tiêu đề Nhãn
- BIÊN KHẢO
- CÂU ĐỐI
- CỔ THI
- GIA CHÁNH
- GIẢI TRÍ
- HÌNH ẢNH HỘI NGỘ
- HÌNH ẢNH NAY
- HÌNH ẢNH XƯA
- HỘI HỌA
- KHOA HỌC
- LƯU NIỆM
- LỊCH SỬ
- LỜI HAY Ý ĐẸP
- NHẠC
- SƯU TẦM
- SỨC KHOẺ
- THƠ
- THƠ CẢM TÁC
- THƠ DIỄN NGÂM
- THƠ DỊCH
- THƠ NHẠC
- THƠ PHỔ NHẠC
- THƠ SƯU TẦM
- THƠ TRANH
- THƠ TRANH NGHỆ SĨ
- TIN BUỒN
- TIN VUI
- VĂN
- VŨ HỐI THƯ HỌA
- VƯỜN THƠ VIÊN NGOẠI
- XƯỚNG HỌA
- YOUTUBE
Thứ Ba, 6 tháng 2, 2024
Xuân Viễn Xứ
Có Một Mùa Xuân
Có hay đâu,
Mùa xuân đang đến!
Khi ta còn dong ruỗi gió sương
Bước thời gian trôi về muôn bến,
Bóng chiều xa khuất nẽo quê hương.
Ta đâu có hay
Mùa xuân đến!
Màu sắc, thanh âm rộn nẽo đời.
Chợt thấy bên đường màu cỏ biếc,
Cành Mai trước ngõ nở vàng tươi.
Hoa Đào, hoa Cúc, hoa Lan, nữa...
Mở hội vườn xuân muôn sắc màu.
Nghe cả quanh ta bao rộn rã,
Những lời chúc tụng cho mai sau.
Nhưng không
Dù có bao nhiêu nữa,
Hương sắc ngàn hoa đẹp bấy ngần!
Nếu như một chút hương hoa cỏ
Cũng chuyên chở được cả mùa xuân!.
Ta, với chiếc áo lì năm tháng
Bạc màu sương gió theo thời gian.
Cánh chim vẫn lướt trời muôn hướng,
Mang cả tình xuân mỗi dặm ngàn.!
New Orleans (USA),
Những ngày cuối năm Quí Mão 2023.
Mặc Phương Tử
Xuân Giá
Trời xanh tuyết trắng phủ khắp nơi
Băng giá chào Xuân trên quê người
Quê nhà nắng ấm muôn hoa nở
Đất khách lạnh lùng hoa tuyết rơi
Tôn Thất Hùng
Mùa Xuân Tình Yêu
Chúc Xuân
Cuối năm Quý Mão nâng ly chúc
Năm mới an khang vui hết mực
Bè bạn họp hành xoa, phú, thơ…
Giáp Thìn gia quyến luôn sung túc!
Lộc Bắc
Jan24
Giáp Thìn sắp tới nghiêng mình chúc,
Hạnh phúc, An khang đều hết mực.
Du lịch, Hội hè thỏa ý tâm,
Mọi nhà Thịnh vượng quá sung túc.
HHD
Năm Giáp Thìn sang chúc mấy lời
Gia đình hạnh phúc vững cơ ngơi
Bình an sức khoẻ chào mừng Tết
Nâng chén chung vui hưởng lộc trời!
Kim Oanh
Melbourne 2024
Năm hết Tết đến chúc mấy lời,
Lão niên, bằng hữu khỏe vui đời.
Bình an, Thịnh vượng trong năm mới,
Con cháu rể dâu hưởng phước trời
HHD
Cuối năm Quý Mão họa dăm lời
Rửa bút xếp bài chút nghỉ ngơi
Chờ đón Giáp Thìn năm mới Tết
Sắn tay mở tráp viết vung trời! (...ơi)
Lộc Bắc
Montréal2024
Tuổi hạc bình yên được nghỉ ngơi,
Con cháu xum vầy chào đón Tết,
Cả nhà hạnh phúc nhận ơn Trời.
Tịnh Phan
Saigon 2024
Gió xuân vờn nhẹ cành mai thắm
Cuốn hết ưu phiền cuả thế gian
Thi ca đàn hát đón xuân sang
Điểm Trang
Cho tôi xin chiếc lược!
Xuân về trên Quê Hương,
Xấu-xí sao nhìn được?
Này, những sợi tơ vương
Đã một thời óng mượt:
Tay nào mà vuốt trượt?
Gió nào mà xuôi nương?
Này, ống kính thiên-phương:
Màn ảnh của trần-dương,
Sáng ngời hai mặt nước
Phản-chiếu bóng thiên-đường!
Này, đôi môi uyên-ương
Ngọt lịm lời yêu-đương,
Thắm tươi màu mộng-ước,
Rực-rỡ sắc hoa hường!
Này, hàm răng kim-cương
Trắng bóng ánh tinh-khương:
Môi nào mà mọng ướt!
Má nào mà thương-thương!
Này, vầng trán thanh-lương!
Này, sống mũi chân-phương!
Này, làn da má mướt!
Này, vành môi khiêm-trương!
Tóc tôi dù ngả ngược
Không thấy ngôi ngay đường,
Mắt tôi dù khổ-dượt
Chứng-kiến đời tang-thương...
Mội tôi... dù phai hường...
Má tôi... dù nhô xương...
Răng tôi.... dù sứt xước...
Da tôi... dù tái sương...
Xin cho tôi vững bước!
Xin cho tôi kiên-cường!
Cho tôi xin... chính-chước!
Cho tôi xin... hiền-lương!...
Cho môi đừng xấc-xược!
Cho tay đừng nhiễu-nhương!
Cho hồn đừng ô-trược!
Cho đời đừng tai-ương!
Xin cho óc ngay đường!
Xin cho lòng trong gương!
Xin cho đất thắm hường!
Xin cho trời ngát hương!
Cho tôi thần trí lược!
Cho tôi thân tâm gương!
Xuân về trên Quê Hương,
Xấu-xa: - sao chịu được?
Xuân về trên Quê Hương,
Xấu-xí sao nhìn được?
Xuân về trên Quê Hương,
Xấu-xa sao chịu được?
Thanh Thanh
Nhớ Mẹ Đêm Xuân(2)
Vẫn pháo vui vắng lặng lúc Xuân về
Cành mai vàng thiếu vắng nhớ thương quê
Con nhớ Mẹ ... đón Xuân về hiu quạnh
Tết ngày xưa mai vàng tô điểm thắm
Người vui Xuân, đón tết thật tưng bừng
Chạnh nỗi lòng nhớ Mẹ mắt lệ rưng
Mừng Xuân đến bao năm dài vắng Mẹ
Bao mùa Xuân không còn nghe Mẹ kể
Đón giao thừa bỗng giọt lệ con rơi?
Mứt kẹo ngon,... lòng con thấy rã rời
Vòng tay ấm Mẹ hiền không còn nữa
Con đứng nhìn ngày Xuân qua song cửa
Tuyết trắng rơi lạnh lẽo đón Xuân về
Nhìn thông già tuyết phủ đẹp si mê
Con đón Tết vùng cao nguyên giá lạnh
Xuân nơi đây vẫn hoài luôn hiu quạnh
Ảnh Mẹ yêu qua ánh mắt diệu hiền
Nhớ tết xưa Mẹ gói bánh ngoài hiên
Mồng Một Tết lì xì phong bì đỏ
Cả nhà vui bên tách trà, mâm cỗ
Giờ lòng buồn khi thiếu vắng Mẹ yêu
Mẹ ra đi ngày Tết thấy tiêu điều
Xuân vẫn đến, nhưng Mẹ hiền đã mất...
Gia đình ta vẫn đón Xuân họp mặt
Vắng Mẹ hiền Tết đến cũng kém vui
Thiếu Chị Ba vui Tết tủi ngậm ngùi
Tin Xuân đến gợi buồn vương kỷ niệm
Nguyện xin Chúa nhậm lời con khấn nguyện
Cho Mẹ già, người Chị cả đáng yêu
Được về nơi nước Chúa hưởng phúc nhiều
Ngày sum họp vui Xuân miền đất hứa
Nguyễn Vạn Thắng
Những Ngày Lễ Tết Trong Niên Lịch
A. Niên Lịch
*
Phổ Thông tạp chí số 31 trong thời VNCH viết về Lịch (Calendriers, Calendars) trong mục trả lời độc giả như sau:
Dương Lịch (Calendriers solaires) căn cứ trên tuần hoàn của Địa cầu chung quanh Mặt Trời, tức là 365 ngày và 6 giờ (hay hơn kém một vài phút).
Trong lịch sử, Dương Lịch biến đổi 2 lần.
Lịch Julien (Lịch xưa) do Hoàng đế Julius Cesar đặt ra từ năm 45 trước chúa Giê-su. Lịch nầy được thông dụng ở khắp nơi ở Âu châu và Tây Á cho đến cuối thế kỷ XVI (16), nói đúng hơn cho đến năm 1582. Riêng nước Nga vẫn dùng cho tới năm 1918 và nước Hy Lạp dùng đến năm 1923. Dương Lịch Julien tính một năm là 365 ngày 1/4. Cứ 3 năm (365 ngày) liên tiếp rồi đến một năm nhuần 366 ngày (thêm một ngày vào tháng 2).
Lịch Gregorien (Lịch mới). Gần cuối thế kỷ 16 các nhà Thiên văn học La mã xét lại thấy rằng căn cứ theo Tiết Xuân phân (Equinoxe de Printemps) thì Địa cầu xoay chung quanh Mặt Trời (Thái dương) không phải là 365 ngày 6 giờ mà 365 ngày 5 giờ 48 phút 45 giây 985, mới thật là đúng theo Xuân tiết. Vì vậy cứ tính theo Lịch Julien của Julius Cesar thì dồn lại từ xưa cho đến năm 1582 lịch nầy đã quá lố 10 ngày. Giáo hoàng Gregoire XIII liền sửa đổi Lịch Julien cho đúng với Xuân tiết nên quyết định ngày 5 tháng 10 năm 1582 đổi thành ngày 15 tháng 10 (năm 1582); nghĩa là năm 1582 phải rút ngắn lại 10 ngày. Thế là Lịch mới nầy được gọi là Lịch Gregorien (theo tên của Giáo hoàng Gregoire XIII) và bắt đầu từ ngày 15 tháng 10 năm 1582. Các nước theo Thiên Chúa Giáo ở Âu châu đều sửa lại theo Lịch mới vào ngày 15 tháng 10 năm 1582 chỉ trừ nước Nga (cho đến ngày 15 tháng 10 năm 1918) và nước Hy Lạp (cho đến ngày 15 tháng 10 năm 1923).
Cho đến ngày nay, Dương Lịch theo Lịch mới Gregorien được thông dụng khắp Thế giới, không còn sửa đổi gì nữa. Theo đó cứ 4 năm thì có 1 năm nhuần, nghĩa là năm ấy có tháng Hai có 29 ngày còn 3 năm không nhuần thì tháng 2 chỉ có 28 ngày. Theo lịch mới, mỗi năm lịch là 365 ngày 5 giờ 49 phút 12 giây so với mỗi năm của Xuân tiết (là 365 ngày 5 giờ 48 phút 45 giây 985) thì phải 4000 năm mới sai 1 ngày.
Âm Lịch hay Nguyệt Lịch (Calendriers lunaires) chỉ tính theo Mặt Trăng chớ không tính theo Mặt Trời.
Lịch La mã trước Julius Cesar: mỗi năm chỉ tính có 304 ngày.
Lịch Macedoine: cũng mỗi năm có 12 tháng, mỗi tháng có 29 hay 30 ngày.
Lịch Hy Lạp : mỗi năm có 354 ngày.
Lịch Ba Tư: mỗi năm có 365 ngày
Lịch Hồi Giáo: mỗi năm có 360 ngày.
Âm Dương Lịch (Calendriers luni-solaire), tức là Lịch Tàu, Nhật và Việt Nam. Lịch nầy người ta hoàn toàn sai lầm khi gọi là Âm Lịch. Vì chỉ có Lịch Tàu là tính theo đúng với tuần hoàn của Địa cầu (Trái Đất) chung quanh Mặt Trời và tuần hoàn của Mặt Trăng chung quanh Địa cầu, theo kinh tuyến Bắc kinh. Quyển Lịch Tàu đầu tiên được xuất bản tại Bắc Kinh vào năm 1644. Mỗi năm 12 tháng lấy theo 12 con Trăng, tức là 360 ngày tất cả. Tuy nhiên có tháng đủ là 30 ngày, có tháng thiếu là 29 ngày. Có năm phải tính 13 tháng (tháng nhuần) cho hợp với vị trí Mặt Trời, và theo mỗi Niên kỷ là 60 năm. Năm 1983 là khởi tiếp Niên kỷ 78.
*
Dương Lịch và Âm Dương Lịch
Sự khác biệt về ngày tháng của 1 năm Dương lịch và 1 năm Âm Dương lịch.
Năm của Dương Lịch có 365 ngày, nếu năm nhuần có thêm 1 ngày (366 ngày).
Năm của Âm Dương Lịch có 12 tháng, nếu năm nhuần (nhuận) có thêm 1 tháng (13 tháng). Một tháng Âm Dương lịch thì có trung bình 29.5 ngày. Năm Âm Dương lịch có 354 ngày do đó ngắn hơn năm Dương lịch 11 ngày.
Bốn năm (Dương Lịch và Âm Dương Lịch) thì có một năm nhuần.
Sau 3 năm thì năm Âm Dương lịch ngắn hơn năm Dương lịch 33 ngày. Do đó nếu năm thứ 4 là năm nhuần thì năm Âm Dương lịch vẫn còn ngắn hơn năm Dương lịch (vì 1 tháng Âm Dương lịch thêm trong năm nhuần chỉ có 29.5 ngày).
Do đó có thêm 1 luật nữa (để năm Âm Dương lịch bắt kịp năm Dương lịch): cứ 19 năm lại có 1 lần cách 2 năm thì năm Âm lịch có thêm 1 năm nhuần (thêm 1 tháng Âm lịch).
Những luật về năm nhuần của năm Âm Dương Lịch là để năm Âm Dương Lịch bắt kịp năm Dương Lịch. Ngày Tết Âm Dương lịch trễ nhất trong tháng 2 Dương lịch là ngày năm Âm Dương lịch bắt kịp năm Dương lịch.
B. Những Ngày Lễ Tết (trong Niên Lịch)
Người Việt và người Trung Hoa có những ngày Lễ Tết trong năm dựa theo Âm Dương Lịch (mà chúng ta quen gọi lầm là Âm Lịch), bắt đầu từ văn hóa người Trung Hoa. Âm Dương Lịch có nguồn gốc từ người Trung Hoa và truyền bá sang Nhật Bản và Việt Nam.
a) Tiết và Khí Tiết
Theo học giả Đỗ Chiêu Đức, Tiết có nghĩa gốc là các mắt, đốt, lóng của cây Tre; nghĩa rộng là các mắt, đốt, lóng của thực vật; và nghĩa rộng hơn là các phần nhỏ của sự vật nào đó. Nhưng khi dùng cho niên lịch, Tiết có nghĩa khác.
Lịch Cổ của Trung Quốc chia 1 năm ra làm 8 Tiết, gọi là Bát Tiết (8 Tiết): Lập Xuân, Lập Hạ, Lập Thu, Lập Đông, Xuân Phân, Thu Phân, Hạ Chí và Đông Chí.
Lịch Kim (tức là lịch từ đời nhà Hán cho đến bây giờ) chia 1 năm ra làm 24 Khí hoặc Tiết. Cứ 3 ngày là 1 Hậu, cứ 5 Hậu là 1 Khí hay Tiết.
Mỗi năm chia làm 4 mùa và 12 tháng và như vậy mỗi tháng có 2 Khí hoặc Tiết, thường cũng gọi là Khí Tiết.
Các Tiết trong Tháng (mỗi tháng có 2 tiết) và trong Mùa:
(Mùa Xuân)
Tháng Giêng: Lập Xuân - Vũ Thủy.
Tháng Hai: Kinh Trập - Xuân Phân.
Tháng Ba: Thanh Minh - Cốc Vũ.
(Mùa Hạ)
Tháng Tư: Lập Hạ - Tiểu Mãn.
Tháng Năm: Mang Chủng - Hạ Chí.
Tháng Sáu: Tiểu Thử - Đại Thử.
(Mùa Thu)
Tháng Bảy: Lập Thu - Xử Thử.
Tháng Tám: Bạch Lộ - Thu Phân.
Tháng Chín: Hàn Lộ - Sương Giáng.
(Mùa Đông)
Tháng Mười: Lập Đông - Tiểu Tuyết.
Tháng Mười Một: Đại Tuyết - Đông Chí.
Tháng Mười Hai: Tiểu Hàn - Đại Hàn.
Tóm lại, 24 Tiết nêu trên được gọi là Khí Tiết có nghĩa là khí hậu và thời tiết căn cứ theo mùa màng của Âm lịch cho Canh nông.
b) Lễ Tiết hay Lễ Tết
Khác với Khí Tiết, Lễ Tiết là những cột mốc, là những ngày Lễ theo truyền thống và phong tục tập quán của từng dân tộc hay địa phương.
Lễ Tiết được gọi trại thành những ngày Lễ Tết vì thường đọc trại là Tết từ Tiết, thường dùng cho Lễ Tết. Tiết là Hán Việt ngữ còn Tết là Tiếng Nôm.
Tóm lại Tiết khi được gọi là:
Khí Tiết thì có nghĩa là khí hậu và thời tiết của mùa màng trong một năm. (Trong Hán ngữ, Khí Tiết còn có nghĩa khác là "nghĩa khí và tiết tháo" của Nho sĩ.
Lễ Tiết thì có nghĩa là những ngày Lễ Tết trong năm. Tết trong Lễ Tết là đọc trại của Tiết và Lễ Tiết đọc trại là Lễ Tết. Lễ Tết cũng thường gọi vắn tắt là Tết.
Trong 1 Năm (12 tháng) có những Lễ Tết (Lễ Tiết), theo thứ tự thời gian trong năm:
Tết Nguyên Đán là ngày mồng một tháng giêng.
Tết Nguyên Tiêu là ngày rằm (15) tháng giêng.
Tết Thanh Minh trong tháng ba; vừa là Lễ Tiết vừa là Khí Tiết.
Tết Hàn Thực là ngày mùng ba tháng ba.
Tết Đoan Ngọ hay Đoan Dương là ngày mùng năm tháng năm.
Tết Trung Nguyên là ngày rằm (15) tháng bảy.
Tết Trung Thu là ngày rằm (15) tháng tám.
Tết Trùng Cửu hay Trùng Dương là ngày mùng chín tháng chín.
Tết Hạ Nguyên là ngày rằm (15) tháng mười.
Những ngày Lễ Tết (Lễ Tiết) thường là:
- Ngày đầu Tháng và đầu Năm: Tết Nguyên Đán (ngày mùng một tháng giêng)
- Ngày Rằm giữa tháng (ngày thứ 15):
Tết Nguyên Tiêu hay Thượng Nguyên là ngày rằm (15) tháng giêng.
Tết Trung Nguyên là ngày rằm (15) tháng bảy.
Tết Trung Thu là ngày rằm (15) tháng tám.
Tết Hạ Nguyên là ngày rằm (15) tháng mười.
- Ngày trùng: thứ tự của ngày trong tháng trùng với thứ tự của tháng trong năm:
Tết Hàn Thực là ngày mùng ba tháng ba.
Tết Đoan Ngọ hay Đoan Dương hay Trùng Ngũ là ngày mùng năm tháng năm.
Tết Trùng Cửu hay Trùng Dương là ngày mùng chín tháng chín.
- Tết Thanh Minh trong tháng ba; vừa là Lễ Tiết vừa là Khí Tiết.
Tất cả những ngày Lễ Tết đều có sự tích cho ngày Lễ.
Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn
Bài này là trích đoạn bài "Sự Tích Những Ngày Lễ Tết Trong Niên Lịch" (Bs Phan Thượng Hải) đăng trong phanthuonghai.com mục Văn Hóa phần Học Thức và Đời Sống.
Thứ Hai, 5 tháng 2, 2024
Xuân Viễn Xứ - Thơ Hồng Thủy - Nhạc: Nguyễn Ánh 9 phổ nhạc - Trình Bày: Kim Phụng
Nhạc: Nguyễn Ánh 9 phổ nhạc
Trình Bày: Kim Phụng
Sen!
Sen làm đầm phải hổ ngươi!
Sen về cho nụ cười tươi hết buồn!
Sen đi đến tận cuối nguồn!
Sen theo bước Phật mây tuôn Nát Bàn!
Sen hàn gắn mọi đau thương, đổ vỡ!
Sen thanh cao, vươn lên từ bùn lầy hôi tanh, thấp kém! Ngỡ chiêm bao!
Sen hiển hiện sắc màu huyền ảo vàng kim, trắng muốt, hồng đào!
Sen sanh ra từ đâu?! Mà tâm trí dù cao đến đâu cũng không hiểu hết?!
Sen là đẹp nhất trong vui Tết!
Sen vẫn xinh hoài với hạnh duyên!
Sen! Nghe âm vang tiếng Nhạc Thiền giải giấc du miên!
Sen! Một ngó đơn sơ mà dẫu đứt lìa mãi vương tơ vấn vít cả miền luyến ái!
Sen! Lá xanh! Bông trắng, hồng, hoàng, đỏ! Nhị vàng thơm ngọt ngào, ngai ngái!
Sen! Củ, hạt là món ăn ngon, là vị thuốc hay! Thoải mái, thực dụng, tinh hành!
Sen! Luôn cứu giúp chúng sanh!
Đức Hùng
Sydney, Úc Châu, 10/07/2023
Nếu Nhỡ

Này bạn khi mai vàng hé nở
Trở về cánh én báo xuân sang
Ngày đầu năm rộn ràng lân pháo
Hẹn sẽ về chân sáo lối quen
Này bạn nhỡ mai mình lỡ hẹn
Men xuân nồng thiếp giấc mộng du
Dù nghìn thu giữ lòng tri kỷ
Bằng hữu tình tròn ý sắt son
Này bạn nếu mai còn đối mặt
Bàn chân tìm đến với bàn chân
Dạo quanh ánh mắt lúc trao gần
Thương hận một đời chia lối rẽ
Này bạn còn đâu thời tuổi trẻ
Trộm mai vàng bẻ nụ tầm xuân
Giao thừa chuông đổ những hồi ngân
Lòng viễn khách lần tìm kỷ niệm
Kim Phượng
Tết Xưa
Chùa đông người tấp nập vào ra
Khói nhang lan tỏa gần xa
Xin xăm quẻ tốt vỡ òa niềm vui.
Tiếng chân bước tới lui dòn dã
Chào hỏi nhau rôm rã chuyện trò
Trẻ con cười giỡn líu lo
Mừng tuổi năm mới được cho bánh quà
Pháo nổ ran từ nhà ra ngõ
Cành mai vàng bung nở đầy hoa
Mời nhau chén rượu chung trà
Chúc năm tuổi mới chan hòa lộc xuân.
Phương Hà
(05/01/2024)
Mừng Xuân Giáp Thìn 2024
Dân Việt thuộc giống con rồng cháu tiên
Niềm tin huyền thoại linh thiêng
Giúp cho cái tết cổ truyền yên vui
Nhớ ơi là nhớ bàu trời quê ta:
Rộn ràng tiếng hát Xuân ca
Gió đưa ngào ngạt hương hoa đầu mùa
Quyện theo mùi pháo giao thừa
Lòng ta ngây ngất như vừa cạn ly
Bài thơ khai bút Đường-thi
Phác thảo trên giấy chưa ghi đủ vần
Lao xao lời chúc mừng Xuân
Vội vàng ngưng viết đón Xuân vào nhà
Tết âm lịch xứ cờ hoa
Hoàn toàn khác biệt giữa ta với người
Tết dương lịch đã qua rồi
Bây giờ đến lượt lẻ loi phận mình
Dù cho cuộc sống điêu linh
Vẫn xum họp đủ gia đình đầu Xuân
Trên bàn thờ tổ, thiên thần
Hương hoa, mâm cỗ đủ phần tạ ơn
Nhờ trời hạnh phúc khang an
Niềm vui ấm áp chứa chan nghĩa tình
Đầu Xuân 24 Giáp Thìn
Cầu cho thế giới an bình cả năm
Cầu cho quê hương Việt Nam
Mau đổi mới để huy hoàng như xưa
Chúc đồng bào chốn tha phương
Cùng nhau gắn bó tình thương kết đoàn.
ChinhNguyen/H.N.T.
Giao niên Q.Mão-G.Thìn
Cung Chúc Tân Xuân
Chúc xuân vui bước đường chiều lả lơi
Tân niên hoa bướm tuyệt vời
Xuân khoe sắc mới rạng ngời hoa tươi.
Vạn lời nói, vạn tiếng cười
Sự đời lắm lúc rối bời đau thương
Như mây giăng mắc khói sương
Ý trời trong lẽ vô thường hiện sinh.
Yêu đi cho hết chân tình
Nếu mai hai đứa chúng mình xa nhau
Thì đời buồn lắm cơn đau
Ngày xuân xin hãy, cho nhau nụ cười.
Tình đời cứ thế đầy vơi
Ân tình trả mãi, vạn lời ước mong
Cuộc đời vẫn mãi thong dong
Xuân về hoa nở, cõi lòng hân hoan.
Lê Tuấn
Nhớ Về "Tết Nhất Quê Nhà"
Hết những ngày gió bấc đêm đông.
Xuân về, vườn nở thêm bông
Ngoài đường phố, cũng rất đông bộ hành.
Khiến nhớ đến, nam thanh nữ tú,
Tết quê nhà, cảnh cũ năm xưa,
Giờ đây, quê bạn, sớm trưa
Dẫu Tết nhất, cũng vừa vừa, tí thôi.
Đâu còn cảnh, thịt xôi, chè rượu
Suốt mấy ngày tề tựu bên nhau.
Chén tôi, chén bác cụng đầu …
Mơ màng, ngẫng mặt, liếc bầu trời xanh.
Danh Hữu
Paris, 05.01.2024














