(Nhà Văn Nguyễn Xuân Hoàng -1970)
Sáng nay, qua email bạn chuyển, tôi đọc được một bài viết cũ của thầy tôi, nhà văn Nguyễn xuân Hoàng, trên web-site VOA (https://www.voatiengviet.com/a/nhung-chiec-ghe-bo-trong-tran-kieu-bac-03-18-11-118263639/916785.html) . Tôi học Triết với thầy Hoàng năm cuối trung học.
Thầy Hoàng viết về những cảm nghĩ của Thầy sau khi đọc tuyệt tác ( theo tôi ) “ Những chiếc ghế còn bỏ trống “ của Trần Kiêu Bạc. Thầy viết bài này hôm 18/3/2011.
Ngày 18/3/2011 là ngày thứ sáu : một ngày như mọi ngày . Nhưng , những ngày-tháng-ba trước đó , với thầy tôi , lại là “ những ngày không như mọi ngày “ . Bắt đầu từ ngày người bạn của Thầy , nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang , vào " coma ." Sau đó , lại là một người bạn khác , triết gia Phạm công Thiện , qua đời ! 4 hôm sau , Thầy nhận được tin , thầy Phạm ngọc Đảnh , người bạn đồng nghiệp ở Petrus , cũng vừa “ ra đi “ ! 3 hung tin , trong vòng mấy ngày , đã làm thầy tôi “ choáng váng , mất hồn “ ! Cùng thời gian đó , Thầy đọc được một bài thơ của Trần phiêu Bạc : “ Những chiếc ghế bỏ trống “ . Bài thơ mà , tôi rất đồng ý với thầy tôi , khi Thầy mang hai câu thơ thay cho đoạn kết bài viết của mình : “ Chỉ thương chiếc ghế còn bỏ trống / Bạn không về nữa biết ai ngồi ? “ . Đó cũng là nội dung bài thơ .
” Trong đời người bất ngờ một hôm thấy mình đang ngồi bên Những chiếc ghế bỏ trống… “ . Vâng , thưa Thầy , cái cảm giác hụt hẩng đó , cũng đã bất ngờ đến với em , không phải trong những hoàng -hôn- tuổi này , mà đã từ lâu , từ những ngày “ sân trường học … đại “ sau 75 . Những ngày mà , có lần em thấy Thầy chở Cô , trên chiếc lambretta thời Petrus, phóng vội dưới cơn mưa , đoạn Nguyễn Trãi , qua khỏi cổng vào ( trường ) Bác Ái một tí , trước pharmacie “ Nguyễn Trãi “ (? ) . Em muốn vẫy tay , cúi đầu chào Thầy nhưng nhìn lớp mưa dầy đặc , nên thôi !
Những năm 77 , 78 đó là những năm “ phong trần đến cả sơn khê / tang thương đến cả hoa kia cỏ này “ ! Bạn bè em theo nhau, từ từ …. “ mất tích “ : đứa vượt biên , đứa về quê không trở lại , đứa " kinh tế mới " , đứa nông trường xa … Cho đến một buổi tối , một mình ngồi trong cái quán bên đường quen thuôc ( quán “ cô Vân “ ) , trước ly cà phê nhỏ giọt và khói thuốc “ Tam Đảo “ , em thảng thốt nhận ra : chỉ còn mình em ngồi ở cái bàn “ này “ , chờ cà phê một mình , thả khói một mình : những chiếc ghế đẩu quanh bàn bị bỏ trống ! Lòng em chợt bùi ngùi , mắt em chợt cay cay , những con chữ , vần điệu từ đâu bật ra ( ? ) và , dưới ánh đèn mờ , em ghi vội vàng trên bao thuốc lá:
Bây giờ , ở quán cô Vân
Những lúc tôi ngồi uống cà phê
Là những lần tôi nhớ bạn bè
Tôi ngồi một mình trong bóng tối
Tôi ngồi một mình đau sắt se
Bạn bè có lúc sống xa nhau
Có lúc gần như những toa tàu
Tàu chạy bằng thương yêu thắm thiết
Còi kéo dài “ mày -tao -mày -tao “
Tôi cháy trong đêm rất .. lập lòe
Khói không nhiều nhưng mắt cay se !
Chợt ước mình như là điếu thuốc
Đỏ rực đầu tay giữa bạn bè
Hôm qua ồn đến động trời xanh
Bây giờ là vắng lặng vây quanh
Tôi ngồi lẩm nhẩm tên từng đứa
( Cô quán cười chi có một mình ? )
1978
Mỗi một người rời nước ra đi đều mang theo một góc quê hương , trong đó , chiếm nhiều chỗ nhất là gia đình , rồi bè bạn … . Riêng « miền Nam « sau 75 , trừ những người « chắp cánh bay cao « đi « chính thức « ( « hồi hương » / quốc tịch Pháp , Đức .. ; đoàn tụ , HO.) , trước khi lên đường , còn có thể « cạn chén ly bôi « , còn được thân nhân ra tận phi trường đưa tiễn ( người sang bên ấy sao mà lạnh / nhjp trúc ta về lạnh mấy mươi / Nguyễn Bính ) … . Khác với những chuyến vượt biển , băng rừng lén lút , đều phải được « bảo mật « tối đa. Có người chồng ra đi mà chưa kịp hôn vợ , ôm con , có đứa con ra đi mà không dịp chào bố mẹ ..vv
Những năm Sài Gòn khốn khổ , bạn bè chúng tôi « phê , pháo « hầu như mỗi ngày . « Giải « được mớ « nhu yếu phẩm « thì một thằng 1 ly đen , chật vật thì 1 ly đen 3 thằng ( nước trà cho không , biếu không ) , rỗng túi thì gãy gãy đầu , cười cười xin « dì Ba « ghi sổ . Cứ như thế nên , nếu một tuần không thấy mặt , đến nhà hỏi thăm thì bà Cụ bảo « nó về quê thăm bà Ngoại … « thì biết ngay là thằng con « chui « rồi . Bên chiếc bàn con , bắt đầu , một ghế đẩu bỏ trống ! Rồi thêm một ghế , một ghế nữa …. , trong đó , có một chiếc , hơi hướm còn vương mà người ngồi đã ngồi sâu đáy …. biển : « Nh .- răng- vàng « !
Sang xứ lạ , như hầu hết mọi người , tôi « đi lại từ đầu « , « đi » cả phần bè bạn , bạn Tây lẫn bạn Ta . Lúc đầu chỉ có bạn Tây : người bảo trợ , bạn sinh viên , bạn đồng nghiệp … Bạn Việt thân nhất chỉ có ông đồ « 6.1 « chữ-nghĩa -bề- bề ở tận miền tây , thời tôi từ tỉnh tôi qua tỉnh ông học , sáng đi chiều về ( ! ) . Tình cờ gặp ở « R.U « ( căng - tin sinh viên ) , thấy một chàng mặt mày trí thức khôi ngô , lại chịu nối tếu , hai đài phát thanh , chung một làn sóng bèn thân ngay « một cái rụp « ( như thế mà đã 39 năm ) . Cùng một lứa bên trời lận đận , đi ghe qua đây , thương thằng bạn mới quen « ốm yếu ho hen « mà phải ngồi mấy tiếng xe lửa mỗi ngày , thầy -đồ kêu tôi ngủ lại phòng thầy ; một căn phòng dành cho học sinh nội trú nhưng các « sư huynh « ( frères ) trường dạy nghề ( ? ) thuận cho vài người Việt tị nạn độc thân vào ở ; sáng hai thằng đi học chung .
“ Bán anh em xe mua láng giềng gần “ . Những thằng bạn Tây giúp tôi nhiều lắm : dọn nhà , đóng kệ , sửa xe ,… vv Lao động Tây không là « vinh quang « , không cần « quang vinh « , chỉ … phở , chả giò , thịt nướng … , sau đó , là đủ . Người nhờ ( là vợ chồng tôi ) lại được người giúp cám ơn ra rít ! Nhưng , theo thời gian , những chiếc ghế quanh bàn tiệc , ngày càng bị bỏ trống , do chuyện việc ( đổi hãng , đổi nghề ) , chuyện nhà (ly dị) …
Sau này, càng lúc tôi càng quen nhiều bạn Việt Nam : bạn cũ thời sinh viên liên lạc lại được , bạn mới kiểu « bạn của bạn ta là bạn-ta « , bạn văn nghệ , bạn dancing …vv Tiệc tùng mời nhau qua lại . Ghế bàn tiệc bắt đầu chêm vào . Một bàn không đủ tranh thủ .. nối thêm . Quanh bàn đầy ghế . Trên ghế là những chuỗi cười liên tục . Từ sáng đến khuya . Đàn khoan thai ôm tiếng bỗng trầm . Và những bước madison , rock , chachacha … Khách tới phải nhờ mang thêm ghế . Giao thừa 2007, 5 bàn dài, hơn 60 cái ghế có chủ, trong căn phòng khách nhà tôi ! Cho đến những ngày -phải- tới ….
Cái ngày- phải -tới trong mỗi một đời người , bằng cách này hay cách khác: những « đôi ngã chia ly «, những giã từ rất sớm: vài chiếc ghế quanh bàn bị bỏ trống . Bắt đầu là Kha , người bạn văn nghệ thời KH , mới bắt liên lạc lại , hát nhau nghe chưa đầy 2 năm, thì bạn ta đã « cho ( nghe ) lần cuối « , cuối thập niên 80s . 20 năm sau, giữa thập niên 2000 , đã lấp lánh khăn tang trên đầu những người bạn gái chúng tôi , khi người-yêu- dấu của các bạn ấy , những bạn- ta của tôi , ra đi .
Tôi thích câu này của ông Lô Răng Phan lạc Phúc nên xin nhắc lại ( nữa ) « : Càng già thì càng cần có bạn . Mà bạn thì càng ngày càng rơi dần như lá mùa thu « . Quanh bàn tiệc nhà tôi bây giờ , nhiều chiếc ghế bỏ trống đã được kéo ra vì không có người ( mới ) ngồi vào !
Như thầy Hoàng . Bài của ông được viết ngày 18/3/2011 , trong đó , ông đã dự đoán về chiếc ghế bỏ trống của chính ông : « .. … Và tôi chợt nghĩ ra các bạn tôi rồi một hôm cũng sẽ chợt khám phá ra chiếc ghế dành cho tôi trong buổi hẹn bên ly rượu ở một nơi nào đó sẽ không có tôi… Những chiếc ghế bỏ trống của bạn bè và một chiếc ghế bỏ trống cho chính mình! .. » . 3 năm rưởi sau đó , ngày 13/9/2014 , đến phiên ông bỏ hẹn " lên đường "!
Từ đó đến nay , trong bếp nhà thầy cô Hoàng , bên chiếc ghế cô Vy ngồi là một chiếc ghế bỏ trống : chiếc ghế của thầy tôi !
Đến một tuổi nào , sợ nhất là những : chiếc ghế bỏ trống , chỗ nằm bỏ trống , cái bát bỏ trống , cái tách bỏ trống , đôi dép bỏ trống , ngăn tủ bỏ trống, .. vv Những cái " bỏ trống " khủng khiếp đó tuy trống không mà rộng lớn vô cùng !!!
BP
===========
Nhân đọc bài thơ Những Chiếc Ghế Bỏ Trống của Trần Kiêu Bạc
18/03/2011
Nguyễn Xuân Hoàng
Tôi đã đọc Những Chiếc Ghế Còn Bỏ Trống của Trần Kiêu Bạc vào những ngày tháng Ba 2011, những ngày “không như mọi ngày”. Bạn tôi, nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang, vừa hôm trước còn gọi điện thoại hẹn tôi sẽ lên San Jose, nhưng hôm sau đã vào bệnh viện ở Quận Cam, hoàn toàn hôn mê không nhận ra người quen, không nói được lời nào. Tuần sau, ngày 8 tháng Ba, Giáo sư - thi sĩ Phạm Công Thiện vừa qua đời ở Houston, Texas. Ông ra đi nhẹ nhàng, nhưng đầy bất ngờ. Tôi chưa kịp hoàn hồn trước hai tin trong màu trời “mùa động xám” của tháng Ba thì ngay liền bốn hôm sau, 12 tháng Ba, một tin khác đến với tôi từ Úc châu, bạn tôi giáo sư môn Triết và Đức văn ở trường Petrus Ký, Phạm Ngọc Đảnh cũng vừa ra đi… Đó là những người bạn mà chúng tôi mới vừa hẹn nhau qua điện thoại sẽ gặp nhau trong một quán cà phê ở San Jose [NĐQ], ở Houston [PCT], ở Bolsa hay ở Đức [PNĐ]… Trước sau gì tôi sẽ đến nơi đã hẹn, nhưng những chiếc ghế bên tôi giờ đã bỏ trống…Phạm Công Thiện, Phạm Ngọc Đãnh đã ra đi, Nguyễn Đức Quang còn trên giường bệnh…
Những chiếc ghế con còn bỏ trống
Xích lại gần nhau cũng lạnh thôi
Trong đời người bất ngờ một hôm thấy mình đang ngồi bên Những chiếc ghế bỏ trống… Và tôi chợt nghĩ ra các bạn tôi rồi một hôm cũng sẽ chợt khám phá ra chiếc ghế dành cho tôi trong buổi hẹn bên ly rượu ở một nơi nào đó sẽ không có tôi… Những chiếc ghế bỏ trống của bạn bè và một chiếc ghế bỏ trống cho chính mình!
Bài thơ của Trần Kiêu Bạc đến với tôi không chỉ là cái tựa, nó là những dòng chữ của một thi sĩ, khi anh nhìn ra cái khoảng trống của một người mà mình biết rõ và đang chờ đợi, một người mà không có họ, mình vẫn có thể hình dung ra đôi mắt và nụ cười, có thể thấy màu tóc và giọng nói, có thể…
Đối với tôi, Trần Kiêu Bạc còn quá trẻ, nhưng thơ anh đã bước vào thế giới của thi ca bằng những bước đi vững chải của người đồng điệu. Thơ không có tuổi và người làm thơ Trần Kiêu Bạc đã cho thấy tiếng nói của một thi sĩ nhìn ra được kiếp người.
Tuổi cũng chưa cao, chân chưa mỏi
Tình bạn còn nguyên chẳng bốc hơi
Sương sớm chưa tan trời buổi sáng
Đã chiều ớn lạnh tái vành môi
Đọc thơ Trần Kiêu Bạc trong một buổi chiều lạnh ở bắc California, giữa những tin bạn bè đứa vừa nằm bệnh viện, đứa vừa ra đi, giữa những breaking news về trận động đất và tsunami ở Nhật, về lửa và nước, về tan hoang, đổ nát và chết chóc, tôi thấy Những chiếc ghế còn bỏ trống không chỉ là một tiếng nói, mà còn là một thông điệp cho những người sống. Bài thơ không chỉ viết cho một người mà cho nhiều người…
Trong khi Trần Kiêu Bạc viết:
Đưa tay vớt tuổi non xanh biếc
Còn tôi thì
Thấy lá vàng khô sắp rụng rồi
Cám ơn Trần Kiêu Bạc. Cám ơn những dòng chữ trong bài thơ của anh.
Tôi muốn chép lại hai câu thơ này gửi đến các bạn tôi: Phạm Công Thiện, Phạm Ngọc Đãnh đã ra đi. Và làm sao đọc cho Nguyễn Đức Quang nghe được những câu thơ này khi anh còn nằm trên giường bệnh?
Chỉ thương chiếc ghế còn bỏ trống
Bạn không về nữa biết ai ngồi?
=========================
NHỮNG CHIẾC GHẾ CÒN BỎ TRỐNG
Gặp nhau, đêm gió đẩy ngược xuôi
Ngồi xa một chút cũng thấy vui
Nhìn nét thân quen từng khuôn mặt
Đã thấy đổi thay giữa cuộc đời
Bạn của năm xưa không về được
Bạn của ngày nay cũng vắng rồi
Những chiếc ghế con còn bỏ trống
Xích lại gần nhau cũng lạnh thôi
Ly rượu mừng nhau vơi phân nửa
Chìm tận đáy ly những khóc cười
Thủy tinh trong suốt qua tầm mắt
Rượu một dòng lại chảy nhiều nơi
Tuổi cũng chưa cao, chân chưa mỏi
Tình bạn còn nguyên chẳng bốc hơi
Sương sớm chưa tan trời buổi sáng
Đã chiều ớn lạnh tái vành môi
Rót rượu cho nhau lòng đau buốt
Bưng ly rượu nhớ mắt ai cười
Gởi đến bạn xa tình chưa gởi
Chỉ còn hương rượu đã phai phôi
Có tiếc có thương dù ngắn ngủi
Cũng đành cho gió cuốn mây trôi
Đưa tay vớt tuổi non xanh biếc
Thấy lá vàng khô sắp rụng rồi
Ngợp trời muà Hạ hoa rung nắng
Lại chớm mây Thu xám đất trời
Biết đâu sẽ ập muà Đông đến
Để lá bay theo những ngậm ngùi
Dẫu biết ngàn năm sông vẫn chảy
Một bờ sông lở, một bên bồi
Vẫn nghe trong đám phù sa ấy
Một dây thân ái đã đâm chồi
Gặp nhau siết mạnh tay một chút
Thiêng liêng tình bạn đã lên ngôi
Giá như chưa hết bao nuớc mắt
Chắc ngàn giọt lệ vội tuôn rơi
Chỉ thương chiếc ghế còn bỏ trống
Bạn không về nữa biết ai ngồi
Biết đến khi nao mà hò hẹn
Hay là tay trắng sẽ buông xuôi?
Tôi viết bài thơ buồn độc vận
Như một mình giữa bóng trăng soi
Tôi nhặt miếng trăng rơi xuống cỏ
Kết nên tình bạn sáng muôn đời.
TRẦN KIÊU BẠC
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét