Thứ Ba, 22 tháng 7, 2025

Gặp Nhau

 

Chiều mộng thắm Paris vàng nắng hạ
Em đến thăm từ bến cũ xa xăm
Saint Lazre trời hôm nay xanh quá
Opéra vẳng tẩu khúc nhạc trầm.

Tiếng dương cầm bản tình xưa trên phím
Phố hoàng hôn màu trời tím chân mây.
Em chợt đến làm hồn ta thoáng lịm
Tưởng trong mơ thuở áo trắng vai gầy!

Đã lâu quá em còn thương cung lỡ
Tìm dư âm của ngày đó bên nhau
Đời hai ngả khúc tình ca dang dở
Gặp lại em như ngỡ phút ban đầu!

Mời em dạo vườn hoa thơm tình ái
Luxembourg trong cổ tích chiêm bao,
Nơi những cuộc tình đắm say ngang trái
Lời hẹn hò bay theo gió phương nào!

Mời em viếng đồi Thánh Tâm Montmartre
Ngôi giáo đường đá trắng giữa trời xanh
Linh thiêng lắm mình vào xin phúc lạc
Cho thế gian bớt đau khổ an lành.

Khu nghệ thuật tranh và người họa sĩ,
Từng mảng màu ẩn chứa những niềm đau.
Ôi thân phận con người, đời nghệ sĩ,
Những kiếp nghèo hồn say đắm sắc màu!

Champs Élysées lừng danh thế giới
Những cửa hàng đắt nhất đã đầu tư
Khải Hoàn Môn thật hùng vĩ muôn đời
Ghi trên đó hững anh hùng bất tử.

Còn nhiều nữa những lâu đài cung điện
Của một thời vưa chúa sống xa hoa
kho tàng cổ nền văn minh tiên tiến
Bụi thời gian làm vết tích nhạt nhòa!

Đây quán café De Flore nổi tiếng
Có một thời toàn nghệ sĩ danh nhân,
Tour Effel cuối con đường lộng kiếng
Notre Damme hồi chuông vọng thiên thần.

Mỗi dãy phố dáng em qua thêm mộng
Những con đường thành kỷ niệm trong thơ.
Mai em về hồn an vui nguồn sống
Hãy quên đi thuở áo trắng mong chờ.

Đỗ Bình

Sống Vui

 

“Giải kiết! Giải kiết! Giải oan kiết!” *
Bởi vô minh, sân hận tạo niềm đau
Càng vẫy vùng, càng lại bị vướng vào
Những oán hận, những đau thương, sầu khổ !

Đời trần thế tựa như ngôi cổ mộ
Bị vây quanh ba nghiệp Tham Sân Si
Để cuối cùng còn lại được những gì
Còn chăng nữa là oan khiên, nghiệp chướng

Xin người hãy vững tâm chuyển hướng
Đem tin yêu, thương mến đến trần gian
Thay hận sân bằng trí lạc thân nhàn
Bỏ ngã mạn, chọn khiêm nhường vô ngã

Cùng vui vẻ với người quen kẻ lạ
Cùng lục hoà với bạn hữu đồng môn
Cùng thảnh thơi thể chất lẫn tâm hồn
Và buông xả những điều phiền muộn

Hãy dừng lại những tham lam, ước muốn
Vì đó là duyên khởi những ác nhân
Nhân gieo rồi quả sẽ trổ khai dần
Thành nghiệp báo của sáu đường sinh tử

Quán vô ngã! Xin làm lành lánh dữ!
Quán vô minh! Dứt sạch nghiệp chướng sinh
Quán vô thường! Dẫu quyền thế, nhục vinh
Rồi cũng phải ra đi hai tay trắng

Xin hãy để cái Tâm mình vắng lặng
Đời Có Không, Không Có! Có gì đâu
Dĩ vãng xưa! Ngày chưa đến! Nhức đầu
Đừng nghỉ đến! Hãy sống vui hiện tại!

Vui một phút, nhìn cây Lành kết trái
Vui một giờ, ngắm hoa trổ Thương Yêu
Vui một năm, Tâm An Lạc mỹ miều
Vui một kiếp, sống cuộc đời Chân Thiện

Sương Lam


Tức Sự 即事 - Ngô Dung (Vãn Đường)


Ngô Dung 吳融 tự Tử Hoa 子華, người Sơn Âm, Việt Châu, đỗ tiến sĩ năm Long Kỷ đời vãn Đường
Đã thưởng thức cả chục bài thơ tức cảnh (tả cảnh) của Ngô Dung rồi, bây giờ thử lắng nghe ông tức sự (tả việc) ra sao.

Ngô Dung

Nguyên tác           Dịch âm

即事                     Tức Sự


抵鵲山前雲掩扉 Để Thước sơn tiền vân yểm phi,
更甘終老脫朝衣 Canh cam chung lão đoái triều y.
曉窺青鏡千峰入 Hiểu khuy thanh kính thiên phong nhập,
暮倚長松獨鶴歸 Mộ ỷ trường tùng độc hạc quy.
雲裏引來泉脈細 Vân lý dẫn lai tuyền mạch tế,
雨中移得藥苗肥 Vũ trung di đắc dược miêu phì.
何須一箸鱸魚膾 Hà tu nhất trợ lư ngư quái,
始掛孤帆問釣磯 Thủy quải cô phàm vấn điếu ky.

Dịch nghĩa

Tả Việc


Gửi thân vào ngôi nhà kín cửa, trước núi Để Thước,
Để sống hết tuổi già sau khi rũ bỏ áo chầu.
Buổi sáng soi gương xanh thấy có cả ngàn núi.
Chiều đứng tựa cây thông cao chờ con hạc cô đơn bay về.
Qua kẽ mây thấy nguồn nước nhỏ đổ vào suối.
Trong mưa, cây thuốc trổ ra mầm tươi tốt.
Còn gì bằng một gắp gỏi cá lô!
Bắt đầu treo tấm buồm lẻ loi lên hỏi thăm đường tới ghềnh câu cá./.

Dịch thơ

Tả Việc


Để Thước đầu non về ẩn thân,
Nghỉ hưu khi rũ áo triều thần.
Sáng soi gương biếc xem ngàn núi.
Tối dựa thông cao đón hạc vàng.
Mây hé thấy kinh vào mạch suối.
Mưa rơi cây thuốc trổ mầm ngang.
Mồm nhai gỏi cá lô thơm phức,
Câu cá đầu ghềnh hỏi lối sang.


Lời bàn của Con Cò

Bài thơ kể hoạt động của một quan chức kiêm thi sĩ lúc hưu trí.
Câu 1 & 2:
Nghỉ hưu về nương thân ở thôn Để Thước trên núi.
Câu 3 & 4:
Buổi sáng nhìn ngàn ngọn núi tưởng mình đang soi một tấm gương xanh vĩ đại. Buổi chiều dựa cây thông dài coi hạc bay về.
Câu 5 & 6:
Qua kẽ mây thấy được con lạch (kinh) nhập vào dòng suối. Cảm ơn mưa đã giúp cây thuốc trổ mầm non (nhắc rất khéo tới bệnh già của mình).
Câu 7 &8 :
Mồm vừa ngồm ngoàm nhai miếng gỏi cá lô vừa hỏi đường đi tới đầu ghềnh để câu cá.
 
Con Cò
***
Tả Việc.

Để Thước cài then trước núi sâu,
Áo chầu dứt bỏ hưởng già lâu.
Sớm soi gương ngắm ngàn non rõ,
Chiều tựa thông nhìn lẻ hạc sầu.
Nước chảy qua mây vào suối nhỏ,
Mưa rơi vườn thuốc trổ mầm mau.
Cá lô làm gỏi gì hơn nữa,
Giương một cánh buồm hỏi bãi câu.

Mỹ Ngọc phỏng dịch.
July 13/2025.
***
Ẩn Dật Núi Cao

Ẩn dật ngôi nhà Đế Thước non
Công hầu rũ bỏ đến ngày mòn
Bình minh ngắm cảnh xanh ngàn núi
Nắng thấp tựa thông dõi hạc đơn
Qua kẽ mây nhìn sông nhập suối
Mưa nhiều cây thuốc trổ mầm con
Cá lô nhóc nhách nhai không chán
Treo bảng ra ghềnh câu cá ngon

Thanh Vân
***
Góp ý:

Cả tuần theo Bát Sách và bạn bè đi họp mặt trong các hội giải trí của bô lão, sáng nay mới chính thức viết góp ý cho bài Tức Sự của Ngô Dung được. Nhờ đọc trước các góp ý của nhóm nên được hưởng nhiều thuận lợi, chỉ vướng một thắc mắc là gỏi cá lư ngon nức tiếng được nhiều tác giả ca tụng trong cổ thi, đáng lẽ phải mong ước ăn cả đĩa mới đả, nhưng trong bài tác giả chỉ mong một gắp đũa mà giương buồm một thân đi hỏi nơi câu (mà câu chắc gì có cá để làm gỏi) điều này hơi trái khoáy với người già lão về hưu chỉ thích vui với thiên nhiên và trồng cây thuốc cứu người. Đọc kỹ bài hơn thì chú ý đến hai chữ Hà tu 何須 ở đầu câu 7; tra từ thấy ghi: tương tự với 何必Hà tất, 何用Hà dụng. "何須” nhấn mạnh tác dụng tiêu cực của câu. Nghĩa của 2 câu này đã rõ:

Hà tất chỉ vì một gắp cá lư tươi thái mỏng
Mà phải một mình giương buồm hỏi chỗ cắm câu!

Bèn phỏng dịch:

Tả Việc

Để Thước núi cao mây cửa che
Càng vui già lão cởi triều y
Sớm soi gương sáng ngàn non hiện
Chiều tựa thông cao lẻ hạc về
Mây hé lạch con tuôn suối nhỏ
Mưa sa cây thuốc trổ mầm khoe
Cần gì một gắp lư tươi gỏi
Buồm mắc hỏi ghềnh, bắt cá chi!?

Lộc Bắc
Jul25
***

Nguyên tác:            Phiên âm:

即事-吳融           Tức Sự - Ngô Dung

抵鵲山前雲掩扉 Để Thước sơn tiền vân yểm phi,
便甘終老脫朝衣 Tiện cam chung lão đoái triều y.
曉窺青鏡千峰入 Hiểu khuy thanh kính thiên phong nhập,
暮倚長松獨鶴歸 Mộ ỷ trường tùng độc hạc quy.
雲裏引來泉脈細 Vân lý dẫn lai tuyền mạch tế,
雨中移得藥苗肥 Vũ trung di đắc dược miêu phì.
何須一箸鱸魚膾 Hà tu nhất trợ lư ngư khoái,
始掛孤帆問釣磯 Thủy quải cô phàm vấn điếu ky.

Sách có đăng bài thơ:

Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐 詩-清-聖祖玄燁
Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石倉歷 代詩選-明-曹學佺
Đường Bách Gia Thi Tuyển - Tống - Vương An Thạch 唐百家詩選-宋-王安石
Đường Thi Cổ Xuy - Kim - Nguyên Hảo Vấn 唐詩鼓吹-金-元好問
Đường Anh Ca Thi - Đường - Ngô Dung 唐英歌詩-唐-吳融

Sách đời Thanh đổi nguyên tác của Ngô Dung trong câu 2 với chữ 更canh=đổi thay thay vì 便tiện=tiện lợi không thay đổi nghĩa.

Ghi chú:

Để Thước: Theo Hán Ngữ Đại Từ Điển, Hoàn Khoan đời Hán có viết trong Diêm Thiết Luận-Sùng Lễ 盐铁论·崇礼: Nam Việt dĩ khổng tước nhị môn hộ, Côn Sơn chi bàng dĩ ngọc phác để ô thước. Bổn vị Trung Nguyên sở quý giả, biên thùy tiện chi. Hậu nhân dĩ “ để thước ” dụ đại tài tiểu dụng. Người Nam Việt dùng hình chim công để trang trí cửa ra vào, người Côn Sơn (vùng biên giới) dùng ngọc thô để đuổi chim ác là. Điều này có nghĩa là những gì quý giá ở Trung Nguyên lại bị xem thường ở vùng biên giới. Sau này, để thước được dùng để mô tả sự lãng phí tài năng. Thi nhân cảm nhận thân phận và tự cho mình là một để thước.

Chung lão: suốt cuộc đời tuổi già còn lại
Triều y: quần áo các quan mặc khi vào triều gặp vua
Thanh kính: gương làm bằng đồng ngày xưa, có rỉ xanh
Dẫn lai: tập hợp bởi một vật/việc thu hút/hấp dẫn nào đó
Tuyền mạch: nước suối chảy dưới lòng đất chảy qua các kẻ nứt, giống như các tĩnh mạch máu trên cơ thể con người
Nhất trợ: một chiếc đũa, nói đến thức ăn gắp được trong một đôi đũa
Lư ngư: một loại cá thịt ngon
Khoái: thịt thái nhỏ, nem, gỏi
Ky: đá nổi trên mặt nước, ngăn nước chảy

Dịch nghĩa:

Tức Sự Tả Việc


Để Thước sơn tiền vân yểm phi Mây che phủ cổng nhà trước núi Để Thước,
Tiện cam chung lão đoái triều y Nguyện sống tuổi già còn lại sau khi rũ bỏ áo chầu.
Hiểu khuy thanh kính thiên phong nhập Buổi sáng soi gương thấy hàng ngàn đỉnh núi,
Mộ ỷ trường tùng độc hạc quy Buổi chiều dựa cội tùng già nhìn con hạc cô đơn bay trở về.
Vân lý dẫn lai tuyền mạch tế Qua kẽ mây thấy những mạch nước nhỏ đổ vào suối,
Vũ trung di đắc dược miêu phì Trong mưa, cây thuốc trổ ra mầm tươi tốt.
Hà tu nhất trợ lư ngư khoái Còn gì ngon bằng một gắp gỏi cá lư,
Thủy quải cô phàm vấn điếu ky Trước khi giương cánh buồm lẻ loi hỏi thăm đường tới ghềnh câu cá.

Dịch thơ:

Cám Cảnh


Núi sâu mây phủ cổng vào ra,
Vui sống xa kinh hết tuổi già.
Buổi sáng soi gương nhìn đỉnh núi,
Buổi chiều ngắm hạc dựa thông nhà.
Xuyên mây nước mạch đổ vào suối,
Cây thuốc trong mưa mầm nẩy ra.
Nào có món ngon như gỏi cá,
Thẳng buồm ghềnh đá đến không xa.


Immediate Events by Wu Rong

Clouds cover my retreat gate at Queshan Mountain,
I am willing to take off court clothes until the end of my life.
At dawn, I peek into the green mirror to see thousands of peaks,
At dusk, I lean against the pine tree to watch the lonely crane returning.
Water streaks into the creek through cracks in the clouds,
The rain makes the medicinal seedlings flowrish.
What is better than a bite of sea bass sashimi?
Before setting up my lone sail and ask for directions to a fishing spot.

Phí Minh Tâm
***
Góp ý:

BS đang coi đi coi lại bài Tức Sự, tra mấy chữ khó, thì nhận được 2 điện thư của Đạo Mò.

- Cái thứ nhất giải thích về Để Thước, nói về chim thước và điển tích có liên quan tới loài chim đó, và không có núi nào tên là Để Thước cả. Ngô Dung làm bài thơ để than thở rằng mình là người tài mà không được trọng dụng.

Bát Sách không đồng ý, vì nhiều lý do:

Theo ý câu đầu thì Để Thước phải là tên núi.
Bài thơ tả cảnh nhàn nhã, ung dung tự tại của một người đã về hưu, không thấy ý gì oán trách, than thở cả.

Điển tích về chim thước không thấy liên quan gì với bài thơ.

- Cái thứ 2 nói về chữ LÔ. Lần này thì BS hoàn toàn đồng ý: Tra chữ lô thì không thấy, phải tra các chữ trong bộ ngư thì được chữ LƯ, “là một loài cá ở Tùng Giang “. Lại tra tiếp thì Tùng Giang không phải tên sông, mà là tên một tỉnh ngày xưa, ở phía đông bắc nước Tầu, có sông Tùng Hoa, là một chi nhánh của Hắc Long Giang chảy qua.

Sợ rằng cá Lư là cá ở sông Lư, BS tìm tiếp thì thấy sông này ở phía nam nước Thục, thời Tam Quốc. Khi Khổng Minh đi đánh Mạnh Hoạch, chiến thắng trở về, phải qua sông Lư, lúc đó đang sóng to và mạnh, nước chảy siết, dân bản xứ nói rằng phải giết 50 người, lấy đầu đem tế thì sóng yên, gió lặng. Khổng Minh nghĩ mình đi chinh phạt, đã giết quá nhiều nên lấy bột, gói thịt, nặn hình đầu người, gọi là Man đầu để cúng. Man đầu, người Tầu gọi là man thầu, tức là bánh bao.

Vậy cá Lư không phải ở sông này.

Những chữ khó, nhiều chữ mình có gặp ở những bài trước, như yểm là che dấu, đóng (cửa); phi là cánh cửa; lý là vải lót, ở bên trong; thủy là bắt đầu; quải là treo; tế là nhỏ.

Chữ mới:

- Cam là ngon, vui vẻ, ưa thích, say, tự nguyện (cam tâm
- Chung là hết, kết cục, đã xong, chết.
- Đoái, cũng phiên âm là Thoát là an nhàn,giản dị, thoát ra, ra khỏi…
- Khuy là nhìn.
- Dẫn là mở ra, dài, dẫn dắt.
- Mạch là mạch máu, vật liên tiếp như sơn mạch, địa mạch.
- Khoái là nem, gỏi.
- Ky là vách đá, bãi đá.

Tả Việc

Trước non Để Thước cửa mây cài,
Đành cam già lão, thoát cân đai,
Sáng ngó kính xanh, ngàn non tới,
Chiều tựa thông dài, một hạc bay.
Trong mây, mạch nhỏ len vào suối,
Giữa mưa, mầm thuốc mập trổ đầy,
Gỏi lư một gắp chi bằng nữa,
Giăng buồm, hỏi ghềnh đá đâu đây.


Bát Sách.
(Ngày 15/07/2025)
***
Góp ý:

抵 鵲=để thước có nghĩa gì?

Để là ngăn ngừa, thước là từ tắt cho ô thước, con chim ác là trong tiếng Việt, tên khoa học là Pica serica. Ác là còn có tên chim khách trong tiếng Việt vì người ta tin rằng nó báo khách đến nhà. Người Hoa Lục xem nó là biểu tượng cho may mắn, hạnh phúc, phát đạt và vì thế nó còn có tên là hỉ thước (喜鵲); nó cũng là chim trong huyền thoại Ngưu Lang-Chức nữ, bắc cầu ngang sông Ngân Hà cho hai người gặp nhau mùa mưa Ngâu.

Mặc dù câu đầu bài thơ có vẻ nói đến một địa danh tên là núi Để Thước nhưng không có núi thật sự nào dưới tên đó trong Google Maps và zh.Wikipedia! "Để thước" là một điển tích đến từ ký sự Diêm Thiết Luận (鹽鐵論) thời Tây Hán trong đó có đoạn : 南越以孔雀珥門戶, 崐山之旁以玉璞抵烏鵲 Nam Việt dĩ khổng tước nhị môn hộ, côn san chi bàng dĩ ngọc phác để ô thước (Người Nam Việt dùng con công trang trí cửa; dùng ngọc bên cạnh Côn Sơn để ngừa chim ác là); từ đó để thước biến thành một thành ngữ/điển tích (以玉抵鵲=dĩ ngọc để thước) để nói về việc người có tài nhưng chỉ được dùng làm việc nhỏ. Và đó là thân phận của Ngô Dung ở dưới trướng Vi Chiêu Độ rồi phải mất chức, lưu lạc Kinh Nam sau khi họ Vị bị loạn thần giết năm 895.

Nếu không hiểu điển tích 'để thước' thì không thể biết nguyên nhân của bài tức sự này.

Huỳnh Kim Giám


Bác Sĩ Tim Mạch Cho Biết 5 Loại Thực Phẩm Độc Hại Không Cho Con Mình Ăn


Bác sĩ tim mạch cho biết 5 loại thực phẩm độc hại mà ông không cho con mình ăn. Chắc các bạn cũng bảo con cháu tránh.


Nguồn tin và chi tiết:


 https://www.cnbc.com/2025/07/04/cardiologist-foods-i-never-feed-my-kids-after-20-years-of-treating-heart-disease.html?utm_source=flipboard&utm_content=CNBC/magazine/Top+News


HCD Tóm tắt bài báo


Bác sĩ tim mạch cho biết 5 loại thực phẩm độc hại mà ông không cho con mình ăn


Tác giả: Bác sĩ Sanjay Bhojraj, chuyên gia tim mạch với hơn 20 năm kinh nghiệm và là người sáng lập chương trình sức khỏe Well12.

Bác sĩ Bhojraj chia sẻ rằng, trong quá trình điều trị cho bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim, ông nhận ra thói quen ăn uống từ nhỏ có thể ảnh hưởng lớn đến sức khỏe về sau. Là cha của ba cô con gái tuổi trung học, ông đã từng dễ dãi với thực phẩm nhanh – nhưng sau khi thấy được hậu quả, ông quyết định thay đổi.

Dưới đây là 5 thực phẩm độc hại mà ông không bao giờ cho con mình ăn, cùng các lựa chọn thay thế lành mạnh:

1. Bắp rang bơ trong lò lò microwave (Microwave popcorn)

Lý do tránh: Bao bì có thể chứa chất PFAS (hóa chất "vĩnh viễn") gây hại cho hệ miễn dịch, thai nhi và phổi.Thay thế: Tự làm bỏng ngô bằng máy nổ không dầu, rưới bơ thật hoặc dầu ô-liu.

2. Sữa chua có hương vị (Flavored yogurts)

Lý do tránh: Nhiều đường, chất tạo màu nhân tạo, dễ gây nghiện và tăng gánh nặng đường huyết cho trẻ. Thay thế: Sữa chua Hy Lạp nguyên chất, thêm mật ong và trái cây tươi.

3. Thịt chế biến sẵn (bacon, xúc xích, thịt nguội) (Processed meats)

Lý do tránh: Chứa nhiều muối, chất bảo quản, nitrate – gây nguy cơ tim mạch và ung thư, làm suy yếu chức năng mạch máu.Thay thế: Thịt nạc tươi như gà nướng, bò ăn cỏ; dùng thêm đạm thực vật như đậu lăng, đậu gà, hạt quinoa.

4. Ngũ cốc và đồ uống nhiều đường (Sugary cereals and drinks)

Lý do tránh: Chứa quá nhiều đường khiến trẻ "đụng đường" giữa buổi học, khó tập trung. Thay thế: Bữa sáng bằng trái cây, trứng, rau củ hoặc sinh tố giàu chất béo tốt và chất xơ; nước lọc có vị trái cây tự nhiên.

5. Đồ chiên ngập dầu (Deep fried foods)

Lý do tránh: Dầu chiên công nghiệp tạo ra các hợp chất gây viêm (acrylamide, AGEs), khiến trẻ nghiện đồ chiên. Thay thế: Dùng nồi chiên không dầu để làm rau củ giòn, khoai lang chiên, chip từ rau.

Lời khuyên cuối cùng:

Không cần phải ăn kiêng tuyệt đối, nhưng hãy bắt đầu từ những thay đổi nhỏ mỗi ngày. Tránh dầu thực vật tinh luyện, ưu tiên chất béo tốt, protein sạch, và tinh bột chất lượng cao. Hãy cho trẻ tham gia vào việc nấu ăn và làm gương cho chúng bằng chính thói quen của bạn.

Về tác giả:

Bác sĩ Bhojraj là chuyên gia tim mạch và y học chức năng, giảng viên quốc gia của Viện Y học Chức năng (IFM), người tiên phong trong điều trị bệnh mãn tính bằng dinh dưỡng, hô hấp và phân tích gene.

HCD: Chúng ta đã thấy nhiều lời khuyên tránh ăn hoài hoài các loại thực phẩm trên. Chắc các bạn cũng nên quan tâm bảo con cháu tránh bớt

Huỳnh Chiêu Đẳng Biên Soạn

-----===<o0o>===-----  

Thứ Hai, 21 tháng 7, 2025

Câu Chuyện Nhân Văn: Khi Người Già Không Còn Mẹ - Thực Hiện: Lê Diễm Chi Huệ


Thực Hiện: Lê Diễm Chi Huệ

Nhớ Mẹ

 

Đêm khuya ngồi cạnh bóng đèn mờ
Một mình đối bóng lạnh trơ vơ
Nhớ về quê cũ hình dáng mẹ
Khắc khoải trong tim những bến bờ

Xa quá thật xa đời viễn xứ

Cuộc sống khó khăn con miệt mài
Vất vả thân gầy yên số phận
Lo đàn con nhỏ tóc bạc phai

Nhớ xưa mẹ dẫn con đi học

Lớp học trường làng vách trống toang
Chiều Rừng Da* giặc Miên xâm lấn
Con bỏ trường lớp cũng tan hoang

Trưa hè nắng đổ giọt hanh hao

Tiếng võng đưa lời ru ngọt ngào
Bóng mẹ hiền in sâu ký ức
Vẫn theo con giấc ngủ chiêm bao

Xin trả lại tôi thời tuổi dại
Chạy theo chân mẹ đi chợ về
Tối nằm lẫm thóc trong tay mẹ
Sưởi ấm tim con lạnh tứ bề

Ngày “Mother.s day” nhớ mẹ không thôi
Chờ trăng lên con ngắm sao trời
Tưởng chừng có mẹ đưa tay vẫy
Nghe lòng ấm lại lệ trào rơi!

Nguyễn Cang 
( Jul. 1, 2025)

Mùa Thu Nhớ Mẹ

 

Mẹ ơi! trời nay đã vào Thu!
Nơi đây nắng lạt…sương mù…
Từng lá vàng rơi như hơi thở!
Hồn con heo hắt…lệ thiên Thu!

Và cứ thế…bao mùa Thu trôi qua…
Lệ ươm…vùng đất mới xa nhà…
Mơ tiếng Ve Sầu, chùm Khế ngọt…
Cay đắng, ngọt bùi…lại trổ hoa!!

Mẹ ơi, quả đất tròn xoay…
Hết đêm rồi lại đến ngày…
Ngọn gió đổi chiều…đang thổi mạnh
Hãy vươn mình…sau giấc ngủ say!

Mẹ ơi… đợi con ngày về…
Đôi bờ sum họp…ánh trăng quê!
Bầy thú rừng sống sót…phải đối mặt!
Con cháu Lạc Long vẹn lời thề !

(Austin 2013)
Tô Đình Đài

Cuộc Tình

 

Cơn mưa rào làm hoa tàn trúc rũ
Trận bão đời làm chết cả con tim
Dù đau thương người cứ phải im lìm
Mắt đẵm lệ ôm nỗi sầu xa vắng!

Nhớ một thuở ngát hương tình hoa bướm
Chẳng rời nhau trong nắng sớm bình minh
Lúc chiều tà trong hoàng hôn nhuộm tím
Nụ cười hoa nở đẹp cõi ba sinh!

Ai cũng ngỡ mộng tình không héo úa
Tay trong tay bước trọn con đường tình
Khi bạc tóc vẫn gọi mình ơi đôi lứa
Không mơ màng say đắm chuyện phù vinh!

Đó chỉ mơ ước… đường đời xuôi ngược
Cảnh phồn hoa xa mã thật bon chen
Lòng đắm say không hề nhìn sau trước!
Cứ nhẹ lòng tin vội những lời khen!

Rồi mái ấm thuở nào đành tan vỡ
Cảnh phồn hoa làm chết cả cuộc tình
Người ở lại khổ đau đời ủ rũ
Cơn bão đời héo úa những ngày xanh!

Kẻ vong ân dứt tình vui duyên mới
Cứ tưởng rằng vàng ngọc mãi thăng hoa
Thật tình người chỉ là cây chùm gởi
Chẳng bao giờ trụ mãi chốn hoan ca!

Đành cúi mặt trở về thôn xóm cũ
Tìm người xưa không gặp được bao giờ
Nàng đã chết trong một chiều mưa bão
Mối tình sầu thao thức đến thiên thu…!

 Hàn Thiên Lương
16-7-2025

Bạc Liêu Thương Nhớ Mặn Mòi

 

Lang thang vạn nẻo, quê người,
Lòng tôi vẫn một phương trời Bạc Liêu!
Miền Nam, dải đất thân yêu,
Luyến lưu kỷ niệm, bao nhiêu mối tình!

Tình bằng hữu, tình gia đình,
Tình sông, tình biển, lại tình Bạc Liêu!
Nhớ ngày, họp bạn lính nghèo,
Đãi nhau, bữa cá bống kèo đã nư!

Cá bống kèo, loại sản ngư,
Sống nơi nước lợ, đồng chua sình lầy.
Nước ngọt, không có giống này,
Bạc Liêu ghé tới, có ngay bống kèo.

Ngoài ra, thổ sản cũng nhiều!
Nhãn, đào, cam, vải, hột điều, mía lau…
Tuy nhiên, nổi tiếng từ lâu,
Là nghề làm muối, trắng phau diêm điền! (*)

Muối từ nước biển tự nhiên,
Bơm lên mảnh ruộng phía trên cho đầy.
Chờ cho bắt nắng vài ngày,
Nước bay hơi; muối phơi bày trắng tinh!

Nắng soi, ruộng muối lung linh,
Muối khô, tinh thể mang hình lập phương.
Muối Bạc Liêu, trên thương trường,
Sản phẩm tinh khiết, giá thường phải chăng.

Cô Tư, gánh muối về làng,
Trăng soi hai thúng, ánh vàng lung linh!
Mặn mòi một gánh đa tình…
Tình sông, tình biển, lại tình Bạc Liêu!

Trần Quốc Bảo
Richmond, Virginia
(*) Diêm điền = Ruộng muối.

Nguồn Gốc Thơ Đường Luật


Thơ của người Trung Hoa bắt đầu từ Kinh Thi và trải qua nhiều thế kỷ cho đến thế kỷ thứ 7 đều không phải theo một thể luật nào hết. Thơ chỉ đơn giản là vận văn có nghĩa là văn chương có vần. Thơ bắt đầu có theo một Luật thơ thành Thơ Luật (Luật Thi) đầu tiên bắt đầu vào đời nhà Đường nên gọi là Thơ Đường Luật. Những bài thơ trước đó và không theo Luật (Đường Luật) thường được gọi tổng quát là Thơ Cổ Phong (theo Trần Trọng Kim).

Theo Văn Học Sử Trung Quốc của Chương Bồi Hoàn và Lạc Ngọc Minh, Thơ Đường Luật xuất phát từ bên Tàu vào đời nhà Đường từ ông nội của thi hào Đỗ Phủ là ông Đỗ Thẩm Ngôn (khoảng 645-708) và được hoàn chỉnh nhờ 2 ông Tống Chi Vấn (khoảng 656 - 710) và Thẩm Thuyên Kỳ (khoảng 656 – 714/715). Hai thi sĩ cung đình hàng đầu nầy vào thời Đường Trung Tông và Võ Hậu (Võ Tắc Thiên) đã dùng quyền lực của cung đình để truyền bá Thơ Luật (Thơ Đường Luật) bên cạnh Thơ Cổ Phong đã có từ trước.

Thơ Luật (Luật Thi) = Thơ Đường Luật (Đường Luật Thi), vì Thơ Luật được sáng tạo một cách hoàn chỉnh (do Thẩm Thuyên Kỳ và Tống Chi Vấn) và bắt đầu truyền bá từ cung đình trong thời nhà Đường ở Trung Quốc. Thơ Luật (Thơ Đường Luật) khác với Thơ Cổ Phong.

Đường Thi (Thơ Đường) = Thơ của thi nhân trong đời nhà Đường, có thể là Thơ Đường Luật (Thơ Luật) hoặc Thơ Cổ Phong.

Sách “Văn Học Sử Trung Quốc” (Chương Bồi Hoàn và Lạc Ngọc Minh) viết (trang 36-42):

Các thi nhân cung đình đầu đời nhà Đường về mặt nghệ thuật cố vươn lên một phương cách hoa mỹ để trang sức cho lời thơ. Trọng điểm của sự trang sức đó chỉ đóng khung trong kỹ xảo tu từ qua những câu thơ đối nhau, nhưng dần dần về sau lại nêu lên kỹ thuật về thanh điệu. Sau hết họ lại chủ trương kết hợp giữa kỹ xảo của đối ngẫu với kỹ thuật về thanh vận, từ đó đẩy Luật Thi (Thơ Luật) lên trình độ hoàn thiện và định hình về mặt hình thức.

Ngay từ thời kỳ Tề Lương của Bắc Triều, trên thi đàn đã xuất hiện “thuyết đối ngẫu” và “thuyết thanh bệnh”, nhưng thuyết trước lại quá sơ lược còn thuyết sau lại quá vụn vặt chi li trong khi cả hai thuyết lại không liên kết gì với nhau cả.

Đến cuối thời Bắc Triều, thi nhân Trần Tùy đã tiến thêm một bước về luật họa thơ ngũ ngôn. Có một thiểu số bài thơ đã đạt đến sự qui định về cách luật trong thi đời nhà Đường. Nhưng về mặt lý luận họ không đề xuất sự tổng kết mới trung thực trong vấn đề này. Ngoài ra còn có một số vấn đề như qui tắc về niêm vẫn chưa hoàn toàn giải quyết xong. Việc luật hóa đối với thơ thất ngôn lại càng tỏ ra quá ấu trĩ.

Đến đời nhà Đường, Thượng Quan Nghi đề xuất thuyết (về Đối) “Lục Đối”, “Bát Đối”. Ngoài việc Lưu Hiệp đề xuất “Sự Đối”, “Ngôn Đối”, “Chính Đối”, “Phản Đối”; lại thêm “Song Thanh Đối”, “Điệp Vận Đối”, “Phiến Đối” … từ đó mở rộng ra việc đối ngẫu vốn chỉ đóng khung trong những câu đối nghĩa với nhau thành những câu đối về âm thanh của chữ, về cú pháp.

Ít lâu sau Nguyên Căn chẳng những đề xuất những câu đối qua hình dáng của chữ, qua ý nghĩa của từ , mà lại còn nêu lên “Thanh điệu tam thuật” để nhằm cố gắng kết hợp giữa thanh luật và đối ngẫu.

Kể từ những năm từ Võ Hậu cho đến niên hiệu Thần Long, Cảnh Long đời vua Đường Trung Tông, dưới ngòi bút của một nhóm thi nhân cung đình đã xuất hiện nhiều bài thơ bằng trắc hài hòa, lại hợp nguyên tắc về niêm luật. Việc đó đánh dấu Thơ Ngũ Ngôn Luật và Thất Ngôn Luật đã tiến lên giai đoạn hoàn chỉnh. Có thể nói trong quá trình hoàn thành hình thức thơ Luật, các thi sĩ trong cung đình đã có tác dụng qui phạm hóa và thống lĩnh tất cả phong trào. Trong số đó phải kể Đỗ Thẩm Ngôn, Tống Chi Vấn và Thẩm Thuyên Kỳ là 3 thi nhân tỏ ra tích cực nhất.

Đỗ Thẩm Ngôn (khoảng 645-708) tự là Tất Giản. Thi ca của ông hiện còn giữ được chủ yếu là Thơ Ngũ Ngôn Luật cũng có một ít Thơ Thất Ngôn Luật. Thi ca của ông, từng câu đều giữ đúng Luật một cách nghiêm chỉnh. Bất luận là Thơ Ngũ Ngôn Luật hay Thất Ngôn Luật, toàn bộ đều đúng Luật, không có chỗ nào bị thất niêm. Hứa Học Di người đời nhà Minh khen ông là “Luật thi chính tông”.

Số người cùng Đỗ Thẩm Ngôn được gọi là “Văn chương tứ hữu” còn có Lý Kiểu, Tô Vị Đạo và Thôi Dung. Họ đều từng giữ chức Phượng cát Xá nhân trong triều của Võ Hậu. Lý Kiểu và Tô Vị Đạo còn từng giữ chức đại thần, địa vị và tiếng tăm rất cao.

Tống Chi Vấn (khoảng 656-710/713) và Thẩm Thuyên Kỳ (khoảng 656-714/715) chủ yếu hoạt động trong những năm niên hiệu Thần Long và Cảnh Long đời vua Đường Trung Tông (con của Võ Hậu và Cao Tông). Họ luôn ra vào những văn hội tại cung đình với tư cách là học sĩ Tu Văn quán, xứng đáng là những người dẫn đầu nhóm văn thân chuyên về văn học, cũng là kình địch trong văn trường, được người đời gọi chung là “Thẩm Tống”.

Cống hiến chủ yếu của “Thẩm Tống” là đã hoàn thành thể chế của Luật Thi (Thơ Luật) và mở rộng ảnh hưởng của loại thơ này. Họ đã dốc hết sức mình viết những bài thơ theo Thể Luật, và lấy những sáng tác đó để làm qui phạm cho hình thức thơ Ngũ Ngôn và Thất Ngôn cận thể. Mặt khác, họ còn xóa bỏ được cái bệnh trúc trắc trong thể thơ Ngũ Ngôn Luật. Họ cũng đẩy mạnh quá trình luật hóa của loại Thất Ngôn ca hành thể, phát huy sở trường khắc phục sở đoản, giúp cho thể thơ này được tinh luyện và hoàn chỉnh, từ đó thoát thai thành thể Thất Ngôn Luật nghiêm trang hơn.

Thẩm Thuyên Kỳ ngay từ thời Võ Hậu đã viết nhiều bài thơ Thất Ngôn Luật không còn hiện tượng thất niêm. Sáng tác của ông phần lớn là Thơ Thất Ngôn Luật. Đứng về mặt phù hợp qui phạm của loại thơ này, có thể nói ông là một thi nhân đứng hàng đẩu trong các thi nhân cung đình. “Thẩm Tống Thể” do họ Thẩm và họ Tống đề xướng thực tế là loại Thơ Luật (Luật Thi) loại Ngũ Ngôn và Thất Ngôn, có “từ ngữ hoa mỹ và giữ đúng luật thơ” (theo lời bình phẩm trong sách “Nghệ Uyển Chi Ngôn” của Vương Thế Trinh).

Nguyên Chân trong “Đường Cố Công Bộ Viên Ngoại Lang Đỗ Quân Mộ Hệ Minh” có viết: Hai họ Thẩm và họ Tống có thơ văn tinh luyện, thanh luật vững vàng, gọi là Luật Thi (Thơ Luật). Từ đó trở đi thì văn thể biến đổi thật nhiều.

Danh từ “Luật Thi” (Thơ Luật) lần đầu tiên xuất hiện trong văn hiến. Qua đó cho thấy Thẩm Tống là mẫu mực đầu tiên, rồi về sau mới được mọi người công nhận và xác lập địa vị của Luật Thi trên thi đàn.

Trên 200 năm từ niên hiệu Vĩnh Minh đời Tề, quá trình luật hóa của thi ca cổ điển Trung Quốc mới được hoàn thành. Sau hai họ Thẩm và Tống, qui phạm của Luật Thi (Thơ Luật) càng được nhiều người nối tiếp. “Kể từ niên hiệu Thần Long trở đi nó đã nghiễm nhiên trở thành nề nếp” (theo Thi Tấu). Hầu hết các thi ca được sáng tác theo lệnh của nhà vua đều hợp Luật, trở thành một phong trào rộng lớn, vượt khỏi phạm vi cung đình ra đến bên ngoài.

Luật Thi (Thơ Luật) nhất là Thất Ngôn Luật của họ Thẩm và họ Tống đã hoàn chỉnh về mặt hình thức, chứng tỏ dưới ngòi bút của họ đã vận dụng được hình thức thi ca loại này một cách thuần thuộc, không còn cảm thấy bị gò bó chi nữa.

Đây là 4 thể thơ Đường Luật với những bài thơ đầu tiên tiêu biểu:

1. Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt:

Tống ĐỖ Thẩm NGÔN    Đưa Tiễn ĐỖ THẨM NGÔN

Ngọa bệnh nhân sự tuyệt   Bệnh rồi muôn sự đều thôi
Ta quân vạn lý hành          Thương ai muôn dặm xa xôi chốn nào
Hà kiều bất tương tống      Cầu sông chẳng tiễn đưa nhau
Giang thụ viễn hàm tình.   Cây sông xa thẳm rạt rào tình ai.
(Tống Chi Vấn)                 (Trần Trọng San dịch)

2. Ngũ Ngôn Bát Cú:

ĐỀ ĐẠI DỮU BẮC ĐỊCH ĐỀ TRẠM NÚI ĐẠI DỮU

Dương nguyệt nam phi nhạn Tháng mười nhạn xuống nam bay
Truyền văn chí thử bồi           Nghe đồn đến núi lại quay trở về
Ngã hành thù vị dĩ                  Mình còn chưa hết ra đi
Hà nhật phục quy lai              Biết bao giờ trở lại quê được nào
Giang tĩnh triều sơ lạc            Sông êm vừa rút nước triều
Lâm hôn chướng bất khai       Rừng mờ lam chướng còn nhiều chưa tan
Minh triêu vọng hương xứ      Sáng mai, nơi ngóng trong làng
Ưng kiến lũng đầu mai.           Hẳn là thấy khóm mai vàng đồi xa.
(Tống Chi Vấn)                      (Trần Trọng San dịch)

LỤC HỒN SƠN TRANG NHÀ TRÊN NÚI LỤC HỒN

Qui lai vật ngoại tình              Nghỉ về gác bỏ chuyện đời
Phụ trượng duyệt nham canh Thung dung chống gậy coi chơi ruộng cồn
Nguyên thủy khan hoa nhập  Xem hoa vào tận trong nguồn
U lâm thái dược hành            Có khi hái thuốc đi luôn vào rừng
Dã nhân tương vấn tính         Người quê hỏi họ lăng nhăng
Sơn điểu tự hô danh              Chim kêu trên núi tự xưng tên mình
Khứ khứ độc ngô lạc             Đi đi cho thỏa tâm tình
Vô năng quí thử sinh.            Vụng về ngẫm lại sinh bình tủi thay.
(Tống Chi Vấn)                      (Trần Trọng Kim dịch)

HỌA TẤN LĂNG LỤC THỪA HỌA LỤC THỪA Ở TẤN LĂNG
TẢO XUÂN DU VỌNG VỀ VIỆC CHƠI XUÂN BUỔI SỚM

Độc hữu hoạn du nhân        Hoạn du riêng có một người
Thiên kinh vật hậu tân         Hãi hùng thấy vật thấy người đổi thay
Vân hà xuất hải thự             Ráng mây ngoài bể tháng ngày
Mai liễu độ giang xuân       Bến xuân cành liễu chùm mai đậm đà
Thục khí thôi hoàng điểu    Chim vàng đưa đón khí hòa
Tình quang chuyển lục tần  Rau tần phe phẩy cạnh bờ giữa trưa
Hốt văn ca cổ điệu               Chợt nghe tiếng hát điệu xưa
Qui tứ dục triêm tân.           Muốn về, giọt lệ nhặt thưa thấm bào.
(Đỗ Thẩm Ngôn)                      (Trần Trọng Kim dịch)

3. Thất Ngôn Tứ Tuyệt:

ĐỘ TƯƠNG GIANG QUA SÔNG TƯƠNG

Trì nhật viên lâm bi tích du          Trong rừng tiếc cuộc ngao du
Kim xuân hoa điểu tác biên sầu    Hoa xuân chim núi gợi sầu biên quan
Độc lân cố quốc nhân nam thoán Thương người lánh xuống miền nam
Bất tự Tương giang thủy bắc lưu  Chẳng trôi lên bắc, giống làn sóng Tương.
(Đỗ Thẩm Ngôn)                          (Trần Trọng San dịch)

MANG SƠN MANG SƠN

Bắc mang sơn hạ liệt phần doanh         Mang sơn phầm mộ ngổn ngang
Vạn cổ thiên thu đối Lạc                      Thành Ngàn thu muôm thuở trông ngang Lạc Thành
Thành trung nhật tịch ca chung khởi   Trong thành tiếng hát dập dình
Sơn thượng duy văn tùng bách thanh. Trên non nghe tiếng những cành thông reo.
(Thẩm Thuyên Kỳ)                              (Trần Trọng Kim dịch)

4. Thất Ngôn Bát Cú:

LONG TRÌ AO RỒNG

Long trì dược long dĩ long phi             Rồng nổi ao rồng bay vút đi
Long đức tiên thiên thiên bất vi           Trước Trời, Trời chẳng trái sai chi
Trì khai Thiên Hán phân hoàng đạo     Ao phơi Thiên Hán chia hoàng đạo
Long hướng thiên môn nhập tử vi       Rồng nhắm cổng trời vào tử vi
Để đệ lâu đài đa khí sắc                       Lớp lớp lâu đài nhiều khí sắc
Quân vương phù nhạn hữu quang huy Hàng hàng phù nhạn rực quang huy
Vị báo hoàng trung bách xuyên thủy   Trăm sông xin hãy chầu sang đó
Lai triều thử địa mạc đông quy.           Chớ nhắm phuơng đông chảy lộn về.
(Thẩm Thuyên Kỳ)                               (Trần Trọng San dịch)

DAO ĐỒNG ĐỖ VIÊN NGOẠI THẨM NGÔN QUÁ LĨNH

(Cùng đi chơi với Viên ngoại Đỗ Thẩm Ngôn qua đỉnh núi)

Thiên trường địa phát lĩnh đầu phân    Trời dài đất rộng núi phân hai
Khứ quốc ly gia kiến bạch vân             Lìa nước xa nhà mây trắng bay
Lạc Phố phong quang, hà sở tự?          Lạc Phố phong quang, không tả nổi
Sùng Sơn chướng lệ, bất kham văn     Sùng Sơn chướng lệ, khó trình bày
Nam phù Trướng Hải nhân hà xứ?       Nam theo Trướng Hải người đâu vắng
Bắc vọng Hành Dương nhạn kỹ quần  Bắc ngắm Hành Dương nhạn dẫy đầy
Lưỡng địa giang sơn dư vạn lý            Sông núi đôi nơi hơn vạn lý
Hà thời trùng yết thánh minh quân?    Bao giờ gặp lại thánh quân đây?
(Thẩm Thuyên Kỳ)                             (Phan Thượng Hải dịch)

Những bài Thơ Đường Luật đầu tiên đơn giản chỉ có Luật (Rules) cho Thơ Ngũ Ngôn Luật và Thơ Thất Ngôn Luật (Tứ Tuyệt và Bát Cú) về Vận, Niêm, Thanh điệu (Bằng Trắc) và Đối.

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền
Bài viết nầy đăng lần đầu trong phanthuonghai.com mục “Thơ Văn” phần “Đọc Thơ (Cổ Văn)”.
Tài liệu tham khảo:
Văn Học Sử Trung Quốc (Chương Bồi Hoàn và Lạc Ngọc Minh)
Thơ Đường (Trần Trọng San)
Đường Thi (Trần Trọng Kim)

 

Chủ Nhật, 20 tháng 7, 2025

Tháng Tư Nhớ Mẹ - Sáng Tác & Diễn Ngâm: Tuyết Phan


Sáng Tác & Diễn Ngâm: Tuyết Phan

Nếu Ngày Mai

 
Bạn hởi nếu ngày mai chưa tận thế
Nắng vẫn lên nhảy múa trước sân nhà
Chim trên cành vẫn ríu rít hoan ca
Thì bạn có thầm cám ơn Thượng Đế?

Nếu ngày mai bạn vẫn còn hơi thở
Bừng mắt ra buổi sáng đẹp tuyệt vời
Vẫn ngược xuôi vẫn tấp nập dòng đời
Bạn có vui đón mừng một ngày mới?

Nếu ngày mai mặt trời vẫn thức dậy
Bình minh lên cây cỏ lại vươn mình
Và chào đời muộn triệu triệu sinh linh
Bạn có thấy lòng mình như mở hội

Nếu ngày mai bạn vẫn còn sống sót
Có thể nào làm người tốt hơn không
Có ăn năn sám hối những tội trần
Và buông bỏ mọi sân si lục dục?

Nếu ngày mai bắt đầu kỷ nguyên mới
Bạn có muốn không làm lại từ đầu
Đem tình thương gieo trải khắp địa cầu
Đời sẽ đẹp! biết bao là ý nghĩa...!

Người Phương Nam

Ngày Về

 

Gió vờn đưa đẩy cánh diều
Sương còn mong đợi nắng chiều dần tan
Đường quê khách thấy ngỡ ngàng
Con sông uốn lượn rộn ràng tuổi thơ.
Dòng đời như một giấc mơ
Cố hương ta đã đợi chờ bấy lâu
Thời gian như nước qua cầu
Bao năm trở lại mái đầu điểm sương
Chạnh lòng thay kẻ ly hương
Cảnh nay lạ lẫm nhớ thương thuở nào.
Bạn chơi lúc nhỏ ra sao
Trải qua binh lửa còn bao nhiêu người
Tuổi nay cũng sắp tám mươi
Sao ta nhớ lúc chín mười thuở xưa
Cùng bơi đùa với bặp dừa
Tiếng cười vang động buổi trưa xóm nghèo.
Giờ đâu tiếng lá tre reo
Tiếng hò ru trẻ tiếng chèo nhặt khoan
Có ai người cũ bên đàng
Cho ta hình bóng xóm làng năm nao.

Quên Đi


Rượu Tiễn (Huyền Chi) - Doch-an-doris (Thanh Thanh)

 

Rượu Tiễn 

Ta không có rượu mà đưa tiễn,

Như vạn ngày xưa, vạn kẻ hùng!

Chẳng có sông nào kêu Dịch Thuỷ,

Không gươm, không ngựa, không đao cung!

 

Ta tặng cho ngươi gáo nước lã,

Uống cho cạn hết tình long đong!

Áo bào chiến quốc ta không có,

Nghèo đến không đưa được nửa đồng!

 

Mắt đỏ nhìn nhau mà muốn nói,

Xác mùa lá rụng đau ba đông.

Tay xiết tay rồi, binh biến đến,

Đợi nhau trong một buổi tương phùng!

 

Hoàng hôn u tịch về trong mắt,

Ngươi ở đâu rồi? Ngươi nhớ không?

Áo nâu một chiếc mà vai rách,

Ngươi phải đi rồi, làm sao khâu?

 

Một gói hành lương nhỏ

Của mẹ già gói cho.

Không cao lương m vị,

Cơm đỏ nắm một mo.

Đôi bàn tay buộc kỹ,

Rớm lệ cười trao cho…

 

Ta không là thi sĩ,

Cố tặng một bài thơ,

Một bài thơ uỷ mị,

Giam muôn ngày vu vơ!

Mấy mùa mưa lụt về sông nước,

Vàng võ ngùi say chuyện hải hồ!


Huyền Chi
(Trong tập thơ “Cởi Mở” 1952)
***
Doch-an-doris

To see you off, I did not have any wine

Like myriad heroes, myriad years of yore so fine;

Neither a river – “the Rubicon”– as people called,

Nor horse, sword, scimitar, archery, thus bald.

 

Only one dipperful of water I offered you

To drain dry and bid our luckless love adieu!

I was too poor, I did not have a wartime coat

To hand you, even a half-dong banknote.

 

Looking at one another with red eyes to mean

Each fallen leaf lets pain last three years between.

Hands had already shaken hands, then war arrived;

Awaiting each other in future returned is revived.

 

Secluded sunset had appeared in your eyes unfit.

Where are you now? Do you remember it?

One brown shirt, the shoulder tear would extend,

But you had to leave now, how could I mend?

 

A small pack of provisions as a balm

Provided for you by your beloved old mom

Which was not delicacies with delicious spice

But only spathe-compressed handfuls of brown rice

That her skinny hands carefully stringed, had done

And with tears in eyes smiling, to hand her son.

 

Though I am not a bard,

I endeavor to offer you a poem with great regard,

A kind of maudlin verse

Just in aimlessness thousands of days to immerse!

So many seasons rain and flood came to this land,

I am still pallidly crazy about a knight-errant grand!


Translation by Thanh Thanh

Mùa Cô Hồn


Trong miền Nam Việt Nam, những năm trước 1975, cứ đến rằm tháng 7, khoảng bốn năm giờ chiều, những gia đình người Hoa đã bầy sẵn bàn thờ trước cửa nhà để chuẩn bị cúng cô hồn. Bàn thờ chỉ là cái bàn ăn nhỏ trong nhà đem ra trước sân nhà. Trên bàn thờ có nhiều đồ ăn mặn, gà, thịt heo quay, hoa quả, có vài đĩa đựng gạo sống, một đĩa đựng nhiều tiền cắc. Họ thắp hương từ chiều.

Khoảng chiều tối từ 6 hay 7 giờ, họ lại thắp hương lần nữa, cầm hương lên và miệng lâm râm khấn vái. Lũ trẻ con hàng xóm bu lại chung quanh đứng xem và chờ chủ nhà bố thí cho các cô hồn mà gọi tắt là “thí cô hồn”. Sau đó họ cầm đĩa gạo lên hất tung ra phía trước sân. Còn đĩa tiền cắc thì họ nắm từng nắm hất tung lên phía trước cho lũ trẻ xúm nhau dành giật. Nhà nào có con đứng chầu dìa trước bàn thờ thì họ tung tiền cắc về phía các con của họ cho chúng nhặt được nhiều hơn. Sau đó họ đốt vàng mã (còn gọi là hóa vàng) để gửi xuống âm phủ cho thân nhân hay cho các cô hồn đang lang thang chầu chực. Thời trước 1975, ngoài xấp tiền âm phủ, họ đã làm những vàng mã hình xe hơi, nhà lầu, thay vì làm xe bò, xe ngựa hay nhà tranh, nhà trệt và họ cũng có những bộ quần áo giấy theo tậy phục cho đàn ông và sườn xám cho đàn bà.

Cúng kiếng và thí cô hồn xong, họ khuân bàn đem thức ăn vào nhà để cả nhà cùng ăn tối. Thời đó không thấy người Việt Nam bầy bàn thờ trước nhà để cúng cô hồn như người Tàu. Vì thế hình như chỉ có người Tàu có phong tục này. Vì tín ngưỡng dân gian của người Trung Hoa và đa số theo Đạo Giáo tức Đạo Lão, không tin vào thuyết luân hồi, nhưng tin có địa ngục. Và con người sau khi chết phải xuống địa ngục, mỗi năm chỉ được Diêm Vương (vua địa ngục) cho về trần gian một lần vào tháng 7 âm lịch, còn được họ xem là tháng của cô hồn, là những linh hồn cô độc, không thân nhân cúng cho thức ăn, vàng mã.

Nhưng bây giờ trong nước có vẻ chạy theo đủ thứ văn hóa vì chánh phủ đang cổ xúy loại văn hóa được du nhập từ Tàu. Vì thế báo chí trong nước viết bài chỉ vẽ dân cách cúng cô hồn sao cho phải cách vì sợ dân không biết làm. Và bọn con buôn lợi dụng cơ hội làm thêm tiền vàng mã hình đô la Mỹ, xe hơi đời mới, máy bay phản lực, nhà lầu nhiều tầng để bán, quần áo sang trọng, TV, Máy hát, tủ lạnh. Và họ bán được thật nhiều hàng, trúng mánh.

Chánh phủ cộng sản Việt Nam thừa biết rằng sau vài chục năm cấm đoán dân chúng hội họp cúng kiếng rước đình, rước thần vì đi ngược với giáo điều cộng sản quốc tế, dân trở nên thiếu thốn về mặt văn hóa và tín ngưỡng. Họ suy ra rằng, cách ru ngủ dân tốt nhất là cổ súy dân chúng chạy theo những lễ hội đâm trâu, chém lợn, hội làng này, hội làng kia thì dân chúng sẽ không để ý đến những cái xấu, cái tồi tệ của hệ thống cai trị kềm kẹp, độc đảng, độc tài của đảng cộng sản. Không những thế, dân chúng còn tưởng lầm rằng lúc này chánh phủ cởi mở hơn thời xưa nhiều, cho dân được tự do tín ngưỡng nên an tâm mà chạy theo sự xúi bẫy của đám cán bộ làng xã. Còn đám cán bộ văn hóa thì được lệnh viết bài xúi dục, dạy bảo dân cách cúng các ngày lễ hội và ca tụng đó là hành động có văn hóa. Và họ cũng viết thêm phần quảng cáo cho các dịch vụ du lịch đưa khách đi tham quan các làng vào những ngày lễ hội.

Nhìn các bà sồn sồn và các cô gái quê ăn mặc áo tứ thân trong các lễ hội của các làng miền Bắc thì biết ngay đã bị kỹ nghệ hóa. Áo tứ thân thế kỷ 21 màu sắc lòe loẹt, một cái áo tứ thân có hai ba màu chõi nhau, mỗi thân áo hay mỗi vạt áo là một màu khác. Mặt các cô các bà son phấn như hát tuồng. Cử chỉ nói năng như dân đi buôn hàng chạy. Chẳng còn thấy vẻ nết na thùy mị của thời “Lỡ Bước Sang Ngang” của Nguyễn Bính, trước khi cộng sản chiếm miền Bắc Việt Nam.

Người Trung Hoa lập ra tết Trung Nguyên, rằm tháng 7, cúng cô hồn từ trước thời Lão Giáo xuất hiện vào thế kỷ thứ 4 trước CN. Nó là một loại tín ngưỡng dân gian của người Tàu. Sau này khi Lão Giáo xuất hiện, dân chúng và các pháp sư của Lão Giáo lại củng cố thêm về việc cúng cô hồn và đốt vàng mã. Họ tin rằng tháng 7 là tháng cô hồn, Diêm vương ra lệnh mở Quỷ Môn Quan vào tháng 7, thả cho ma quỷ túa ra, về dương thế. Đến 12 giờ đêm hôm rằm thì phải trở về địa ngục. Người ta sợ bị ma quỷ quấy nhiễu cũng có, muốn làm phước bố thí cho chúng nó cũng có nên người Tàu lo cúng rằm tháng bảy để được yên ổn. Cũng có thể, họ nghĩ rằng một ngày nào đó họ cũng sẽ trở thành một cô hồn lang thang tìm kiếm thức ăn và vàng mã thì sẽ có người khác cho lại.

Sau này khi Phật giáo du nhập vào Trung Hoa, họ dùng rằm tháng 7 để làm lễ Vu Lan, báo hiếu cha mẹ. Vậy rằm tháng 7 nguyên thủy của người Tàu hoàn toàn không phải lễ Vu Lan của Phật giáo.

Riêng tại Thừa Thiên và Quảng Trị, người ta hay làm một hay hai cái am trước sân nhà, thoạt nhìn tưởng là bàn thờ Ông Thiên giống như của người miền Nam. Hỏi ra thì mới biết đó là những cái am cúng những người chết vất vưởng, không nhà, không ai cúng cho, hoặc cúng những cái thai bị xảo của bà chủ nhà. Có thể có những chủ nhà còn có ý cúng cho những người chết dọc đường, chết trong tết Mậu Thân, trong mùa hè đỏ lửa hay trong suốt cuộc chiến thời còn Việt Nam Cộng Hòa đang bị cộng sản Bắc Việt tấn công.

Những nước chịu ảnh hưởng văn hóa của Trung Hoa như Nhật Bản, Đại Hàn và Việt Nam thì cũng theo những ngày lễ của Trung Hoa như:

Rằm tháng giêng (tết Nguyên Tiêu), người Tàu ăn chè trôi nước bằng bột nếp vo tròn to bằng quả chanh nhỏ có nhân đậu đỏ, nhân đậu phọng hoặc nhân mè đen. Và ăn bò bía làm ở nhà còn gọi là xuân cuốn (cái cuốn của mùa xuân), dùng bánh tráng bột mì của Tàu cuốn năm sáu thứ rau xào và xá xíu, lạp sườn, tôm khô, ruốc khô, trứng chiên, đậu hũ chiên, sau hết cho vào một muỗng đầy đường trắng và một muỗng đậu phọng rang đã tán thành bột. Cuốn một cuốn to như trái bắp; ăn hai cuốn là no ứ hự.

Rằm tháng 5 (tết Đoan Ngọ), ăn bánh ú tro và rượu nếp (hay cơm rượu) để giết sâu bọ.
Rằm tháng 7, cúng cô hồn
Rằm tháng 8 (tết Trung Thu), ăn bánh trung thu (bánh nướng). Nhưng miền Bắc Việt Nam lại có thêm bánh dẻo.
Tết Nguyên Đán (tết Âm lịch). Ở Mỹ, truyền thông và dân Mỹ gọi là Chinese New Year chứ chẳng ai gọi là Vietnamese New Year hay Korean New Year mặc dù người Việt và người Đại Hàn vẫn còn ăn tết này.

Riêng nước Nhật, kể từ khi chánh phủ loại bỏ không xử dụng âm lịch của Trung Hoa từ năm 1873, chuyển sang dùng Tây lịch, thì tết âm lịch của Tàu đã hoàn toàn bị loại bỏ từ năm đó. Chánh phủ Nhật không nhìn nhận tết âm lịch của Tàu như một ngày quốc lễ nữa. Ngươì Nhật đón năm mới vào ngày 1 tháng 1 của Tây lịch kể từ đó. Tuy nhiên, vào ngày Tết Âm lịch, nhiều người vẫn mặc kimono lên chùa đi lễ đầu năm.

Tuy nhiên trong tất cả những cái lễ tết của Tàu, người Việt Nam chỉ chú trọng tết Đoan Ngọ, tết Trung Thu và tết Nguyên Đán. Nhưng từ khi đảng cộng sản cai trị miền Nam sau 1975, do ảnh hưởng báo chí cổ xúy, người miền Nam, có lẽ cả 3 miền bắt đầu cúng cô hồn vào rằm tháng 7.

Những nước Á Châu khác thì ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, không dùng đến âm lịch của Trung Hoa nên không có những cái lễ tết và các ngày rằm của Tàu và cũng không ăn tết âm lịch của Tàu.

Người Âu châu có lễ Halloween. Có tên gốc là All Hallows’Eve, có nghĩa là đêm trước ngày lễ các thánh. Hallow là tiếng Anh cổ, có nghĩa là “thánh”. Cuối cùng trở thành Halloween. Lễ có nguồn gốc Công Giáo để tưởng nhớ những người vừa mới chết mà họ tin là còn ở ngục luyện tội, chưa được lên thiên đàng, tưởng nhớ các người và các thánh tử đạo.

Thực ra trước khi Cơ Đốc (Kitô) giáo du nhập vào Âu châu vào thế kỷ thứ nhất, dân Âu châu cổ đã có các lễ hội mang tính cách tín ngưỡng dân gian của người Celt và người Gael. Làm lễ cho những người vừa chết về hưởng ít thức ăn. Vì thế người ta cho rằng giáo hội Công Giáo thời sơ khai đã Kitô hóa lễ hội này thành lễ Halloween.

Trong đêm Halloween, các nhà thờ kéo chuông, cầu nguyện cho các linh hồn đang thanh tầy trong luyện ngục, làm bánh linh hồn “soul cakes” để trước thềm nhà của người vừa chết để họ về hưởng và chia cho trẻ em và người nghèo. Họ cũng đem nến đến thắp trước những ngôi mộ của người thân vừa qua đời.

Trong thời cải cách Tin Lành ở Âu châu vào đầu thế kỷ 16, giáo lý về “luyện ngục” bị phản đối và loại bỏ; vì thế người Tin Lành không cử hành lễ Halloween để cầu nguyện cho người vừa chết sớm thoát luyện ngục lên thiên đàng hay làm bánh cho người chết về ăn.

Ngày nay tại Bắc Mỹ (Hoa Kỳ và Canada) lễ Halloween có tính cách giải trí và thương mại, trẻ em được mặc quần áo hóa trang và đi xin kẹo từng nhà. Kỹ nghệ làm kẹo và quần áo hóa trang có cơ hội buôn bán tốt. Những người trẻ có cơ hội đi dạ tiệc hóa trang, vui chơi với bạn bè.

Người Tin Lành ở Hoa Kỳ và Canada vui vẻ mở cửa phát kẹo cho trẻ em trong đêm 31 tháng 10 vì xem như lễ nhi đồng, không có tính cách tôn giáo nữa. Họ không trang trí nhà cửa bằng những hình đầu lâu sọ người hay hình ảnh các quỷ để mừng lễ Halloween.

Tuy nhiên nhiều người khác vẫn trang trí lễ Halloween theo như thông lệ.

Nhìn chung từ Âu sang Á, thời cổ xưa khi chưa có những tôn giáo lớn hình thành hay du nhập từ nước khác vào, người ta đã tin có linh hồn nên làm ra các lễ để mời đón linh hồn về ăn uống, chiêu đãi các linh hồn một ngày cho xoa dịu cả năm bị nhục hình trong địa ngục.

Bởi đâu mà con người biết rằng ngoài thể xác ra, họ còn có linh hồn? Phải chăng từ thời cổ xưa, con người đã kinh nghiệm được sự hiện hữu của ma quỷ, là loài không có thân thể như người sống mà chỉ có những hình ảnh xấu xí và kinh dị, khi biến khi hiện.

Các hình ảnh kinh dị này đi theo phá phách họ, có khi hiện ra ngay trong nhà họ lúc đêm khuya hay hiện ra trên con đường làng, đường huyện lúc đêm vắng ít người qua lại khiến họ sợ hãi. Mục đích của ma quỷ là hù dọa, làm cho người ta sợ mà làm bàn thờ cúng tế chúng để chúng có một chỗ ăn, chỗ ở. Đôi khi có gia chủ phải mời thầy cúng, thầy pháp đến cúng kiếng, dán bùa trừ tà ếm quỷ.

Thông thường, người ta thường lầm tưởng rằng ma quỷ là linh hồn của những người chết biến thành ma quỷ vì chết nhằm giờ trùng, giờ xấu hay vì không siêu thoát v.v.

Nhưng Kinh Thánh của Đức Chúa Trời cho biết rằng ma quỷ là quân đội của Satan (Chúa quỷ), chúng nó là những thiên sứ xa đọa bị Đức Chúa Trời đuổi ra khỏi thiên đường. Chúng ở đầy dẫy trên không trung và trên quả địa cầu này. Chúng chẳng phải là linh hồn của những người đã chết biến thành ma quỷ dù đôi khi chúng giả dạng giống y như người đã chết cố ý đánh lừa thân nhân người chết để cúng tế chúng nó. Chúng có quyền phép biến hóa, hiện ra hù dọa, và có thể hành hạ con người, phá phách trong nhà của người ta gây tiếng động ồn ào, vặn nước chảy trong buồng tắm, dựng đứng giường, kéo bàn ghế hay xúi dục giết người này người nọ v.v.

Đức Chúa Trời đã tạo ra loài người và ban cho linh hồn trú ngụ trong thân xác người đó cho đến khi xác bị chết, linh hồn phải đi ra. Nhưng hồn người không được Đức Chúa Trời cho phép biến thành ma quỷ hay thần thánh. Người suốt đời chỉ là người mà thôi cũng như thiên sứ thì suốt đời là thiên sứ, không bao giờ biến thành người. Dù cựu thiên sứ trưởng của Đức Chúa Trời là Lucifer có quyền phép cao đến đâu cũng chỉ ở cấp bậc thiên sứ mà thôi.

Nhưng vì Lucifer không an phận ở ngôi vị của mình, hắn muốn trở thành Đức Chúa Trời vì nghĩ rằng quyền phép của hắn cũng ngang hàng với Đức Chúa Trời rồi.

Bởi vì Lucifer kiêu ngạo muốn phá vỡ trật tự ngôi thứ nên bị Đức Chúa Trời loại bỏ hắn ra khỏi hàng ngũ thiên sứ thiện, Ngài đuổi hắn và 1/3 các thiên sứ theo hắn ra khỏi thiên đường. Từ đó Lucifer và bè lũ của mình trở thành thiên sứ ác, mặc lấy những hình ảnh xấu xí, kinh dị, chuyên đi khắp thế gian dụ dỗ loài người phạm đủ thứ tội chống nghịch cùng Đức Chúa Trời.

Những cái thai bị xảo hay bị cha mẹ nó cố ý lấy ra, hay những đứa trẻ chết non khi còn bé nhỏ đều được thiên sứ của Đức Chúa Trời đem về thiên đường nuôi dưỡng. Ma quỷ không thể bắt những đứa bé này theo chúng. Dưới địa ngục không có trẻ con hay các thai nhi.

Đây là một câu chuyện có thật. Có một người thanh niên Việt Nam sống ở Toronto, Canada. Anh này tên Vinh, bị hư thận nên phải đi lọc thận một tuần ba lần. Vì thế anh không muốn nghĩ đến việc lập gia đình. Nhưng khi gần bốn mươi tuổi, anh gặp một cô Việt Nam, tên Ánh, hai người yêu nhau và kết hôn với nhau. Họ có được một đứa con trai, gia đình thật hạnh phúc.

Khi đứa con được bảy tuổi, người vợ rủ chồng dẫn con về Việt Nam thăm gia đình bên vợ. Vì thương vợ con nên anh đi theo. Trước khi đi, anh đã liên lạc với bệnh viện tại Sài Gòn cho xe đến đón anh tại phi trường Tân Sơn Nhất khi vợ chồng anh vừa đến nơi để chở anh vào bệnh viện lọc thận ngay tức khắc.

Cuộc lọc thật thứ nhất thành công, anh vui vẻ ra về đi chơi với vợ con. Hai hôm sau anh phải trở lại nhà thương để lọc thận lần nữa. Lần này thì anh đi luôn về thiên đàng với Chúa. Vợ anh làm hỏa thiêu cho anh rồi đem tro rải xuống biển y như có lần anh đã nhắc đến, rồi dẫn con về Canada.

Một ngày Chúa Nhật hai chị em cô Ánh dẫn hai đứa con trai của họ đi nhà thờ như thường lệ, nhưng hôm đó có một ông mục sư ở xa đến thăm hội thánh. Sau khi giảng xong, ông mục sư mời gọi những người có nhu cầu cần cầu nguyện thì bước lên.

Hai đứa con trai của hai chị em cô Ánh bước lên, một đứa lên bẩy, một đứa lên tám. Ông mục sư hỏi:
- Hai cháu muốn xin Chúa điều gì?
Đứa anh họ trả lời:
Con muốn xin Chúa cho con gặp dượng Vinh con.

Đứa trẻ ngây thơ xin một điều mà chưa ai dám xin. Ông mục sư thấy nó thành thật quá nên cũng đặt tay lên vai nó và cầu nguyện Chúa ban cho nó được như điều nó nài xin. Tức thì nó thấy mình được lên thiên dàng, gặp Chúa Jesus mặc áo trắng toát và dượng Vinh đứng phía sau Chúa. Chúa xoa đầu nó, và dượng Vinh nói với nó khi trở về thế gian nhớ nghe lời mẹ và thương mẹ. Khải tượng thiên đàng mà Chúa cho nó thấy chỉ vài giây thôi, rồi biến mất.

Nó vui vẻ kể lại cho mọi người chung quanh nghe, còn bảo rằng áo của Chúa màu trắng nhưng đẹp hơn áo trắng của dượng Vinh.
Em họ nó là con của anh Vinh nghe thấy thế liên thưa với ông mục sư:
- Xin ông mục sư cầu nguyện Chúa cho con được gặp ba con!
Ông mục sư lại đặt tay lên vai đứa bé bẩy tuổi con của anh Vinh mà cầu nguyên với Chúa. Ngay lúc đó nó thấy mình được lên thiên đàng, gặp Chúa Jesus và cha nó, nó chạy đến ôm lấy cha. Anh Vinh nói với nó rằng:
- Ba thương con lắm, con phải thương mẹ và nghe lời mẹ luôn.
Khi nó ra khỏi khải tượng thiên đàng liền vui vẻ kể cho mọi người nghe. Nó rất sung sướng vì gặp lại cha và biết chắc rằng sau này khi nó lìa đời nó sẽ lên thiên đàng và gặp lại cha nó.
Có một bà cụ tuổi tám mươi đang đứng gần đó nghe thấy hai đúa bé kể chuyện vừa được đi thăm thiên đàng, bà thích quá liền nói với mục sư:
- Xin ông mục sư cầu nguyện Chúa cho tôi được đi thăm thiên đàng.
Liền lúc đó bà nghe tiếng Chúa phán bên tai bà:
- Con sắp được lên thiên đàng rồi, cần gì mà phải đi thăm!

Bà bật cười thành tiếng vì nhận ra mình đã già lắm rồi, chẳng còn sống bao lâu trên đất nữa. Bà cảm thấy Chúa thương yêu bà quá, dù bà xin một điều thật trẻ con nhưng Chúa cũng giải thích cho bà hiểu lý do Chúa không cho bà đi thăm thiên đàng. Và sự giải thích của Chúa cũng xác nhận rằng bà sẽ lên thiên đàng với Chúa ngay sau khi bà lìa đời.

Ấy thế mà bà còn sống đến tám mươi tám tuổi mới về với Chúa. Đối với Chúa, “sắp” không có nghĩa là vài ngày, vài tuần hay vài tháng. Nó chỉ có nghĩa số ngày còn lại của bà cụ trên mặt đất này rất ngắn so với khoảng thời gian bà đã sống 80 năm.

Hai đứa bé kia được Chúa cho đi thăm cha và dượng trên thiên đàng vì Chúa muốn xác định với chúng rằng thiên đàng có thật để nâng đỡ đức tin cho chúng. Sau này khi chúng lớn lên Chúa có thể sẽ dùng chúng cho công việc của Ngài.

Người tin Chúa theo các giáo phái Tin Lành hay cả nhóm người Công Giáo Về Nguồn không tin vào giáo lý “Ngục Luyện Tội”, nghĩa là sau khi chết phải vào đó một thời gian để luyện cho hết tội rồi mới lên thiên đàng.

Vì thế đám tang của người Tin Lành không buồn thảm mà là một khởi sự cho một đời sống vĩnh cửu trên thiên đàng, hưởng bình yên của nước Trời đời đời trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời và con Ngài là Chúa Jesus Christ.

Bởi huyết của Chúa Jesus đã đổ ra một lần, thân thể của Ngài đã tan nát và chết trên thập tự giá một lần là đủ để hoàn tất luật pháp của Đức Chúa Trời, chết thay cho tội lỗi của nhân loại. Sự hy sinh của Chúa Jesus có quyền năng để chuộc tội cho những ai tin đến Ngài. Ngài cứu người ta khi còn đủ thứ tội vấn vương rồi giúp người ta sống theo ý Ngài, là ý của Đức Chúa Trời, trong lành, thánh thiện. Chúa không bắt người ta làm lành trước rồi mới cứu họ sau.

Kinh Thánh, sách Lu-Ca, đoạn 23 chép lại:
Khi Chúa Jesus đang bị treo trên thập tự giá, có hai tên trộm cũng bị treo ở hai bên thập tự, một tên mắng nhiếc Ngài rằng: “Ngươi không phải là Đấng Christ sao? Hãy tự cứu lấy mình ngươi cùng chúng ta nữa!”

Nhưng tên trôm kia trách nó rằng: “Ngươi cũng chịu một hình phạt ấy còn chẳng sợ Đức Chúa Trời sao? Về phần chúng ta chỉ là sự công bình, vì hình ta chịu xứng với việc ta làm; nhưng người nầy không hề làm một điều gì ác.”

Câu 42: Đoạn lại nói rằng: “Hỡi Jesus, khi Ngài đến trong nước mình rồi, xin nhớ lấy tôi!”
Câu 43: Đức Chúa Jesus đáp rằng: “Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Ba-ra-đi.
Chúa cứu tên trộm cướp này vào giờ phút sau cùng của hắn, hắn được Chúa cho đi thằng lên thiên đàng.
Hình ảnh hai tên trộm bị treo hai bên Chúa Jesus cũng là hình ảnh của hai loại người. Một người không ăn năn và chỉ nghĩ đến sự sống của thể xác. Một người ăn năn và lo nghĩ cho sự sống của linh hồn mình.

Trong mùa lễ các vong hồn, thay vì chỉ lo bố thí cho các quỷ hay các cô hồn có đồ ăn, đồ dùng, có tiền vàng mã, người ta cũng nên lo nghĩ đến linh hồn của mình sau khi lìa dương thế có một chỗ về xứng đáng, bình an vĩnh cửu thì hơn.

TT-Thái An
10/14/2017
7/14/2025: Cập nhật