Đã thưởng thức cả chục bài thơ tức cảnh (tả cảnh) của Ngô Dung rồi, bây giờ thử lắng nghe ông tức sự (tả việc) ra sao.
Ngô Dung
Nguyên tác Dịch âm
即事 Tức Sự
抵鵲山前雲掩扉 Để Thước sơn tiền vân yểm phi,
更甘終老脫朝衣 Canh cam chung lão đoái triều y.
曉窺青鏡千峰入 Hiểu khuy thanh kính thiên phong nhập,
暮倚長松獨鶴歸 Mộ ỷ trường tùng độc hạc quy.
雲裏引來泉脈細 Vân lý dẫn lai tuyền mạch tế,
雨中移得藥苗肥 Vũ trung di đắc dược miêu phì.
何須一箸鱸魚膾 Hà tu nhất trợ lư ngư quái,
始掛孤帆問釣磯 Thủy quải cô phàm vấn điếu ky.
Dịch nghĩa
Tả Việc
Gửi thân vào ngôi nhà kín cửa, trước núi Để Thước,
Để sống hết tuổi già sau khi rũ bỏ áo chầu.
Buổi sáng soi gương xanh thấy có cả ngàn núi.
Chiều đứng tựa cây thông cao chờ con hạc cô đơn bay về.
Qua kẽ mây thấy nguồn nước nhỏ đổ vào suối.
Trong mưa, cây thuốc trổ ra mầm tươi tốt.
Còn gì bằng một gắp gỏi cá lô!
Bắt đầu treo tấm buồm lẻ loi lên hỏi thăm đường tới ghềnh câu cá./.
Dịch thơ
Tả Việc
Để Thước đầu non về ẩn thân,
Nghỉ hưu khi rũ áo triều thần.
Sáng soi gương biếc xem ngàn núi.
Tối dựa thông cao đón hạc vàng.
Mây hé thấy kinh vào mạch suối.
Mưa rơi cây thuốc trổ mầm ngang.
Mồm nhai gỏi cá lô thơm phức,
Câu cá đầu ghềnh hỏi lối sang.
Lời bàn của Con Cò
Bài thơ kể hoạt động của một quan chức kiêm thi sĩ lúc hưu trí.
Câu 1 & 2:
Nghỉ hưu về nương thân ở thôn Để Thước trên núi.
Câu 3 & 4:
Buổi sáng nhìn ngàn ngọn núi tưởng mình đang soi một tấm gương xanh vĩ đại. Buổi chiều dựa cây thông dài coi hạc bay về.
Câu 5 & 6:
Qua kẽ mây thấy được con lạch (kinh) nhập vào dòng suối. Cảm ơn mưa đã giúp cây thuốc trổ mầm non (nhắc rất khéo tới bệnh già của mình).
Câu 7 &8 :
Mồm vừa ngồm ngoàm nhai miếng gỏi cá lô vừa hỏi đường đi tới đầu ghềnh để câu cá.
Con Cò
***
Tả Việc.
Để Thước cài then trước núi sâu,
Áo chầu dứt bỏ hưởng già lâu.
Sớm soi gương ngắm ngàn non rõ,
Chiều tựa thông nhìn lẻ hạc sầu.
Nước chảy qua mây vào suối nhỏ,
Mưa rơi vườn thuốc trổ mầm mau.
Cá lô làm gỏi gì hơn nữa,
Giương một cánh buồm hỏi bãi câu.
Mỹ Ngọc phỏng dịch.
July 13/2025.
***
Ẩn Dật Núi Cao
Ẩn dật ngôi nhà Đế Thước non
Công hầu rũ bỏ đến ngày mòn
Bình minh ngắm cảnh xanh ngàn núi
Nắng thấp tựa thông dõi hạc đơn
Qua kẽ mây nhìn sông nhập suối
Mưa nhiều cây thuốc trổ mầm con
Cá lô nhóc nhách nhai không chán
Treo bảng ra ghềnh câu cá ngon
Thanh Vân
Tả Việc.
Để Thước cài then trước núi sâu,
Áo chầu dứt bỏ hưởng già lâu.
Sớm soi gương ngắm ngàn non rõ,
Chiều tựa thông nhìn lẻ hạc sầu.
Nước chảy qua mây vào suối nhỏ,
Mưa rơi vườn thuốc trổ mầm mau.
Cá lô làm gỏi gì hơn nữa,
Giương một cánh buồm hỏi bãi câu.
Mỹ Ngọc phỏng dịch.
July 13/2025.
***
Ẩn Dật Núi Cao
Ẩn dật ngôi nhà Đế Thước non
Công hầu rũ bỏ đến ngày mòn
Bình minh ngắm cảnh xanh ngàn núi
Nắng thấp tựa thông dõi hạc đơn
Qua kẽ mây nhìn sông nhập suối
Mưa nhiều cây thuốc trổ mầm con
Cá lô nhóc nhách nhai không chán
Treo bảng ra ghềnh câu cá ngon
Thanh Vân
***
Góp ý:
Cả tuần theo Bát Sách và bạn bè đi họp mặt trong các hội giải trí của bô lão, sáng nay mới chính thức viết góp ý cho bài Tức Sự của Ngô Dung được. Nhờ đọc trước các góp ý của nhóm nên được hưởng nhiều thuận lợi, chỉ vướng một thắc mắc là gỏi cá lư ngon nức tiếng được nhiều tác giả ca tụng trong cổ thi, đáng lẽ phải mong ước ăn cả đĩa mới đả, nhưng trong bài tác giả chỉ mong một gắp đũa mà giương buồm một thân đi hỏi nơi câu (mà câu chắc gì có cá để làm gỏi) điều này hơi trái khoáy với người già lão về hưu chỉ thích vui với thiên nhiên và trồng cây thuốc cứu người. Đọc kỹ bài hơn thì chú ý đến hai chữ Hà tu 何須 ở đầu câu 7; tra từ thấy ghi: tương tự với 何必Hà tất, 何用Hà dụng. "何須” nhấn mạnh tác dụng tiêu cực của câu. Nghĩa của 2 câu này đã rõ:
Hà tất chỉ vì một gắp cá lư tươi thái mỏng
Mà phải một mình giương buồm hỏi chỗ cắm câu!
Bèn phỏng dịch:
Tả Việc
Để Thước núi cao mây cửa che
Càng vui già lão cởi triều y
Sớm soi gương sáng ngàn non hiện
Chiều tựa thông cao lẻ hạc về
Mây hé lạch con tuôn suối nhỏ
Mưa sa cây thuốc trổ mầm khoe
Cần gì một gắp lư tươi gỏi
Buồm mắc hỏi ghềnh, bắt cá chi!?
Lộc Bắc
Jul25
***
Nguyên tác: Phiên âm:
即事-吳融 Tức Sự - Ngô Dung
抵鵲山前雲掩扉 Để Thước sơn tiền vân yểm phi,
便甘終老脫朝衣 Tiện cam chung lão đoái triều y.
曉窺青鏡千峰入 Hiểu khuy thanh kính thiên phong nhập,
暮倚長松獨鶴歸 Mộ ỷ trường tùng độc hạc quy.
雲裏引來泉脈細 Vân lý dẫn lai tuyền mạch tế,
雨中移得藥苗肥 Vũ trung di đắc dược miêu phì.
何須一箸鱸魚膾 Hà tu nhất trợ lư ngư khoái,
始掛孤帆問釣磯 Thủy quải cô phàm vấn điếu ky.
Sách có đăng bài thơ:
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐 詩-清-聖祖玄燁
Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石倉歷 代詩選-明-曹學佺
Đường Bách Gia Thi Tuyển - Tống - Vương An Thạch 唐百家詩選-宋-王安石
Đường Thi Cổ Xuy - Kim - Nguyên Hảo Vấn 唐詩鼓吹-金-元好問
Đường Anh Ca Thi - Đường - Ngô Dung 唐英歌詩-唐-吳融
Sách đời Thanh đổi nguyên tác của Ngô Dung trong câu 2 với chữ 更canh=đổi thay thay vì 便tiện=tiện lợi không thay đổi nghĩa.
Ghi chú:
Để Thước: Theo Hán Ngữ Đại Từ Điển, Hoàn Khoan đời Hán có viết trong Diêm Thiết Luận-Sùng Lễ 盐铁论·崇礼: Nam Việt dĩ khổng tước nhị môn hộ, Côn Sơn chi bàng dĩ ngọc phác để ô thước. Bổn vị Trung Nguyên sở quý giả, biên thùy tiện chi. Hậu nhân dĩ “ để thước ” dụ đại tài tiểu dụng. Người Nam Việt dùng hình chim công để trang trí cửa ra vào, người Côn Sơn (vùng biên giới) dùng ngọc thô để đuổi chim ác là. Điều này có nghĩa là những gì quý giá ở Trung Nguyên lại bị xem thường ở vùng biên giới. Sau này, để thước được dùng để mô tả sự lãng phí tài năng. Thi nhân cảm nhận thân phận và tự cho mình là một để thước.
Chung lão: suốt cuộc đời tuổi già còn lại
Triều y: quần áo các quan mặc khi vào triều gặp vua
Thanh kính: gương làm bằng đồng ngày xưa, có rỉ xanh
Dẫn lai: tập hợp bởi một vật/việc thu hút/hấp dẫn nào đó
Tuyền mạch: nước suối chảy dưới lòng đất chảy qua các kẻ nứt, giống như các tĩnh mạch máu trên cơ thể con người
Nhất trợ: một chiếc đũa, nói đến thức ăn gắp được trong một đôi đũa
Lư ngư: một loại cá thịt ngon
Khoái: thịt thái nhỏ, nem, gỏi
Ky: đá nổi trên mặt nước, ngăn nước chảy
Dịch nghĩa:
Tức Sự Tả Việc
Để Thước sơn tiền vân yểm phi Mây che phủ cổng nhà trước núi Để Thước,
Tiện cam chung lão đoái triều y Nguyện sống tuổi già còn lại sau khi rũ bỏ áo chầu.
Hiểu khuy thanh kính thiên phong nhập Buổi sáng soi gương thấy hàng ngàn đỉnh núi,
Mộ ỷ trường tùng độc hạc quy Buổi chiều dựa cội tùng già nhìn con hạc cô đơn bay trở về.
Vân lý dẫn lai tuyền mạch tế Qua kẽ mây thấy những mạch nước nhỏ đổ vào suối,
Vũ trung di đắc dược miêu phì Trong mưa, cây thuốc trổ ra mầm tươi tốt.
Hà tu nhất trợ lư ngư khoái Còn gì ngon bằng một gắp gỏi cá lư,
Thủy quải cô phàm vấn điếu ky Trước khi giương cánh buồm lẻ loi hỏi thăm đường tới ghềnh câu cá.
Dịch thơ:
Cám Cảnh
Núi sâu mây phủ cổng vào ra,
Vui sống xa kinh hết tuổi già.
Buổi sáng soi gương nhìn đỉnh núi,
Buổi chiều ngắm hạc dựa thông nhà.
Xuyên mây nước mạch đổ vào suối,
Cây thuốc trong mưa mầm nẩy ra.
Nào có món ngon như gỏi cá,
Thẳng buồm ghềnh đá đến không xa.
Immediate Events by Wu Rong
Clouds cover my retreat gate at Queshan Mountain,
I am willing to take off court clothes until the end of my life.
At dawn, I peek into the green mirror to see thousands of peaks,
At dusk, I lean against the pine tree to watch the lonely crane returning.
Water streaks into the creek through cracks in the clouds,
The rain makes the medicinal seedlings flowrish.
What is better than a bite of sea bass sashimi?
Before setting up my lone sail and ask for directions to a fishing spot.
Phí Minh Tâm
***
Góp ý:
BS đang coi đi coi lại bài Tức Sự, tra mấy chữ khó, thì nhận được 2 điện thư của Đạo Mò.
- Cái thứ nhất giải thích về Để Thước, nói về chim thước và điển tích có liên quan tới loài chim đó, và không có núi nào tên là Để Thước cả. Ngô Dung làm bài thơ để than thở rằng mình là người tài mà không được trọng dụng.
Bát Sách không đồng ý, vì nhiều lý do:
Theo ý câu đầu thì Để Thước phải là tên núi.
Bài thơ tả cảnh nhàn nhã, ung dung tự tại của một người đã về hưu, không thấy ý gì oán trách, than thở cả.
Điển tích về chim thước không thấy liên quan gì với bài thơ.
- Cái thứ 2 nói về chữ LÔ. Lần này thì BS hoàn toàn đồng ý: Tra chữ lô thì không thấy, phải tra các chữ trong bộ ngư thì được chữ LƯ, “là một loài cá ở Tùng Giang “. Lại tra tiếp thì Tùng Giang không phải tên sông, mà là tên một tỉnh ngày xưa, ở phía đông bắc nước Tầu, có sông Tùng Hoa, là một chi nhánh của Hắc Long Giang chảy qua.
Sợ rằng cá Lư là cá ở sông Lư, BS tìm tiếp thì thấy sông này ở phía nam nước Thục, thời Tam Quốc. Khi Khổng Minh đi đánh Mạnh Hoạch, chiến thắng trở về, phải qua sông Lư, lúc đó đang sóng to và mạnh, nước chảy siết, dân bản xứ nói rằng phải giết 50 người, lấy đầu đem tế thì sóng yên, gió lặng. Khổng Minh nghĩ mình đi chinh phạt, đã giết quá nhiều nên lấy bột, gói thịt, nặn hình đầu người, gọi là Man đầu để cúng. Man đầu, người Tầu gọi là man thầu, tức là bánh bao.
Vậy cá Lư không phải ở sông này.
Những chữ khó, nhiều chữ mình có gặp ở những bài trước, như yểm là che dấu, đóng (cửa); phi là cánh cửa; lý là vải lót, ở bên trong; thủy là bắt đầu; quải là treo; tế là nhỏ.
Chữ mới:
- Cam là ngon, vui vẻ, ưa thích, say, tự nguyện (cam tâm
- Chung là hết, kết cục, đã xong, chết.
- Đoái, cũng phiên âm là Thoát là an nhàn,giản dị, thoát ra, ra khỏi…
- Khuy là nhìn.
- Dẫn là mở ra, dài, dẫn dắt.
- Mạch là mạch máu, vật liên tiếp như sơn mạch, địa mạch.
- Khoái là nem, gỏi.
- Ky là vách đá, bãi đá.
Tả Việc
Trước non Để Thước cửa mây cài,
Đành cam già lão, thoát cân đai,
Sáng ngó kính xanh, ngàn non tới,
Chiều tựa thông dài, một hạc bay.
Trong mây, mạch nhỏ len vào suối,
Giữa mưa, mầm thuốc mập trổ đầy,
Gỏi lư một gắp chi bằng nữa,
Giăng buồm, hỏi ghềnh đá đâu đây.
Bát Sách.
(Ngày 15/07/2025)
Huỳnh Kim Giám
- Đoái, cũng phiên âm là Thoát là an nhàn,giản dị, thoát ra, ra khỏi…
- Khuy là nhìn.
- Dẫn là mở ra, dài, dẫn dắt.
- Mạch là mạch máu, vật liên tiếp như sơn mạch, địa mạch.
- Khoái là nem, gỏi.
- Ky là vách đá, bãi đá.
Tả Việc
Trước non Để Thước cửa mây cài,
Đành cam già lão, thoát cân đai,
Sáng ngó kính xanh, ngàn non tới,
Chiều tựa thông dài, một hạc bay.
Trong mây, mạch nhỏ len vào suối,
Giữa mưa, mầm thuốc mập trổ đầy,
Gỏi lư một gắp chi bằng nữa,
Giăng buồm, hỏi ghềnh đá đâu đây.
Bát Sách.
(Ngày 15/07/2025)
***
Góp ý:
抵 鵲=để thước có nghĩa gì?
Góp ý:
抵 鵲=để thước có nghĩa gì?
Để là ngăn ngừa, thước là từ tắt cho ô thước, con chim ác là trong tiếng Việt, tên khoa học là Pica serica. Ác là còn có tên chim khách trong tiếng Việt vì người ta tin rằng nó báo khách đến nhà. Người Hoa Lục xem nó là biểu tượng cho may mắn, hạnh phúc, phát đạt và vì thế nó còn có tên là hỉ thước (喜鵲); nó cũng là chim trong huyền thoại Ngưu Lang-Chức nữ, bắc cầu ngang sông Ngân Hà cho hai người gặp nhau mùa mưa Ngâu.
Mặc dù câu đầu bài thơ có vẻ nói đến một địa danh tên là núi Để Thước nhưng không có núi thật sự nào dưới tên đó trong Google Maps và zh.Wikipedia! "Để thước" là một điển tích đến từ ký sự Diêm Thiết Luận (鹽鐵論) thời Tây Hán trong đó có đoạn : 南越以孔雀珥門戶, 崐山之旁以玉璞抵烏鵲 Nam Việt dĩ khổng tước nhị môn hộ, côn san chi bàng dĩ ngọc phác để ô thước (Người Nam Việt dùng con công trang trí cửa; dùng ngọc bên cạnh Côn Sơn để ngừa chim ác là); từ đó để thước biến thành một thành ngữ/điển tích (以玉抵鵲=dĩ ngọc để thước) để nói về việc người có tài nhưng chỉ được dùng làm việc nhỏ. Và đó là thân phận của Ngô Dung ở dưới trướng Vi Chiêu Độ rồi phải mất chức, lưu lạc Kinh Nam sau khi họ Vị bị loạn thần giết năm 895.
Nếu không hiểu điển tích 'để thước' thì không thể biết nguyên nhân của bài tức sự này.
Huỳnh Kim Giám

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét