Thứ Hai, 21 tháng 7, 2025

Nguồn Gốc Thơ Đường Luật


Thơ của người Trung Hoa bắt đầu từ Kinh Thi và trải qua nhiều thế kỷ cho đến thế kỷ thứ 7 đều không phải theo một thể luật nào hết. Thơ chỉ đơn giản là vận văn có nghĩa là văn chương có vần. Thơ bắt đầu có theo một Luật thơ thành Thơ Luật (Luật Thi) đầu tiên bắt đầu vào đời nhà Đường nên gọi là Thơ Đường Luật. Những bài thơ trước đó và không theo Luật (Đường Luật) thường được gọi tổng quát là Thơ Cổ Phong (theo Trần Trọng Kim).

Theo Văn Học Sử Trung Quốc của Chương Bồi Hoàn và Lạc Ngọc Minh, Thơ Đường Luật xuất phát từ bên Tàu vào đời nhà Đường từ ông nội của thi hào Đỗ Phủ là ông Đỗ Thẩm Ngôn (khoảng 645-708) và được hoàn chỉnh nhờ 2 ông Tống Chi Vấn (khoảng 656 - 710) và Thẩm Thuyên Kỳ (khoảng 656 – 714/715). Hai thi sĩ cung đình hàng đầu nầy vào thời Đường Trung Tông và Võ Hậu (Võ Tắc Thiên) đã dùng quyền lực của cung đình để truyền bá Thơ Luật (Thơ Đường Luật) bên cạnh Thơ Cổ Phong đã có từ trước.

Thơ Luật (Luật Thi) = Thơ Đường Luật (Đường Luật Thi), vì Thơ Luật được sáng tạo một cách hoàn chỉnh (do Thẩm Thuyên Kỳ và Tống Chi Vấn) và bắt đầu truyền bá từ cung đình trong thời nhà Đường ở Trung Quốc. Thơ Luật (Thơ Đường Luật) khác với Thơ Cổ Phong.

Đường Thi (Thơ Đường) = Thơ của thi nhân trong đời nhà Đường, có thể là Thơ Đường Luật (Thơ Luật) hoặc Thơ Cổ Phong.

Sách “Văn Học Sử Trung Quốc” (Chương Bồi Hoàn và Lạc Ngọc Minh) viết (trang 36-42):

Các thi nhân cung đình đầu đời nhà Đường về mặt nghệ thuật cố vươn lên một phương cách hoa mỹ để trang sức cho lời thơ. Trọng điểm của sự trang sức đó chỉ đóng khung trong kỹ xảo tu từ qua những câu thơ đối nhau, nhưng dần dần về sau lại nêu lên kỹ thuật về thanh điệu. Sau hết họ lại chủ trương kết hợp giữa kỹ xảo của đối ngẫu với kỹ thuật về thanh vận, từ đó đẩy Luật Thi (Thơ Luật) lên trình độ hoàn thiện và định hình về mặt hình thức.

Ngay từ thời kỳ Tề Lương của Bắc Triều, trên thi đàn đã xuất hiện “thuyết đối ngẫu” và “thuyết thanh bệnh”, nhưng thuyết trước lại quá sơ lược còn thuyết sau lại quá vụn vặt chi li trong khi cả hai thuyết lại không liên kết gì với nhau cả.

Đến cuối thời Bắc Triều, thi nhân Trần Tùy đã tiến thêm một bước về luật họa thơ ngũ ngôn. Có một thiểu số bài thơ đã đạt đến sự qui định về cách luật trong thi đời nhà Đường. Nhưng về mặt lý luận họ không đề xuất sự tổng kết mới trung thực trong vấn đề này. Ngoài ra còn có một số vấn đề như qui tắc về niêm vẫn chưa hoàn toàn giải quyết xong. Việc luật hóa đối với thơ thất ngôn lại càng tỏ ra quá ấu trĩ.

Đến đời nhà Đường, Thượng Quan Nghi đề xuất thuyết (về Đối) “Lục Đối”, “Bát Đối”. Ngoài việc Lưu Hiệp đề xuất “Sự Đối”, “Ngôn Đối”, “Chính Đối”, “Phản Đối”; lại thêm “Song Thanh Đối”, “Điệp Vận Đối”, “Phiến Đối” … từ đó mở rộng ra việc đối ngẫu vốn chỉ đóng khung trong những câu đối nghĩa với nhau thành những câu đối về âm thanh của chữ, về cú pháp.

Ít lâu sau Nguyên Căn chẳng những đề xuất những câu đối qua hình dáng của chữ, qua ý nghĩa của từ , mà lại còn nêu lên “Thanh điệu tam thuật” để nhằm cố gắng kết hợp giữa thanh luật và đối ngẫu.

Kể từ những năm từ Võ Hậu cho đến niên hiệu Thần Long, Cảnh Long đời vua Đường Trung Tông, dưới ngòi bút của một nhóm thi nhân cung đình đã xuất hiện nhiều bài thơ bằng trắc hài hòa, lại hợp nguyên tắc về niêm luật. Việc đó đánh dấu Thơ Ngũ Ngôn Luật và Thất Ngôn Luật đã tiến lên giai đoạn hoàn chỉnh. Có thể nói trong quá trình hoàn thành hình thức thơ Luật, các thi sĩ trong cung đình đã có tác dụng qui phạm hóa và thống lĩnh tất cả phong trào. Trong số đó phải kể Đỗ Thẩm Ngôn, Tống Chi Vấn và Thẩm Thuyên Kỳ là 3 thi nhân tỏ ra tích cực nhất.

Đỗ Thẩm Ngôn (khoảng 645-708) tự là Tất Giản. Thi ca của ông hiện còn giữ được chủ yếu là Thơ Ngũ Ngôn Luật cũng có một ít Thơ Thất Ngôn Luật. Thi ca của ông, từng câu đều giữ đúng Luật một cách nghiêm chỉnh. Bất luận là Thơ Ngũ Ngôn Luật hay Thất Ngôn Luật, toàn bộ đều đúng Luật, không có chỗ nào bị thất niêm. Hứa Học Di người đời nhà Minh khen ông là “Luật thi chính tông”.

Số người cùng Đỗ Thẩm Ngôn được gọi là “Văn chương tứ hữu” còn có Lý Kiểu, Tô Vị Đạo và Thôi Dung. Họ đều từng giữ chức Phượng cát Xá nhân trong triều của Võ Hậu. Lý Kiểu và Tô Vị Đạo còn từng giữ chức đại thần, địa vị và tiếng tăm rất cao.

Tống Chi Vấn (khoảng 656-710/713) và Thẩm Thuyên Kỳ (khoảng 656-714/715) chủ yếu hoạt động trong những năm niên hiệu Thần Long và Cảnh Long đời vua Đường Trung Tông (con của Võ Hậu và Cao Tông). Họ luôn ra vào những văn hội tại cung đình với tư cách là học sĩ Tu Văn quán, xứng đáng là những người dẫn đầu nhóm văn thân chuyên về văn học, cũng là kình địch trong văn trường, được người đời gọi chung là “Thẩm Tống”.

Cống hiến chủ yếu của “Thẩm Tống” là đã hoàn thành thể chế của Luật Thi (Thơ Luật) và mở rộng ảnh hưởng của loại thơ này. Họ đã dốc hết sức mình viết những bài thơ theo Thể Luật, và lấy những sáng tác đó để làm qui phạm cho hình thức thơ Ngũ Ngôn và Thất Ngôn cận thể. Mặt khác, họ còn xóa bỏ được cái bệnh trúc trắc trong thể thơ Ngũ Ngôn Luật. Họ cũng đẩy mạnh quá trình luật hóa của loại Thất Ngôn ca hành thể, phát huy sở trường khắc phục sở đoản, giúp cho thể thơ này được tinh luyện và hoàn chỉnh, từ đó thoát thai thành thể Thất Ngôn Luật nghiêm trang hơn.

Thẩm Thuyên Kỳ ngay từ thời Võ Hậu đã viết nhiều bài thơ Thất Ngôn Luật không còn hiện tượng thất niêm. Sáng tác của ông phần lớn là Thơ Thất Ngôn Luật. Đứng về mặt phù hợp qui phạm của loại thơ này, có thể nói ông là một thi nhân đứng hàng đẩu trong các thi nhân cung đình. “Thẩm Tống Thể” do họ Thẩm và họ Tống đề xướng thực tế là loại Thơ Luật (Luật Thi) loại Ngũ Ngôn và Thất Ngôn, có “từ ngữ hoa mỹ và giữ đúng luật thơ” (theo lời bình phẩm trong sách “Nghệ Uyển Chi Ngôn” của Vương Thế Trinh).

Nguyên Chân trong “Đường Cố Công Bộ Viên Ngoại Lang Đỗ Quân Mộ Hệ Minh” có viết: Hai họ Thẩm và họ Tống có thơ văn tinh luyện, thanh luật vững vàng, gọi là Luật Thi (Thơ Luật). Từ đó trở đi thì văn thể biến đổi thật nhiều.

Danh từ “Luật Thi” (Thơ Luật) lần đầu tiên xuất hiện trong văn hiến. Qua đó cho thấy Thẩm Tống là mẫu mực đầu tiên, rồi về sau mới được mọi người công nhận và xác lập địa vị của Luật Thi trên thi đàn.

Trên 200 năm từ niên hiệu Vĩnh Minh đời Tề, quá trình luật hóa của thi ca cổ điển Trung Quốc mới được hoàn thành. Sau hai họ Thẩm và Tống, qui phạm của Luật Thi (Thơ Luật) càng được nhiều người nối tiếp. “Kể từ niên hiệu Thần Long trở đi nó đã nghiễm nhiên trở thành nề nếp” (theo Thi Tấu). Hầu hết các thi ca được sáng tác theo lệnh của nhà vua đều hợp Luật, trở thành một phong trào rộng lớn, vượt khỏi phạm vi cung đình ra đến bên ngoài.

Luật Thi (Thơ Luật) nhất là Thất Ngôn Luật của họ Thẩm và họ Tống đã hoàn chỉnh về mặt hình thức, chứng tỏ dưới ngòi bút của họ đã vận dụng được hình thức thi ca loại này một cách thuần thuộc, không còn cảm thấy bị gò bó chi nữa.

Đây là 4 thể thơ Đường Luật với những bài thơ đầu tiên tiêu biểu:

1. Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt:

Tống ĐỖ Thẩm NGÔN    Đưa Tiễn ĐỖ THẨM NGÔN

Ngọa bệnh nhân sự tuyệt   Bệnh rồi muôn sự đều thôi
Ta quân vạn lý hành          Thương ai muôn dặm xa xôi chốn nào
Hà kiều bất tương tống      Cầu sông chẳng tiễn đưa nhau
Giang thụ viễn hàm tình.   Cây sông xa thẳm rạt rào tình ai.
(Tống Chi Vấn)                 (Trần Trọng San dịch)

2. Ngũ Ngôn Bát Cú:

ĐỀ ĐẠI DỮU BẮC ĐỊCH ĐỀ TRẠM NÚI ĐẠI DỮU

Dương nguyệt nam phi nhạn Tháng mười nhạn xuống nam bay
Truyền văn chí thử bồi           Nghe đồn đến núi lại quay trở về
Ngã hành thù vị dĩ                  Mình còn chưa hết ra đi
Hà nhật phục quy lai              Biết bao giờ trở lại quê được nào
Giang tĩnh triều sơ lạc            Sông êm vừa rút nước triều
Lâm hôn chướng bất khai       Rừng mờ lam chướng còn nhiều chưa tan
Minh triêu vọng hương xứ      Sáng mai, nơi ngóng trong làng
Ưng kiến lũng đầu mai.           Hẳn là thấy khóm mai vàng đồi xa.
(Tống Chi Vấn)                      (Trần Trọng San dịch)

LỤC HỒN SƠN TRANG NHÀ TRÊN NÚI LỤC HỒN

Qui lai vật ngoại tình              Nghỉ về gác bỏ chuyện đời
Phụ trượng duyệt nham canh Thung dung chống gậy coi chơi ruộng cồn
Nguyên thủy khan hoa nhập  Xem hoa vào tận trong nguồn
U lâm thái dược hành            Có khi hái thuốc đi luôn vào rừng
Dã nhân tương vấn tính         Người quê hỏi họ lăng nhăng
Sơn điểu tự hô danh              Chim kêu trên núi tự xưng tên mình
Khứ khứ độc ngô lạc             Đi đi cho thỏa tâm tình
Vô năng quí thử sinh.            Vụng về ngẫm lại sinh bình tủi thay.
(Tống Chi Vấn)                      (Trần Trọng Kim dịch)

HỌA TẤN LĂNG LỤC THỪA HỌA LỤC THỪA Ở TẤN LĂNG
TẢO XUÂN DU VỌNG VỀ VIỆC CHƠI XUÂN BUỔI SỚM

Độc hữu hoạn du nhân        Hoạn du riêng có một người
Thiên kinh vật hậu tân         Hãi hùng thấy vật thấy người đổi thay
Vân hà xuất hải thự             Ráng mây ngoài bể tháng ngày
Mai liễu độ giang xuân       Bến xuân cành liễu chùm mai đậm đà
Thục khí thôi hoàng điểu    Chim vàng đưa đón khí hòa
Tình quang chuyển lục tần  Rau tần phe phẩy cạnh bờ giữa trưa
Hốt văn ca cổ điệu               Chợt nghe tiếng hát điệu xưa
Qui tứ dục triêm tân.           Muốn về, giọt lệ nhặt thưa thấm bào.
(Đỗ Thẩm Ngôn)                      (Trần Trọng Kim dịch)

3. Thất Ngôn Tứ Tuyệt:

ĐỘ TƯƠNG GIANG QUA SÔNG TƯƠNG

Trì nhật viên lâm bi tích du          Trong rừng tiếc cuộc ngao du
Kim xuân hoa điểu tác biên sầu    Hoa xuân chim núi gợi sầu biên quan
Độc lân cố quốc nhân nam thoán Thương người lánh xuống miền nam
Bất tự Tương giang thủy bắc lưu  Chẳng trôi lên bắc, giống làn sóng Tương.
(Đỗ Thẩm Ngôn)                          (Trần Trọng San dịch)

MANG SƠN MANG SƠN

Bắc mang sơn hạ liệt phần doanh         Mang sơn phầm mộ ngổn ngang
Vạn cổ thiên thu đối Lạc                      Thành Ngàn thu muôm thuở trông ngang Lạc Thành
Thành trung nhật tịch ca chung khởi   Trong thành tiếng hát dập dình
Sơn thượng duy văn tùng bách thanh. Trên non nghe tiếng những cành thông reo.
(Thẩm Thuyên Kỳ)                              (Trần Trọng Kim dịch)

4. Thất Ngôn Bát Cú:

LONG TRÌ AO RỒNG

Long trì dược long dĩ long phi             Rồng nổi ao rồng bay vút đi
Long đức tiên thiên thiên bất vi           Trước Trời, Trời chẳng trái sai chi
Trì khai Thiên Hán phân hoàng đạo     Ao phơi Thiên Hán chia hoàng đạo
Long hướng thiên môn nhập tử vi       Rồng nhắm cổng trời vào tử vi
Để đệ lâu đài đa khí sắc                       Lớp lớp lâu đài nhiều khí sắc
Quân vương phù nhạn hữu quang huy Hàng hàng phù nhạn rực quang huy
Vị báo hoàng trung bách xuyên thủy   Trăm sông xin hãy chầu sang đó
Lai triều thử địa mạc đông quy.           Chớ nhắm phuơng đông chảy lộn về.
(Thẩm Thuyên Kỳ)                               (Trần Trọng San dịch)

DAO ĐỒNG ĐỖ VIÊN NGOẠI THẨM NGÔN QUÁ LĨNH

(Cùng đi chơi với Viên ngoại Đỗ Thẩm Ngôn qua đỉnh núi)

Thiên trường địa phát lĩnh đầu phân    Trời dài đất rộng núi phân hai
Khứ quốc ly gia kiến bạch vân             Lìa nước xa nhà mây trắng bay
Lạc Phố phong quang, hà sở tự?          Lạc Phố phong quang, không tả nổi
Sùng Sơn chướng lệ, bất kham văn     Sùng Sơn chướng lệ, khó trình bày
Nam phù Trướng Hải nhân hà xứ?       Nam theo Trướng Hải người đâu vắng
Bắc vọng Hành Dương nhạn kỹ quần  Bắc ngắm Hành Dương nhạn dẫy đầy
Lưỡng địa giang sơn dư vạn lý            Sông núi đôi nơi hơn vạn lý
Hà thời trùng yết thánh minh quân?    Bao giờ gặp lại thánh quân đây?
(Thẩm Thuyên Kỳ)                             (Phan Thượng Hải dịch)

Những bài Thơ Đường Luật đầu tiên đơn giản chỉ có Luật (Rules) cho Thơ Ngũ Ngôn Luật và Thơ Thất Ngôn Luật (Tứ Tuyệt và Bát Cú) về Vận, Niêm, Thanh điệu (Bằng Trắc) và Đối.

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền
Bài viết nầy đăng lần đầu trong phanthuonghai.com mục “Thơ Văn” phần “Đọc Thơ (Cổ Văn)”.
Tài liệu tham khảo:
Văn Học Sử Trung Quốc (Chương Bồi Hoàn và Lạc Ngọc Minh)
Thơ Đường (Trần Trọng San)
Đường Thi (Trần Trọng Kim)

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét