viết sau này để quý bạn hiểu rõ hơn niềm vui và nỗi buồn của những kẻ sĩ ngày xưa hìện đang lưu lạc nơi xứ người.

Sương Lam

Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2026

Một Thoáng Thu Xưa

 

Cứ ngỡ thời gian trôi thật xa,
Thu xưa nay đã nhạt phai nhòa,
Bao nhiêu kỷ niệm ngày xưa đó,
Những tưởng quên rồi ngày tháng qua.

EM chợt về ngang nơi phố xưa,
Gợi bao nhung nhớ nhắc sao vừa,
Thuở ta quen biết và hò hẹn,
Sánh bước vui đùa bao nắng mưa.

Ngày đó chúng mình dệt mộng mơ,
Cái thời si dại thật ngu ngơ,
Nào hay chia cách như huyền thoại,
Mỗi đứa một nơi ai có ngờ.

EM thoáng ngại ngùng khi gặp nhau.
Tôi như hụt hẫng tợ chiêm bao,
Nụ cười e ấp EM chào hỏi,
Mắt vẫn hoen buồn như thuở nao.

EM bước xa dần bỏ lại đây,
Mang theo Thu cũ gió heo may,
Còn riêng nỗi nhớ lòng ngơ ngẩn.
Một thoáng Thu xưa đã vụt bay ....

Hoàng Dũng

Bộ Hành Cầu Nguyện Hòa Bình


Thơ & Trình Bày: Minh Lương

Trong Gió Trong Mây

 
 
Chuyện quên chuyện nhớ chuyện mơ hồ
Còn chuyện trầu cau chuyện ấu thơ
Còn gửi cho nhau màu kỷ niệm
Mây hồng vào gối thật đơn sơ

Em đã đi qua những chốn nào
Dáng buồn chân lạnh mắt trăng sao
Mênh mông mây trắng ghen màu áo
Hoa cỏ ngẩn ngơ quên hỏi chào

Hư thực gần xa dấu dỗi hờn
Chân buồn trốn kiếm gót giày hôn
Trăm thương nghìn nhớ môi thao thức
Giấc ngủ đa tình ôm gối ôm

Cây cỏ mùa xuân cũng hẹn hò
Lời nào đẹp nhứt để dành cho
Mây trôi gió thoảng đau màu má
Màu mắt thành thơ áo học trò

Lối cũ bâng khuâng bóng ngập ngừng
Áo bay lụa mỏng quá ôm lưng
Tay nào bắt được con chim mộng
Hoa bướm nghìn xưa hẹn đón mừng

Áo ngủ gửi hương lạc vào mơ
Hoa cỏ khoe duyên tóc thẫn thờ
Biển xanh e thẹn chờ mây trắng
Trời đất si tình gió ngẩn ngơ

Còn giọt mưa nào rớt vào môi
Một phút tương tư hẹn mấy đời
Một cánh hoa rơi thơm trang sách
Sóng gợn áo dài hồn chết trôi

Kiếp trước hình như cũng cùng trường
Đi về mưa nắng đẹp văn chương
Đôi tay cũng có khi gần gũi
Một chút thẹn thùng má dễ thương

Suối mát rong vàng hay rong xanh
Còn cọng rong ngoan nào để dành
Cho con cá đỏ nơi nương tựa
Tu luyện chờ ngày hoá rồng xanh

Hình như cùng dạo đến nơi nầy
Đồi núi hoa cười gió ghẹo mây
Đôi môi cũng có lần nhóm lửa
Ngọn lửa quê mùa không cánh bay

Ngày cũ hương hoa hương áo em
Khói chiều sương sớm nhớ hương đêm
Em nằm trên lá thu vàng bướm
Anh trải thư tình hôn gót quen

Em trốn vào trong gió trong mây
Vào hoa vào cỏ vào lá cây
Hay vào giấc mộng đêm trăng ngủ
Bỏ anh mòn mỏi bước lưu đày

Bây giờ thơ cũng giận anh rồi
Mực cạn bút cùn giấy tả tơi
Hồn đau tay lạnh chân chai đá
Sỏi cát chia buồn gọi mưa rơi

Anh như áo rách như ổ rơm
Sớm tối vào ra bụng trống trơn
Trời cao mưa thấp se lòng giấy
Té xuống bò lên đứt dây đờn

Sao không trở lại không để dành
Một chút son môi thật mong manh
Nhớ thương mai mối qua rừng cấm
Mát ruột sầu riêng ấm cỏ xanh

Lang thang tìm lại những con tàu
Đã chở chúng mình vào chiêm bao
Chỗ ngồi chỗ đứng còn hương ấm
Hay dấu bụi mờ nhịp tim đau...

MD 11/05/05
LuânTâm
(Trích trong TT HƯƠNG ÁO,Minh Thư xb,MD/USA.2007,tr.279-281)

Tơ Lòng Còn Vương - Kỳ 4



Em về mắt đẹp ngời như thuở
Tình của trăng non mộng ứ hồn (Th.H )

Lời Trúc Đào lúc 19 tuổi:

Hồi tôi 15 sắp bước qua 16 tuổi, tập tành viết truyện và thơ tình mặc dù chưa có “bồ”. Lúc đó tim tôi cảm thấy biết rung động rồi dù chưa có ai làm tôi yêu được cả.

Thực ra thì tôi đã bắt đầu viết văn từ khi lên 9,10 tuổi về đề tài cổ tích và nhi đồng. Anh Kiệt cắt những tờ giấy trắng còn lại trong các quyển vở còn lại của niên học cũ, đóng thành từng tập dày chừng 30 trang, vẽ hình trang trí cho mỗi bài viết vì anh có khiếu hội hoạ bẩm sinh. Xuân Đào viết bài kể chuyện vui cười hoặc chuyện xảy ra ở lớp chỉ khoảng 10, 15 dòng là hết. Văn thi sĩ là ba anh em tôi, độc giả cũng là chúng tôi và vài anh chị em họ bạn lối xóm cùng trang lứa. Họ rất bái phục tài, luôn nôn nóng chờ chúng tôi viết xong cuốn nào là đọc hết cuốn ấy. Tất nhiên lời lẽ rất non nớt ngây ngô, nhưng ở vào cái tuổi lên 9 lên 10 mà đã biết viết văn kể ra cũng đáng khen đó chứ.

Chị Anh Đào là con lớn nên đâu có thời giờ cho những trò giải trí vô tư như các em, học về còn phải lo phụ giúp má nấu cơm, may vá giặt giũ. Má hay nhắc nhở chúng tôi về những cực khổ hy sinh của chị ngay từ lúc năm , sáu tuổi biết thay mẹ săn sóc các em, dặn dò anh em tôi phải thương yêu và vâng lời chị như một người mẹ thứ hai vậy

Từ trường, chị Anh Đào và anh Kiệt mang về rất nhiều sách, thơ, nhạc đủ loại: truyện của các tác giả thời tiền chiến và đương thời, truyện dịch Pháp, Anh, Mỹ...lớp thì mua, lớp mượn ở thư viện trường, lớp được bạn tặng. Hay đúng hơn là của mấy anh trồng cây si chị tặng, có một ông sĩ quan tặng cây bút mực Caran d’Ache chế tạo ở Thuỵ Sĩ dáng nhỏ thon rất duyên dáng. Tất nhiên chị đem giấu biệt không dám dùng vì nếu ba má thấy chắc chị bị phạt vì ở đâu mà chị sở hữu cây viết “de luxe” đó được. Tôi cầu mong chị đừng nói yêu ai hết, cho họ nuôi hy vọng rồi cứ mua sách tặng để tôi có thật nhiều truyện đọc hoài !

Giờ tôi không chơi bán hàng, chơi nhảy dây với Xuân Đào nữa mà chúi mũi vào kho tàng sách sau khi đã làm việc nhà và ôn bài xong. Nhưng thỉnh thoảng tôi vẫn còn trèo lên cây lý trước sân tìm những chùm trái chín để hái. Trái lý có màu ngà hoặc ửng đỏ cùng họ với mận nhưng hương thơm và ngọt ngào hơn, quyến rũ cả đàn dơi tối tối bay về kiếm ăn. Còn nhớ một buổi trưa tôi đang vắt vẻo tuốt gần tới ngọn cố hái cho được chùm lý chín thì tôi nghe tiếng xe ồn ào ngay phía dưới chỗ tôi ngồi. Vì cây trồng gần sát hàng dâm bụt ngăn sân với con đường lưu thông xe cộ mà nhánh cây tôi đang ngồi vươn ra tận hàng rào nên tôi nhìn thấy không sót những gì dưới đất

Hai chiếc honda 67 đang chầm chậm đi ngang nhà tôi, trên mỗi xe có hai anh con trai độ 20,21 tuổi. Cả bốn gương mặt đều quay nhìn vô nhà, chắc chắn họ tìm chị Anh Đào đây. Xe đi qua đoạn ngắn rồi đảo vòng lại, một anh ngồi phía sau đứng hẳn người trên hai thanh kê chân để cố ngóng cho rõ vào trong xem có gặp người đẹp môi đỏ không? Chị Anh Đào đang tuổi dậy thì, đôi môi đỏ mọng tự nhiên mà nhiều người cứ tưởng chị thoa son ấy.

Tôi ngồi chết trân không dám thở mạnh tim đập dồn, sợ lỡ họ ngước mắt nhìn lên bắt gặp tôi ngồi như con khỉ nhìn xuống thì xấu hổ không để đâu cho hết. Lại nhớ cái lần giả làm mẹ bế búp bê đi vòng vòng trong sân bị Đằng bắt gặp, lần nầy thì chỉ mình tôi ngồi đỉnh đạc trên cây chịu trận, Xuân Đào đi học rồi.

May phước họ chỉ đảo xe qua lại có hai lần tức bốn vòng, thất vọng vì không thấy chị Anh Đào nên chạy luôn. Tôi hái vội vàng chùm lý rồi tuột xuống đất phóng nhanh vào nhà. Hú vía!
Mỗi khi ra ngoài hay đến lớp tôi có vẻ trang nghiêm khó tánh mà nhiều bạn kết luận tôi kiêu kỳ nhưng không ai biết đó là một hình thức nguỵ trang che giấu bản tính nhút nhát mà thôi. Chỉ ở nhà tôi mới thật sự là tôi: hồn nhiên, nhí nhảnh, nghịch ngợm đúng với cái tuổi của một cô bé bắt đầu lớn.
Có lẽ do đọc quá nhiều sách đã ảnh hưởng rất lớn đến tâm hồn nên tôi ôm mộng sau nầy trở thành ký giả hoặc nhà văn. Vì chỉ có nhà văn mới tạo ra phép lạ biến những người bất hạnh tìm ra hạnh phúc, những người nghèo khổ có cơm ăn áo mặc, những người bệnh tật có phương thuốc thần làm cho khoẻ mạnh, những đứa trẻ nghèo thông minh hiếu học trở thành nhà bác học, tỷ phú hiền lương tiếp tục cống hiến tài năng giúp đời. Còn những ký giả chân chính sẽ vạch trần những bất công oan trái, lấy lại công bằng cho người dân thấp cổ bé miệng..v..v..

Trong lúc chờ đợi để mai sau trở thành người cứu đời, tôi vẫn tiếp tục đến lớp để góp nhặt kiến thức từ thầy cô. Bạn bè người nghỉ học người chuyển trường đến và đi. Gia đình Đằng đã dời đi nơi khác hồi năm đệ ngũ (lớp 8). Nghỉ tết xong, Đằng biến mất. Hỏi ra mới hay ba hắn vì nhiệm vụ phải đổi sang tỉnh khác, nghe tụi con gái kháo nhau là một người anh của Đằng vẫn ở lại vì chỉ còn mấy tháng thi tú tài 2 không muốn xáo trộn việc học. Rồi tụi nó chắt lưỡi xuýt xoa rằng anh em nhà Đằng ai cũng đẹp trai thông minh vóc dáng hiên ngang của con nhà võ lại có tài đàn hát hay. Anh đầu lòng tên Tường giỏi nổi tiếng đang du học bên Mỹ có người yêu là chị Khanh theo ngành Khoa Học. Toàn là mẫu người lý tưởng, ước gì tụi nó được là người yêu của họ ...

Vắng Đằng lớp bỗng trống trải thế nào ấy tuy sĩ số học trò không thay đổi là bao. Sao hồi hắn hiện diện mình chả nghĩ ngợi gì, giờ hắn bỏ đi mình lại thấy mất mát nhỉ? Chắc vì không còn ai để hơn thua điểm cao điểm thấp chăng? Vẫn còn Quân, nhưng cậu nầy hiền quá có cái vẻ an nhiên nên tôi không hào hứng so tài chứ gì.

Nghĩ vậy nhưng tôi thấy có cái gì khập khiễng trong cách suy luận. Vì lâu rồi chúng tôi đâu còn tranh giành thứ hạng nữa. Chắc phải là một cái gì khác, thuộc về thói quen. Tôi coi Đằng hay các bạn là một phần trong cuộc đời học trò gắn bó hằng ngày với mình, nay Đằng tách ra nên tôi thấy thiếu đó mà. Ủa, vậy sao những bạn khác chuyển trường bỏ học tôi không có cảm giác hụt hẫng nầy? Hay bóng dáng Đằng đã nhảy vào tiềm thức tôi hồi nào rồi mà chính mình chưa nhận ra?

Gần cuối năm học tôi bắt đầu làm thơ, một trong những bài thơ tình đầu tiên như:

Người bơi thuyền trên dòng sông xanh
Thấy trăng vàng dưới đáy long lanh
Đưa tay bắt vô tình chấn động
Trăng tan rồi sông cũng loanh quanh (Th.H)

Thời gian nầy chị Anh Đào lên thành phố học Sư Phạm nên tôi tiếp má nấu ăn dọn dẹp nhà cửa. Dịp tết hay hè chị Anh Đào về là mấy chị em cứ quấn quít tíu tít không rời. Anh Kiệt như người bạn thân mà hai anh em có thể trao đổi mọi chuyện riêng tư thầm kín.

Bây giờ tôi được gia nhập vào hội những người lớn của chị và anh Kiệt, được ngồi nghe chuyện tình của hai anh chị với người yêu của họ rất thơ mộng và lãng mạn.
Rồi chính tôi cũng có người ái mộ tặng sách, thiệp, thơ chứ không phải lúc nào cũng coi ké của chị Anh Đào.

Quyển đầu tiên do con trai tặng là Nỗi buồn thắp sáng của Cung Tích Biền. Đó là một bạn học ngang cấp nhưng khác lớp. Cậu nhờ chị Lành chuyển chứ không tự đưa nên tôi không biết là ai. Chị Lành nói chờ tan trường chị sẽ chỉ cho xem. Ra là cái cậu chiều cao thấp nhỏ hơn tôi mà có lần giờ ra chơi tôi tựa cửa ngó vu vơ thì chợt nhìn qua phòng kế bên thấy cậu cũng đang đứng tần ngần một mình, nét mặt ủ rũ. Thấy vậy tôi mỉm cười như để an ủi–mà chả biết an ủi điều gì nữa–cậu nhìn tôi ngỡ ngàng (chắc tự hỏi vì sao tôi lại cười với cậu).

Những ngày sau đó cậu hay lân la qua lớp nhìn tôi, thấy thế tôi lại cười xã giao thêm một vài lần. A, chắc cậu nghĩ tôi thích cậu nên cố ý tìm một quyển truyện có nhan đề Nỗi Buồn Thắp Sáng, viết kèm thêm mấy hàng:”Tặng Trúc Đào, người đã thắp sáng tâm hồn tôi. Danh”. Úi trời, tôi mới 14 tuổi gần đây còn thích trèo cây me cây lý cây ổi tìm hái trái, hay cầm vợt đuổi theo đàn bướm định bắt đem về nuôi mà. Tôi cười với cậu là nụ cười của một người chị muốn an ủi em trai có gương mặt bí xị tưởng bị thầy cô phạt chứ có định làm ánh đèn thắp sáng tâm hồn cậu đâu. Bé cái lầm rồi, từ nay tôi phải cẩn thận mỗi khi cười với con trai mới được.

Quyển sách thứ hai tôi nhận được là Angélique, Nữ Hầu Tước của những Thiên Thần của nhà văn Pháp Anne Golon do Kiên bạn anh Kiệt, ở nơi khác mới chuyển về trường tôi năm nay tặng, qua trung gian anh Kiệt chứ không trao trực tiếp. Lúc đó tôi 16 tuổi học lớp 10. Thấy tôi cứ ôm sách đọc ngấu nghiến anh Kiệt chọc:
–Sao em không nhắn lời cảm ơn người tặng gì hết trơn vậy, miễn có truyện đọc là thích thôi chớ không cần tìm hiểu là ai hết phải không? Vô tình thế.
Tôi cười, khó khăn lắm mới ngẩng đầu khỏi quyển truyện:
–Em không nói thì anh cũng thay em cám ơn anh ấy dùm. Mà ai vậy anh Kiệt? Sao người này biết em vậy?
–Nói thì em cũng không biết đâu, để hôm nào anh rủ nó lại nhà chơi cho em xem mặt. Con chủ nhà sách Quang Nhân đó. Còn sao biết em hả? Anh có chị em gái nổi tiếng khắp trường ai mà không biết.
–Vậy nói bạn anh hể sách nào mới xuất bản ăn cắp ba má mang cho em đọc nghe, tôi đùa.
Lần kế Kiên tặng tôi tập thơ tình của thi sĩ Nguyên Sa.

Tôi như khám phá một chân trời mới với những lời đầy chất thơ và nhạc, qua đó tôi lấy cảm hứng để sáng tác thơ cho riêng. Tất nhiên là chẳng thể nào so sánh với thi sĩ Nguyên Sa được nhưng có hề gì. Ai cấm mỗi người nói lên cảm xúc của mình chứ.

Nếu viết truyện thì mình có thể lấy ngôi thứ ba làm nhân vật chánh nhưng trong thơ thì bắt buộc phải dùng ngôi thứ nhất hoặc anh hoặc em. Anh Kiệt đọc thơ tôi, hỏi:
–Bộ Trúc Đào biết yêu rồi hả?
–Trời, làm gì có. Bộ anh không hiểu em sao còn hỏi vậy? Tôi giãy nảy.
–Sao làm thơ như người có kinh nghiệm yêu đương thế?
–Bài nào đâu?
–Bài Vương sầu đây thôi, rồi bài Chiêm bao trắng, Đêm hẹn nữa.
–Em làm nguyên cả tập, mỗi bài là mỗi trường hợp mỗi đề tài khác nhau. Chả lẽ em có từng ấy người yêu ư?
Anh cười cốc nhẹ đầu tôi :
–Ngoài đời em khờ như con nai ấy, mà sao viết văn thì già dặn gớm. Ba má đọc được chắc hoảng kinh lăn đùng ra xỉu quá.
–Phải có trí tưởng tượng dồi dào phong phú như vậy mai kia mới làm văn sĩ được chứ bộ anh quên là hồi mình mới 9,10 tuổi đã biết viết văn rồi sao? Tôi giả bộ tự hào

Mùa đông về gục mặt
Khóc trên bờ vai xuôi
Lời buồn đong ngút mắt
Cho lệ tím nào rơi

Bàn tay như cẩm thạch
Tóc huyền như khăn tang
Em đóng khung đời sống
Theo đỉnh sầu mang mang (Th.H)

Như anh Kiệt nói, trong đời thường tôi là một cô bé ngây ngô không chút vốn sống nào nhưng thả vào thế giới sách vở thì tôi hoá thân thành đủ mọi nhân vật hoàn toàn khác với tôi.

Con chim dưới lá giật mình kêu hoang
Chân người đêm lạ êm ngoan
Bờ tường vi thấp thoáng choàng dáng tiên
Gái trinh thôi ngủ mơ hiền
Ta ngồi dạo nhạc giữa miền trăng tan (Th.H)

Mấy câu trên là cảm đề khi đọc về chuyện tình Romeo & Juliette, tưởng tượng cảnh anh chàng Romeo mỗi đêm lén đến cửa sổ phòng Juliette dạo bản tình ca cho nàng nghe .

Nhớ mấy năm trước, trong giờ Kim văn có bài Anh Phải Sống của hai tác giả Khái Hưng và Nhất Linh, là một trong vô vàn tác phẩm để lại ấn tượng sâu sắc khó phai mờ trong tâm khảm tôi. Truyện nói về hai vợ chồng nghèo đi vớt củi vào mùa lụt sông Hồng, chiếc thuyền nan bị lật úp vợ yếu sức nên anh Thức một tay ôm chị Lạc một tay cố bơi vào bờ. Nhưng lũ mạnh quá người chồng đuối dần. Biết nếu tiếp tục như thế cả hai sẽ cùng chết nên chị Lạc buông tay để nước cuốn trôi cho chồng sống sót trở về nuôi ba con còn nhỏ dại. Tôi vẫn nhớ như in câu chị Lạc nói trước khi chìm xuống nước:“Thằng Bò! cái Nhớn! cái Bé! Không! Anh phải sống!“
Câu chuyện thương tâm nầy cứ ám ảnh tôi mãi.

Rồi tôi thấy mình trong nhân vật cô bé Perrine mồ côi can trường lương thiện trên hành trình gian nan tìm về nguồn cội đã chinh phục ông nội khắt khe–trước đây đã từ bỏ cha cô vì dám cưới người đàn bà ngoại chủng là mẹ cô–bằng chính nhân cách cư xử đầy lòng tự trọng đáng ngưỡng mộ, là một gương điển hình mà tôi nguyện sẽ noi theo (Trong Gia Đình, Hector Malot).

Óc tưởng tượng đưa tôi nhập vai Angélique, Nữ Hầu Tước hoang dã, ngỗ ngáo có một nghị lực và lòng can đảm ngoại hạng dám một mình chống lại mọi thế lực mạnh nhất của vua chúa, bọn cướp, bọn buôn người để sau cùng thành công và nhất là đòi lại công lý cho người chồng yêu dấu bị kẻ ganh ghét hãm hại.

Tôi mến phục và thương cảm cho ông già Jean Valjean, nhưng chắc chắn không muốn là phiên bản của một Cosette xinh đẹp hiền lành nhưng nhu nhược, đã nghe lời anh chồng Marius vì hiểu lầm tưởng cha vợ là kẻ xấu, nên bắt vợ phải từ bỏ người cha nuôi Jean Valjean có công đem mình từ cuộc đời tăm tối trở thành một tiểu thơ cành vàng lá ngọc trong tác phẩm Những Người Khốn Khổ của đại văn hào Victor Hugo.

Hình tượng lý tưởng của tôi là những cô gái, phụ nữ nghèo khổ cô thân nhưng đầy nghị lực ý chí để thay đổi vận mệnh chính mình. Giàu lòng nhân hậu, dịu dàng nhưng có chính kiến, không khuất phục trước sự tàn ác. Vì vậy mà tôi rất bực mình cho cái cô Cosette quá yếu đuối, bị động mà trở thành vô ơn với cha nuôi. Có điều sau cùng anh chồng công tử bột hiểu ra sự thật, hối hận đưa vợ quay về thăm ông Jean Valjean trên giường bệnh.

Tôi mê sách đến độ nếu ai đó chịu thảo luận về đề tài nầy thì tôi có thể nói cả buổi không chán. Tiếc thay anh Kiệt thi đậu tú tài xong rời nhà đi học ĐH Khoa Học Saigon nên chẳng còn ai để trao đổi. Kiên cũng nối gót anh Kiệt về thành phố học Luật. Trước khi đi có tặng cho tôi quyển Cuốn Theo Chiều Gió của Margaret Mitchell và nói riêng với anh Kiệt, dặn đừng kể gì với tôi, nhưng anh đem kể lại tôi nghe là
–Mầy nói Trúc Đào chờ tao học xong luật ra, đừng yêu ai nhé.
–Không ngỏ ý với em gái tao giờ, lỡ có đứa nhảy vô giành thì đừng khóc. Anh Kiệt nói.
–Trúc Đào còn nhỏ tao chưa nói đâu. Chờ có sự nghiệp đã.

Một chút bâng khuâng. Thiếu nữ nào mà không thích khi biết có người để ý đến mình.
Nhưng tâm hồn tôi ảnh hưởng bởi sách vở quá nặng, từ sách rèn luyện nhân cách, bàn về Chân Thiện Mỹ cho đến tiểu thuyết về thân phận con người, chiến tranh, diễm tình...nên tôi đâu chịu an phận làm một thiếu nữ không sự nghiệp, không hoài bảo? Tôi nhủ thầm là chính tôi cũng quyết phải đạt một cái gì kiểu như cụ Nguyễn Công Trứ nói: Đã mang thân ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông (Nợ Tang Bồng)

Rồi tôi tự chế giễu: không khéo mình giống như truyện ngụ ngôn Con ếch muốn to bằng con bò, tài cán thì không có mà cứ tưởng mình xuất sắc lắm rồi đến lúc nổ tung bụng chết không kịp ngáp.

Trước mắt tôi lo gạo bài để chuẩn bị mùa thi, phải đậu nếu muốn trở thành ký giả hay văn sĩ gì đó chứ.
Tôi tâm sự với anh Kiệt: Mấy người theo tán tỉnh em nếu như họ biết đánh vào yếu điểm“gót chân Achille”của em là thích đọc sách, thì không chừng họ đã chinh phục trái tim em từ lâu rồi.
–Có thằng Kiên đó, nó “cua”em bằng cả đống sách còn gì.
–Ừ nhỉ. Nhưng mà sao em chưa thấy rung động gì hết vậy?
–Có nói chuyện với nhau bao giờ đâu mà rung động. Thằng Kiên rất sâu sắc chứ không lắt chắt như mấy đứa khác đâu nha. Anh nói nếu muốn anh giúp bữa nào anh giả bộ chở em đi ăn kem rồi như vô tình nó cũng tới cùng chỗ tạo dịp cho hai đứa gặp mà nó lắc đầu lia lịa nói thôi tao chưa sẵn sàng đâu, lỡ nói mà bị nàng từ chối thì tao buồn chết, phải kiên nhẫn và xem tình ý của người ta thế nào đã.

Anh Kiệt đi, đổi lại chị Anh Đào tốt nghiệp xin về dạy trường trung học tỉnh cho gần nhà. Xuân Đào bắt đầu trổ mã, xinh xắn ra phết. Thỉnh thoảng nghe ba má nói nhỏ với nhau tưởng chúng tôi không nghe được:
–Nhà có con gái lớn thật như bom hẹn giờ, chả biết khi nào nó nổ.

Có mấy người đi dạm hỏi chị Anh Đào, nhưng chị ngập ngừng chưa nhận. Lấy lý do mới ra trường muốn trả hiếu ba má một hai năm nữa. Nhưng tôi biết nguyên nhân chính là chị chờ anh Long. Anh mồ côi cha từ nhỏ lại vừa để tang mất mẹ. Thêm vào cái nghiệp binh chủng nhảy dù sống chết như trò đùa nhảy từ trực thăng xuống đất. Ba má biết phong phanh, không cấm đoán nhưng cũng không tán đồng, sợ con gái lấy chồng quân nhân có nguy cơ trở thành góa phụ sớm.

Mùa hè năm đó tôi thi đậu tú tài một. Hồng bạn học chung lớp nhắn ghé chơi nhiều lần nhưng bận học thi nên chưa đi. Nay có thời gian tôi xin ba má chở Xuân Đào đến quán Hồng ăn chè. Bất ngờ gặp Đằng với Thi, Phú, Mạnh và cả nhóm, tất nhiên Đằng cũng thi đậu, về quê nội chơi vài tuần. Giờ Đằng trở thành thư sinh tuấn tú, dáng cao ráo rắn chắc mất đi cái vẻ háo thắng của một học sinh biết mình giỏi. Những hình ảnh xưa lần lượt hiện về như khúc phim quay chậm. Tôi khó khăn lắm mới kết nối giữa quá khứ và hiện tại: một Đằng vẻ mặt hầm hầm vì bị tôi chiếm điểm Anh văn. Đằng dương dương tự đắc vì thắng tôi toán lý hoá. Đằng đạp xe ca hát như điên rồi té lăn cù đau đớn mà tôi chả một lời thăm hỏi hay một cử chỉ lo lắng. Hình ảnh khác là Đằng bỗng trở nên thân thiện từ sau lần bắt gặp tôi chơi trò làm mẹ búp bê. Đằng thử bắt chuyện khen tôi học giỏi... Rồi Đằng bằng xương thịt đang ngồi trước mặt với nụ cười yêu đời tự tin. Bỗng nhiên tôi thấy lòng xôn xao gợn sóng trước người bạn học cũ!

Đang câu chuyện cởi mở, Xuân Đào đòi về. Tôi tức nhỏ quá muốn ngồi nán thêm chốc lát nhưng phải chìu. Thầm mong Đằng gàn tôi ở lại, thế mà người ta nín thinh. Mong Đằng hỏi địa chỉ để liên lạc, nín thinh ! Mong Đằng hứa câu gì thí dụ“mai Đằng ở lại thêm ngày nữa nếu Trúc Đào đi vườn trái cây với tụi bạn“ chắc chắn tôi sẽ gật đầu liền, nín thinh ! Tiễn hai chị em ra xe, tôi dùng thần giao cách cảm xúi Đằng “hẹn hò” với tôi như trong sách khoa học viết. Hy vọng tắt lịm theo câu nói của Đằng: Ừ hai chị em Trúc Đào về nhé.

Có lẽ chúng tôi không cùng tần sóng nên Đằng không bắt được tín hiệu của tôi chăng?
Rồ máy xe đi một khoảng, tôi nhìn vào kính chiếu hậu thấy bóng Đằng còn đứng ngó theo thật lâu. Nhớ lại ánh mắt sáng ngời của Đằng khiến tối đó giấc ngủ không về ru tôi tròn mộng như mọi đêm.

Ngày lại ngày qua, mùa thi đến. Năm nay là lần đầu tiên Bộ Giáo Dục áp dụng lối thi trắc nghiệm, chấm thi bằng máy IBM cho tú tài toàn phần. Tôi học xanh xao gầy rộc. Mỗi một câu hỏi có sẵn bốn câu trả lời, câu nào cũng tương tự nhau, nếu không hiểu thật kỹ bài thì dễ rơi vào bẫy như chơi. Không còn thời gian hay chỗ trống trong tim óc nghĩ ngợi vẩn vơ nữa. Kiên biết tôi lo học nên nhắn anh Kiệt là qua kỳ thi sẽ tặng tôi một thùng sách đọc bù, anh đã để dành sẵn rồi.
Thời gian nầy anh Long nhân chuyến về phép lên tiếng dạm hỏi chị Anh Đào. Ba má tuy lo sợ tương lai con gái lấy chồng lính nhưng đồng ý, chờ sang năm mãn tang mẹ anh là cưới. Chắc sẽ có nhiều người ca bài Tôi đưa em sang sông trước cửa nhà tôi lắm đây.

Kết quả kỳ thi tôi đậu hạng bình, không uổng công bao đêm thức trắng miệt mài (lúc ấy các kỳ thi có năm hạng: thứ, bình thứ, bình, ưu, tối ưu)
Tôi theo anh Kiệt lên Saigon ghi danh vào Văn Khoa, khấp khởi tưởng con đường trở thành ký giả hoặc văn sĩ đang bắt đầu hé mở.

Trong vài chục quyển sách Kiên tặng, không biết điềm báo hay ngẫu nhiên tôi chọn mấy quyển để đọc trước, là Tầng đầu địa ngục của nhà văn Nga Alexandre Solzhenitsyn, kể về cuộc đời đày ải lao tù của những nhà bác học, trí thức Nga dưới thời Xô Viết. Và quyển Lửa thương yêu lửa ngục tù của nhà văn Đức Erich Maria Remarque nói về các tù binh chiến tranh và Do Thái thời Đức Quốc Xã. Nó vạch cho thấy tính phi nhân tàn bạo của một nhóm người mà ngay trong ác mộng kinh hoàng nhất tôi cũng không hình dung ra nổi.

Có đâu ngờ một thời gian không lâu sau đó, những trầm luân thống khổ tôi tưởng chỉ đọc thấy trong sách như tài liệu lịch sử bên lục địa Châu Âu xa xôi kia bỗng hiện tiền ngay trong đời tôi.

(Còn tiếp)

Thanh Hà