Thứ Ba, 21 tháng 1, 2025

Đầu Năm Tản Mạn Về Rắn


Thời thơ ấu KimPhú cũng có chút kỷ niệm liên quan về rắn & trăn cùng thức ăn khoái khẩu của loài bò sát nầy, nên KimPhú xin phép kể hầu quý vị mua vui giây lát...
- Nói về Rắn, ắt hẳn trong chúng ta ai cũng từng có lần gặp tận mặt, có khi còn được nếm thử mùi vị của loài bò sát mà hình dạng cùng lớp da hoặc đen bóng hoặc vằn vện hay xanh lè...dù là loài lành như trăn, rắn liu điu, rắn hổ hành, rắn nước không có nọc độc…v/v…, hay các loại rắn nước có nọc độc, rắn lục, rắn biển, anh em cạp nong cạp nia, chàm quạp, hổ mang, hổ đất…cứ có dịp thấy chúng lủi vô bụi rậm hoặc bò chữ chi trên bãi đất nà dưới bến sông…cũng đủ kinh khiếp. Chưa kể khi còn rất bé, KimPhú được người lớn kể cho nghe những chuyện thần bí về rắn…Không biết có phải để răn đe tánh “ngựa non háu đá” của trẻ con ở tuổi lở cở em bé và con nít, chưa biết sợ là gì…, bởi có biết gì đâu mà sợ! 

Nên mỗi dịp hè được về quê, khi chạy rông cả ngày trong mẫu vườn bưởi của Ngoại, nhất là vui thích chơi trò trốn tìm…Dì và chị họ KimPhú luôn căn dặn…”…tay không được rời khúc chà…” đã được tuốt bớt lá, dùng để đập vô các lùm đậu ma bông tím, cỏ may, cỏ trâu, cỏ chỉ mọc um tùm sát ranh rào cạnh mấy bụi tre gai tre mở đầy lá khô mục được ủ vun gốc dưỡng măng, để “đả thảo kinh xà”…cho rắn lủi trốn trước khi chui vào núp…” - Dì còn nhắc anh chị họ KimPhú, phải cẩn thận dòm chừng đừng để em bị rắn cắn, nên mỗi dịp hè khi về quê…KimPhú chưa bị rắn hổ ngựa rượt…mà hay bị mấy con ngỗng vừa the thé kêu oang oác vừa đập cánh rượt chạy thất kinh…vì những lần vô tình chọi nhau bằng mấy trái cau non rụng trúng lũ nó…May mà có con vàng con mực giải vây, không thôi chạy trối chết với chúng…

- Tuy được dặn dò cẩn thận, nhưng có bao giờ K.Phú chịu quất đen đét vô lùm bụi đâu…Vì đã trốn, mà còn gây tiếng động ồn ào…sao trốn cho được? - Tuy vậy, may mắn là Dì Dượng KimPhú thuộc hàng “con nhà vườn” chính cống lại rất siêng, nên cả ngày hết đi rảo xắn măng, nhổ rau đền, cắt bồ ngót, thì hái nấm rơm nấm mèo, hoặc bẻ bắp, tỉa đậu, ngắt bông bí, bắt sâu, vun gốc, rào lại vạt rau thơm, xà lách vừa bị anh mực anh vàng gầm gừ chạy quanh xua đuổi bầy gà chực vô phá phách làm liêu xiêu mảng lưới nylon rào chắn…cũng đủ chộn rộn từ sáng đến chiều ngoài sân trước vườn sau, chắc cũng làm rắn e dè hầu như ít khi dám đào hang trú ngụ trong vườn dù rộng mênh mông như lũ chuột lì lợm ranh ma…Bà Ngoại K.Phú còn trồng mấy chục bụi sả cách nhau vài bước chân quanh nhà vừa để nấu ăn, nhổ cho bà con xóm giềng đến xin cùng các thứ lá ổi, bưởi, chanh cùng ngải cứu, tần dày lá về nấu nồi nước sông khi cảm mạo…mà chủ yếu chính là ngăn ngừa rắn quanh quẩn gần nhà…Hèn gì ngay cửa trước, cửa sau, cửa hông…chổ nào cũng có vài bụi sả sum suê…Nơi được trồng sả dày nhất là cửa chuồng heo, chuồng gà vịt…Vậy mà thỉnh thoảng giữa khua, chị Hai nghe tiếng gà đập cánh loạn xạ, đã vội vàng trỗi dậy, tay cầm cái đèn dầu nhỏ, tay cầm khúc cây khá dài để đập con chồn nào bén mảng vô chuồng trộm gà…nhưng thỉnh thoảng cũng có con gà mái dầu bị cắn cổ, chưa kịp tha đi…Nhà hôm đó, ngoài thức ăn thường ngày lại có thêm nồi cháu gà thơm phức. Đôi lúc cũng có con chồn hương bị hạ gục, lột da kho cà ri sả…eo ui, K.Phú là dân ở chợ còn lạ lẫm chưa dám thử món nầy.

- Chuồng gà nằm sát cây bưởi ổi lão, K.Phú nghe Mẹ nói khi Mẹ còn trẻ , Ông Ngoại xin được nhánh bưởi giâm cành sẳn của trang viên của Ông Bác Tư bên Cù Lao Phố…Nghe nói vườn Ông Bác Tư xưa trồng toàn bưởi thanh, bưởi đường da láng ruột hồng đượm nước vừa chua thanh mà hậu ngọt, ăn mê mẩn hơn bưởi thanh…nhưng không biết ở đâu lại có vài cây bưởi ổi trái trĩu nhánh, tuy don don bằng trái bưởi thanh cở nhỏ, nhưng núm cao mà khi cắt vô để cả tháng cho se da, thì vỏ mỏng tang ngọt hết biết…Bởi vậy cây bưởi ổi lão cạnh chồng gà có tuổi thọ già nhất so với cả chục cây bưởi ổi trong vườn. Khi Mẹ sanh K.Phú, được Ngoại chôn nhau ngay dưới gốc…Nên vườn quê Ngoại ở làng Bình Sơn Biên Hòa chính là nơi chôn nhau cắt rốn của KimPhú. Tiếc là năm 198 mấy, một trận dông rất lớn làm trốc gốc, tàn ngã nằm dọc dài theo suốt mái chái sau hè nhà bếp, nghe Dì K.Phú nói trái cũng có mấy trăm, lủng lẳng tòn ten trên cây, ăn cầu vài ba tháng, vì trái nhỏ như chén cơm, bạn hàng chê bưởi lảo nhỏ trái, nhiều hột không mua, nên dịp K.Phú về, cứ trưa trưa ra lặt năm ba trái, chịu khó gọt vỏ ăn tới đã cơn thèm của dân Sài Gòn, chớ mấy anh chị con của Dì thì chê vì uổng công lột…(ở nhà Ngoại, ai cũng lột vỏ bưởi bằng tay, sau khi khía mấy đường dọc quanh trái, K.Phú tay yếu xìu, không làm được, phải dùng dao)

- Đường xuống mé sông phía bên trái vườn Ngoại, còn có ngôi Miễu Bà, giờ đã được trồng cây phượng đỏ gốc khá to tàn phủ mát khu Miễu thay thế cây da cổ thụ um tùm ngày xưa, Ông Ngoại KimPhú từng kể chuyện linh hiển về ngôi Miễu Đức Bà Ngũ Hành.
- Ngôi Miễu thờ Ngũ Vị Đức Bà, mà Đức Bà Chúa Sứ Đệ Nhứt cũng là Bà Mẹ Sanh Mẹ Độ của K.Phú…ngày xưa, từng được sắc tứ phong, và mỗi dịp Lễ Vía Bà hằng năm, các bô lão trong Làng Bình Sơn, dẫn đầu là Ông Ngoại K.Phú, Ông Chú Mười Một, Ông Chú Mười Hai,…mặc áo dài khăn đống, trịnh trọng lên Chùa "Con Nai” ở khúc cua đườngLàng, rước kiệu có tán lộng che, thỉnh bài vị của Ngũ Vị Đức Bà về Miễu Thờ để hành lễ tế bái…
Dân làng tề tựu rất đông trong vườn Ngoại, học trò lễ mặc áo dài lụa xanh, từng cặp bái lạy lên gối xuống gối nghiêm trang…Chắc chắn mọi người tôn kính Miễu Bà trong vườn Ngoại KimPhú, vì hẳn là họ đã từng nghe truyền khẩu từ đời Ông, Cha…như Mẹ và dì K.Phú hay kể:…"...Xưa kia trước đôi ba ngày Lễ Vía Bà…bên kia sông nửa đêm, có cặp Rắn Thần trắng mào đỏ to bằng bắp chân người lớn, dài cầu hơn 2 thước…Các cụ căn cứ vào đêm khuya vắng vẻ chợt nghe tiếng quẫy nước dưới bến sông rõ mồn một to gấp mấy lần tiếng giầm chèo đôi của ghe lường…rồi sau đó im re…Đêm tối trước buổi Lễ Vía…các bô lão còn nghe tiếng quẫy nước như vậy cả mấy phút rồi cũng im re…Các cụ cho là cặp Rắn Thần sau khi vô Miễu phủ phục vọng bái Đức Bà suốt 1 đêm trước, qua đêm sau đã quay trở về hang động, nên sáng sớm, các cụ có bổn phận quét tước trong ngoài Miễu mới dám ghé dọn dẹp, cũng đã hoảng hồn bởi đám cỏ trâu từ đất nà lên tới Miễu, bị ngã rạp sát đất rành rành theo đường Rắn di chuyển…

Ba Mẹ K.Phú cũng có nhắc lại chuyện cặp Rắn Thần trắng bạch có mào đỏ…dù Ba Mẹ K.Phú chưa từng thấy, chỉ là nghe kể lại từ người lớn…nhưng cũng rất kính ngưỡng ngôi Miễu Bà, nên lần nào về thăm quê, Ba Mẹ K.Phú cũng đều xuống viếng Miễu, dọn cỏ lau chùi, và chưng bông trái cây cùng nhang đèn rượu trắng thắp hương cung kính.
- Có một việc, KimPhú chỉ là lớp hậu bối, nhưng K.Phú biết ông Ngoại K.Phú là người theo Tây học, ông Ngoại là chuyên viên về mủ cao su cho đồn điền Long Thành và rất được trọng vọng, nên ông Ngoại không thể nào là người mê tín dị đoan…
- Ông Ngoại kể cho Mẹ, và chính Mẹ kể lại cho K.Phú về sự thiêng liêng của Ngôi Miễu Đệ Ngũ Đức Bà trong vườn Ngoại…- "Khi còn ở tuổi tráng niên…ông Ngoại từng kêu trai tráng trong làng vô phát quang dọn cho sạch khu Miễu, để quang đảng hơn và cũng tránh rắn làm hang…Cây da sum suê gốc to hơn 2 vòng tay người lớn…rễ rũ xuống che khuất ánh mặt trời càng làm âm u và thiếu ánh sáng…nhưng mấy người dân làng không ai dám trèo thang lên mé nhánh, dù họ cũng cần tiền, vi ông Ngoại trả công hậu hỷ…Họ rất sợ nên đứng im re cả buổi…
- Ông Ngoại xuống xem công việc tới đâu, thấy không ai làm gì, mà họ cũng ngại miệng không dám lên nhà trên thưa lời từ khước với ông Ngoại, cuối cùng, ông Ngoại gặn mãi, họ lí nhí…"Thưa ông Cả, tụi tui sợ quá chừng, không dám leo mé nhánh cây da của Bà…"
- Ông Ngoại dỗ hoài không được, bực mình biểu:…
"Bây đưa rìu cho tao, tao mé 1 nhánh trước, rồi sau đó…tụi bây làm…Dọn cho quang đảng nơi Bà ngự, không lẻ Bà quở sao, Bà còn cám ơn tao nữa mới phải chớ…Như vầy, tụi bây cứ mé đi, tội lệ gì Bà quở, tao gánh hết…”
- Sau đó, Miễu được sáng sủa bớt um tùm…Và ông Ngoại K.Phú thì vẫn bình yên…Cho đến nửa năm sau, ông Chú Mười Hai của KimPhú rủ ông Ngoại sang Miên một chuyến, vì ông Chú có một mối kinh doanh khá lớn, nhưng ông Chú lại không giỏi tiếng Pháp, mà cũng không rành tiếng Miên…Trước khi nhận làm ăn, ông Chú có nghe dân buôn bán quen ở quanh khu Cao Thắng ở Sàigòn, đường Hai Mươi xưa đồn…Bên Campodia có một bà đồng cốt người Miên bản địa, rất giỏi, chuộc bùa chú giúp chuyện làm ăn suông sẻ…nên đông khách lắm…- Ông Chú cũng vừa tò mò, vừa muốn yên tâm, nên dẫn ông Ngoại đến, định hỏi thăm chuyện thành bại ra sao …
- Khi ông Chú Mười Hai cùng ông Ngoạ K.Phú đến, thì đã thấy rất đông người quỳ thành kính chờ đến phiên…- Ông Ngoại không quỳ, vì ông Ngoại không tin, và cũng không định hỏi han gì… - Bất chợt, bà cốt Đồng vừa lớn tiếng, vừa chỉ tay về phía ông Ngoại…thốt the thé một tràng Tiếng Việt…: “Thằng nam kia, ngươi mà không có Quan Thánh độ mạng, ta đã bẽ gãy cổ ngươi lâu rồi…Ai khiển ngươi phát quang chốn ta ngự, còn hỗn hào nói ta phải biết ơn ngươi…” - Mọi người ngơ ngác - Ông Chú tái mét, run lẩy bẩy, mọp sát đất…Ông Ngoại K.Phú tư nhiên cũng cũng điếng hồn, 2 đầu gối tự động khụyu xuống, mà xá Bà cốt Đồng như tế sao…Những người Miên bổn xứ không hiểu ất giáp gì…Cả ông Ngoại và ông Chú Mười Hai cũng không hiểu tại sao luôn…Bởi bà Cốt Đồng nầy là người Miên chánh tông, không hề biết tiếng Việt Nam…nên có một người phụ việc cũng là người Miên lai Việt, rành rẽ tiếng Việt làm thông ngôn cho khách VN, nhưng ông ta hoàn toàn xa lạ, cũng không cần nói gì…vì bà Đồng nói rất rõ mà…- Vả lại, chuyện trong vườn nhà ông Ngoại, ông Ngoại cũng đâu có kể cho Ông Chú nghe…Sao Bà Cốt Đồng nầy lại biết ???

- Từ đó về sau, ông Ngoại K.Phú luôn giữ Lễ kính cẩn với Miễu Đức Bà. Thuở đó Mẹ K.Phú còn bé xíu…(Mẹ K.Phú là con gái út rượu thứ Tám của ông Cả Mười Bình Sơn trên làng)
- Đến thời Mẹ K.Phú…sau 1975…em trai áp út của K.Phú đến tuổi thanh niên, Ba K.Phú sợ bị bắt đi bộ đội, mới tom góp của nả cho em vượt biên…Lần đầu, tốn một mớ…không lọt. Lần thứ 2…cũng không lọt…Đã vậy, khi tàu còn chạy êm ru lúc còn lù mù chưa tỏ mặt người ở khúc sông quạnh vắng, gần ra tới cửa biển Rạch Giá, đoạn thưa thớt dân cư, thì đã bị tàu công an đi tuần tra bắt gặp, cặp sát theo mạn tàu…Phụ nữ trẻ em nằm im thinh thít lo lắng sợ tới tái mét…thanh niên đàn ông thì chộn rộn tán loạn, lúc công an chặn được tàu nhưng chưa kịp leo qua được tàu, có vài người đã nhảy ùm xuống sông, bơi trốn…Em Chín K.Phú cũng nhảy theo quán tính…Có tiếng súng bắn chỉ thiên, rồi bắn thiệt xuống nước…có tiếng thét…có vệt máu loang dần dưới nước…làm số người còn lại trên tàu run sợ không dám nhảy nữa…Người em rể KimPhú cũng đã nhảy trước em trai…
- Một tuần lễ sau, em rể trốn được về nhà…em trai biệt tích…- Trong mấy ngày ẩn nấp dò la tin tức ở quanh bến tàu, thì không thấy tin có xác em trai nổi lên, hay trôi quanh khúc sông gần cửa biển…Em rể đành phải về báo cho Ba Mẹ K.Phú rõ mọi việc…- Ba thất thần, mẹ cứ âu sầu chảy nước mắt, miệng niệm Phật, tay lần chuỗi…vì dòng họ bên Nội K.Phú giờ chỉ còn có đứa em trai con cầu con khẩn nầy là người thừa tự duy nhất bên Nội...
- Một tuần - Hai tuần rồi ba tuần…
- Mẹ chịu không nổi, kêu Ba chở Mẹ lên Bình Sơn để cầu khẩn Ngũ Vị Đức Bà…Mẹ vừa vô nhà chào Dì Dượng xong, là vội te te đi xuống Miễu…
- Đêm đó…Mẹ ở lại, trằn trọc, rồi cứ khóc đến thiếp…Sáng ra, Mẹ hơi yên lòng, bớt lo lắng khổ sở, kéo Ba vô góc buồng…nói nho nhỏ…
- "Khuya qua, Bà về…trong giấc mơ mơ màng màng, nghe Bà phán rõ từng tiếng, biểu em đừng lo lắng, thằng nam nầy mạng lớn. Đúng mươi ngày nữa, có tin…- Bà nói xong, em giựt mình thức dậy, mới biết nằm chiêm bao…nhìn trời còn tối om om…”
- Ba Mẹ KimPhú thấp thỏm đếm từng ngày…

- Quả đúng ngày thứ 10, có tiếng gõ nhẹ cửa cổng nhà lúc chạng vạng, Út Nguyệt ra chưa kịp mở đã chạy vô kêu nho nhỏ…- "Mấy chị ơi ra đây"...mọi người không ai nhìn ra cho tới lúc nghe rõ đúng giọng em Chín…- Thằng con trai cao ráo, trắng trẻo, bảnh bao nhứt nhà của Ba Mẹ K.Phú…giờ râu tua tủa, mặt mày hốc hác đen nhẻm…gầy guộc bạt nhạt bầy hầy…quần áo te tua dơ bẩn như người đi ăn xin…Mẹ K.Phú ôm em khóc ngất…- Mấy ngày sau, khi em khỏe lại, Mẹ đưa em lên nhà Ngoại, hầu tạ Lễ Miễu Đức Bà Ngũ Hành…
- Sao đó nghe em kể, lúc phóng xuống, em gần như ngộp nước…tự dưng như có một lực nương em nghiêng nghiêng lôi đi…em cảm giác có mùi tanh của nước biển lờ lợ mặn lẫn mùi máu…May mà còn ở trong sông, chớ ngoài biển, chắc đàn cá mập đã kéo đến rồi…
- Khi em tỉnh dậy, ba bề bốn bên um tùm lau lách, em nằm im trong bụi rậm chịu trận đến chạng vạng tối mới dám bò lên bờ…Không biết đã trôi bao nhiêu lâu, lên bờ phương hướng đâu là đâu…đói thì hái lá cải trời, lá bình bát nhai nuốt đở, đêm liếm sương, khi mưa lấy áo che đầu, vắt nước uống…qua ngày đêm thứ ba…may gặp người dân đi rừng, họ cho 2 củ khoai lùi, một chai nhựa nước ngọt…chỉ đường cho em ra khỏi khu rừng…Lúc đó em mới biết là đã trôi giạt từ sông ngòi Rạch Giá, lên bờ đi lạc hướng sang rừng Hà Tiên…Rồi ngày lẫn trách, đào củ mài, củ hà thủ ô, có khi nhai dây nhãn lồng, rau muống mà sống qua ngày…lần ra được khu có dân, thì cũng mất gần 3 tuần lễ…may mà không gặp chó Hà Tiên hay rắn rít…Em sống lay lắt như người ăn xin, đầu tóc bù xù rối ren đầy đất cát…Nhắc lại mà thấy kinh hoàng…cho đến cả chục năm sau. em mới đủ cam đảm đi vượt biên lần thứ 3…
- Sở dĩ K.Phú dông dài, vì liên quan đến Miễu Đức Bà Ngũ Hành, liên quan đến rắn Thần, liên quan đến cõi vô hình thiêng liêng mà con người không thể nào lý giải được sự việc hiển hiện trước mắt mình…mà chỉ người trong cuộc mới hiểu.

- Trở lại đề tài Rắn…
- Năm K.Phú 9 tuổi, Ba đã được điều quân xuống Minh Lương, Thốt Nốt, Long Xuyên sau khi tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức, khoá 4/1954…- 3 tháng sau, Ba đón Mẹ và 2 em K.Phú cùng xuống…Đại đội của Ba dưới quyền Trung Úy Hỷ. Bác gái là người bẩu lẩu, dễ mến, thấy Mẹ KimPhú vốn là cô Giáo, hiền lành nhỏ nhẹ nên cũng quí mến…Bác có món ngon gì, hay mang qua cho Mẹ…K.Phú còn nhớ gào mên cháo rắn hổ hành, một người lính Miên trong Đại đội bắt được khá to, làm sạch sẽ, mang biếu…Bác nấu cháo cho cả nhà ăn, còn tốt bụng cho Mẹ con KimPhú 1 gào mên…- Lúc đó còn nhỏ quá nên K.Phú không nhớ được mùi vị gì, ra sao…mang máng thấy ngon ngọt và thơm như thịt cháo gà…Đó là lần đầu tiên, K.Phú biết ăn cháo rắn…
- Chỉ mấy tháng sau, Ba lại thuyên chuyển qua Tiểu Đoàn 13 Đầu Trâu Thốt Nốt, Long Xuyên…Nơi đây có nhiều bà con họ hàng bên Bà Nội K.Phú sống rải rác từ Kinh Vàm Xáng Long Xuyên dài qua Thốt Nốt…thôi thì được các anh họ (K.Phú gọi là anh, nhưng người nào râu tóc cũng bạc phơ…vì Ba K.Phú là vai vế lớn…- Nhìn người già, đầu búi củ tỏi trắng phau, râu dài như ông Tiên, mà chấp tay xá Ba K.Phú thưa Chú Chín…thưa Cậu Chín…K.Phú tròn xoe mắt mà miệng cứ ngoác ra cười…- Thời điểm Ba đóng quân ở Thốt Nốt, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 13 Đầu Trâu là Đại Uý Tấn, còn có vài Bác mà sau nầy lớn lên, K.Phú còn có dịp ̣ gặp lại ở Đa Kao, Bà Chiểu, Thị Nghè...

- Ở Tiểu Đoàn, Ba KimPhú được cấp chổ ở 2 phòng, gồm phòng ngủ khá rộng và gian nhà bếp, có cửa sau nhìn ra con rạch nhỏ được rào chắn kẽm gai cẩn thận còn gắn mấy cái lon đã rỉ sét, có chòi canh cao, bên kia sông lại có 2 tiểu đội người Nùng được đưa xuống yểm trợ Tiểu Đoàn vì thời điểm này thường xuyên có “giặc Năm Lửa” hay quấy rối…Sát vách phòng Truyền Tin, tối ngày sáng đêm đều nghe…”tạch tạch sè sè…tạch sè…” - Trên đầu giường K.Phú và đứa em gái kế, sát cửa ra vào, liền với phòng Truyền Tin có 1 tủ sắt lớn chứa vũ khí của Tiểu Đoàn, do Ba K.Phú giữ chìa khoá đeo lủng lẳng trên sợi dây nịch da to bản cùng vỏ bao da đựng khẩu súng lục, mà mỗi tối trước khi đi ngủ Ba cẩn thận tháo 6 viên đạn ra cất riêng, còn khẩu súng đặt dưới gối của Ba, trên đầu giường của Ba Mẹ và đứa em gái 3 tuổi…(Thời điểm nầy -1955- đang có lệnh tảo trừ “giặc Hòa Hảo”) - Hai bên vách tường trước chợ nhà lồng Thốt Nốt Long xuyên dán đầy hình thủ lãnh "Năm Lửa", được phác họa bằng bích chương có họa 1 hình đầu người không rõ nét lắm, nằm trên con số 5 to tướng, chung quanh còn phác họa hình ảnh đám lửa vàng đỏ cháy phừng…

- Mẹ cùng mấy chị em K.Phú theo chân Ba sống mấy năm trời trong doanh trại, luôn kề cận thần chết là cái tủ chứa súng cùng lựu đạn mà KimPhú có biết chi đâu mà sợ…Giờ nghĩ lại mới thấy ớn ớn...
- Ngay phía sau nhà Đại Uý Tấn, là phòng của Bác Trung Uý Phong…Bác Phong nuôi 1 con trăn đốm, rất to mà rất hiền, nghe con Bác nói nhiều năm rồi…Các anh hay đi bẫy chuột, soi ếch cho nó ăn…Lúc đầu K.Phú cũng sợ lắm…dần dần quen, nên khi trời mưa, các anh hay xúm nhau khiêng con trăn ra khỏi cái cũi gỗ to, anh Hai thì đặt đầu nó lên vai, anh Ba khiêng khúc mình, chị út cũng khiêng khúc mình…K.Phú xin vác khúc đuôi…đi qua cổng trước Tiểu Đoàn, băng qua chợ Thốt Nốt, đám con nít 4 đứa tắm mưa với con trăn…- Lúc các anh cho trăn ăn, K.Phú không dám nhìn…chạy về nhà…Khi ăn xong lồng chuột, bụng nó căng tròn, to như có chửa…Các anh bảo mỗi tháng nó chỉ ăn 2 lần thôi, mà ăn no ních bụng…dần dần tiêu hóa hết, khi bụng thót lại, là lại đi bẫy chuột cống cho ăn tiếp…
- Ở Thốt Nốt, các anh bà con K.Phú cứ hằng tuần, ra thăm Chú Thiếm, quảy theo cả giỏ thịt ếch bà, thịt chuột đồng các anh tự đi soi ở ruộng nhà và đặt bẫy…Mẹ thì sợ khiếp, nên các anh đã làm sạch sẽ, ướp gia vị xong, mới mang ra cho Chú Thiếm…Mẹ chỉ cần rô ti…nấu cháo là có đủ món ngon dặm thêm cho các con...
- K.Phú vẫn không quên... các anh nhớ Chú Thiếm, Cậu Mợ…lại quãy 1 giỏ đan bằng cật tre ra biếu…Có lần…Mẹ mở nắp giỏ…1 bầy lương bụng vàng ươm ngoe ngoẩy…
- Các anh tế nhị, tự tay lấy tro bếp, vuốt cho hết nhớt, cạo rữa sạch sẽ…rồi mời Ba Mẹ dùng cơm…trên bếp, trong cái nồi chình ình lươn nguyên con được khoanh tròn kín mít…KimPhú nhìn phát ớn không dám ăn…Mấy hôm sau, Mẹ lại làm món lươn xào lăn với nước dừa, bún tàu, nấm mèo, kim châm, đậu phông thơm lừng, vậy mà K.Phú cũng trệu trạo nuốt…không muốn vô…do ám ảnh nồi lươn um 2 bữa trước...
- Ba K.Phú đóng quân ở Thốt Nốt được hơn năm, lại di chuyển cả đoàn xe công voa cùng lính tráng súng ống về Rạch Giá…ở tạm dải lầu Trường Phong hơn tháng, Tiểu Khu Trưởng thu xếp cùng Bác sĩ Định, ông nhường phần lầu trống cùng phía sau căn bếp cho Ba Mẹ K.Phú, còn phòng mạch của ông là phòng khách tầng trệt căn lầu, thông qua hông nhà có cổng sắt cao cùng 1 phòng rộng lớn hình oval, cho khách khám bệnh ngồi chờ…(đối diện căn biệt thự trệt trong khuôn viên của ông) mà phần trên nóc phòng chờ chính là sân lộ thiên của Ba K.Phú, dành để các cô chú đến tụ họp tập văn nghệ cho Tiểu khu Rạch Giá, vì Ba K.Phú vẫn là Trưởng Phòng Ban cũng như khi còn ở Thốt Nốt. Nhà K.Phú lúc nầy có cái ban công với lan can hoa văn bằng sắt cong cong, chiều tối, chị em K.Phú hay ra đứng hóng gió sông, ngắm bên kia sông là Dinh Tỉnh Trưởng Rạch Giá…Con sông Kiên nhỏ nầy liền sát với cửa biển, nên tàu đánh cá ra vô thật tiện lợi. Đoạn sông không biết chảy tới đâu, K.Phú chỉ biết nó là bến đậu của các con tàu đánh cá, mà từ sáng đến chiều, đều có người mua bán thủy hải sản để đưa đi các chợ nhỏ khắp nơi…, lại có chợ cá lớn của khu chợ Rạch Giá, thuộc phường Vĩnh Thanh Vân ngày xưa.

- Ở Rạch Giá, vì nhà K.Phú sát bờ sông, ngay bến tàu cá mỗi ngày cân cá cho bạn hàng xong, đều chừa các loại cá và khô ngon biếu cậu Chín, bác Chín…Các em và cháu họ của Ba là chủ 2 tàu đánh cá, nên hầu như chưa bao giờ Mẹ phải đi chợ mua tôm cua sò ốc cá…mà lại được ăn toàn loại khô “cây nhà lá vườn” do các Dượng (vai em của Ba K.Phú) đánh lưới về…Cá gộc không bán, chỉ xẻ khô phơi liền trên tàu, vì tàu ra khơi có khi cả tháng mới về bến…- K.Phú đi học về, nghe mùi khô gộc nướng thơm phức là bắt đói bụng…Nhiều năm sau, khi K.Phú lớn, có gia đình…các người con rể của Cô Ba Cô Tư cũng tiếp tục làm nghề đánh cá, tàu chạy thẳng lên Chánh Hưng…Và sau khi cân bán xong, các dượng em rể họ K.Phú, cùng Chú Hai Diệp vẫn cắp nắp mấy cặp khô cá gộc biếu anh Chín, bác Chín…- Mẹ KimPhú hiền lành, biết bà biết con, nên rất được lòng họ hàng bên chồng thương mến…
- - KimPhú quên nhắc chuyện…khi Dượng Ba Dượng Tư trọng tuổi, không theo nghề biển, giao tàu cho các con rể và bạn chài lưới…các Dượng rảnh rang, lại làm nghề mua trăn lớn về, lột da, căng nọc phơi cho khô…để bán cho tiệm làm da may bóp…Lúc nầy, thỉnh thoảng KimPhú lại được ăn trứng trăn…Mẹ luộc xong, nó tròn tròn, to hơn quả trứng gà, chỉ có một màu hơi vàng vàng, ăn mau ngán vì không ngon, ít béo như trứng gà… Vào cuối tuần Mẹ K.Phú còn hay nướng sò huyết Kiên Lương cho Ba ăn với muối tiêu chanh, còn Mẹ và K.Phú thì mê món ốc móng tay chấm nước mắm chanh tỏi ớt...tất cả đều do họ hàng biếu Cậu Mợ nên được ăn đã đời, giờ nhắc đến mà còn nghe thèm hết biết…

- Nói về rắn, cũng có loài rất hiền, sống dưới nước, gọi là rắn nước…K.Phú từng ngồi chồm hổm trên giường nơi ở tạm khi làm việc cho Bộ Xã Hội, đi xuống Châu Đốc phát chẩn lương thực cho bà con bị lũ lụt…Chiếc ghe lường lớn, chứa đầy những bao gạo, thùng mì gói…chạy trên sông gần 2 tiếng, mới vô đến Tân Châu, Hồng Ngự…Khi chưa phát xong chiều nghỉ lại tại nhà các trưởng ấp…- Đêm lạ nhà, đã vừa sợ vừa trằn trọc khó ngủ…Thỉnh thoảng, nghe tiếng chũm…một con cá phóng lên rồi buông mình xuống nước…Đôi lúc, dưới ánh đèn măng sông…chợt thấy vài ba con rắn nước nâu nâu đen đen lượn lờ…phải bụm miệng cho đừng hét toáng lên…dù đã được cho biết là rắn nước ở sông trôi vô khi lũ lụt, nước tràn ngập đường cả năm bảy tấc rất hiền, không có nọc độc cũng không táp người…Nhưng làm sao mà khỏi sợ?
- Đó là chuyện tản mạn về rắn của KimPhú thời xa xưa. - Giờ xin mời quí vị nghe KimPhú kể lể về mốt số loài rắn, từng được Cụ Lê Quý Đôn "thấy mặt đặt trên" trong bài thơ của Cụ:
Cụ Lê Quý Đôn
Và bài thơ RẮN bất hủ

Rắn Đầu Biếng Học

Chẳng phải liu điu cũng giống nhà!
Rắn đầu biếng học lẽ không tha
Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ,
Nay thét mai gầm rát cổ cha.
Ráo mép chỉ quen tuồng lếu láo,
Lằn lưng cam chịu vết roi da.
Từ nay Trâu Lỗ xin siêng học,
Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia.
(Lê Quý Đôn)
***
Nọc Độc

Nọc độc bầy đàn chúa hổ mang
Lục sừng rắn quỷ đáng kinh hoàng
Mai gầm ẩn dáng trong lùm bụi
Hổ đất che mình giữa thảo trang
Chàm quạp gieo tai miền đất cát
Cạp nia giáng họa chốn thôn làng
Kịp thời cứu chữa thì không chết
Chẳng sợ bằng người dạ sói lang
(ThanhSong KimPhú
CA.Xuân Ất Tỵ 2025)

Bây giờ KimPhú xin kể hầu quí vị một số điều về rắn, bắt đầu từ bài thơ bất hủ của Cụ Lê Quý Đôn…Cụ dùng chữ kiểu các ngài thâm nho xưa dùng để chơi đố nhau, nói nôm na là chơi chữ…Nhưng Cụ chơi chữ tài tình quá, nên xưa nay chưa có bài họa nào có thể xứng tầm với Cụ…Kiểu như có giai thoại nữ sĩ Đoàn Thị Điểm ra câu đối:
- Da trắng vỗ bì bạch
Chữ bì bạch vừa tượng hình (danh từ + tỉnh từ = da trắng), vừa tượng thanh (động từ: phát ra tiếng kêu khi vỗ= bì bạch).
- Thơ của cụ Lê Quý Đôn dùng chữ mới khéo làm sao…Chẳng những trên dưới chỉnh đối, mà còn đối cả trong câu…Lại còn dùng tên riêng các loài rắn, lại ẩn nghĩa...
Thẹn/hổ - đèn/lửa
Nay/mai - thét/gầm

- Hay đến vậy, làm sao còn có chữ để mà đối, họa cho được ! K.Phú cũng có đọc một tác giả nào đó giảng giải rằng:
- Trâu là rắn hổ Trâu - Tạm cho là vậy đi, còn Lỗ là rắn gì? - Giải như vậy e gượng ép quá, vì nếu là rắn hổ trâu, sao lại không viết thường như các rắn khác, mà lại viết hoa? - Có thể Cụ dùng ẩn dụ 2 nghiã trong chữ Trâu nầy chăng, vì quả tình có rắn hổ ngựa và rắn hổ trâu thật, nhưng không hề có rắn lỗ.
- Còn có một vị khác, giảng đúng ý nghĩa Trâu, Lỗ là địa danh nơi ra đời của Thầy Mạnh Tử và Đức Khổng Tử…nhưng vị nầy lại giảng sai ý, cho rằng Cụ Lê Quý Đôn hỗn hào với bề trên…- Điều nầy khó chấp nhận, vì Cụ Lê Quí Đôn tuy rắn mắc, nhưng lại là người hiếu học và là con nhà Nho giáo nề nếp chớ không phải tuồng bê tha, bằng chứng là cho dù sau nầy đỗ đạt thành danh, nhưng tay Cụ hầu như vẫn không rời quyển sách. Hơn nữa, trong câu 7, Cụ dùng chữ xin lễ phép, thì đâu thể gán cho Cụ cái tội là xách mé với bề trên!
- Và bây giờ, KimPhú xin nhắc sơ đến “tiểu sử” các loài rắn, theo thứ tự trong bài thơ: "Rắn Đầu Biếng Học” của Cụ, cùng một số các loại rắn khác, cùng những sưu tầm rất thú vị mà xưa nay không ít người có những định kiến sai lầm về vài loại…
- KimPhú tìm hiểu các hình ảnh và thông tin trên Internet từ nhiều nguồn khác nhau, để viết thành một bài riêng cho mình, có tính cách đọc giải trí, không phải một bài biên khảo có tính cách khoa học, bởi trong các bài K.Phú đọc, cũng thấy có vài ý kiến sai biệt, nên K.Phú chọn những ý kiến theo số đông…
K.Phú cũng xin đa tạ tất cả tác giả các bài viết K.Phú tình cờ thấy trên Internet, để K.Phú dùng làm tài liệu cho bài viết nầy. Kính mong quí vị nhàn lãm. Xin bao dung nếu có chi sơ sót trong bài viết, K.Phú biết ơn vô cùng.

Trân trọng.
KimPhú Nguyễn

Rắn Liu Điu

- Rắn Liu Điu: Còn có tên gọi là liu điu chỉ là loài rắn có 4 chân, thực chất là 1 loài thằn lằn cỏ ở Châu Á, tên khoa học là Takydromus sexlineatus, thuộc họ thằn lằn thực Lacertida, đặc biệt chúng có đuôi nhỏ và dài gấp nhiều lần so với cơ thể chúng, sở hữu cái đuôi dài quá khổ đến đặc biệt như vậy khiến chúng dễ dàng nhận ra đồng loại. Chúng có đặc tính hoạt động vào ban ngày nơi các khu vực có nhiều cỏ lá cây cối khiến chúng dễ ẩn thân tránh kẻ thù mà lại săn bắt mồi thuận lợi hơn.
- Chúng được tìm thấy nhiều ở khu vực phiá Nam và phía Đông châu Á như Nam Trung hoa, Ấn Độ, Lào, Thái Lan, Myanma, Việt Nam, Mã Lai, Indonesia. Chúng cũng còn được tìm thấy ở một số khu vực thuộc châu Âu và châu Phi do khả năng dễ thích nghi của chủng loại nầy. - Đặc biệt ở Việt Nam, rắn liu điu hầu như xuất hiện trên toàn quốc từ Nam chí Bắc ở các địa phương như Đồng Nai, Gia Lai, Kontum, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bắc Ninh, Bình Hòa ...
- Da bụng của rắn liu điu có màu trắng, trên lưng có da màu kem hoặc xanh lá, có những đường sọc nâu chạy dọc thân làm chúng trở nên đặc biệt trong thế giới của loài rắn. Đuôi của chúng cũng có khả năng tự đứt và mọc lại như nhiều loại thằn lằn khác. Ngược lại, chân rắn liu điu không thể bám dính lên các bề mặt như nhiều loại thằn lằn, nhưng chúng cũng có khả năng phóng nhảy chính xác để bắt mồi.
- Liu điu sinh sản khoảng 10 trứng/lần và quanh năm trong điều kiện thích nghi, sau gần 1 tháng, trứng tự nở thành con, tự sinh tồn không cần cha mẹ chăm chút.
- Liu điu rất nhút nhát, hoàn toàn không có nọc độc, cũng không tấn công con người. Thức ăn của chúng chủ yếu là các loại côn trùng nhỏ như kiến, nhện, sâu, bướm, mối, ve sầu, ruồi muỗi, dế, ấu trùng…đôi khi một vài loại thằn lằn nhỏ khác. Các loại thức ăn của chúng phong phú và không hiếm hoi, nên chúng thích nghi với môi trường thiên nhiên dễ dàng.

Rắn Hổ Lửa

-Rắn Hổ Lửa: có màu sắc sặc sỡ, tên khoa học là Rhabdophis sunminiatus, thuộc họ rắn nước Colubridae, bộ Squamata. có thân màu xanh đen hoặc xám đen với phần đầu sậm màu hơn thân, với màu sắc thay đổi từ vàng nhạt đến nâu đỏ. Do màu sắc đặc biệt nên còn có tên gọi thông thường khác là rắn bảy màu, rắn cổ trĩ đỏ, rắn nữ hoàng bóng đêm (vì khi nghỉ ngơi trên cây, ánh sáng phản chiếu từ cơ thể nó tạo ra một hiệu ứng lấp lánh), rắn nước cổ đỏ, rắn cổ bẹt.
- Đoạn thân trước của nó có màu đỏ rất đặc biệt, lại khác các loài rắn độc là nọc của nó ở trong 2 chiếc răng nanh bơm nọc nằm ở góc sâu của hàm chớ không phải ở 2 răng nanh phía ngoài. Do đó khi bị cắn nhẹ, nếu nó không banh hàm mở miệng to thì không bị răng chứa nọc độc chạm vào thành vô hại, nên nó được cho là không có độc. Tuy nhiên, trường hợp đặc biệt nếu bị cắn mà trúng phải nọc độc, cũng nhanh chóng gây buồn nôn, rối loạn đông máu, có thể làm xuất huyết ở não dẫn tới suy hô hấp, cũng có thể tử vong.
- Trên thế giới chưa có đủ huyết thanh kháng lại loại nọc độc nầy, vì chỉ có 2 nước Nhật Bản và Đại Hàn có huyết thanh kháng nọc rắn hổ lửa, nhưng điều kiện sản xuất rất nhiêu khê, vì được làm ra từ thỏ, dê và chồn, chớ không phải từ ngựa như các lọai huyết thanh kháng nọc độc khác. Nên nếu lỡ bị cắn phải, cần thật bình tỉnh áp dụng phương pháp dân gian ngay là cố nặn máu. rửa thật sạch vết thương, rồi đưa đến thầy thuốc cứu chữa tiếp.

- Rắn hổ lửa đôi khi rất hiền lành, tuy nhiên chúng sẽ trở nên hung dữ và tấn công nếu cảm thấy bị đe dọa.
- Rắn hổ lửa được tìm thấy ở các nước Đông Nam Á như Việt Nam, Thái Lan, Lào, Campuchia, Myanmar và 1 số khu vực Nam Trung Hoa. Đặc tính thích nghi của chúng là môi trường ẩm ướt, gần ao hồ, suối, rừng nhiệt đới. Chúng thường ẩn náu trong thảm cỏ mục, hoặc nơi có nhiều cây cỏ để dễ dàng săn mồi và tránh kẻ thù. - Chúng ần mình ban ngày, ban đêm mới săn các mồi nhỏ như côn trùng, ếch nhại, cóc và rết.
- Thật sự, khác với nhiều loại rắn độc khác, rắn hổ lửa không tự tiết ra nọc độc, mà độc tố của nó là được tích lũy do các loại thức ăn có độc của nó từ những con cóc độc, rết độc và 1 số loại côn trùng có độc khác. Khi tiêu thụ những loại thức ăn có chất độc như vậy, cơ thể nó sẽ tích lũy và lưu giữ dần trong cơ thể nó, nên thức ăn càng độc, thì nọc độc của nó càng nguy hiểm.
Do đó, điều kiện gặp phải nọc độc của rắn hổ lửa cũng khác lạ so với các loại rắn độc khác, bởi chỉ khi chúng giận dữ, phần sau gáy chúng mới tiết ra chất độc màu trắng.

Rắn Mai Gầm

Rắn Mai Gầm: còn gọi là rắn cạp nong, rắn đen vàng, rắn ăn tàn, có tên khoa học là Bungarus fasciatus, là một họ trong loài rắn cạp nia, và nó là loại dài nhất trong chi cạp nia. Các khoang đen vàng của chúng khá đều nhau, nằm xen kẻ từ đầu đến chót đuôi. Đuôi chúng ngắn, cuối cùng đuôi tròn chớ không nhọn. Giữa sống lưng có một gờ dọc nổi hẳn lên. Đầu chúng lớn và ngắn, có 2 vệt vàng trông giống hình mũi tên, mắt tròn. Lớp vảy ở sống lưng của cạp nong có hình lục giác, lớn hơn vảy hai bên.
- Đây là loài rắn có nọc rất độc và mạnh cở rắn hổ mang, có thể giết chết cả voi. Chúng có mặt ở các vùng Ấn Độ, Trung Hoa, bán đảo Malaysia và Nam Trung Hoa, Myanmar, Campuchia, Thái Lan, Lào, Việt Nam, Hồng Kông, các đảo Java, Sumatra của Indonesia, Singapore.
- Chúng sống trong nhiều loại môi trường từ núi đất, rừng thưa, trảng cỏ, ven các khe suối, nương rẫy, gò mối, hang các động vật gặm nhấm, hốc cây, hẻm đá và chúng sống đơn lẻ, ban ngày cuộn mình trong hang, bụi cỏ, chúng rất chậm chạp, thường không đi săn mồi. Thường xuất hiện khi trời mưa hoặc ban đêm. nằm chờ cho con mồi đi qua. Chúng bơi giỏi và thường bò theo ánh lửa, điều nầy được các nhà khoa học giải thích rằng chúng nhầm lẫn các tia hồng ngoại phát ra từ đốm tàn của đốm lửa với các tia hồng ngoại phát ra từ cơ thể ấm áp của chuột đồng vốn là món ăn khoái khẩu của chúng.
-
- Mai gầm/cạp nong là loại rắn rất hung dữ, trung bình dài trên 1 mét, có con to lớn và dài cả 2 mét, nặng đến 4 kg. Con cái đẻ từ 4 đến 16 quả trứng, và chúng vừa ở bên cạnh canh vừa săn mồi, 1 tháng trứng nở, con non dài từ 30 đến 35 cm.
- Chúng thường không tấn công con người, trừ phi cảm thấy bị đe dọa. Khi bị chúng cắn, dọc đường không có thuốc chữa trị kịp thời, thì vài mươi phút sau, nọc độc truyền vô tim làm sùi bọt mép, có thể chết liền. Khi bị cắn, vết cắn không gây đau, vì vậy tỷ lệ tử vong do rắn cạp nong cắn thường là ban đêm ở nông thôn lúc chúng bò vào nhà rất cao khi nạn nhân bắt gặp chúng.

Rắn Ráo

- Rắn Ráo: Còn gọi là rắn lải, rắn chuột có tên khoa học là Ptyas korros, là một chi thuộc họ rắn nước (Colubridae), được thấy ở khu vực châu Á, và có nguồn gốc từ các vùng bán sa mạc châu Phi. Kích thước chúng khá lớn, trung bình khoảng 1,2 mét, nhưng có thể đến gần 2 mét. Đầu thuôn dài, phân biệt rõ với cổ. Đây là loại rắn hiền lành. đôi mắt tương đối lớn, cũng có nọc độc, nhưng răng nanh chứa độc nằm ở phía sau không giống như nhiều loại rắn độc khác có răng nanh nằm phía trước, nên khi cắn, nọc độc cũng hiếm tiếp cận với con người, nếu không bị táp trúng ở khẩu tay khi bắt chúng. Nọc của chúng cũng không đáng ngại bằng nọc của rắn hổ lửa, vì thức ăn của chúng không có độc tính như ếch độc, nhện độc mà rắn hổ lửa ăn. Chúng có lớp vảy nằm xếp chồng lên nhau bao phủ cơ thể, giúp bảo vệ chúng khó bị thương tích trong môi trường thiên nhiên. - Con cái thường có màu nâu sậm, trong khi con đực có nhiều màu rực rỡ từ đen đến xanh lá cây tươi. Bụng chúng thường có màu xanh nhạt, nên thường bị nhầm với loài rắn lục châu Phi.- Chúng bơi lội và leo trèo rất giỏi, và hoạt động ban ngày, sống trên cây và bụi rậm. Thức ăn là các động vật nhỏ như chim, thằn lằn và loài gặm nhấm. Chúng cũng thích nghi với cuốc sống ở các khu rừng khô và các vùng đất trống có nhiều cây cối.- Tuy nọc rắn ráo không nguy hiểm với con người vì răng nanh chứa nọc nằm bên trong giống như rắn hổ lửa cổ đỏ nhưng nếu bị cắn, vết thương cũng gây đau nhức chảy máu không cầm, và do bất cẩn sẽ có thể bị nhiễm trùng. Lằn Lưng

Rắn hổ ngựa rất dễ nhận dạng nhờ những hoa văn trên cơ thể (Ảnh: R.A).


Lằn Lưng: Còn gọi là rắn hổ ngựa, rắn rồng, rắn sọc dưa, có tên khoa học là Coelognathus radiata, là 1 loại trong họ rắn nước, thường gặp ở Ấn Độ, Bangladesh, Việt Nam.- Tuy là loại rắn không có nọc độc, nhưng rất hung dữ, khi gặp chúng là chúng chủ động phóng tới tấn công và rượt theo mổ chớ không lũi tránh như các loại rắn khác. Do đó khi gặp đối thủ, chúng dựng đứng 1/3 thân về phía trước khỏi mặt đất, di chuyển và sẳn sàng tung ra những cú mổ. Vì chúng không có nọc độc, nên cũng dễ bị người bắt hay đập chết. - Rắn hổ ngựa bắt chuột rất giỏi, nên con người không nên sát hại vô cớ, sẽ làm mất đi trợ thủ diệt chuột có hiệu quả. Thức ăn chính của chúng là chuột, chúng cũng ăn cả thằn lằn, ếch nhái, cá và chim non,Chúng sống ở đồng bằng hay vùng trung du, và hay ẩn thân nơi có nhiều cây cối bụi rậm. Chúng cũng leo trèo giỏi, nên người ta thường khi gặp chúng trên thân cây hay mái nhà.- Rắn hổ ngựa trưởng thành có thể dài đến 2 mét, sống trên cạn. Mắt rắn có 3 đường đen nhỏ, 2 đường chạy xiên xuống mép trên, 1 đường qua thái dương. Thân rắn có 4 đường màu đen. 2 đường giữa to trên sống lưng chạy dài liên tục đến đuôi, còn 2 đường nhỏ bên hông chạy đến quá nửa thân, bị đứt đoạn. - Tuy có tiếng là hung dữ, chỉ vì há miệng to, ngóc cao đầu để đe dọa kẻ thù, nhưng thực chất chúng cũng là loài nhát gan. Khi đe dọa địch thủ không thành công, rắn hổ ngựa có trò giả chết ngoạn mục. Chúng sẽ năm ngửa ra bất động im lìm. Chúng giả chết giỏi đến không có phản ứng gì khi đối thủ đụng chạm đến…Có những loài thú không ăn thịt xác chết, kể cả người, nên màn giả chết nầy cũng có lúc giúp hổ ngựa an toàn. Khi kẻ thù bỏ đi, chúng sé nhanh chóng lật người lại, phóng nhanh vô bụi cây mất dạng…

Rắn Hổ Trâu

Rắn Hổ Trâu: hay còn gọi là rắn ráo trâu, rắn hổ hèo, rắn hổ dện (vện), có địa phương còn gọi là rắn long thừa. Nhưng tên chung của chúng là hổ vện, vì mình chúng có nhiều vằn vện. - Tên khoa học chúng là Ptyas mucosa, thuộc họ rắn nước. Con trưởng thành dài từ 1,5 đến 1,8 mét. So với chiều dài đó, rắn hổ trâu có đường kính khiêm tốn chỉ từ 4 đến 6 cm, và chỉ cân nặng khoảng 1 kg. Đôi khi trong môi trường thiên nhiên tốt, phong phú thức ăn, rắn hổ trâu có thể dài trên 2, và cũng nặng hơn 2 kg.- Màu sắc của chúng thay đổi từ nâu nhạt ở vùng khô hạn đến gần đen ở cùng rừng ấm. Thỉnh thoảng cũng bắt gặp có con da bị đột biến trở thành trắng hơi ngà như bạch tạng. Chúng là loài hoạt động ban ngày, vừa sống trên cây lẫn dưới đất, tuy không có nọc độc nhưng khá hung dữ và di chuyển nhanh. Khi cảm giác bị đe dọa thì chúng không ngần ngại tấn công đối phương ngay. Thức ăn của chúng là loài gặm nhấm như chuột phát triển mạnh ở các khu vực đô thị, và ếch nhái.- Chúng cũng được tìm thấy tại các nước Afghanistan, Turkmenistan, Pakistan, Bangladesh, Trung Quốc, Ấn Độ, Sri Lanka, Indonesia, Iran, Tây Malaysia, Đài loan Myanma, Việt Nam, Thái Lan, Lào, Campuchia.- Thịt rắn hổ trâu khá ngon, dai như thịt gà, nhưng xương hơi cứng, nên không có giá trị bằng thịt rắn hổ hành. Bởi loài rắn nầy không có nọc độc, nên chúng bị săn lùng ráo riết để làm cho thực đơn các nhà hàng phong phú hơn.

Rắn Hổ Hành


Rắn Hổ Hành: là loài rắn không nguy hiểm với người vì chúng không có nọc độc, cũng không hay tấn công người, tuy nhiên chúng lại là loài khắc tinh với nhiều loài rắn độc, do chúng tiết ra một mùi hương như mùi hành, con người thì thích, nhưng loài rắn lại kỵ.- Rắn hổ hành có tên khoa học là Xenopelltis unicolor, thuộc họ rắn mống, chỉ có một chi duy nhất chung tên Xenopeltis, được phân làm 2 loại là rắn mống hổ hành, và rắn mống Hải Nam. Cả 2 loại nầy đều có lớp vảy có khả năng thay đổi màu sắc do sự tạác động từ ánh sáng bên ngoài. Ánh nắng càng mạnh, chúng sẽ tỏa ra ánh sáng óng ánh càng đẹp mắt.- Rắn mống cũng được tìm thấy ở các quốc gia Đông Nam Á như Việt Nam, Lào, Campodia, Indonesia, Singapore, Malaysia, Myanmar, Thái Lan và cả Trung quốc. Trong 2 loại rắn mống, thì rắn hổ hành được tìm thấy ở Việt Nam nhiều hơn.- Rắn hổ hành có đầu thuôn và nhọn, giúp chúng dễ dàng đào đất. Đầu và cổ không phân biệt rõ như các loài rắn khác. Con trưởng thành có thể đạt chiều dài khoảng 1, 2 mét. - Vì có lớp da cùng vảy óng ánh đặc biệt, chúng cũng dễ dàng được nhận diện trong tự nhiên. - Rắn hổ hành non có điểm khác biệt với con trường thành là chúng có lớp da vảy ở cổ màu trắng chung quanh đầu và sẽ mờ đi trong năm đầu.- Tại miền Tây, thường xuất hiện rắn hổ hành, chúng thường ẩn nấp nơi bụi rậm, nơi có nhiều ếch nhái sống như ven hồ có nhiều thức ăn cho chúng. - Do có mùi hăng như hành sống, nên chúng dễ bị người phát hiện dù chưa nhìn thấy, vì vậy nên chúng có tên gọi ở Việt Nam là rắn hổ hành. - Tuy được gọi là rắn hổ hành ở Việt Nam, nhưng thực sự chúng không liên quan gì đến họ nhà rắn hổ, mà chỉ là loại rắn mống. Tuy không có nọc độc để giết con mồi như các loại rắn độc khác, nên rắn hổ hành chỉ sử dụng sức mạnh của thân thể quấn và siết chết con mồi như cách của trăn. Nhưng chúng đặc biệt hơn trăn là hàm răng chúng có thể di chuyển vị trí, nên khi táp con mồi, hàm răng chúng quặp ngược vô trong, vừa giúp giữ chặt con mồi vừa giúp nuốt dễ dàng, dĩ nhiên là với những con mồi không to lớn hơn chúng. Chúng có thêm một lợi thế nữa là tự cơ thể chúng kháng lại được chất độc của các loài rắn độc như hổ mang, cạp nong, cạp nia. Do đó, tuy là loài rắn hiền lành với con người, nhưng rắn hổ hành lại là khắc tinh của loài rắn độc có cùng thể trạng hoặc nhỏ hơn chúng.

Xin đa tạ quí vị đã đọc

KimPhú Nguyễn
Sưu tầm và Biên Soạn

Thứ Hai, 20 tháng 1, 2025

Hương Xuân - Nhạc: Ngô Thanh Nam - Ca Sĩ: Diệu Hiền


Nhạc: Ngô Thanh Nam
Ca Sĩ: Diệu Hiền


Giấc Xuân Mơ

 

Xuân xưa cô bé khù khờ
Yêu chằng dám nói lơ ngơ dị kỳ
Tim luôn rất khẽ thầm thì
Mơ người hóa gió hôn mi dịu dàng

Dửng dưng ta đây bé ngoan
Chả thèm để ý khi chàng bén theo
Guốc khua lốc cốc vui reo
Đôi tà áo quyện bước dìu thướt tha

Đến trường lụa nắng thêu hoa
Bóng đuổi bóng kết hai ta một người
Khúc khích ưng bụng bé cười
Mắc cỡ đỏ má đôi môi ửng hồng

Hôm nào chẳng thấy vời mong
Tương tư thầm nhớ nhói lòng luyến thương
Sáng mai mong ai cuối đường
Bướm lơi lã đóa thiên hương cùng đàng

Giấc mơ tan theo trăng vàng
Câu chào chưa kịp tin sang não nề
Biệt ly đành đoạn bước đi
Dấu xưa còn đó hồn về cõi sương

Nguyện cầu thắp nén trầm hương
Gửi người miên viễn chiêu buồn nơi đâu
Thoát thai vứt gánh sầu đau
Quên đi phiền lụy ba đào vì em

Gặp gỡ đã là phần duyên
Nợ chưa cột chặt lạc mềm xa nhau
Đời là một kiếp tầm dâu
Thời thôi níu kéo rối nhầu mối thêm


Đêm mơ trăng rụng xuống thềm
Bóng vui giỡn bóng vườn yên sum vầy
Nghê thường vũ khúc trong tay
Nồng nàn giấc mộng đong đầy xuân xưa

Kim Oanh


Chúc Tết



Chúc Tết

Đốt nén hương trầm đón Tết sang
Lâm râm khấn nguyện gửi đôi hàng
Xuân về kính chúc nhà Văn Bút
Tết tới nguyện cầu nước Việt Nam
Thơ phú xây đời thêm hạnh phúc
Văn chương tạo dựng chốn bình an
Bàn tay đóng góp nền văn học
Trí não làm vui tuổi lão làng.

Đồng Lòng


Văn chương Đông Bắc tỏa ngàn sao
Hội trưởng toàn tài trí tuệ cao
Nữ sĩ ra đề như nhả ngọc
Văn nhân đối họa tựa phun châu
Thơ văn diễn đạt tình non nước
Nhạc họa phô trương nghĩa đồng bào
Huynh đệ đồng tâm cùng tỏa sáng
Chị em đoàn kết đẩy phong trào

Nguyễn thị Thêm
 

Tứ Tuyệt Về Rắn

  

Thơ vui
1
Loài rắn thật kỳ dị, lạ thường!
Không tay chân lại giỏi bò, trườn
Mình dài quấn, siết... đầy ma lực
Chỉ một chiêu hạ gục đối phương

2

Loài rắn lấy nhu để trị cương
Nửa đêm thoăn thoắt bò qua tường
Âm thầm lặng lẽ nằm khoanh kín
Bao anh hùng ngã ngựa giữa đường

3
Lột da trở lại thời thanh xuân
Đời rắn là một chuỗi lạ lùng
Bò trườn dưới đất, bơi trên nước
Bay giữa rừng tre, nứa, bách, tùng

4

Loài rắn Trời đày ải lạ lùng
Suốt đời trong ngõ tối hang cùng
Con người thoáng thấy là run rét
Nhiều nước còn thờ phượng tôn sùng

5

Ban đêm đôi mắt vẫn tinh anh
Bí ẩn, liêu trai... cựa lá cành
Mỹ nữ bị đày xuống dương thế
Cũng bởi nghe lời rắn dỗ dành

6

Ánh mắt thôi miên đầy ái ngại
Mình xà uốn khúc chết đời trai
Trái tim nức nở yêu si dại
Trường tình biển ái năm canh dài

7

Hồng Xà tu luyện một ngàn năm
Yêu người, biến hoá thành giai nhân
Bắt cóc đem về nơi thạch động
Suốt đời quấn quýt bất ly thân

8

Truyền thuyết thiên tình sử Hoàng Xà
Gặp chàng tráng sĩ bến Quỳnh Sa
Biến hoá thành giai nhân kiều diễm
Yêu nhau say đắm... chẳng rời xa

9
Thanh Xà có pháp thuật cao cường
Phải lòng hảo hán nơi dương thế
Hoá thành trang quốc sắc thiên hương
Yêu nhau da diết... suốt đêm trường

10

Như trong thần thoại, Bạch Xà Tinh
Yêu người bằng trái tim mãnh liệt
Biến hoá thành Ma Nữ đa tình
Quyến luyến không rời xa nửa bước

Vinh Hồ
30/12/2024

Tạ Ơn Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

  

Thơ & Trình Bày: Minh Lương

Tết Ly Xứ

 

Danh chẳng cần mà lợi cũng không
Sống sao xứng đáng giống Tiên Rồng
Cho dù luân lạc đời ly xứ
Vẫn nguyện dâng đời cho núi sông
Trót đã sinh ra lầm thế kỷ
Nên tài chẳng vẹn chí như không
Tết này tưởng nhớ về quê Mẹ
Mà ước Xuân sau uống rượu nồng.

Lâm Hoài Vũ

Chủ Nhật, 19 tháng 1, 2025

Xuân Lại Về - Nhạc&Lời Vũ Lương Đúng - Ca Sĩ: Dzoãn Minh



Nhạc&Lời Vũ Lương Đúng
Ca Sĩ: Dzoãn Minh

Tết Nơi Viễn Xứ


Tình Mẹ hiền  bao la như trời biển
Công Cha nuôi  ta khôn lớn vô biên
Thân viễn xứ  tâm luôn vọng cố hương
Xin hẹn nhé  một ngày về đất Tổ

Trời mùa đông  lạnh buồn khi tuyết đổ
Như khơi lòng  tâm sự kẻ ly hương
Tết lại về  ôm kỷ niệm thân thương
Bao nhiêu tuổi vẫn chứa chan tình tự

Ngày đầu năm  ở đây người viễn xứ
Cũng họp gia đình , mừng tuổi - lì xì
Cùng hát nhạc xuân tiệc rượu nâng ly
Giữ truyền thống như Tết nơi cố quốc

Xuân ở đây cũng bánh chưng, kẹo mứt
Hoa cúc,  mai vàng, thịt trứng dưa chua 
Diện áo dài mới, hái lộc lễ Chùa
Cầu mong gia đạo an bình thịnh vượng

Xuân đến bên thềm tất lòng cùng  hướng
Chúc gia đình bè bạn ở bốn phương
Sức khỏe dồi dào may mắn cát tường
Hạnh phúc như ý muôn đường thông đạt

Gió mơn man  ý Xuân dào dạt
Mong thanh bình cho nơi có chiến tranh
Cầu Xuân sum họp - nguyện Tết an lành
Chúc  nhau năm mới toại thành ước mơ


Trúc Lan KTP
Xuân Ất Tỵ 2025

Vẫn Còn Mùa Xuân

 

(Thủ Vỹ Ngâm)
 
Vui nhìn trước cửa nở đào mai
Dĩ vãng đôi ta lắm chuyện dài
Hãy hưởng tình Xuân quên quá khứ
Rồi chờ giấc mộng gợi tương lai
Xuôi dòng xóa tủi mang đầy dạ
Ngược lối xua sầu gánh trĩu vai
Sát tựa nương đời say nắng ấm
Vui nhìn trước cửa nở đào mai
 
Minh Thúy Thành Nội
Tháng 12/10/2024

Mộng Vườn Xuân

  

“Mạo muội cảm đề bài “Mắt Biếc”
của Phạm Quang Long”. DTDB

Thuở mới lớn, tâm hồn như ngọc thạch
Anh học trò yêu em gái nữ sinh
Giữa vườn xuân ngập ánh nắng bình minh
Có bướm hoa có chim ca rộn rã...

Mái tóc thề che nghiêng vành nón lá
Lôi mắt nhung nhìn e thẹn ngỡ ngàng
Để lòng tôi niềm xao động mơn man
Và đắm đuối dưới đáy sâu giếng mắt

Tôi bỡ ngỡ ngượng ngùng... vờ quay mặt
Nhưng trong lòng đang nỡ rộ niềm vui
Bờ bên kia khúc khích tiếng em cười
Nhìn trêu tôi bước qua cầu suýt té...

Gió mát rượi cánh én xuân lướt nhẹ
Bóng dáng em dần khuất tận cuối đường
Áo lụa mềm, phơ phất tợ màn sương
Tôi ngây ngất hồn dõi theo bóng nắng

Nước đầm trong lá xanh, sen hồng thắm
Quen được em trưa câu cá ngoài ao
Diều đứt dây, diều băng tít rơi mau
Em tiếc nuối tóc bồng theo gió lộng

Tiết xuân chan hòa trái cây chín mộng
Ta rủ nhau bẻ khế, hái ô môi...
Bắt bướm cỏ, ngắt hoa dại xinh tươi
Đem ép vào tập giấy hồng lưu niệm

Quà em tặng 
cánh hoa khô ép tím
Khẽ bão rằng: "màu sáng nhớ, chiều thương"
Tôi bận học thi năm cuối ra trường
Thoáng nhớ thương qua từng trang lưu bút...


Dư Thị Diễm Buồn

Tặng Nội Nhân 贈內人 - Trương Hổ (Trung Đường)


Trương Hỗ 張祜 (khoảng 785-849) tự Thừa Cát 承吉, người Thanh Hà (nay thuộc tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc), nổi tiếng về thể cung từ, thơ có 10 quyển.

Nguyên bản Dịch âm

贈內人 Tặng Nội Nhân

禁門宮樹月痕過 Cấm môn cung thụ nguyệt ngân qua (quá),
媚眼惟看宿鷺窠 Mị nhãn duy khan túc lộ khoa.
斜拔玉釵燈影畔 Tà bạt ngọc thoa đăng ảnh bạn,
剔開紅燄救飛蛾 Dịch khai hồng diễm cứu phi nga.

Trương Hổ
***
Chú giải

內人 nội nhân: chỉ các ca kỹ được tuyển vào viện Nghi Xuân trong hoàng cung đời Đường. Còn để chỉ là vợ.
媚眼 mị nhãn: mắt xinh đẹp.
宿鷺窠 túc lộ khoa: tổ cò trú ngụ.
飛蛾 phi nga: con thiêu thân.

Dịch nghĩa

Tặng người trong cung

Ánh trăng ngà chiếu trên vòm cây trong cung cấm,
Đôi mắt kiều mỵ chỉ nhìn mãi chiếc tổ cò trong vòm cây ấy.
Rút chiếc thoa ngọc, để kề bên ánh đèn,
Gạt ngọn lửa hồng cứu con thiêu thân.

Dịch thơ

Tặng Cung Nữ

Vòm cây cung cấm hứng trăng ngà,
Mắt đẹp chỉ nhìn mỗi tổ cò.
Rút chiếc ngọc thoa kề ngọn bấc,
Lửa hồng giập tắt cứu phi nga*.

Lời bàn của Con Cò

Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, tả một cảnh rất nhàm chán từng đêm của những nội nhân (cung nữ) trong cung cấm nhà Đường.

Câu 1 & 2:
Vòm cây trước cửa phòng của cung nữ có trăng ngà chiếu rất nên thơ mà nàng không thèm nhìn; chỉ nhìn chòng chọc vào cái tổ cò vô duyên trong vòm cây đó. Tất cả những đêm đẹp trời nàng đều sống như thế. Buồn tẻ suốt đời người!

Câu 3 & 4:
Lâu lâu nàng lại rút cây ngọc thoa trên đầu ra, kề bên ngọn lửa trên bấc đèn, chờ giập ngọn lửa hồng để cứu con thiêu thân. (Ngày xưa người ta đổ dầu vào đĩa rồi đặt một đầu của ngọn bấc vào trong đĩa dầu, đầu khác của ngọn bấc thò ra ngoài đĩa để thắp thành ngọn đèn). Thiêu thân là loại côn trùng yểu mạng, chỉ sống được vài ngày; nó thường lao đầu vào lửa để kết liễu sớm cuộc đời buồn tẻ của nó; mình cứu nó đêm nay thì ngày mai nó cũng tự nhiên lăn ra chết; từng đêm mình thường làm những ơn hụê nhỏ nhoi và vô ích như thế đó. Nghĩ tới cái thân hèn của minh, sống lay lắt mãi, có ai cứu đâu! muốn tự tử cũng không được. Cuộc đời của cung nữ còn vô vị hơn đời con thiêu thân!

Tái bút:

Con Cò để nguyên cụm từ phi-nga* không dịch; mục đích để giữ vần, còn muốn độc giả làm quen với danh từ này, hy vọng nhờ bài thơ bất hủ của Trương Hỗ mà tiếng Việt có thêm một danh từ mới, cụm từ phi nga nghe trang nhã và gọn gàng hơn cụm từ con thiêu thân (các quốc gia trên thế giới thường dùng cách này để làm giàu cho ngôn ngữ của họ).

Con Cò
***
Tặng Tô NữTrong Cung.

Vòm cổng cấm cung nguyệt lửng lơ
Đăm đăm mắt đẹp… ngó cò ngơ
Chiếc thoa nạm ngọc bên đèn bấc
Khều lửa, thiêu thân thoát kiếp tro

Kiều Mộng Hà
Jan.11.2025
***
Tặng Người Trong Cung.

Vòm cây cung cấm ánh trăng lồng,
Chỉ ngắm tổ cò mắt đẹp trông.
Rút vội ngọc thoa kề ngọn bấc,
Cứu thiêu thân dập tắt đèn hồng.

Mỹ Ngọc 
Jan. 11/2025.
***
Bài này ÔC theo Thi Viện nên chữ cuối của câu 2 phiên âm là khoà. Chữ đó là khoa (đã sửa), có nghĩa là hang, hố, chỗ ở của chim chóc, tức là tổ chim.

* Nội tử, nội nhân, tiện nội đều là vợ. Ở đây, nội nhân chỉ cung nữ.
* Cấm là cấm kỵ, ngăn cấm, cái gì dính tới vua, như cấm quân, cấm uyển.
Cấm môn chính là cung vua. Kế đó là cung thụ nên càng rõ nghĩa.
* Ngân là vết sẹo, hay dấu tích còn để lại.
* Mị là nét mặt vui vẻ của con gái, yêu dấu, quyến rũ, đẹp.
* Túc là dừng lại. Túc xá là nhà trọ. Là yên ổn, cũ, giữ, giỏi (như túc nho)
* Tà là nghiêng.
* Bạt là nhổ lên, lấy, dời chuyển, mau lẹ,
* Ảnh là bóng, hay hình ảnh.
* Bạn là bờ ruộng, bờ nước, bên cạnh.
* Dịch là lóc thịt, xẻ, chọn, gạt bỏ đi.
* Diễm là lửa cháy có ngọn.
* Cứu là ngăn cản, cứu giúp.
* Nga là con ngài. Lông mày.

Vì kẹt vần, BS phải theo ÔC, giữ chữ phi nga.

Tặng Cung Nữ

Cấm cung cây đượm ánh trăng ngà,
Tổ cò mắt đẹp dõi nhìn xa,
Thoa ngọc nghiêng đưa gần bấc sáng,
Lửa hồng gạt nhẹ cứu phi nga.

Bát Sách.
(Ngày 11/01/2025)
***
Tặng Cung Nữ

Cung cấm vườn cây bóng nguyệt lồng
Dịu dàng mắt đẹp tổ cò trông
Ngọc trâm nghiêng rút bên đèn sáng
Gạt cứu bướm đêm thoát lửa hồng

Lộc Bắc
***
Cung Nữ Đêm Trăng

Trăng ngà e ấp rọi cung sâu
Nhìn én về cây dõi mắt châu
Nghiêng dáng bên đèn trâm ngọc rút
Dập tim hạ lửa cứu ngài sầu

Thanh Vân 
***
Tặng Cung Nữ

Trong cung trăng xuyên vòm lá
Đôi mắt mỹ nữ nhìn xa tổ cò
Bên đèn rút chiếc ngọc thoa
Cứu phi nga thoát khỏi sa lửa hồng.

Kim Oanh
12.1.2025
***
Nguyên Tác: Phiên Âm:

贈內人-張祜 Tặng Nội Nhân - Trương Hỗ

禁門宮樹月痕過 Cấm môn cung thụ nguyệt ngân qua
媚眼惟看宿燕窠 Mị nhãn duy khan túc yến khoa
斜拔玉釵燈影畔 Tà bạt ngọc thoa đăng ảnh bạn
剔開紅燄救飛蛾 Dịch khai hồng diễm cứu phi nga

Mộc bản trong sách:

Vạn Thủ Đường Nhân Tuyệt Cú - Tống - Hồng Mại 萬首唐人絕句-宋-洪邁
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐 詩-清-聖祖玄燁 cho dị bản lộ鷺=cò trắng thay vì yến燕=chim én

Ghi chú:

Nội nhân: thường chỉ người vợ, những người trong gia đình, những người sống trong cung cấm, ý bài thơ có lẽ chỉ riêng cung nữ
Cấm môn: cổng cung điện được canh gác nghiêm ngặt
Nguyệt ngân: ánh trăng, so sánh mặt đẹp của một người phụ nữ với trăng
Mị nhãn: đôi mắt tươi đẹp, tinh tế, diễm tình
Hồng diễm: ngọn lửa đỏ, chỉ tim nến hay bấc đèn dầu
Phi nga 飛蛾: bướm đêm hay ngài, tên khoa học Heterocera, là một loài côn trùng giống như loài bướm, nhưng thường không có màu sắc sặc sỡ như bướm, đêm thích bay quanh đèn; dịch là thiêu thân nghe thi vị nhưng sai nghĩa

Thiêu thân: tên khoa học Ephemeroptera cùng bộ phù du 蜉蝣 với chuồn chuồn


Phân tích bài thơ:

Tưởng cũng không thừa nếu ta xem xét và nhắc đến hình thức hoàn hảo của bài thất ngôn từ tuyệt (TNTT) về luật, niêm, vận, tiết tấu và bố cục.

Về bố cục hay cấu trúc của thơ TNTT, ta có thể xem chi tiết hơn. Nội dung của bài TNTT phải được gói ghém trong 4 câu 7 chữ và diễn tả theo trình tự 4 phần:
Đề, gồm câu 1, giới thiệu bối cảnh cho câu chuyện sẽ được kể ra: thời điểm, nơi chốn...
Cấm môn cung thụ nguyệt ngân qua
Trăng lấp ló từ cổng qua đám cây phía trong cung cấm
Thời điểm: đêm sáng trăng
Nơi chốn: cấm cung
Thực hay trạng, gồm câu 2, nói lên ý định, nội dung bài thơ...
Mị nhãn duy khan túc yến/lộ khoa
Đôi mắt đẹp đa tình cũng chỉ để nhìn én/cò về tổ
Luận, gồm câu 3, bàn rộng thêm về nội dung, tả cảnh hoặc tình cảm.
Tà bạt ngọc thoa đăng ảnh bạn
Nghiêng mình bên ánh đèn rút cây trâm ngọc ra
Kết, gồm câu 4, chuyển ý và tóm tắt, hoặc có ý mới gây xúc cảm hay tạo suy nghĩ thêm.
Dịch khai hồng diễm cứu phi nga
Khơi tim đèn cứu con bướm đêm/ngài.

Dịch Thơ:

Gởi Người Trong Cung

Trăng ẩn sau cây vườn ngự uyển,
Đa tình diễm lệ mắt cung tần.
Nghiêng mình cẩn bách rút thoa ngọc,
Khơi đèn bớt lửa cứu thiêu thân.

Ánh trăng vượt cổng chiếu vòm cây,
Về tổ vui vày chim én bay.
Ngoảnh mặt nhìn đèn trâm ngọc rút,
Khơi tim lửa đỏ cứu con ngài.

To Someone In The Palace by Zhang Hu
Moonlight slowly passed the forbidden gate and hid behind trees of the imperial garden,
Her beautiful eyes looked at swallows going back to their nests.
Tilting her head toward the lamp, she removed her jade hairpin,
And put out the red flame to save a moth. 

Phí Minh Tâm
***
Góp ý:

剔開紅燄救飛蛾=dịch khai hồng diễm cứu phi nga

蛾=nga là tên chung của các côn trùng loài ngài, còn có tên là phi nga (飛蛾) hay nga tử (蛾子), người Việt gọi chung là ngài hay bướm đêm. Một đặc điểm của loài ngài là chúng dùng nguồn sáng (sao, trăng) để định hướng và kết quả là bay gần dần dần vào các nguồn sáng nhân tạo, chẳng hạn như bếp lửa hay đèn. Đó là nguồn gốc của tên thiêu thân trong tiếng Việt; người Tàu không có chữ Hán nào tương đương với thiêu thân và người ni nghĩ Khai Trí Tiến Đức nhầm khi nói:


Trên nguyên tắc đặt tên, tên của côn trùng thường có bộ trùng (虫), nhưng ta không thấy bộ đó trong KTTĐ, và người ni tìm không thấy thiêu thân trong các từ điển Hán-Việt trước 1975, kể cả Thiều Chửu. Đa số loài ngài sống chừng một năm sau khi đã trưởng thành thay vì chỉ vài ngày. Con thiêu thân (Bộ Phù du (danh pháp khoa học: Ephemeroptera), hay con thiêu thân, con vật vờ, là một bộ thuộc nhóm Palaeoptera, cùng với bộ Chuồn chuồn. trích từ vn,Wikipedia) Cò nói đến có cái tên phù du (蜉蝣) vì chúng chỉ sống đủ lâu để làm tình, đẻ trứng; có nhiều loài không có cả bộ tiêu hóa để ăn. Và chúng không có khuynh hướng bay gần lửa.

Huỳnh Kim Giám
 

Vài Món Quà Tặng Mẹ


(Kỷ niệm cho ngày giỗ mẹ )

Vài hàng khai truyện.

Có lẽ một trong những điều ân hận nhất mà suốt đời tôi không bao giờ quên được, đó là tôi luôn mang cảm giác đã không đền đáp được những ân nghĩa lớn lao mà mẹ đã dành cho tôi trong suốt cuộc đời cực nhọc và thiếu thốn của mẹ. Hình ảnh bà mẹ buôn thúng bán bưng nhiều chục năm trời kiếm những đồng tiền thấm đẫm mô hôi để nuôi dưỡng tôi lên người luôn luôn hiện ra trong trí nhớ và lòng ân hận của tôi. Tôi đã bao lần ao ước khi trưởng thành, đi làm, tạo được sự nghiệp sẽ có dịp trả lại ân tình, mang lại niềm vui, an nhàn cho những năm tháng cuối đời của mẹ. Nhưng hoàn cảnh đất nước luôn luôn khốn khổ với chiến tranh đã tách rời tính toán của tôi sang một hướng khác, để rồi tôi đã lỗi hẹn với ước mơ!

Điều oái oăm, và buồn bã nhất, đó là sau hơn chục năm ở xứ người, khi đã có đủ điều kiện dẫn vợ con về nước thì mẹ tôi đã không còn nữa! Món nợ ân tình sâu nặng của mẹ đã không bao giờ được tôi đáp trả, thay vào đó là những dằn vặt vì sự khiếm khuyết đáng trách của tôi với mẹ.
Nói như vậy, không có nghĩa là suốt khoảng thời gian gần 30 năm từ lúc sinh ra, lớn lên học hành xong rồi đi làm việc tại VN, tôi đã không mang được niềm vui nào cho mẹ. Nhưng với gia cảnh nghèo túng, không thế lực trong xã hội mà mong có được những món quà giá trị to lớn về vật chất để tặng mẹ, với tôi được coi ngoài tầm tay. Bù vào những thiếu thốn vật chất đó, đôi lần với món quà nho nhỏ, nhưng chứa đựng rất nhiều giá trị tinh thần, tôi đã mang cho mẹ tôi những nụ cười hoan lạc, tự hào về tôi, thằng con trai trưởng rất yêu thương mẹ . Đó chính là tiêu đề của bài viết này. Tôi muốn khơi lại những hoài niệm về những niềm vui của mẹ do những món quà rất đơn sơ nhưng thấm đẫm tình thương mà tôi đã mang đến cho mẹ, lúc bà còn sống.

Hai bộ quần áo mới.

Khi tôi đang là học sinh lớp đệ lục ( lớp 8 ngày nay) CVA Sàigòn, bố tôi phải đổi lên Kontum, cuộc sống của gia đình tôi thực sự lâm vào tình trạng thiếu thốn. Mẹ tôi bắt buộc phải xoay trở với nghề buôn thúng bán bưng, kiếm tiền duy trì cuộc sống hàng ngày cho gia đình. Ban đầu là bán xôi, sau là bán chuối dọc theo những con đường bao quanh chợ Chí Hoà. Tôi là đứa con lớn nhất, cũng phải nhập cuộc. Hàng ngày sau khi tan trường về nhà, tôi chỉ kịp ăn qua loa bữa cơm trưa rồi vội vàng lo chuyện bài vở, đến khoảng 3, 4 giờ chiều, đạp xe lên trung tâm Sàigòn lấy báo đi bán tại các công trường giao thông trong thành phố vào lúc giờ tan sở hay bán rong tại các khu phố đông dân như Bàn Cờ, Phú Thọ. Thời gian mới vào nghề nên việc bỏ báo tháng của tôi chỉ được vài tờ, còn lại phần lớn là bán rông trên đường phố.

Gặp ngày may mắn, đắt hàng thì khoảng 5 hay 6 giờ chiều đã bán hết hơn 30 tờ báo. Nhưng gặp hôm trời mưa hay không may mắn thì bán rất chậm. Nhiều khi đến 9 , 10 giờ đêm mà vẫn chưa bán hết, đành mang báo về chờ ngày mai đổi báo mới . Tôi không nhớ chắc chắn nhưng hình như phải mua 8 tờ báo mới, ngày mai mới trả lại được 2 tờ báo cũ! Ngày đó giá mua mỗi tờ là 1đồng 20 cắc , bán cho khách 2 đồng, lời 80 cắc! Với báo tháng thì lấy tiền mỗi tháng nên rẻ hơn tí chút . Sáng sớm ngày hôm sau trước khi đi học, tôi mang xấp báo còn lại đến trước trại lính gần nhà bán được tờ nào hay tờ ấy, nếu không thì chờ đến buổi chiều trả lại toà soạn. Chính vì dịch vụ này, sinh ra nạn cho thuê báo, với giá 1.20 đồng/ngày, người bán báo được hưởng trọn vẹn tiền thuê báo, trong khi bán một tờ báo 2 đồng chỉ được lời 80 cắc!

Công việc bán chuối của mẹ tôi thu nhập tương đối an định hơn so với việc bán báo của tôi, nhưng lại nặng nề và kéo dài thời gian hơn. Cứ 3 hay 4 ngày, sau khi thấy số chuối bán gần hết, mẹ tôi về nhà sớm vào khoảng 5 hay 6 giờ chiều rồi lên chợ Cầu Ông Lãnh để mua chuối về bán cho những ngày sắp tới. Gặp những ngày bán báo xong sớm, tôi thường chở mẹ tôi bằng xe đạp, thay vì mẹ phải đi xe ngựa, chậm hơn mà còn phải đi bộ từ bến xe ngựa đến chợ, mà còn dè xẻn được vài đồng phí tổn cho xe ngựa . Những ngày đi mua chuối đó, là ngày bận rộn và mệt nhọc nhất cho mẹ và tôi. Nhất là gặp buổi chuối từ miền Tây hay Long Khánh vì lý do nào đó về Sàigon muộn, chúng tôi chở chuối về nhà đã 9, 10 giờ tối. Đã thế lại phải giúp mẹ cắt rời từng nải để dấm chuối bằng khí đá qua đêm. Những ngày bận rộn như vậy, tôi và đứa em gái lớn cũng mệt đờ vì phải giúp mẹ nhiều khi đến nửa đêm mới xong !

Có một hôm, tôi và mẹ đang è lưng ra cùng với chú lái xe ba gác khuân những buồng chuối tươi xanh còn dính đầy nhựa lên chiếc xe ba gác. Có lẽ vì buồng chuối quá to và nặng, lại phải xếp lên cao. Buồng chuối đè lên tà áo,làm rách một đoạn áo của mẹ . Tôi chưa kịp nói gì thì mẹ đã xuýt xoa tiếc rẻ cho chiếc áo bị rách, rồi vội vàng lục trong túi áo lấy ra một chiếc kim băng cài cho mảnh vải bị rách đính vào thân áo. Lúc đó tôi mới để ý đến bộ quần áo của mẹ, chiếc áo màu nâu xậm cũ kỹ nhem nhuốc nhựa chuối, hai bờ vai áo vá chằng, vá chịt đã bạc màu với mưa nắng . Vài miếng vá khác màu, kệch cỡm với đường chỉ vá thô thiển bằng tay nổi bật lên trên nền chiếc áo . Chiếc quần sa tanh đen, mẹ đang mặc cũng chẳng khá hơn, gấu quần vài chỗ đã tơi tả … chỉ khâu đã đứt vì chà xát với mặt đường.

Tôi im lặng nhìn mẹ bình thản cài chiếc kim băng vào miếng áo rách rồi lại quay ra làm việc tiếp tục như không có gì xảy ra. Cảm giác xót đau, buồn tủi vì thân phận nghèo khó chợt xâm chiếm tâm tư tôi. Thờ thẫn, tôi im lặng buông tiếng thở dài nho nhỏ, cúi xuống, đưa ánh mắt bâng quơ nhìn mặt đường nhựa loang lổ dưới chân tôi. Vài vũng nước đen ngòm vì đất cát, dầu xe của trận mưa hôm trước vẫn chưa khô, biểu tượng cho nỗi nghèo túng mà gia đình tôi đang đối diện. Trong cảm giác buồn tủi đó, tự nhiên tôi có một ước muốn rất nhỏ nhoi, tôi sẽ cố gắng bán được nhiều báo hơn để có tiền mua cho mẹ tôi vài bộ quần áo mới.

Có lẽ mong muốn đó của tôi sẽ không bao giờ thành hiện thực trong thời gian tôi đi bán báo dạo, nó chỉ là ước mơ, nếu không có một cơ may mà tôi đã nhận được từ một người bạn cùng bán báo với tôi đem đến. Định, tên của người bạn, anh ta hơn tôi 3 tuổi nhưng đã bước vào nghề bán báo ít nhất cũng 5, 6 năm, ngay từ khi anh ta học xong cấp tiểu học. Gia đình của Định lưu lạc từ miền Trung vào Sàigon kiếm sống. Ông bố lao động trong ngành xây cất, bị tàn tật vì tai nạn, không còn khả năng làm việc. Mẹ của Định và cô em gái hàng ngày từ sáng đến tối đạp xe đi thu mua ve chai, đồ phế liệu . Buổi tối, nếu có thời gian sau khi bán báo về nhà thì Định giúp mẹ lo việc phân loại ve chai cho mẹ và em gái đem bán lại cho các nơi tái chế.

Một hôm, tôi cùng với hàng chục trẻ bán báo khác đứng chờ trước toà soạn của vài tờ báo trên đường Lê thánh Tôn, mong mua được số báo phát hành cho ngày mai sớm nhất để kịp đem đến bán tại các “ bùng binh “ sầm uất trong thành phố trước giờ tan sở. Thình lình Định đến vỗ vào vai tôi và nói :
-Mày có thể giúp tao bỏ báo cho các mối báo tháng của tao trong vài ba tuần lễ được không ?
Tôi ngạc nhiên, trố mắt nhìn Định. Trong nghề bán báo dạo, việc nhường mối báo tháng hay báo thuê cho nhau được coi là rất hiếm, trừ phi có ai muốn bỏ nghề. Nhưng cũng phải trả tiền cho họ tí chút, coi như mua một mối làm ăn. Tôi mừng rỡ trả lời :
-Có thật không? Quá tốt!
-Dĩ nhiên là thật rồi, nhưng tao chỉ nhờ mày giúp trong khoảng 2 hay 3 tuần lễ mà thôi .

Cuối cùng sau một lúc nói chuyện, Định cho biết mấy ngày nữa, cả gia đình sẽ về miền Trung thăm quê và lo việc phân chia ruộng vườn với họ hàng trong khoảng 2 hay 3 tuần lễ . Định muốn nhờ tôi tiếp tục bỏ báo cho các mối báo tháng và báo thuê của anh ta. Dĩ nhiên tôi bằng lòng ngay vì tôi biết Định vào nghề đã lâu và có rất nhiều mối. Định hẹn tôi ngay buổi chiều tối hôm đó, sau khi hai chúng tôi bán báo xong, sẽ dẫn tôi đến từng nhà mua báo mối của Định. Giới thiệu và nói rất rõ với khách hàng là chỉ nhờ tôi thay Định bỏ báo trong thời gian vài ba tuần lễ khi Định về quê mà thôi. Tất cả tiền bạc liên quan đến việc bán hay thuê báo sẽ được Định tính toán với khách hàng ngay sau khi trở lại Sàigon.

Tôi đã ngạc nhiên với số lượng khách mua và thuê báo của Định. Với trên 70 mối phải nói là số lượng mà tôi chưa bao giờ nghe ai trong số những bạn bán báo mà tôi quen biết có được. Đúng là một con số trong mơ, nếu có số lượng này, tôi chỉ cần bỏ báo tháng và cho mướn báo cũng thu được trên 100 đồng mỗi ngày là chuyện quá dễ dàng. Một món tiền xấp xỉ với việc bán chuối của mẹ tôi từ sáng đến chiều tối.

Đúng như qui định, tôi tạm thời dẹp bỏ việc bán báo rông tại các bùng binh, dồn sức vào việc bán và bỏ báo tháng cho Định và vài mối riêng của tôi trong suốt khoảng thời gian hơn 2 tuần lễ. Định trở lại tiếp tục công việc sau khi tính toán rất rõ ràng tiền công trả cho tôi. Cầm số tiền khá lớn từ tay Định, tôi sung sướng đến nỗi thờ thẫn người vì món thu nhập to lớn nhất trong nghề bán báo của tôi, dù chỉ với hơn 2 tuần lễ làm việc ! Ngay khi cầm món tiền trong tay, hình ảnh mẹ tôi xơ xác với chiếc áo nâu, chiếc quần sa tanh đen cũ kỹ nhạt màu vì nắng mưa, hiện ra trong trí não tôi. Giấc mơ nhỏ bé, sẽ mua vài bộ quần áo mới cho mẹ hoà lẫn với những nụ cười chan chứa cảm động trên khuôn mặt sạm đen của mẹ ... hiển hiện trong tâm tư tôi, làm tôi sung sướng.

Ngay hôm sau, từ trường về nhà, vội vàng ăn xong bữa cơm trưa, tôi kín đáo mở tủ lấy bộ quần áo hàng ngày của mẹ vẫn mặc. Tôi đem đến một tiệm may quần áo phụ nữ dạng bình dân ở phía sau chợ Chí hoà, nơi mà mẹ tôi thường dẫn cô em gái tôi ra đó may quần áo. Chẳng có khó khăn gì, sau vài phút, bà thợ may đã đo xong bộ quần áo mẫu cũng như loại vải dùng cho bộ quần áo mới. Với số tiền kiếm được, không những dư thừa cho 2 bộ quần áo mới đặt may mà vẫn còn đủ trả cho bữa điểm tâm ngon miệng ngày hôm sau với một tô phở bò viên, một đĩa bánh cuốn giò chả từ những chiếc xe bán rông tại góc sân vận động Lam Sơn sát bên trường Chu Văn An .

Mấy ngày sau, bữa cơm chiều vừa xong, khi lũ em gái của tôi đang thu dọn bát đĩa, mẹ tôi ngồi uống trà bên chiếc bàn gỗ kê sát tường. Tôi mở chiếc cặp đi học, kéo ra cái túi ny-lông trong đó có 2 bộ quần áo của mẹ mà tôi vừa lấy về từ tiệm thợ may trong chợ. Miệng nở nụ cười vui sướng tôi đặt gói quà vào tay mẹ, chậm rãi tôi nói:
-Con vừa may 2 bộ quần áo mới làm quà cho mẹ đây!
Rất ngạc nhiên, mẹ tôi cau mày nhìn gói quà, rồi ngước mắt im lặng nhìn tôi ra vẻ không hiểu. Tôi đưa tay dí sát gói quà vào tay của mẹ, nói rõ ràng từng tiếng :
-Bao nhiêu lần đi mua chuối với mẹ, nhìn thấy mẹ mặc những bộ quần áo cũ “ rách tơi “ mà đau lòng. Con cứ mong dành dụm tiền bán báo để mua cho mẹ mấy bộ quần áo mới, hôm nay mới làm được đó. Con chắc là nó vừa vặn, vì bà thợ may ở sau chợ đã đo đúng kích cỡ bộ quần áo cũ của mẹ rồi! .

Đến nay dù thời gian đã qua hơn 50 năm, từ ngày tôi mua vải may quần áo cho mẹ.Tôi vẫn còn nhớ sắc mặt ngẩn ngơ, hai giòng lệ từ khóe mắt chảy dàn dụa trên gò má xám đen vì mưa nắng của mẹ. Mẹ nhìn tôi run run cảm động đưa tay lên vuốt nhẹ đầu tóc tôi nói không lên lời vì món nhỏ bé nhưng lại vĩ đại sự hiếu tình của tôi tặng mẹ.

Khi tôi vừa lên lớp đệ tứ, Bố tôi được đổi trở lại Sàigon , cuộc sống của gia đình dù có chút kha khá hơn nhưng vẫn chưa thoát khỏi sự thiếu thốn, mẹ tôi vẫn phải duy trì công việc bán chuối. Bố mẹ tôi tỏ ý định muốn tôi dẹp bỏ việc bán báo để dành thời gian cho việc học hành, chuẩn bị cho kỳ thi trung học đệ nhất cấp vào cuối năm. Tôi cũng có phần lưỡng lự vì công việc đã có chút thuận lợi, vì nhờ quen biết, giới thiệu tôi đã tìm được gần chục khách mua và thuê báo tháng.

Trong tình trạng băn khoăn đó, chưa biết bỏ hay không bỏ nghề bán báo, thì cả Sàigon rúng động với bản tin trên báo chí và truyền thanh về cái chết dã man của một thanh niên bán báo. Nguyên do chỉ vì món tiền khoảng vài ba trăm đồng, vừa thu được từ việc bỏ báo tháng mà bị bọn cướp giết dã man. Xác kẻ xấu số được thả ở khu đất hoang phía sau nhà ga xe lửa trong khu Cống Bà Xếp, khu vực rất lộn xộn không xa nơi gia đình tôi sinh sống. Càng kinh sợ hơn khi tôi và gia đình biết người bán báo xấu số đó chính là Định, người bạn đã nhờ tôi bỏ báo mối cho anh ta, khi anh ta theo gia đình về quê. Cũng chính nhờ lòng tốt của anh ta, tôi đã có được món tiền dư dả may cho mẹ tôi 2 bộ quần áo mới.

Với cái tin kinh hoàng đó, bố mẹ tôi không còn lưỡng lự, bắt tôi dẹp bỏ việc bán báo, cái nghề nghiệp mà tôi đã kéo dài khoảng gần 3 năm trời trong cuộc đời tuổi thơ khá cực nhọc của tôi. Cũng từ cái nghề lang thang đó tôi đã có tiền mua cho mẹ tôi hai bộ quần áo mới, món quà tặng mẹ đầu tiên thấm đẫm mồ hôi trong đời tôi.

Chiếc máy may hiệu Mitsubishi.


Bảy anh em chúng tôi cũng lớn dần theo thời gian, nhu cầu ăn và học cũng gia tăng. Việc bán chuối của mẹ tôi vẫn tiếp tục, nhưng thu nhập không thể nào cung ứng đủ cho một gia đình đông đảo như vậy được nữa. May mắn được một người quen chỉ dẫn, giúp mẹ tôi lấy táo và nho từ cơ sở nhập cảng của họ trong chợ Sàigon, đem về bán chung với chuối. Nhờ vậy sự thu nhập khá hơn, nhưng công việc cũng vì đó mà tăng lên. Cô em gái lớn của tôi cũng phải ghé vai vào những công việc buôn bán của mẹ tôi.

Một hôm, tôi đạp xe, chở mẹ lên Cầu Ông Lãnh để mua chuối về bán, thình một cơn mưa như trút nước kéo đến. Không mang theo áo mưa nên chúng tôi phải dừng xe, nép mình dưới hành lang của một công ty bán máy may Mitsubishi của Nhật ở đầu đường Trần hưng Đạo để trú mưa. Mẹ tôi như bị thôi miên bởi những chiếc máy may làm mẫu xếp phía bên trong khung cửa kính. Nhìn ánh mắt thèm thuồng của mẹ, cảm giác xót thương chợt ùa về phủ lấy tâm hồn tôi, ghé sát vào tai mẹ, tôi hỏi khẽ :
-Mẹ có thích con mua cho mẹ một cái máy may như vậy không ?
Mắt vẫn không rời khỏi khung kính, mẹ bâng quơ trả lời :
-Ước gì có một cái để cho các em của con, chúng nó may vá quần áo cho gia đình nhỉ?
Tôi chưa kịp trả lời thì mẹ đưa tay chỉ vào một cái máy may sát gần khung kính, rồi nói vu vơ :
-Cái rẻ nhất mà giá đã hơn bốn ngàn đồng!...gần bằng một tháng lương của bố con, lấy tiền đâu mà mua được nhỉ ?
(Xin viết thêm tí chút về bà mẹ kính yêu, quê mùa của tôi : Mẹ tôi gần như không biết đọc,biết viết… Nhưng nhờ phong trào cưỡng bách giáo dục của Việt Minh vào những năm trước 1950, họ đến từng nhà hay chặn ở các chợ làng, đưa tờ giấy với vài hàng chữ cho các ông bà đọc! Nếu ai không đọc được thì họ bắt ban đêm đi học ác lớp BÌNH DÂN HỌC VỤ nhờ đó mà mẹ tôi biết đánh vần tí chút, biết đọc con số, giá cả đính trên món hàng là thế ! )

Lời nói của mẹ kéo trí nhớ tôi về với những mảnh vá được đính sát trên những chiếc quần, chiếc áo của mẹ và của anh em chúng tôi. Nó che đi những lỗ thủng, mảnh rách với những đường chỉ khâu bằng tay thô thiển. Tôi im lặng, ngước nhìn ánh mắt ước mơ của mẹ, tự nói với lòng mình: “ Chắc chắn một ngày nào, con sẽ có tiền để mua cho mẹ và các em một chiếc máy may giống như vậy !“

Đúng như vậy, thời gian qua mau, khoảng gần một năm sau, tôi mới có dịp thực hiện được ước mơ của mẹ và lời hứa của tôi. Nhưng có lẽ đây là món quà tặng mẹ, đã cho tôi băn khoăn, suy nghĩ nhiều nhất. Trong tận cùng ý nghĩa của món quà là một vẻ đẹp tuyệt vời đáng trân trọng của thằng con trai dành tặng mẹ. Món quà tiềm tàng một tấm lòng thương mẹ và các em của một người anh cả trong gia đình. Nhưng ở một góc cạnh nào đó trên chiếc khuôn của đạo đức và có lẽ cả trong cái khuôn luật pháp, món quà đó đã vướng vào một tí chút bụi bặm, đen đủi của tội lỗi. Chính nó đã mang đến cho lòng tôi cảm giác ăn năn, tự trách mình mỗi khi nhớ về nó.

Sự việc rất đẹp cho tình mẹ con chúng tôi nhưng cũng có chút lợn cợn cái gì đó đã làm cho tôi suy nghĩ mãi. Chuyện xảy ra khi tôi đang học lớp đệ nhị ( lớp 11 ngày nay ), sửa soạn cho cuộc thì tú tài bán phần vào cuối năm. Một buổi sáng sớm của ngày chủ nhật, tôi cùng với mẹ chở trái cây ra chợ bán. Hai mẹ con chúng tôi lui cui xếp những nải chuối và vài thùng táo, thùng nho trên một tấm bạt bằng plastic được trải trên mặt hè của con đường nhỏ bên cạnh chợ Chí Hoà. Gần nơi chúng tôi bày hàng, một người đàn ông khoảng trên dưới 30 tuổi, áo bỏ trong quần rất chỉnh tề, đeo kính trắng. Anh ta ngồi ngồi trên chiếc xe Honda rất mới, đưa mắt theo dõi hoạt động của mẹ con chúng tôi với vẻ khá chăm chú. Dù có chút lạ lùng với ánh mắt tò mò của anh ta, nhưng cũng không đủ làm cho tôi để ý hay khó chịu vì nghĩ rằng anh ta chỉ là người qua đường, đang chờ đợi ai đó mà có chút thích thú với việc làm của chúng tôi mà thôi.

Sau một lúc, khi đã giúp mẹ xong, nói với mẹ vài câu rồi tôi lững thững đi bộ về nhà. Nhưng khi tôi vừa đi được khoảng vài trăm mét, người đàn ông với chiếc xe Honda vượt lên phía trước tôi rồi dừng lại bên lề đường. Quay mặt nhìn tôi với nụ cười rất thân thiện, anh ta nói với tôi:

- Chú em, có muốn làm việc cho anh không? Anh sẽ trả cho chú em gấp 5, 6 lần so việc buôn bán chuối của chú .
Nhíu mắt nhìn anh ta, với vẻ ngạc nhiên, tôi hỏi lại :
-Anh hỏi em phải không ?
Chẳng đợi anh ta trả lời, tôi hỏi tiếp:
-Nhưng em làm công việc gì cho anh hả ?
Đưa tay thân thiện vỗ nhẹ vai tôi vài cái, anh ta chậm rãi nói :
-Công việc chẳng có gì là khó khăn cả, anh chỉ nhờ chú em phân phát hàng cho anh mà thôi.
Không để cho tôi trả lời, anh ta đưa ngón tay chỉ sang quán cơm tấm bên kia đường, rồi nói với tôi :
-Sang bên kia, chúng mình ăn đĩa cơm tấm cho no bụng rồi anh nói rõ công việc cho em hiểu. Nếu em thích thì làm còn không thì cũng chẳng sao.

Thành thật, vẻ sang trọng và trí thức của anh ta đã cho tôi trọn vẹn lòng tin và cảm mến nên không một tí ngại ngần tôi theo anh ta sang bên kia đường. Sau khi dựng chiếc xe trên lề đường, anh ta đưa tay thân thiện khoác vai tôi, cùng tiến đến ngồi bên chiếc bàn nhựa ở góc trong cùng của quán. Vẫy nhẹ bàn tay ra hiệu cho người bán quán và cũng chẳng cần hỏi ý thích của tôi, anh ta nói người bán quán mang cho chúng tôi hai đĩa cơm tấm sườn nướng .

Chúng tôi vừa ăn vừa nói chuyện. Với giọng nói nhẹ nhàng, thân thiện anh ta hỏi rất nhiều về việc học hành, gia cảnh và cả đến công việc của bố mẹ tôi. Lối nói chuyện đàn anh, lịch lãm trong vẻ ân cần đó, tôi chẳng có gì để phải nghi ngờ mà không thật lòng trải bầy tất cả những gì anh ta muốn biết về tôi . Sau một hồi hỏi han, anh ta cho biết muốn thuê tôi vào công việc phân phát hàng cho anh ta trong thành phố Sàigon. Công việc rất đơn giản, không gò bó với thời gian, việc học hành của tôi cũng không bị ngăn trở vì việc làm ngoài giờ đi học. Lợi tức mỗi chuyến giao hàng từ 300 đến 400 đồng, tuỳ thuộc vào số hàng được phân phát và lương của công việc chỉ được lãnh vào vài ngày đầu mỗi tháng.

Với những điều kiện quá tốt như vậy, chỉ một lần chuyển hàng mà thu nhập gấp ít nhất 3 ngày buôn bán của mẹ tôi ! Chẳng có lý do gì mà tôi từ chối cả. Nhưng khi tôi tỏ ý chấp nhận làm việc và muốn biết địa chỉ của cơ sở, nơi làm việc và món hàng gì tôi phải phân phát. Với một chút đắn đo anh ta cho biết, anh ta thuộc một nhóm buôn bán những hàng nhập lậu, trốn thuế từ các quốc gia lân cận mang về như sâm nhung, cao hổ cốt, cao khỉ và vài loại thuốc quý hiếm trong y học cổ truyền... vì vậy việc phân phát phải được giữ rất kín đáo. Thấy tôi im lặng có vẻ lưỡng lự. Anh ta vỗ nhẹ cánh tay tôi cho biết là công việc này đã kéo dài cả chục năm, chưa bao giờ anh ta gặp rắc rối. Những gói hàng chỉ bé bằng bao diêm, to nhất cũng chỉ bằng bao thuốc lá mà thôi. Hình như thấy tôi vẫn chưa hết ngại ngần, anh ta cho biết, tôi có thể làm thử cho anh ta 1 hay 2 lần, nếu thấy thích thì làm tiếp, không thì thôi.

Tôi nghĩ cũng hợp lý nên đồng ý làm thử! Trước khi chia tay, anh ta dặn tôi rất kỹ, đây là công việc trốn thuế vì vậy bắt buộc tôi không được nói với ai, ngay cả với cha mẹ, anh em trong gia đình. Việc người đưa hàng cho tôi đem đi giao cũng như địa chỉ người nhận hàng sẽ có người gặp trực tiếp tìm gặp tôi trong nay mai. Hiện tại tôi cứ sinh hoạt bình thường.

Sau khi từ giã anh ta, trên đường đi bộ về nhà và suốt cả ngày hôm đó tôi mang một tâm trạng khó hiểu. Nửa ngại ngần, không muốn làm,vì nó có vẻ mù mờ, tôi lo sợ bị vướng vào pháp luật mà làm khổ mẹ cha. Nhưng khi nghĩ đến món tiền kiếm được chỉ với vài giờ đạp xe đã nhiều hơn nhiều ngày buôn thúng bán bưng cực nhọc của mẹ lại làm tôi ham muốn. Ngày hôm sau, như mọi ngày, sáng sớm tôi vội vàng giúp mẹ chở chuối ra chợ rồi đạp xe đi học như bình thường. Có lẽ vì căng thẳng với việc học hành cũng như chơi đùa với bạn bè, tôi không còn nhớ gì về anh ta nữa. Nhưng khi tan học, trên đường đạp xe về nhà, nhất là lúc ra chợ giúp đỡ mẹ trong việc buôn bán, sự việc hôm qua lại hiển hiện ra trong trí nhớ tôi. Nhiều lần tôi đưa mắt nhìn chung quanh vì nghĩ rằng anh ta lại đến tìm và giao việc cho tôi. Sự mong đợi của tôi kéo dài cho đến tối khuya và cả buổi sáng hôm sau khi tôi đến trường, vẫn chẳng có dấu hiệu gì chứng tỏ có ai đến gặp tôi như anh ta đã nói. Cảm giác mình bị đùa dỡn đã làm tôi xua đi những chờ mong trong ý nghĩ.

Nhưng ngày kế tiếp, khi tan học vào buổi trưa, tôi chậm rãi vừa đạp xe ra khỏi cổng trường, từ phía bên kia đường, dưới bóng cây nơi chiếc xe ba gác của người bán dừa xiêm. Người đàn ông hôm trước chạy vội ra đưa tay vẫy gọi tôi. Có chút giật mình khi nhìn thấy anh ta, tôi nhanh nhẹn đạp xe sang bên đó. Cũng như lần đầu tiên, với vẻ thân thiện, anh ta vỗ nhẹ vai tôi và hỏi :
-Sao, có khoẻ không ?
Rồi đưa tay chỉ người đàn ông khá đứng tuổi, đang đứng bên cạnh chiếc xe ba gác bán dừa , anh ta giới thiệu:
-Chú Sáu, người cùng nhóm buôn bán với anh đó.

Quay sang người bán dừa xiêm, anh ta gọi cho tôi một trái dừa rồi ra hiệu cho tôi và người tên Sáu theo anh ta đến ngồi quanh chiếc bàn nhựa thấp chân dưới bóng táng cây kế cận. Sau khi hỏi tôi thêm một lần nữa và biết tôi muốn thử việc. Anh ta đưa mắt rất nhanh nhìn chung quanh rồi kín đáo cầm lấy chiếc cặp da đi học của tôi để lên đùi, rồi mở ra. Cùng lúc tay bên kia, anh ta thọc vào túi quần nhanh nhẹn lấy ra một gói giấy bỏ nhanh vào chiếc cặp đi học của tôi, cài khoá lại rồi để nó lại vị trí ban đầu. Lấy từ túi áo ra một tờ giấy nhỏ, anh ta mở ra cho tôi xem và nói với tôi :
-Đây là địa chỉ của 5 nơi mà em phải giao hàng, anh đã đánh số từ 1 đến 5 rất rõ ràng. Trong bịch giấy mà anh vừa bỏ vào cặp của em có 5 gói hàng. 3 gói to bằng bao thuốc lá và 2 gói cỡ bao diêm . Mỗi gói đều có đánh số ở bên ngoài giấy bao . Em nhớ là không được lẫn lộn khi giao hàng cho đúng với số và địa chỉ của mỗi gói.
Chắc chắn hơn anh ta nhắc lại cho tôi nghe thêm một lần nữa rồi nói tiếp :
-Em không cần vào nhà có địa chỉ đó, chỉ đứng ở gần đó mà thôi. Trong khoảnh khắc sẽ có người đến hỏi em và nhận hàng, em cứ đưa cho họ. Chỉ có vậy, không cần hỏi gì về tiền bạc vì anh và họ đã thanh toán với nhau rồi.
Cuối cùng anh ta đưa cho tôi một cái mũ thể thao bằng vải bố màu xanh xám đã bạc màu và nói với tôi trước khi chia tay :
-Trong lúc đợi người đến lấy hàng, em đội chiếc mũ này để họ biết em khi nhận hàng. Nhớ là phải giao hàng theo thứ tự để tránh luộm thuộm về thời gian mà anh đã hẹn với họ. Đây là lần thử việc. Khoảng vài ngày sau anh sẽ tự động gặp em, nếu em không thích làm nữa, anh sẽ trả tiền công cho em rất minh bạch và chúng ta sẽ chấm dứt, không gặp nhau nữa.

Công vệc thật dễ dàng, với 5 địa chỉ trong thành phố tôi chỉ mất khoảng hơn một tiếng đồng hồ đạp xe là xong. Khi đến từng địa chỉ giao hàng, tôi đứng đợi chỉ vài ba phút là đã có người đến hỏi và lấy hàng. Hai ngày hôm sau, cũng vào lúc tan học, khi tôi đang đạp xe chậm rãi trên đường về nhà. Khi đến gần rạp chiếu bóng Đại Đồng trên đường Cao Thắng. Thình lình anh ta từ trong hẻm nhỏ bên hông rạp ciné chạy ra vẫy tay gọi tôi, dẫn tôi đến chiếc bàn ăn của xe bán “ phở bò viên “ ở trong hẻm, nơi đó đã một người phụ nữ đang ngồi ăn bò viên. Đưa tay chỉ người phụ nữ, anh ta giới thiệu là vợ của anh ta. Tôi nói vài lời chào hỏi rồi ngồi cùng ăn uống, nói chuyện tầm phào với vợ chồng họ. Một lúc sau anh ta nói với tôi:
-Em làm vừa rồi tốt lắm, tiền công của em là 350 đồng, nếu em không muốn làm cho anh chị nữa thì anh sẽ trả tiền công cho em như đã hứa. Nhưng nếu em tiếp tục làm thì anh sẵn sàng đưa hàng cho em phân phát. Tiền công của em sẽ được tính toán rất minh bạch vào đầu tháng sau! Anh không trả cho em từng ngày được vì phiền phức vì anh cũng không thu gom tiền bán hàng từ người mua mỗi ngày được. Anh mong em thông cảm.

Sau khi nghe tôi đồng ý tiếp tục làm. Cũng như lần trước, anh ta rất nhanh nhẹn và kín đáo cho gói hàng vào chiếc cặp đi học của tôi cùng với mảnh giấy ghi địa chỉ người nhận hàng. Rồi mọi sự cũng trôi chảy dễ dàng như lần đầu tiên. Tiếp theo là những lần khác, những lần gặp tôi để giao hàng cho tôi, gần như toàn xảy ra trong tình trạng bất ngờ. Có khi ở cổng trường lúc tan học, có khi trên những con đường về học mà tôi thường đạp xe qua như Cao Thắng, Phan thanh Giản, Lê văn Duyệt ..v..v... Người đưa hàng cho tôi cũng thay đổi. Khi là anh ta, khi là chú Sáu hay một thiếu phụ đứng tuổi tên Kim và một thanh niên có lẽ lớn hơn tôi vài ba tuổi, mặt mũi rất bặm trợn. Hắn gặp, đưa hàng cho tôi, luôn luôn khởi đầu bằng những câu chửi thề và đe dọa!

Thấm thoát, đầu tháng đã đến, tôi mang tâm trạng chờ đợi gặp anh ta để được nhìn thấy thành quả của công việc sau gần một tháng làm việc. Rồi một hôm, cũng vào lúc tan học, khi vừa đạp xe ra khỏi cổng trường, anh ta cùng với vợ vẫy tay ra hiệu cho tôi sang bên đường. Chúng tôi lại ngồi quanh chiếc bàn nhựa uống nước dừa xiêm. Sau vài câu chào hỏi, anh ta lấy trong túi quần ra một cái phong bì khá cộm, đưa tận tay tôi và nói:
-Tháng vừa qua em giao hàng cho anh chị tổng cộng 12 lần, tiền công của em là 5200 đồng, nhưng vì em làm việc tốt, anh cho em thêm 300 nữa, như vậy tổng cộng là 5500 đồng.

Tôi đờ đẫn, như không tin vào tai mình khi nghe anh ta nói đến món tiền quá to như vậy. Món tiền mà tôi chưa bao giờ dám nghĩ rằng mình có thể kiếm được một cách quá dễ dàng như vậy. Hình như anh ta nhìn rõ suy nghĩ của tôi, đưa tay ép sát phong bì vào bàn tay tôi, anh ta nói :
-Khỏi cần đếm lại! Anh chị chẳng bao giờ lừa dối em đâu. Hôm nay không có người mua nên em không phải giao hàng.

Từ giã vợ chồng anh ta. Ngồi trên chiếc đạp với tâm hồn lâng lâng dù chung quanh tôi, xe cộ vẫn ồn ào nhưng với tôi hình như không còn ý nghĩa gì nữa bởi vì tôi đang sống trong mơ mộng ! Sự sung sướng cứ lớn dần đang tràn lan ra khắp trong lòng tôi khi nghĩ đến món tiền quá lớn trong túi mình. Với niềm đê mê đó, khi vừa đến ngã tư Phan thanh Giản-Lê văn Duyệt, ký ức tôi hiện ra ánh mắt tràn đầy ước mơ của mẹ tôi, bà dán sát vào khung cửa kính để ngắm nhìn chiếc máy may của Nhật bản khi trời đang mưa tầm tã, đã kéo tôi về thực tại. Chẳng cần lưỡng lự, thay vì quẹo trái để hướng về nhà, tôi đã theo hướng ngược lại để lên Saigon.

Chỉ cần vài chục phút xem qua loa về giá cả và điều kiện lắp ráp, bảo trì, tôi đã hoàn tất xong thủ tục để sở hữu chiếc máy may ước mơ của mẹ tôi. Người đại diện công ty cho biết ngay buổi chiều, khi tôi về nhà khoảng trên dưới một tiếng đồng hồ, nhân viên của hãng sẽ đem đến và lắp ráp tí chút là xong ngay.

Tôi về nhà vào khoảng giữa trưa. Sau khi uống ly nước lọc, ngồi một lúc thì mẹ tôi cũng về để ăn cơm và nghỉ ngơi tí chút, sau đó sẽ ra chợ coi hàng thay cho cô em gái của tôi về nhà. Muốn cho mẹ ngạc nhiên, tôi tìm cách khơi lại ước mơ của mẹ về chiếc máy may mà mẹ đã ước mơ . Lúc ngồi ăn cơm, tôi buông câu hỏi mập mờ:
-Mẹ có muốn mua chiếc máy may của Nhật bản mà mấy tháng trước mẹ đã ước mơ không ?
Mẹ chau mày tí chút để nhớ lại sự việc, rồi bình thản, chẳng thèm nhìn tôi, mẹ trả lời :
-Ước muốn làm gì cho khổ, khi mình chẳng bao giờ có khả năng mua được nó!
-Thế mà chiều hôm nay, con sẽ bê nó về biếu mẹ đó!
Lời nói của tôi, chẳng gây tí xúc động nào trên khuôn mặt của mẹ. Đưa tay gắp miếng rau vào bát, không thèm nhìn tôi mẹ nói:
-Thôi đi ông tướng! Đừng có mơ tưởng hão huyền! Hãy nhìn vào bữa ăn hàng ngày của gia đình mà tính toán để khỏi phải khổ đau!
Tôi cười to trả lời:
-Chẳng hão huyền gì cả, con đang sợ mẹ ngất xỉu khi người ta bê nó đến nhà cho mẹ đó !

Chẳng thèm trả lời tôi thêm nữa, mẹ rót ly trà xanh đưa lên miệng, rồi như thường lệ mẹ chuẩn bị lên giường chợp mắt tí chút trước khi ra chợ thay cho cô em gái tôi về nhà. Đúng lúc đó thì hai người đàn ông với bộ đồng phục khệ nệ khiêng từ chiếc xe honda kéo rơ mọc mấy chiếc hộp bằng các tông vào nhà. Một người nhận ra tôi, anh ta nói:
-Anh mang chiếc máy may đến ráp cho em đây!

Lúc đó thì mẹ tôi không còn nghi ngờ gì nữa. Bà ngồi bật dậy, đưa mắt nhìn tôi rồi lại nhìn 2 người nhân viên đang cặm cụi tháo gỡ các thùng các tông. Tôi làm ra vẻ vô tư không chú ý đến ánh mắt, nét mặt ngẩn ngơ của mẹ mà quay sang nói chuyện với 2 người thợ lắp ráp! Mãi một lúc sau, có tí trầm tĩnh hơn , mẹ đến gần tôi hỏi rất nhẹ, hình như bà sợ hai người nhân viên nghe thấy :
-Nghĩa là sao? Con lấy tiền đâu mà mua nó vậy?!!!
-Con đã nói với mẹ rồi mà mẹ không tin! Có ngày con bê cả cái xe ô tô to tướng về cho mẹ chứ nhằm nhò gì với cái máy may nhỏ bé này !!!

Câu trả lời quá “ bốc “ của tôi càng làm cho mẹ ngẩn ngơ hơn. Tôi biết chắc chắn mẹ đã không còn nghi ngờ gì về thằng con trai ngang bướng ( hình như có chút cá tính của một tên du đãng, võ biền ?!) , nhưng rất đậm lòng thương cha mẹ! Có lẽ lúc đó nếu tôi “bốc to hơn “ mà mua cho bà cái máy bay, chắc mẹ tôi cũng không nghĩ tôi đùa giỡn, huống chi là chiếc ô tô ?!

Xong công việc hai người thợ ra về, tôi cũng phải rời nhà đi học, mãi đến khuya tôi mới trở về lại nhà. Vừa bước vào nhà, chưa kịp dựng cái xe vào góc, Bố tôi cau mặt nhìn tôi với ánh mắt tức giận, chậm rãi hỏi tôi từng tiếng một :
-Tao không tin mày làm ăn chân chính mà có được món tiền to như vậy! Mày theo bạn, theo bè đi ăn cướp mới có mà thôi! Hãy cho tao biết tất cả, tao không muốn mày nói dối!

Mẹ tôi cũng hùa theo, nhưng nhỏ nhẹ hơn, bà khuyên tôi nói tất cả sự thật để bố mẹ biết và tìm cách tháo gỡ nếu có gì bất thường xảy ra. Nhìn sự lo lắng hiện rõ trên khuôn mặt khắc khổ của bố mẹ, tôi không thể cầm lòng mà giấu giếm. Sau một lúc lưỡng lự tôi lần lượt kể lại rất rõ những gì tôi đã gặp, đã làm trong gần một tháng vừa qua. Bố mẹ tôi chú ý nghe cho đến khi tôi nói hết mọi sự. Bố tôi im lặng, ra vẻ trầm tư một lúc rồi hỏi tôi về những món hàng mà tôi chuyển giao cũng như những người mà tôi tiếp cận trong những lần nhận và phát hàng vừa qua. Tôi trả lời từng chi tiết nhỏ về những thắc mắc của bố.

Tôi cũng không quên cho bố tôi biết, trong một lần gặp vợ chồng anh ta để nhận hàng, thấy tôi có vẻ thắc mắc. Người chồng rút trong túi quần ra một gói nhỏ tương tự như những gói mà anh ta đưa cho tôi đem đi giao cho người khác. Đưa tận tay tôi và còn xé gói hàng ra cho tôi xem, nó có mầu đen nâu, khá cứng, không có mùi vị gì. Anh ta lấy con dao cắt một miếng nhỏ, cho vào miệng nhai như ăn kẹo và nói với tôi:
-Đấy em xem, nó chỉ là cao khỉ mà thôi. Em thấy rõ rồi, xin đừng quá tò mò mà bóc giấy bao của những miếng khác, làm hư hỏng món hàng và người ta không nhận thì rất phiền phức. Anh mong em hiểu hộ anh.
Nghe tôi nói xong, bố tôi cười và nói:
-Mày khù khờ, dễ tin người quá! Đó chỉ là một màn kịch lấy cái giả để lừa cái thật mà thôi. Nếu chỉ là những miếng cao khỉ, cao hổ cốt hay sâm nhung nhập lậu, thì chẳng cần che dấu pháp luật đến mức bí mật như vậy và cũng chẳng bao giờ có giá trị như vàng để trả công cho mày nhiều như thế!

Cuối cùng bố tôi chắc chắn đó là thuốc phiện! Tôi đang bị những kẻ sống ngoài vòng pháp luật lừa dối, dẫn dụ theo họ đó. Bố bắt tôi phải tức khắc chấm dứt và rời xa, nếu cần bố sẽ nhờ chính quyền can thiệp! Với lời phân trần quá chính xác của bố đã làm tôi tỉnh ngộ. Tôi hứa với bố là ngay ngày mai khi gặp được họ, tôi sẽ cứng mạnh chấm dứt ngay việc làm đen tối đó.

Đúng như dự đoán, ngày hôm sau, khi tôi từ đường Lê văn Duyệt định quẹo vào ngõ hẻm nơi nhà tôi cư ngụ, bất thình lình, từ quán bán hủ tiếu của người Tầu ở đầu ngõ. Anh ta chạy ra vẫy gọi tôi, kéo tôi ngồi xuống chiếc bàn trong góc tiệm, nơi đó người vợ cũng đang ngồi với bát mì còn bốc khói. Tôi đưa tay ra hiệu và nói với người bán hủ tíu đừng làm hủ tiếu cho tôi, rồi không một tí lưỡng lự, tôi nói với anh ta là tôi không muốn làm việc này nữa! Vợ chồng anh ta hình như hơi giật mình với quyết định của tôi. Cả hai im lặng nhìn tôi tí chút rồi người chồng hỏi tôi lý do! Chẳng ngần ngại tôi nói thẳng với họ là bố mẹ tôi đã biết việc làm mờ tối của tôi và bắt buộc tôi phải chấm dứt.

Hai vợ chồng im lặng nhìn nhau, rồi người chồng đưa tay vỗ vai tôi vài cái nhẹ, cũng với giọng nói rất đàn anh và lịch lãm :
-Tiếc thật! Nhưng em đã nói vậy thì anh chị cũng chẳng dám ép. Tuy nhiên, anh chị cũng mong em và gia đình em luôn luôn giữ kín, không nói với bất cứ việc làm ăn của anh chị nhé, anh tin tưởng nơi em đó!
Dĩ nhiên, rất thật lòng tôi hứa với họ. Dù sao với gần một tháng qua giao tiếp, trong lòng tôi vẫn có ít nhiều cảm mến vì sự lịch lãm, thân thiện và minh bạch của họ. Nhất là người chồng, dáng dấp sang trọng, lịch sự, đúng nghĩa một trí thức. Thêm vào đó, chính nhờ họ mà tôi đã có một món tiền dư đủ cho tôi thực hiện một ao ước của mẹ, người mẹ là suốt đời tôi yêu qúi.

Đúng như vậy, nhờ chiếc máy may Mitsubishi đó, mẹ và lũ em gái của tôi đã có được một phương tiện để tránh được những đường chỉ khâu tay thô kệch với những miếng vải vá gồ ghề trên những chiếc quần, chiếc áo của mọi người trong gia đình. Cũng nhờ nó mà những tấm màn cửa, vải trải giường, ngay cả những chiếc áo mưa bị hư hỏng, mẹ và lũ em tôi cũng không còn phải tốn tiền mang ra cho người ta vá may nữa.

Kể từ khi chiếc máy may được đưa vào nhà tôi cho đến nay, thời gian đã qua đi gần 40 năm trời, thời thế cũng bao lần đổi thay! Mẹ và bố tôi cũng đã vĩnh viễn rời xa chúng tôi trở về với đất đá hư vô ! Nơi cư trú của gia đình tôi cũng đã đổi thay nhiều lần ... Nhưng chiếc máy may Mitsubishi, món quà kỷ niệm của tôi cho mẹ vẫn còn, vẫn tốt và được cô em gái làm giáo viên trung học của tôi gìn giữ, xử dụng. Chiếc máy may đã phủ đầy một mơ ước của mẹ tôi dù bằng những đồng tiền mù mờ nhưng vẫn có một vài tia sáng ấm cúng của lòng tôi dành cho mẹ.

Đó là chuyện sau này. Nhưng tôi muốn viết thêm tí chút về câu chuyện buồn vui đó, nó đã khắc sâu vào ký ức tôi một cảm giác giác vui buồn khó quên! Từ ngày tôi quyết định rời xa công việc mờ tối đó, tôi không bao giờ gặp lại cặp vợ chồng họ nữa. Cho đến đầu năm 1974, trong một lần tôi từ Cần Thơ lên Sàigon để lo thủ tục, hồ sơ đi tu nghiệp Nhật Bản. Với chút thanh nhàn tôi đang lang thang trên passage Nguyễn Huệ. Từ một nhà hàng sang trọng, một người đàn ông khá đứng tuổi chạy ra với vẻ mặt vui mừng, nắm tay tôi như một người quen thân thiết. Dù thời gian đã xoá nhoà rất nhiều nét hào hoa, trí thức dưới gọng kính trắng của người đàn ông, nhưng tôi vẫn nhận ra ông ta, người mà gần 10 năm về trước đã dẫn tôi vào một khúc quanh của tội lỗi. Sau cái nắm tay siết chặt và những câu hỏi han thân thiết, anh ta kéo tôi vào nhà hàng, nơi đó người phụ nữ xinh đẹp, vợ của anh ta đang hướng mắt nhìn tôi với nụ cười thân thiện. Họ mời tôi uống bia, đưa cho tôi bao thuốc lá. Tôi chối từ đã làm họ ngạc nhiên khi tôi cho họ biết tôi vẫn là kẻ lạc lõng với những thú vui như rượu chè, cờ bạc, thuốc lá….mà ngày xưa tôi đã không có điều kiện để làm quen.

Ba người chúng tôi lại có dịp hàn huyên về đủ mọi chuyện sau khoảng thời gian quá lâu không tái ngộ. Người vợ dù đứng tuổi nhưng vẫn không dấu được vẻ đẹp, sang trọng xa xưa, thời còn trẻ lúc tôi quen biết họ. Bà ta vẫn vẻ kín đáo, im lặng, ít nói như xưa, còn người chồng cũng chẳng khác gì, vẫn hoạt bát, anh ta hỏi tôi rất nhiều về cuộc sống và tương lai của tôi. Chẳng ngại ngần gì, tôi kể cho họ nghe tất cả diễn tiến trong cuộc đời tôi. Tốt nghiệp xong đại học, đi làm, đi sĩ quan rồi lại được biệt phái trở về trong vai vế người sĩ quan biệt phái. Tôi cũng cho họ biết đang lo giấy tờ chuẩn bị ra ngoại quốc tu nghiệp. Hai vợ chồng im lặng lắng nghe, họ như bị cuốn hút vào những câu chuyện có tí chút sống động của đời tôi. Khi tôi chấm dứt kể lể về mình, người chồng im lặng cầm ly cafe lên miệng nhấp vài ngụm, đầu gật nhẹ, hình như có chút suy tư buồn bã … Anh ta hướng ánh mắt chân tình nhìn tôi, rất nhỏ nhẹ nói với tôi:
-Chú Tề, chú có biết là anh chị rất cảm phục tài năng, con người và ý chí của chú lắm không ? Xã hội vẫn tồn tại ! Hạnh phúc vẫn có thực! Những cái đó luôn luôn là những ước mơ của con người, đó là nhờ xã hội còn có những con người như chú. Những người như anh chị là những kẻ tàn phá xã hội, đáng chê trách. Anh chị đã lầm lẫn khi nhìn về ý nghĩa của hạnh phúc để rồi chính cái nhầm lẫn đó đem đến cho anh chị biết bao nhiêu khổ đau.

Rồi tiếp theo, họ cho biết sau khi tôi chấm dứt việc làm ăn với họ được khoảng hơn 2 năm thì đường dây bị lộ. Tất cả những người trong nhóm rơi vào vòng tù tội. Sau khi mãn hạn tù vợ chồng họ vẫn còn tí cơ ngơi để sinh sống. Nhưng đau xót nhất mà họ phải nhận chịu từ chính những việc làm nhem nhuốc đã mang đến cho họ. Hai đứa con của họ cũng rơi vào vòng nghiện ngập với chính món hàng mà họ đã từng cung ứng cho người khác. Đứa con trai 17 tuổi chưa hoàn tất bậc tiểu học, đã hoà nhập với xã hội đen rồi bị giết chết vì thanh toán nhau, chỉ vài ngày trước khi họ được ra tù! Đứa con gái 20 tuổi, lang thang trong các chốn ăn chơi của Sàigon, cũng đang trả giá trong vòng lao lý vì con đường buôn bán món hàng mà chính họ đã đi qua.

Từ giã họ sau lần tao ngộ duy nhất đó, tâm tư tôi như bị nhấn chìm vào ý nghĩa của hai chữ hạnh phúc. Tôi tự hỏi, nếu ngày xưa, tôi cũng như họ mà nghĩ rằng hạnh phúc gia đình có thể mua bằng tiền bạc, giàu sang để rồi tôi cũng bước vào con đường của họ thì ngày nay cuộc đời sẽ dẫn tôi đến đâu?! Chắc chắn nó sẽ khác hoàn toàn với hiện thực của tôi ngày nay. Dù không được gọi là giàu có, vinh quang hơn người, nhưng cuộc sống của gia đình tôi với những đứa con, lũ cháu ngoan hiền…. Tôi đang sống trong hoan lạc, vui ca, không bị khốn khổ với những bất hạnh buồn đau như họ.

Dĩ nhiên, tôi cũng không thể phủ nhận được là thần may mắn ngày đó đã cho tôi những suy tính sáng suốt. Giúp tôi quyết định đối diện với đói nghèo, tìm cách vươn lên, thắng nghịch cảnh của đời tôi ngày đó. Tôi cũng không bao giờ quên được âm điệu của những nốt nhạc nhân hậu từ ông cha, bà mẹ của tôi, dù ít học nhưng chứa đầy tình thương đã làm nền tảng cho bản hoà âm êm nhẹ hạnh phúc của đời tôi đang có vậy.

Bộ salon bằng gỗ trắc.


Tôi không bao giờ phủ nhận, cuộc đời của tôi đã có những may mắn. Nhưng cũng phải nhờ vào sự tính toán hợp thời, khoa học kèm theo sự chăm chỉ làm việc, nhất là dựa vào khả năng chuyên môn rất thực tế của mình. Những cái đó đã giúp tôi kéo gia đình tôi thoát khỏi vũng lầy của đói nghèo và thua thiệt trong xã hội. Có thể nói từ năm 1970 gia đình tôi thực sự bước vào nếp sống khá sung túc của giới trung lưu trong xã hội. Lũ em 6 đứa của tôi không còn phải cực nhọc, vừa học vừa giúp mẹ lo việc buôn thúng bán bưng kiếm tiền sinh nhai như trước kia nữa. Chúng được dành thời gian cho việc học hành, vui chơi với bạn bè, trong đó có đứa còn được tôi lo cho đi du học tự túc. Bố tôi vẫn làm việc với đồng lương èo ọt, nhưng không còn là nguồn thu chính cho gia đình như xưa nữa. Mẹ tôi cũng chẳng phải phơi gió, đội mưa với những nải chuối nghèo nàn bầy bán trên chiếc bạt ny-lông trải trên lề đường, khói bụi để kiếm từng đồng bạc nhỏ bé thấm đẫm mồ hôi nữa.

Tôi đã ngạo nghễ kéo gia đình tôi đứng dậy, với căn nhà khá khang trang, rộng rãi ở vùng Bà Quẹo do chính công sức của tôi tạo ra. Căn nhà được xây trên miếng đất rộng hơn 500 mét vuông, kèm theo một dãy chăn nuôi gà, heo khá quy mô dùng cho hoạt động kinh tế kiếm sống cho gia đình. Mẹ tôi đã có phần nhàn nhã cùng với mọi người trong gia đình trông nom chuồng gà sản xuất trứng và mấy con heo nái chuyên cung cấp heo con giống cho những người chăn nuôi nhỏ lẻ trong khu vực. Tất cả những vấn đề liên quan đến kỹ thuật, bán buôn...trong công việc chăn nuôi đều do tôi tính toán, điều hành.

Thật vậy, gia đình tôi không còn thiếu những bữa cơm tối, dưới ánh đèn sáng choang, mọi người quây quần nhau ăn uống, cười vui nữa. Tuy nhiên bố mẹ tôi vẫn là dạng người sinh ra của cần kiệm và mang nặng ấn tượng của nghèo đói khổ cực xa xưa, vì vậy lối sống cũng như dụng cụ trong gia đình tôi vẫn không thoát khỏi được bóng dáng của một gia đình nghèo nơi miền quê Bắc bộ. Vẫn những chiếc giường gỗ đơn sơ trải chiếu, vẫn chiếc chạn ăn xộc xệch để giữ đồ ăn trong góc bếp, vẫn những bộ bát đĩa bằng sành thô kệch lớp men, những chiếc nồi nhôm méo mó không biết từ bao giờ còn giữ lại .... Biết bao nhiêu lần tôi đã nói với bố mẹ phải thay đổi lối sống, phải quên đi nghèo khó xa xưa để hưởng thụ tí chút giàu sang (Thật ra có gì để nói là giàu sang với bộ bát sứ màu mè hay chiếc tủ lạnh nhỉ ?). Nhưng chưa bao giờ tôi được bố mẹ đồng ý, với đủ lý do mà luôn luôn tôi là người thua cuộc .

Nhưng một hôm, vào buổi tối đẹp trời. Cả nhà sau bữa cơm chiều quây quần nhau trên chiếc phản gỗ trong phòng khách. Đưa mắt nhìn căn phòng rộng thênh thang. Giữa phòng, bộ bàn ghế cũ kỹ bằng gỗ mà gia đình tôi đã dùng nó cho việc tiếp khách và cũng là bàn ăn, từ ngày di cư vào Nam năm 1954. Tôi nói nhẹ với mẹ:
-Mẹ có muốn con mua một bộ salon để mẹ tiếp khách và thoải mái nghỉ ngơi khi mệt mỏi không ?
Không một tí suy nghĩ, mẹ trả lời tôi:
-Thôi! Đừng phí phạm với những chuyện không cần thiết! Chiếc bàn vẫn còn tốt chán.

Tiếp theo là một bài thuyết trình kể lể, hoài nhớ về những lúc nghèo đói xa xưa của gia đình khi còn ăn bữa sáng lo bữa tối! Nào là cảnh mẹ tôi thường sai tôi mang cái bát đến tiệm tạp hoá mua vài muỗng nước mắm vì không đủ tiền mua cả “ tĩn nước mắm con cua xanh “ ..v..v.. và ..v..v.. Tôi đã thuộc nằm lòng vì nó được lập đi lập lại quá nhiều! Rồi mẹ nhắc lại cho tôi nhớ, ngày chạy lên Hà nội không tấm áo che thân khổ cực với đói rách chẳng nơi nương tựa! Lúc mới di cư vào Nam, cả nhóm ba, bốn gia đình chui rúc, nằm gối lên nhau trong cái garage của chủ nhân .( Gia đình tôi và nhóm lính bất hạnh bị bè lũ ăn chặn tiền, thực phẩm… của viện trợ Mỹ mà ! ) Đã thế còn phải làm việc như tên nô lệ mà vẫn bị chửi bới như tát nước vào mặt. Ăn miếng cơm mà cảm thấy mằn mặn vì nước mắt, mồ hôi!..v..v.. Nghe bài diễn thuyết quen thuộc của mẹ, tôi cười to, buông câu đùa giỡn :
-Cuối năm con ra trường, đi làm kiếm tiền, con sẽ bê về một cái xe hơi, mỗi cuối tuần con sẽ chở cả nhà đi tắm biển Vũng Tàu, con sẽ....
Không để cho tôi nói hết, mẹ vội vàng ngắt lời:
-Thôi đi ông tướng! Đừng nói trước mà bước chẳng qua! Tôi chỉ mong ông học hành đâu vào đó, đừng vội lấy vợ, rồi sợ vợ mà quên cả cha mẹ, các em. Thế là tôi vui lắm rồi!
Nghe mẹ nói xong, tôi lấy ngón tay chỉ vào mũi mình, cười to mà trả lời:
-Mẹ hãy nhìn kỹ con, thằng con trai xấu xí này có phải là dạng người sợ vợ không ?
Chẳng cần để cho mẹ trả lời, hung hăng tôi nói tiếp :
-Không! Sẽ không bao giờ có chuyện con sợ vợ mà quên mẹ , quên gia đình đâu, mẹ khỏi lo cho mệt !

Cứ như vậy, những câu chuyện đùa vui kéo dài cho đến khuya, rồi mọi người chia nhau đi ngủ. Riêng tôi, nằm trên giường nhưng hình ảnh chiếc bàn gỗ xiêu vẹo, đa dụng vẫn luẩn quẩn trong trí nhớ, nó thúc dục tôi phải tìm cách thay thế bẳng một bộ salon càng sớm càng tốt. Sáng hôm sau, không một chút lưỡng lự tôi lẳng lặng mở tủ lấy món tiền mà vài ngày trước vừa có được từ vụ bán đàn heo con giống. Rồi chỉ vài chục phút đạp xe lên dẫy tiệm bán đồ gỗ ngay ngã tư Bảy Hiền, kéo về một bộ salon bằng gỗ trắc, thuộc loại tốt nhất của tiệm. Cũng như món quà, chiếc máy may Mitsubishi của gần 5 năm về trước. Mẹ tôi ngẩn ngơ, im lặng nhìn thằng con trai cùng với người phu xe gò lưng khuân vác bộ bàn ghế mới toanh, bóng láng xếp vào trong phòng khách, thay thế cho bộ bàn ghế cũ kỹ vẫn còn loang lổ rất nhiều dấu tích của thủa nghèo khổ xa xưa.

Buổi tối hôm đó, cũng dưới ánh đèn sáng choang, cũng với bữa ăn gia đình trên chiếc phản gổ trong phòng khách. Nhờ bộ salon căn phòng khách như sáng hơn, sang trọng hơn. Ánh mắt của mẹ tôi cũng có cái gì đó khác lạ, hình như nó chứa đựng rất nhiều niềm vui kín đáo từ món quà của đứa con trai mà bà chưa bao giờ mất niềm tin đã mua tặng cho bà .

Bộ salon đó vẫn hiện diện trong căn nhà của gia đình tôi tại Bà Quẹo lúc tôi tốt nghiệp đại học, đi làm việc rồi đi tu nghiệp Nhật bản. Thời cuộc đổi thay, mãi đến khoảng giữ thập niên 1980-1990 tôi mới có dịp dẫn vợ con về thăm viếng gia đình và quê hương. Bộ salon vẫn còn y nguyên, vẫn cứng chắc, toàn hảo như ngày mới mua dù đã có tí bạc màu sau gần 20 năm xử dụng. Điều buồn đau nhất với tôi đó là mẹ tôi đã không còn nữa! Ánh mắt chứa đầy niềm vui của mẹ khi ngắm nghía những món quà của tôi dâng tặng lại trở về trong trí nhớ của tôi. Ngồi trên chiếc ghế salon, đưa tay vuốt nhẹ kệ gỗ để tay, nước mắt tôi trào ra làm nhòa đi hình ảnh của mẹ tôi trong trí nhớ. Tôi chợt hát nho nhỏ vài câu trong bài “ Xuân này con không về “ của Duy Khánh đã bao lần làm tôi chảy nước mắt vì nhớ mẹ !

 

Lưu An Vũ Ngọc Ruẩn
Thuỵ Sĩ , January 2016