Thứ Tư, 9 tháng 3, 2022

Văn Tế Tưởng Niệm Hai Bà Trưng


Hôm nay, nhân ngày Tưởng Niệm Nhị Vị Trưng Vương,
Chúng con xin Thành Tâm Kính Lạy:

ANH LINH NHỊ VỊ TRƯNG NỮ VƯƠNG
CÙNG CÁC DANH THẦN, DƯƠNG TƯỚNG,
LIỆT NỮ, ANH HÙNG THẾ HỆ NHỊ TRƯNG
HIỂN LINH CHỨNG GIÁM

Đạo Sống ngàn đời còn sáng tỏ
Muôn Dân vạn thuở tạc công ơn.
Nhị Trưng vì Nước quên thân ngọc
Một dạ sắt son cùng núi sông.

Đất Nước Trời Nam, kết tụ tinh hoa hiển lộ Anh Thư, ngàn năm vằng vặc gương Liệt Nữ,
Non Sông Hồng Lạc, hun đúc gan vàng lẫy lừng Nhi Nữ, muôn đời sáng chói đức Trưng Vương.
Uy linh còn thắm đượm
Danh tiếng vẫn ngát hương.
Vượt thời gian, ân đức thấm nhuần đến cành cây ngọn cỏ

Ngoài vòng định lượng, công ơn ghi tạc cùng sử sách lưu phương.
Nhớ xưa NHỊ VỊ ĐẠI VƯƠNG
Sinh trưởng chốn nho phong nền nếp, vốn dòng lương tướng,
Chuyên nghề canh cửi nông trang, dáng ngọc thiên hương.
Nhưng không may gặp buổi
Đất nước lâm cơn quốc nạn
Đồng bào thảm họa tai ương.
Phường xâm lược chủ trương hưng Hán diệt Di, ưa đồng ghét dị,
Giặc Bắc phương bày nhiều quỷ kế mưu sâu, thủ đoạn khôn lường.

Khát máu tanh lòng, túi tham không đáy, chúng vơ vét sạch sành sơn trạch,
Lòng lang dạ sói, mạnh được yếu thua, giặc san bằng lãnh thổ biên cương.
Bắt cống nạp sừng tê đá quý
Bày dâng hiến trai ngọc đinh hương.
Hãm hại nhân tài anh kiệt
Dập vùi ân đức hiền lương.
Tàn mạt đến côn trùng cây cỏ
Đảo lộn cả luân lý cương thường.
Căm giặc nước, sôi gan tím mật,
Hận thù nhà, lòng quặn đau thương.
Bởi vậy cho nên NHỊ VỊ phải
Liễu yếu đào tơ ra oai tỳ hổ, giục toàn dân giải thù cho Nước,
Khăn tang mài kiếm tỏ dạ kiên trinh, Chị cùng Em rửa hận cho chồng.
Chiêng trống vang rền, giục giã quân dân tướng sĩ quyết vùng lên trừ bạo,
Tuốt gươm vung dáo, quản bao máu lửa hiểm nguy thề tận diệt bạo cường.
Nhi Nữ mà yên cương rong ruổi, tỏ lộ gan vàng dạ sắt,
Anh Thư song gươm dáo xông pha, phô bày chí khí phi thường.
Sáu mươi ngả tiến quân, đánh tan tành giặc Hán,
Trăm nẻo đường vây kín, hãm thái thú họ Tô.
Trời PHONG CHÂU phất phới ngọn cờ tự chủ
Thành MÊ LINH rạng ngời nền bá nghiệp vương.
Ba năm GIAO CHÂU thịnh trị

Ngàn đời ÂU LẠC lưu phương.
Nào ngờ nước Nam chưa qua vận bể dâu
Giặc Hán chưa buông tham vọng
MÃ VIỆN vội vã lên đường.
Móng nền tự chủ còn non yếu
Khó ngăn bầy lang sói điên cuồng.
Tự cổ kim thịnh suy mấy độ
Trường đấu tranh thắng bại lẽ thường.
Tận trung với Nước, dòng SÔNG HÁT sóng gào, thương tiếc Anh Thư tuẩn tiết,

Hết dạ thương Dân, đất MÊ LINH rung chuyển, thấm ơn Liệt Nữ TRƯNG VƯƠNG.
Hơn một ngàn năm Ngài hằng linh hiển cứu Dân độ Nước,
Trải muôn vạn đời, toàn dân thành kính hương khói miếu đường.
Cột Đồng MÃ VIỆN tịch mịch, vùi sâu trong cát bụi,
Sóng xanh SÔNG HÁT uy linh, tỏa sáng khắp muôn phương.
Nước biếc non xanh phơi phới ân sâu nghĩa nặng,
Trời cao đất rộng lồng lộng uy đức Anh Hùng.
Chúng Con nay
Nhân ngày Thánh hóa
Dâng nén Tâm Hương
Hướng lòng tưởng niệm.
Ghi tạc Công Ơn
Cúi xin phù trợ

Cho Con Dân thoát đọa đày tan tác
Cho Đất Nước sớm Dân Chủ Phú Cường!

Uống nước nhớ nguồn
Nhân ngày Giỗ Thánh
Chúng con kính cẩn
Dâng tấc lòng thành.
THƯỢNG HƯỞNG!


Võ Đại Tôn cúi đầu chấp bút

Tiếng Hờn Sông Hát


Thi Sách chàng ơi trọn kiếp này
Thù nhà hận nước nặng đôi vai
Liều thân nhi nữ vì sông núi
Thề diệt xâm lăng dạ chẳng thay
(Quên Đi)
          Từ ngày lập nước Văn Lang, trải qua hàng ngàn năm, các vua Hùng đã đem đến cho dân Lạc Việt cuộc sống ấm no. Nhưng đến đời Hùng Vương thứ 18 thì thế nước bắt đầu suy tàn, vua Hùng Vương thứ 18 vốn nhu nhược, nên bị vua nước Âu Việt là Thục Phán chiếm lấy. Sau khi giành được đất Lạc Việt của họ Hồng Bàng, Thục phán sát nhập thành nước Âu Lạc, xưng là An Dương Vương, đóng đô tại Phong Khê (nay là vùng Cổ Loa, huyện Đông Anh-Hà Nội).
An Dương vương lúc nào cũng phòng bị, cho xây thành Cổ Loa, luôn huấn luyện quân lính để bảo vệ đất nước. Lúc bấy giờ chúa quận Nam Hải (Quảng Đông ngày nay) là Triệu Đà nhiều lần kéo quân xâm chiếm, nhưng đều thất bại. Sau cùng Triệu Đà dùng kế nội gián, cho con là Trọng Thuỷ sang cưới Mỵ Châu con An Dương Vương (tạo nên câu chuyện tình thương tâm trong sử Việt).
Thôn tính xong nước Âu Lạc, Triệu Đà lập nước Nam Việt mở đầu kỷ nguyên nhà Triệu. Đến cuối thế kỷ thứ 2 trước Công Nguyên, Thái Hậu Cù Thị cùng Vua Triệu Ai Vương định dâng nước cho nhà Hán, bị tể tướng Lữ Gia chống đối và tiêu diệt. Lữ Gia kêu gọi người dân đứng lên chống giặc Hán xâm lược. Nhưng thế cô lực lượng mỏng, bị Hán quân tiêu diệt.
Thế là thời kỳ Bắc Thuộc lần thứ nhất bắt đầu.
Nhà Hán chia nước ta thành quận huyện. Đứng đầu mỗi quận là một viên Thái thú người Hán, còn dưới mỗi huyện phần lớn vẫn để các Lạc tướng người Việt trông coi, theo chính sách "dùng tục cũ mà cai trị".
Tuy nhiên các quan lại nhà Hán cai trị rất hà khắc, rất tham lam và tàn bạo. . bắt dân ta xuống biển mò ngọc trai, lên rừng săn sừng tê, ngà voi, sưu cao thuế nặng ... Các quan Lạc tướng cũng bị khinh thường và đối xử tàn tệ, khiến các Lạc Tướng vô cùng căm phẩn.
Vốn căm thù quân Hán xâm lược, lúc bấy giờ có Lạc Tướng huyện Chu Diên (nay là Hà Nam và Nam Hà), có con trai là Thi Sách, là người chí lớn, tinh thần bất khuất quật cường, cưới con gái Lạc Tướng Huyện Mê Linh (nay là vùng Sơn Tây cũ và tỉnh Vĩnh Phú), thuộc dòng dõi Hùng Vương, là Trưng Trắc tài trí hơn người.
Hai gia đình Lạc tướng thông gia cùng mưu tính liên kết đứng lên đuổi giặc, cùng lo chuẩn bị lực lượng, tập hợp dân chúng, rèn đúc vũ khí .
Nhưng việc bại lộ. Thi Sách bị viên Thái thú TôĐịnh bắt và giết đi.
Vốn là người có chí lớn, tài trí hơn người, Tuy việc khởi nghĩa bị lộ, không hề rung sợ, hai Bà Trưng vẫn tiếp tục sự nghiệp mà Thi Sách đã để lại.
Tháng 3 năm 40 (theo dương lịch), Hai Bà phất cờ
khởi nghĩa ở Mê Linh. Những lời tuyên thệ trước ba quân tướng sĩ:
 
Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kêu oan ức lòng chồng
Bốn xin vẻn vẹn sở công lệnh này.


         Hai Bà Trưng là những hậu duệ trực tiếp của các vua Hùng, còn mẹ của Hai Bà, bà Man Thiện, cũng là cháu chắt bên ngoại của vua Hùng. Bà góa chồng sớm nhưng đã nuôi dạy hai con gái thành những trang anh hùng kiệt xuất, mở đầu cho lịch sử chống ngoại xâm vẻ vang của dân tộc. Khi hai con gái và con rể chuẩn bị khởi nghĩa, bà đã không quản đường xa mệt mỏi, đi lại khắp nơi để hẹn ước với nghĩa quân các địa phương. Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng sở dĩ mau chóng thắng lợi là vì các lực lượng trong nước đều nhất tề đứng đậy một lần, làm cho quân giặc trở tay không kịp. Với danh nghĩa là vợ một vị Lạc tướng lẫy lừng, đã quán xuyến mọi công việc sau khi chồng chết, nên lời nói của bà được mọi người trong nước tin tưởng và hưởng ứng nhiệt liệt.
Trước đó trên mọi miền đất nước, đã có những cuộc nổi dậy lẻ tẻ. Nay nghe tin hai Bà, vốn là dòng Hùng Vương dấy nghiệp, đều nhất tề đứng lên, Mê Linh đã trở thành nơi tụ nghĩa của đồng bào cả nước.
Từ Mê Linh, nghĩa quân tiến đánh Luy Lâu (thuộc Thuận Thành, Hà Bắc) là thủ phủ của chính quyền Đông Hán ở Giao Chỉ. Thành Luy Lâu bị hạ, Tô Định phải cắt tóc cạo râu, ăn mặc giả làm con gái, tìm đường lẻn trốn về Nam Hải (thuộc Quảng Tây, Trung Hoa).
Từ Luy Lâu, nghĩa quân tiến đánh nhiều phủ huyện khác, phối hợp với lực lượng nổi dậy ở các địa phương. Bọn quan lại ở Đông Hán hoảng sợ, có nơi mới chỉ nghe tin nghĩa quân đang đến, đã phải bỏ lại cả của cải, ấn tín, giấy tờ ... để cốt chạy tháo thân về nước.
"65 huyện thành", nghĩa là toàn bộ nước ta hồi đó đã sạch bóng quân xâm lược. Bà Trưng Trắc được tất cả các tướng sĩ và quân lính suy tôn lên làm vua, đóng đô ở Mê Linh. Bà Trưng Nhị và các tướng lĩnh khác đều được phong tước, chia nhau ra giữ các miền xung yếu. Hai năm liền, mọi người cả nước được miễn tất cả các khoản sưu thuế, sống trong nền độc lập tự chủ.

Tin Hai Bà Trưng khởi nghĩa và xưng vương đã làm chấn động cả vương triều Hán. Hán Quang Vũ vô cùng tức giận, lập tức hạ lệnh bắt các quận miền Nam (Trung Hoa) lo trưng tập binh mã, sắm sửa thuyền bè khí giới, sửa sang đường sá, tích trữ lương thảo ... để chuẩn bị đánh chiếm lại nước ta.
Tháng 4 năm 42, vua nhà Hán phong Mã Viện làm "Phục Ba Tướng Quân" đem hai vạn quân cùng hai nghìn thuyền xe, vừa thủy vừa bộ, từ Hợp phố
(Quảng Đông) tiến thẳng vào vùng Lãng Bạc (Tiên Sơn, Hà Bắc).
Mã Viện là viên tướng già có nhiều mưu gian kế hiểm, và thuộc vào loại sừng sỏ nhất của nhà Hán thời đó. Một tay y đã từng đánh dẹp người Khương và đàn áp các cuộc khởi nghĩa trong nước.
Trưng Nữ Vương và các tướng lĩnh của Hai Bà Trưng đã đưa quân ra chống giặc từ biên giới, trước thế giặc rất hung hãn, quân ta đã chống cự mãnh liệt, các trận chiến ác liệt đã diễn ra ở Lăng Bạc, Ðông Triều, Yên Phong, Hà bắc.

Cuối cùng quân ta yếu thế hơn phải rút lui về Cẩm Khê (Yên Lạc, Vĩnh Phú). Mã Viện đem quân đuổi theo. Tại Cẩm Khê và các vùng lân cận lại diễn ra nhiều cuộc chiến đấu ác liệt nữa, kéo dài gần một năm sau.
Hai bên đều bị hao binh tổn tướng. Hàng vạn người Việt đã ngã xuống trong các trận chiến ác liệt để bảo vệ Tổ Quốc thiêng liêng của mình. Nhưng quân giặc do đông hơn, lại có nguồn chi viện thường xuyên, còn quân ta lực lượng ít hơn, lại bị chặn các nẻo đường tiếp tế. Cuối cùng, do lực lượng quá chênh lệch, quân ta đã thất bại.
Khi chạy tới vùng cửa sông Hát, thấy không còn cứu vãn nổi tình thế được nữa, Hai Bà Trưng thà chết chứ nhất định không chịu rơi vào tay giặc, đã cùng nhảy xuống sông tự tử. Đó là ngày mồng 6 tháng 2 Âm lịch, (Dương lịch là tháng 3 năm 43).

Chiếm được nước ta, nhà Hán sáp nhập vào Ðông Hán. Mã Viện còn cho dựng cây đồng trụ ở chỗ phân địa giới và cho khắc sáu chữ : "Ðồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt" (cây đồng trụ đổ, thì người Giao Chỉ mất nòi). Dân ta ai qua đó cũng ném một hòn đá vào, dần dần thành gò cao, đến nay không biết cột trụ đâu
Thế là nước Ta lại bị giặc Tàu đô hộ.
Sau khi vua Trưng cùng 162 tướng tuẩn tiết, cả nước vô vùng thương tiếc, đã lập đền thờ ghi công đức của hai vị nữ anh hùng của dân tộc. Hàng năm, vào ngày 6 tháng 2 Âm Lịnh, là ngày giỗ hay là lễ hội tưởng nhớ Hai bà (cũng là Ngày Phụ nữ Việt Nam tại miền Nam trước kia) được tổ chức tại Miền Nam Việt Nam trước năm 1975 và hiện nay tại nhiều nơi trong nước Việt Nam cũng như cộng đồng người Việt tại nước ngoài
Tương truyền vua Anh Tông nhà Lý, nhân trời đại hạn, khiến thiền sư Tịnh Giới đến đền cầu mưa, quả được mưa, khí mát buốt người. Vua mừng liền qua xem, hốt nhiên ngủ mộng thấy hai thiếu nữ mặt hoa mày liễu, áo lục quần hồng, mão đỏ, thắt lưng, cỡi ngựa sắt theo mưa mà chạy ngang. Vua lấy làm lạ mới hỏi. Đáp rằng:
- Thiếp là chị em Nhị Trưng đây, vâng mệnh Thượng đế xuống làm mưa.
Vua tỉnh dậy mà cảm, sắc phong trùng tu từ vũ, rồi sắm lễ vật đến tế, sai sứ rước về phía Bắc Đại nội, dựng đền Vũ Sư mà thờ phụng. Sau lại thác mộng cho vua xin lập đền thờ ở làng Cổ Lai, vua nghe theo, sắc phong Trinh Linh Phu Nhân.
Năm Trùng Hưng thứ tư, phong bà chị là Chế Thắng phu nhân, năm Hưng Long thứ hai mươi mốt, gia thêm hai chữ Thuần Trinh. Lại gia phong thêm cả bà chị và bà em hai chữ Bảo Thuận, thường thường vẫn có linh ứng.

 Theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, Sử-gia Lê văn Hưu 黎文休nói rằng:
"Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn-bà nổi lên đánh lấy được 65 thành-trì, lập quốc xưng vương dễ như giở
bàn tay. Thế mà từ cuối đời nhà Triệu cho đến đời nhà Ngô hơn một nghìn năm, người mình cứ cúi đầu bó tay làm tôi-tớ người Tàu, mà không biết xấu-hổ với hai người đàn-bà họ Trưng!".

Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Sử thần Ngô Sĩ Liên nói:
Họ Trưng giận thái thú nhà Hán bạo ngược, vung tay hô một tiếng mà [4a] quốc thống nước ta cơ hồ được khôi phục, khí khái anh hùng há chỉ lúc sống dựng nước xưng vương, mà sau khi chết còn có thể chống ngăn tai họa. Phàm gặp những việc tai ương hạn lụt, đến cầu đảo không việc gì là không linh ứng. Cả bà Trưng em cũng thế. Vì là đàn bà mà có đức hạnh kẻ sĩ, cái khí hùng dũng trong khoảng trời đất không vì thân chết mà kém đi. Bọn đại trượng phu há chẳng nên nuôi lấy cái khí phách cương trực chính đại ấy ư ?

Vua Tự Đức viết trong Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục:
Hai Bà Trưng thuộc phái quần thoa, thế mà hăng hái quyết tâm khởi nghĩa, làm chấn động cả triều đình Hán. Dẫu rằng thế lực cô đơn, không gặp thời thế, nhưng cũng đủ làm phấn khởi lòng người, lưu danh
sử sách. Kìa những bọn nam tử râu mày mà chịu khép nép làm tôi tớ người khác, chẳng những mặt dày thẹn chết lắm
Phải chăng những nhận xét trên quá khắc khe với đấng mày râu chăng? Chúng ta thử nhìn lại trên thế giới những Nữ Vương vang danh thiên hạ.

1 - Cleopatra VII Philopator : gốc người Hy Lạp( 69 trước Công Nguyên-30 trước Công Nguyên) là Nữ Hoàng thời cổ đại của Ai Cập. Bà rất nổi tiếng trên thế giới, là người thông minh tài giỏi. Tuy nhiên, quyền lực của bà do vua cha truyền lại.

2 - Võ Tắc Thiên ( Võ Chiếu 625 - 705 ) Chặng đường lên ngôi vua của bà dựa vào nhiều yếu tố khách quan. Nhờ vào sự ganh tỵ trong nội cung, bà được Vương Hoàng Hậu ( Vua Đường Cao Tông) đưa vào cung cất nhắc lên làm Võ Hoàng Phi hiệu là Chiêu Nghi. Sau đó được Đường Cao Tông phong làm Hoàng Hậu....

Nhìn con đường dẫn đến ngai vàng của hai vị Nữ Hoàng nổi tiếng nhất trong lịch sử thế giới, nếu đem so với con đường đi đến ngôi vua của Trưng Nữ Vương, chúng ta thấy Bà Trưng không hề thua kém nếu không muốn nói là bi hùng hơn hẳn.

Huỳnh Hữu Đức Biên Soạn

Kịch: Kiếm Hận Mê Linh(Nhân Ngày Ngày Quý Kỵ Của Trưng Nữ Vương)


Kịch xảy ra trong thời kỳ Hán xâm lăng lần thứ hai. Hai Bà Trưng khởi
nghĩa năm 40 sau Tăy Lịch.
—————————–
Nhân vật:
Đặng-Thi-Sách
Trưng -Trắc
Trưng -Nhị
Thánh -Thiện Công Chúa
Tô-Định
Thành-Công
Quân hầu

MÀN 1:
Thi Sách ra đi

Thi-Sách: Trăng tỏa hào quang vằng vặc
Mây tần lạc nẻo bơ vơ
Từ chốn dinh môn tâm sự não nề
Mang uất hận của người dân đau khổ
Ôi! Thi- Sách, lòng người đầy tủi hổ
Tái tê buồn lê gót đến dinh thù
Nuốt căm hờn nhìn tủi đến thiên thu
Người Lạc-Việt, thương ôi người Lạc-Việt!
Trước dinh tặc chắc là ta phải chết
Người Việt ơi! Nghiệp lớn có ai đương?
Ngùi trông điệp điệp trường giang
Gót giầy xâm lược xéo tan cơ đồ Ai người nếm mật năm xưa
Ta đành thua! phải, đành thua sao đành…
 
Dinh Tô-Định 

Tô – Định:- Chư tướng ,,,,,
Diên-Châu huyện tướng đã tới chưa, hay trễ lệnh thiên triều?

Quân Tàu: bẩm tới rồi, còn chờ lệnh vào chầu,
Xin chủ tướng gia ân cho diện kiến
 
Tô-Định: Ta hạ lệnh vệ quân cho nhập điện
Thi- Sách: Thần Diên-Châu huyện tướng cuí đầu thưa
Liên tiếp mất mùa dân đói xác sơ
Dân bản huyện cũng lâm vào đói rét
Cam bất lực xin lệnh trên soi xét
Biết lấy gì nộp thuế cho thiên triều ?
Tôi cúi xin đạo đạt một hai điều
Miển thuế cho dân từ năm trước
Giảm nô dịch, nghiệm trưng quân bạo ngược
Lấy nghĩa nhân để cai trị toàn dân
Nòi Hán xưa dưới chế độ bạo Tần
Thiên Quốc đã bao năm đồ than
Bởi tàn bạo nên Lưu – Bang phục Hán
Gương ngàn xưa vằng-vặc đến ngàn sau
Ôi ! tướng công là Bắc đại anh hào
Chắc hẳn lầu thiên kinh vạn quyển ?
Sức căm phẩn là sóng ngầm đáy biển
Khi âm ba phẫn nộ khó long ngăn
Sợ đường cùng sức mạnh của toàn dân
Kẻ mất nước phải vùng lên cứu nước

Tô-Định: Không thể được ,,,
Thi-Sách: Tôi là kẻ cầm đầu trong một huyện
Xin thiên triều miển thuế có một năm
Đại diện dân, dân cậy chẳng làm xong
Xin trả ấn trở về đời dân dả

Tô-Định: Này Thi-Sách , ta thiếu gì tướng tá
dưới tay ta mà ta phải cần ngươi
Cho ngươi về rồi chống mắt mà coi
Dân Lạc – Việt sẽ nếm mùi đồ thán

Thi-Sách: Luật cai trị dĩ dân vi bản
Gương bạo Tần người Hán chắc chưa quên
Miệng nói thương dân mà gieo rắc điêu linh
Đừng vội nghĩ Nam-Man mà khuynh đảo
Rán mỡ dân cho thỏa tình cơm áo
Luật tồn vong sao tránh khỏi phục thù
Gươm Thái-A mãi mãi dưới trăng thu
Ắt có lúc phải đem ra thi thố

Tô-Định: Người im đi…… Chống lại ta ? – Man rợ
Gót chân ta dẫm nát cỏ ngàn phương

Thi-Sách: Tôi biết ngài có sức mạnh phi thường
Đủ sức xua quân gây tàn khốc
Sinh vật nhỏ hay có nhiều nọc độc
Dù ăn thua cũng châu chấu đá xe
Nước tôi nghèo, dân tôi ít, Trí tôi dư
Đủ can đảm bước lên đài tranh đấu Tô-Định ( giận dữ ): Cho ngươi lui

Thi-Sách (than): Nắng bạc trời xanh dãi mái đầu
Ai hưng nghiệp lớn cứu đàng sau
Nước non nhuộm thắm màu tang tóc
Tình hận bên tim, máu đục ngầu
Đôi mắt trông về nẻo cố hương
Non song mờ phủ một màn sương
Nhắn ai đừng bận tình ly biệt
( chuyển ) Nhạc trổi khúc đoạn trường
Đầu xanh đừng vội chít khan tang
Để bận lòng nhau dưới suối vàng
Tuốt kiếm đầu voi xua giặc nước
Phất cờ nương tử cứu giang san

Vệ-Binh: Thi- Sách đứng lại
Thi-Sách: Bắt ta ư?
Ta nào có ngại…..
Người anh hung biết trước buổi gian lao.
Không một lưởi gươm, không mảnh nhung bào
Hùm thiêng thất thế chui vào bẩy thưa

Vệ – Binh: Ngươi biết chưa?
Thi – Sách: (cười lớn) ngươi…..Lính hầu, Tô-Định?
Người Việt ư ? Hảy trông kìa cổ kính Gương soi
chung sáng tỏ khắp trời Nam .
Phản tỉnh đi huynh, con cháu Hồng – Bàng

Vệ – Binh: Không thể đươc, con ngươi tôi tư mản
Thi-Sách: Ô hay nhỉ, huynh trọng kìa núi Tản
Nơi kết tinh linh khí tổ tiên xưa
Đã do ai huynh tồn tại đến bây giờ
Ơ không trả huynh nở nào phản quốc
Tôi thương huynh trót lầm đường lạc bước
Tỉnh lên huynh quay gót chúng ta về

Vệ-Binh: Không thể được, chúng ta đi…

MÀN HAI
 
(Cảnh dinh Trưng Trắc)
Trưng Trắc: Cho lui quân hầu
– Thi-Sách chàng ôi khả kính
Người anh hung vì nước chết là vinh
( ra đi )
Lạc loài than gái lênh đênh
Ra đi nợ nước nợ tình ngổn ngang
Rối bời tâm sự nặng mang
Biết đâu nhạn Bắc, tin Nam mà tìm
Trưng Nhị: Chị ơi gánh nặng tổ tiên
Cùng ai chèo lái con thuyền phong ba
Long-Biên đường hảy còn xa
Biết đâu máu đã thắm hòa Nùng Sơn

Tiếng Vọng: Máu đã nhuộm Nùng Sơn chiều hôm ấy
Đi làm chi, trở lại đi làm chi

Trưng Trắc: Ồ ai đó! tiếng ai kỳ quái vậy
Ta bao ngày ngưởng vọng rách bờ mi

Tiếng Vọng: Về đi, quay gót trở về Mài gươm rửa hận còn gì mà mong

MÀN BA
(Cảnh Núi Rừng)
 
Thành Công: Rừng khuya lạc bóng Hằng Nga
Đi đâu hảy nói để ta đón nàng
Trưng Trắc ( giật mình ) Rừng khuya thân gái dặm trường
Vì chồng lạc bước tìm đường đi theo

Thành Công: Đây rừng khuya ngự trị của muôn beo
Chắc người ấy đã gởi thân miệng cọp
Về láng trại, theo ta đừng hồi hộp
Về với ta người sẽ được tin dung
Nếu dọ đường cho một lũ cuồng xâm
Đầu nhi nữ chắc phải bêu ngọn kiếm

Trưng Trắc: Ta thân gái vượt muôn trùng nguy hiểm
Chống tử thần và chống cả muôn beo
Hảy nhìn ta với lưởi kiếm ta đeo
Không phải kẻ để các ngươi khuynh loát
Trước nhục nước chúng ta đừng sát phạt
Ta ganh đua là ta giết nòi ta
Nghe lắng đâu đây văng vẳng hồn ma
Đang rên siết kêu la đòi đất tổ
Thánh Thiện: Khoan những kẻ đón đường vô cớ
Cợt nữ nhi trong một góc rừng xanh
Ta thẳng tay trừng trị lũ súc sanh
Lúc quốc biến không mưu đồ phục quốc 
Thân bảy thước, than ôi! thân bảy thước
Giữa rừng xanh toan dở thói dâm ô
Thật lũ ngươi chỉ là lũ côn đồ
Không xứng đáng là dân trên nước Việt

Thành Công: Đa tạ cô nương kẻ hèn đã biết
Xin cô nương bình tĩnh chớ nặng lời
Tôi ẩn chốn sơn lâm cũng bởi giống nòi
Chẳng phải kẻ làm nghề thảo dã
Muốn hiểu nhau phải biết nhau trước đã
Xin nương nương cho điện hạ biết tên
Thánh Thiện: Cô gái Mường, tôi tên gọi Thánh Thiên
Còn Đại huynh

Thành Công: Thành Công là hiệu
Học kiếm cung ngay thuở còn niên thiếu
Theo nghiệp cha tìm trả nợ non song
Muốn thoát thân cá chậu chim lồng
Mới mượn rừng sâu chiêu tài, luyện tướng


Trưng Trắc: ………………………..Thi-Sách phu nhân
Thánh – Thiên : Thế ra chị là cột trụ của toàn dân
Đây đó nghe danh đều ngưỡng mộ
Quân chị đâu mà một mình một ngựa
Đêm đã tàn còn lạc giữa rừng sâu
Em Thánh -Thiên chi bộ chận địa đầu
của Thi-Sách…..

Trưng Trắc: …………của Thi-Sách ? Thánh – Thiên : Em chỉ huy Mường, Mán, Thổ
Trưng Trắc:Thế là ta gặp gỡ …..
Đi tìm em trời đã chỉ cho ta
Hận muôn đời tạm gác bỏ vinh hoa
Ta tìm em để mưu đồ đại nghiệp
Ngọn kiếm đầu voi phơi gan nữ kiệt
Sống vì dân thì chết phải vì dân
Trên tinh kỳ viết thảo một chử nhân
Bên cạnh Trưng-Vương trừ rợ Bắc
Thành -Công : Thưa Lệnh bà kẻ hèn thảo tặc
Đã vô tình xúc phạm đến long nhan
Xin lệnh bà rộng lượng ra ân
Thân nguyện đem quân về quy nạp

Trưng Trắc: Thành Công đừng câu chấp
Không tội gì mà bảo dung tha
Hãy trở về luyện tập quân cơ
Ta sẽ tìm Thành-Công đàm đạo

Thành-Công: Tâu lệnh bà, kẻ hèn xin lĩnh giáo
( hạ màn )

MÀN NĂM
 
(Trưng Trắc ngồi suy nghỉ)
 
Thánh Thiên: Đêm đã khuya sao chị chưa đi ngủ
Trăng đã tà, sương nặng hạt đêm thâu
Bên hiên tây rừng im tiếng hú
Vươn ru con bặt tiếng đã từ lâu 
Trưng-Trắc: Chị vừa ngủ mơ thấy người Thi-Sách
Trở về đây quần áo rách tả tơi
Chị cũng biết người anh linh hiển hách
Trở về đây phò hộ chị mà thôi
Em cho người liên lạc khắp nơi
Hẹn tất cả đúng ngày hành sự
Ta cùng nhau phất ngọn cờ Nương tử
Diệt sài lang để cứu lấy non song

Thánh- Thiên: Tuân lệnh, nhưng ……..
Trưng Trắc: ……………Nhưng sao?

Thánh-Thiên: Kìa một bóng hồng…
vừa hé hào quang trong màn sô trắng
Chị nhìn xem hình ma im lặng
Lơ lửng giữa thinh không

Trưng Trắc: Ờ nhỉ một bóng hồng
Thấp thoáng như ma chơi ẩn hiện
Hởi hồn ma tâm sự gì bí hiểm
Nói cho ta, hảy nói với ta đi

Hồn Ma: Trưng Trắc ơi đêm buồn em có biết
Từ cố đô ta tới viếng thăm đây
Ta đến cùng em để báo tin vĩnh biệt
Nhưng hồn ta lơ lửng mải từng mây
Đi theo em để bảo toàn tính mạng
Của riêng em và cả giống Rồng Tiên Tạm biệt em kìa vừng đông ló dạng
Ta theo em và sống mải bên em

Trưng-Trắc: Trời! Thi-Sách chàng ơi ở lại
Để cùng em bàn chuyện cứu giang sơn
Em là gái nhưng xin chàng đừng ngại
Trên đầu voi em phất ngọn cờ vàng
Hai lưởi gươm khi chặt đầu Tô-Định
Để dân Nam trọn hưởng kiếp tự do
Thì Thi-Sách chàng ơi khả kính
Chín suối xa xăm hai đứa hẹn hò….
Thánh Thiên Đừng nói gở, chị ơi đừng nói gở
Giết xong thù ai tiếm vị an dân ?
Con thuyền Việt ngả nghiêng ai chèo đở
Thường tình chi cho mang tiếng thoa quần?

Trưng-Trắc: Ham chi cái ấn Vương hầu
Hy sinh không phải mưu cầu Vinh hoa

Thánh Thiên: Chị em ta hãy trở vào nhà …..

HẠ MÀN
 
(Hồi trống đổ)
 
Trưng Nữ Vương mặc chiến bào, giương cao kiếm, cờ
Thánh-Thiên: Đã đến giờ hành sự
Các chư tướng cùng muôn dân quyết tử
Một trận thư hung trực chỉ Long- Biên
Giải quyết sống còn trong phút thiêng liêng
Không thắng địch toàn dân Nam tiêu diệt 
Trưng- Trắc: Đã đến giờ quyết liệt
Trẩm chiếu truyền cho Tả, Hửu, Trung quân
Chết trước ba quân sẽ được phong thần
Tên tuổi ghi vào trang quốc sử ……….

(TUNG HÔ QUYẾT CHIẾN)
…. ——————–
Philadelphia, ngày 18 tháng 3 năm 2021
Lê – Trường – Sơn
(Raphael M.V. Mạc)


Trưng Nữ Vương, Trưng Nữ Vương


Bài Xướng:
Trưng Nữ Vương, Trưng Nữ Vương

Trưng Nữ Vương, Trưng Nữ Vương
Muôn thuở nêu cao chí quật cường
Dân Việt đồng tâm noi chí hướng
Cùng nhau thề chết giữ quê hương


Hồng Thủy
***
Bài Họa:
Công Đức Hai Bà Trưng Nữ Vương

Công đức Hai Bà Trưng Nữ Vương
Diệt quân xâm lược giữ biên cương
Nghìn đời linh hiển hồn dân Việt
Nhớ thương lễ giỗ dâng tâm hương...


MD.03/08/22
LuânTâm

Tưởng Niệm Trưng Nữ Vương


Hôm nay ngày 8 tháng ba
Cũng là ngày giỗ của Hai Bà
Lật trang lịch sử hồn đất nước
Khí thiêng sông núi quyện ngàn xa

Mùng 6 tháng hai năm Quý Mão
Hai Bà tuẫn tiết tại Hát Giang
Cưỡi voi giết giặc kinh hoàng
Nhị nữ Trưng Vương oanh liệt.

Giặc Hán một thời sợ khiếp.
Tô Định bỏ chạy về Tàu
Kinh Kỳ đóng tại Mê Linh
Lĩnh Nam xưng Vương Trưng Nữ.

Quân Mã Viện ầm ầm như sóng dữ
Sức tiến công bạt núi chẻ tre
Quyết san bằng trả hận mới nghe
Hai Bà yếu thế Cẩm Khê hiểm nghèo.

Dòng Sông Hát cuốn theo thân xác.
Nữ Anh Thư thà thác lưu danh
Gái nước Nam dựng nước phá thành
Quân phương Bắc nghe danh kinh hãi.

Là hậu sinh ta đây nhớ mãi
Trưng Nữ Vương liệt nữ anh hùng
Cưỡi voi xông trận diệt thù
Oai danh hai Bà lưu sách sử.

Hôm nay 6 tháng hai âm lịch
8 tháng ba "Phụ Nữ Vùng Lên"
Nén tâm hương con cháu chẳng quên
Xin bái tế nhị nữ Trưng Vương dân tộc.

Nguyễn thị Thêm

Ánh Lửa Mê Linh - Cố Soạn Giả Viễn Châu - Tịnh Đế Liên Hoa Ca


Cố Soạn Giả: Viễn Châu 
Ca:Tịnh Đế Liên Hoa 

Lễ Hai Bà Trưng

 

Xướng:
Lễ Hai Bà Trưng

Ngày Lễ Hai Bà 6 Tháng Hai
Quần thoa vóc liễu với mày ngài 
Anh thư nợ nước mang oằn dạ 
Liệt nữ thù nhà gánh trĩu vai 
Tô Định quân tan, đầy hiển hách 
Hát Giang ngọc nát, quá u hoài 
Việt Nam Quốc Sử ghi công lớn 
Muôn thuở nghìn đời chẳng nhạt phai. 

Phương Hoa
Mar 8th 2022
***
Họa:
Tưởng Nhớ Hai Bà Trưng

Kiêu hùng nhi nữ vẹn toàn hai
Dũng khí uy nghiêm rạng nét ngài
Giáp bạc tung hoành gian khổ chốn
Gươm vàng thẳng tiến nhọc nhằn vai
Tình em một kiếp người thương cảm
Nghĩa chị ngàn thu kẻ đoái hoài
Tuẫn tiết gieo mình ôi ngọc thể!
Vang lừng nước Việt chửa hề phai.


Như Thu
03/09/2022


Trưng Nữ Vương


Nhị nữ can trường xứng được ca
Oai phong chiến đấu đuổi gian tà
Đề cơ tướng mạnh, thù lui lẩn
Đối trận quân hùng, giặc chạy xa
Vẫy cánh nơi thành ra núi biển
Truyền gươm chốn cửa tới giang hà
Hy sinh tánh mạng vì non nước
Sách sử muôn khi nhắc quý bà

Minh Thúy

Nhớ Giỗ Hai Bà


(Bài Họa)

Nức tiếng phồn hoa tự buổi đầu
Lũng Khê, Siêu Loại, ấy thành Lâu
Nhị Trưng hùng dũng, điều binh, tượng
Tô Định ươn hèn, quẳng giáp, câu
Giữ nước, Rồng Tiên càng thắm sắc
Gìn non, Hồng Lạc chẳng phai mầu
Tháng Hai Mồng Sáu, người dân Việt
Nhớ Giỗ Hai Bà, dẫu khá lâu


Thanh Song Kim Phú
CA. Mar/8/2022
(Mồng 6/02 Â.L)

Anh Hùng Và Anh Khùng!


Tôi chưa bao giờ được chứng kiến hành động, thái độ  của một người đã khiến người ta phải xưng tụng họ là anh hùng. Thí dụ như lúc … vua Quang Trung đại phá quân Thanh hay lúc các chiến sĩ Biệt Cách Dù" An Lộc địa sử ghi chiến tích".

Lớn lên trong chiến tranh, tôi chỉ biết những anh hùng qua môn "sử ký" ở nhà trường: Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Lý thường Kiệt, Nguyễn Huệ, Nguyễn thái Học vv, qua các thông tin « ngoài đời » ( báo chí, truyền hình vv ): Lê hằng Minh , Nguyễn đình Bảo, Nguyễn văn Đương, Lưu trọng Kiệt vv hy sinh cho tổ quốc trước 75 hay những người đã chiến đấu đến giờ phút cuối , đã tự sát không hàng , trong những ngày tàn cuộc chiến: Lê Minh Đảo, Nguyễn hữu Thông, Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn khoa Nam, Lê văn Hưng, Trần văn Hai vv.

Vượt biên sau "hòa bình", tôi được biết thêm những anh hùng phục quốc: Trần văn Bá, Lý Tống, Lê Hồng, Đào bá Kế vv; những anh hùng " tôn giáo": Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, linh mục Nguyễn văn Lý vv những anh hùng trong ngục tù " cải tạo": Võ Vàng, Đặng phương Thành, Đặng văn Tiếp, Phan Nhật Nam vv những anh hùng trí thức, văn nghệ sĩ phản kháng chế độ, bị tù nhiều lần: Duy Trác, Hoàng hải Thủy, Nguyễn đình Toàn, Doãn quốc Sỹ, Nguyễn đan Quế, Nguyễn đình Huy, Lê công Định v.v...

Những khởi nghĩa chống ngoại xâm, dành độc lập, dưới thời Tàu-thuộc, Pháp -thuộc, cuộc chiến «54-75 «, đã khiến Việt Nam là một trong những quốc gia có nhiều anh hùng nhất thế giới ! Sau « hòa bình «, khi tiếng súng đã ngưng thì tiếng người bắt đầu nổi lên, gào thét, đòi Tự Do, Dân Chủ. Không chỉ ở miền Nam bị cưỡng chiếm mà cả miền Bắc « đại thắng », khi người dân khám phá đã bị Đảng lường gạt trong 20 năm trời! Và xuất hiện một lớp những "anh hùng", ngôn ngữ thời đại gọi là « tù nhân lương tâm "!

Từ mấy tuần nay, lần đầu tiên tôi" thấy" một anh hùng, thấy mỗi ngày. Người hùng đó là đương kim Tổng Thống Ukraine Volodymyr Zelensky. Mỗi ngày như mọi ngày, từ hôm 24/2, hôm Tổng thống Putin xua quân Nga tràn sang Ukraine, quyết định lật đổ chính quyền hợp pháp và hợp hiến của quốc gia Ukraine của ông Zelensky .

Ngay hôm sau quân đội Nga tràn qua biên giới, 25/2, Hoa Kỳ đã đề nghị đưa ông Zelensky rời khỏi Kiev và ông đã trả lời qua một video trên Instagram: "Tôi ở lại đây . Chúng tôi đã đẩy lùi đối phương . Chúng tôi không buông súng . Cuộc chiến đấu tiếp tục " ( Je reste ici. Nous avons repoussé avec succès les attaques ennemies. Nous ne poserons pas les armes. Le combat continue )" . Rồi hôm 28, khi Bộ Trưởng Ngoại Giao Pháp bắn tiếng rằng Pháp sẵn sàng giúp ông di tản thì ông đáp « Ở đây là nơi chiến đấu .Tôi không cần taxi. Tôi cần đạn!". Ngày 4/3, tờ Times loan tin , từ hôm 24/2, Tổng thống Zelensky đã tránh được 3 lần mưu sát của nhóm đặc nhiệm Tchétchénie và nhóm đánh thuê Wagner. Ông Zelensky là cái gai trước mắt cần phải nhổ bằng bất cứ giá nào của Putin.

Tốt nghiệp Luật khoa, nhưng ông Zelensky chưa một ngày hành nghề luật mà chỉ tham gia các hoạt động nghệ thuật, điện ảnh. Dù chỉ cầm súng trên ..màn ảnh nhỏ nhưng từ mấy tuần nay, ông xuất hiện trước thế giới như một cấp chỉ huy quân đội lúc hành quân : chiếc áo thun màu lính của ông làm tôi nhớ đến hình ảnh mấy ông: Robert Lửa ( Nguyễn xuân Phúc của TQLC ), Nguyễn chí Hiếu ( 5 Dù ), Lê văn Hưng ( SĐ 5 ) vv trong những giây phút “giải lao” trong hầm trú ẩn ! Hình ảnh đó không chỉ làm cho quân dân Ukraine vững tin, một lòng quyết chiến (tôi không tìm được chữ nào khác ! ) , mà nó còn làm cho cả thế giới ngưỡng mộ. Cho đến giờ phút này, Tổng thống Zelensly là một nhà lãnh đạo ạnh hùng.

Đối ngược với hình ảnh đó, Tổng thống Putin xuất hiện như một ác thần, một nhà lãnh đạo độc tài, sắt máu, không cần biết có ai, không cần biết chết ai, chỉ quyết khư khư hướng tới cái mục đích tối hậu của mình”: lật đổ chính quyền ông Zelensky “. Bất chấp dư luận trong nước. Bất chấp phản đối ngoài nước . Nghị quyết kêu gọi Nga rút quân ở đại hội đồng Liên Hiệp Quốc hôm 2/3 vừa qua cho thấy Nga bị cô lập trên thế giới. Khi trong tổng số 193 quốc gia: 141 bỏ phiếu thuận, 35 quốc gia “không có ý kiến” ( trong đó có Việt Nam!). Nực cười nhất là chỉ có 5 phiếu chống . Của Nga và 4 đứa con nuôi : Bắc Hàn, Belarussie, Syrie, Erythrée ! Điều đáng nói là thái độ của Tàu đối với Nga. Putin cứ tin là Tập sẽ ủng hộ mình: bỏ phiếu chống. Nhưng .. không. Tàu chơi màn “thành phần thứ ba”, không chống mà cũng không thuận. Ngược lại, Tập cho đàn em mình, là Miên, bỏ phiếu thuận! Một câu trả lời rất Chợ Lớn của Tập với Putin!

Tuy bị tấn công tứ phía, nhiều thành phố quan trọng bị bom Nga tàn phá nhưng Ukraine vẫn còn đứng vững. Tưởng sẽ tiền bom, hậu pháo, dứt điểm Ukraine trong mươi ngày nhưng đã gần 2 tuần, quốc kỳ Ukraine vẫn còn tung bay trong thủ đô Kiev. Tổng thống vẫn còn ở thủ đô. Vẫn mỗi ngày, râu quai nón, áo thun nhà binh, khuôn mặt tuy mệt mỏi nhưng cương quyết, người Zelensky vẫn tiếp tục trấn an dân chúng, trả đũa đối phương. Bằng giọng nói sắc nhọn, bằng nắm tay dơ cao, tuy trận chiến chưa tàn, tuy phần thắng nghiêng hẳn về Nga nhưng chính Ukraine sẽ là quốc gia thắng trận. Chiến thắng quân sự của Putin , nếu có, sẽ không là chiến thắng thật sự . Đi cướp nước người thì không có chuyện thắng hay thua. Chỉ có quân cướp và nạn nhân!
Làm anh hùng … khó lắm. Muốn được trở thành anh hùng càng không dễ. Bởi anh hùng là do người ngoài tôn vinh, chứ không phải cứ viết nhắng , tự sướng, “ Bác anh hùng tôi cũng anh hùng” là trở nên anh hùng !

Hiện nay bên cạnh anh hùng Zelensky là một anh khùng Putin! Nhiều nguồn tin cho biết Putin có vấn đề “tâm thần" ( nói theo chữ nghĩa “bên nhà” ). Tin thật hay tin vịt không thành vấn đề. Vấn đề là hình ảnh của một Putin độc tài (tuy “tài” nhưng “ độc” ) mà ai cũng biết, đang bị lu mờ, bởi hình ảnh của một Putin không còn tự kiêu vì đang nói láo không ngượng miệng!


Hôm nay là ngày 8/3, ngày quốc tế phụ nữ, nhưng tôi tin là cả thế giới đang hướng về người phụ nữ Ukraine: những người đang bôn ba trên đường tị nạn, dưới đạn bom Nga, tay dìu mẹ già, tay nách con thơ , những người đang bỏ hết sức mình để chế bom xăng, để hàn sắt chống xe tăng giặc, những bà bác sĩ, cô y tá , đang quên mình để cứu người vv và, nhất là, những người đang quắt mắt, ghì súng chờ giặc vào đây.

Ôi , Việt Nam từ độ … hay Ukraine bây giờ, nào có khác gì nhau?

Cô gái “Ukraine” ơi
Nếu chữ hy sinh có ở đời
Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực
Cho lòng cô gái "Ukraine " tươi
(Hồ Dzếnh)

Vive l’Ukraine libre !

BP
08/03/2022

Chiến Tranh



Những tham vọng tô hồng bằng nước mắt
Lòng tin yêu viết bởi máu xương người
Là tuổi thơ với trò chơi bom đạn
Bên mộ phần chôn lấp vạn niềm vui!

Người Chợ Vãng

Nguyễn Văn Hoài (1898 - 1955): Bác Sĩ Giám Đốc - Người Việt Đầu Tiên Của Dưỡng Trí Viện Biên Hòa

      
(Dưỡng Trí Viện Biên Hòa 1934)

(Trích chương 66 trong bộ sách DINH LONG HỒ NGÀY ẤY & BÂY GIỜ của tác giả Người Long Hồ)

    Người dân của vùng đất phương Nam không ai là không từng nghe đến Dưỡng Trí Viện Biên Hòa, mà người bình dân thường gọi là Nhà Thương Điên Biên Hòa. Nói đến nhà thương điên Biên Hòa của một thời, không ai là không chạnh lòng thương cảm cho những mảnh đời bất hạnh, mang lấy căn bệnh tâm thần quái ác và phải bị giam mình một nơi trong đó. Và khi nói đến nhà thương điên Biên Hòa, những vị bô lão đất phương Nam thường trân trọng nhắc đến tên của Bác Sĩ Nguyễn Văn Hoài, là người Việt Nam, đầu tiên được bổ nhậm làm giám đốc tại đó. Ông sanh ngày 7 tháng 6 năm 1898 tại làng Long Châu, quận Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long, trong một gia đình khá giả, nhưng có truyền thống nhân hậu lâu đời. Sau khi học xong bậc trung học, với lòng thương người, ông đã chọn theo đuổi ngành Tây Y, mong có thể giúp làm dịu bớt những đau khổ về thể xác của con người trước bệnh tật.

    Năm 1919, ông tốt nghiệp ngạch y sĩ tại trường Đại Học Y Khoa Hà Nội và được bổ đi phục vụ ở các nơi như Tây Ninh và Trảng Bàng (1921), Tam Bình, Vĩnh Long (1922), Long Xuyên (1923). Sau đó, vào năm 1925, ông thuyên chuyển về Sài Gòn làm việc. Đến năm 1926, ông tạm rời nghề thuốc để sang Pháp du học tại đại học Sorbonne, học về khoa tâm lý và triết lý. Đầu năm 1930 ông trở về nước tiếp tục phục vụ trong nghề Y. Lúc này ông thấy các vị bác sĩ đều thoái thác việc đảm nhận trách vụ cai quản Bệnh Viện Tâm Thần ở Biên Hòa, nên ông tình nguyện đến đó và đã phục vụ cho bệnh viện này trên 25 năm. Ông tự nhủ: “Ai cũng xa lánh cái thế giới ấy, càng tăng thê thảm đau thương cho cảnh sống dở chết dở kia biết mấy. Không ai chịu đến nơi ấy thì mình đến vậy.” Sau khi đến làm việc tại Bệnh Viện Tâm Thần Biên Hòa thì ông lại có quyết tâm hiến trọn đời mình làm sao cho cái “địa ngục nhốt người điên thành thiên đường cho người dưỡng trí”.

( Bên trong dưỡng trí viện Biên Hòa 1925)


(Bên trong dưỡng trí viện Biên Hòa 1934)
(Bên trong dưỡng trí viện Biên Hòa 1934 - hình 2)

     Thật vậy, sau khi bắt tay vào việc là ông hòa mình cùng với đám người đau khổ này, ông thương xót họ vô biên và luôn hết lòng phục vụ họ trong mọi tình huống. Sự tận tụy của ông đã khiến cho chẳng những nhân viên của ông và thân nhân của những bệnh nhân kính phục, mà ngay cả những bệnh nhân tâm thần nhẹ cũng từ từ khuyên giảm và trở về đời sống bình thường. Có điều đáng nói là những người này sau khi lành bệnh, họ không chịu về nhà, mà xin tình nguyện ở lại đây cùng Bác Sĩ Hoài phục vụ những bệnh nhân khác. Trong khoảng thời gian này, số bệnh nhân phục hồi hoàn toàn ngày càng đông, khiến cho những giám đốc người Pháp trước đây cũng phải kính phục. Tưởng cũng nên nhắc lại Dưỡng Trí Viện Biên Hòa thời đó, mà có lẽ cho mãi đến ngày nay, là bệnh viện tâm thần lớn nhất ở Việt Nam, chuyên trị bệnh nhân bệnh tâm thần. Ngày nay chúng ta thấy khuôn viên bệnh viện được mở rộng, cây cối thoáng mát, bông hoa tươi thắm, cũng là nhờ tấm lòng của Bác sĩ Hoài, người đã vận động không riêng gì Bộ Y Tế Đông Dương mà còn vận động cả Bộ Y Tế Pháp tài trợ cho chương trình mở rộng khuôn viên cho bệnh nhân có chỗ giải trí và đi tản bộ. Ngoài ra, ngoài ngân sách tài trợ của chính phủ, Bác sĩ Hoài còn tạo thêm nguồn lợi chung cho bệnh viện bằng cách thiết lập trại chăn nuôi, trồng tỉa, và tiểu thủ công nghệ và giao phó cho những người mà bệnh đã thuyên giảm dưới sự giám sát của y tá và những nhân viên khác của bệnh viện. Lấy những huê lợi này để làm tăng khẩu phần cho tất cả bệnh nhân.

 (Những dãy giường cho bịnh nhân 1934)

(Dưỡng trí viện Biên Hòa 1955)

     Năm 1944, Bác sĩ Hoài hợp sức cùng một bác sĩ người Pháp tên Dorolle đã sáng chế ra máy Điện Kinh. Dưỡng Trí Viện Biên Hòa là trung tâm thứ tư trên thế giới thời đó biết sử dụng máy Điện Kinh để chửa bệnh tâm thần, ba nơi khác là Nhật, Ý và Pháp. Đến ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chánh Pháp và nắm chính quyền cho đến tháng 9 năm 1945. Trong khoảng thời gian này, người Nhật không tài trợ bất cứ kinh phí nào cho những cơ sở đã có từ trước của chính quyền thuộc địa Pháp, nên Dưỡng Trí Viện Biên Hòa không có kinh phí chăm sóc bệnh nhân, nhưng bác sĩ Hoài vẫn cố xoay sở để các bệnh nhân vẫn được tiếp tục ở lại đó điều trị. Trong những lúc khó khăn nhất của bệnh viện Tâm Thần Biên Hòa bác sĩ Hoài đều ra sức gánh vác. Ông đã đảm nhận tất cả mọi vai trò trong bệnh viện từ năm 1930, nhưng mãi đến năm 1947, mới có giấy chính thức bổ nhiệm ông vào chức Giám Đốc.  

     Dưới thời chính phủ Trần Văn Hữu, vì lý do tài chánh, Thủ Tướng Hữu định cắt bớt khẩu phần của bệnh nhân. Ông đã mạnh dạn chống lại bằng những lời lẽ đầy lòng bác ái: “Họ là những người xấu số nhất, tâm đã rối, trí đã loạn rồi, nay lại làm cho bao tử họ thiếu ăn, để cho cơ thể họ suy mòn, ảnh hưởng không hay đến tâm trí họ thì có khác gì giết phứt họ đâu. Xin cấp trên tìm cách tiết kiệm ở những nơi khác.” Tấm lòng của bác sĩ Hoài luôn lan tỏa và bao trùm khắp nơi nơi. Bên cạnh chuyện lo cho bệnh nhân, ông còn luôn chăm sóc cho nhân viên và những người làm việc tự nguyện trong bệnh viện. Ngoài ra, lúc nào rảnh rỗi là ông nghiên cứu tất cả triết thuyết của các tôn giáo, nhất là Phật giáo, cũng như quan tâm đến vấn đề siêu hình. Càng biết nhiều về giáo lý Phật giáo, ông càng phục vụ tận tụy hơn.

     Đối với ông, đời người phải sống như chữ “I”, nên ông đã sáng tác một bài thơ có tựa đề là “Phong hóa chữ I” như sau:

​​​​“Chữ I ngay thẳng
​​​ ​Chẳng vì ai:
​​​ ​Chẳng tùy ai;
​​​ ​Chẳng khuất ai;
​​​ ​Mãi mãi ta theo ánh sáng...”

     Ngoài phạm vi y học, bác sĩ Hoài còn nghiên cứu các vấn đề về kinh tế, xã hội và văn hóa, tâm lý, cũng như triết lý siêu hình của các tôn giáo, nhằm trực tiếp giúp ích cho sự tồn tại và phát triển của Dưỡng Trí Viện Biên Hòa. Năm 1951, ông xuất bản quyển Le Problème de la Paix (Vấn đề Hòa Bình); năm 1952 ông xuất bản 2 quyển: Điên & Dưỡng Trí Viện, và quyển Programme d'hygiène mentale (Chương Trình Vệ Sinh Tâm Thần); năm 1953-1954, ông xuất bản quyển De l'organisation de l'Hôpital Psychiatrique du Sud Vietnam (Về Tổ Chức Bệnh Viện Tâm Trí của Miền Nam Việt Nam). Theo bác sĩ Hoài, đối với bệnh nhân tâm thần thì trong giai đoạn đầu của sự điều trị cho bệnh nhân tâm thần, bệnh viện là tàu thuyền đưa bệnh nhân tới bến bờ ổn định tâm thần (Hôpital Bateau); đến giai đoạn kế là tiến dần đến bệnh viện hoa viên (Hôpital Jardin) nhằm đáp ứng với thần trí đang trong giai đoạn phục hồi của bệnh nhân. Bác sĩ đã khẳng định rằng Hoa viên là tấm gương phản ảnh của đạo đức, vì Hoa là sự nhịp nhàng xinh đẹp, là sức sống, trong đó hoa vàng tượng trưng cho sự tinh khôn, hoa đỏ tượng trưng cho từ tâm. Hoa viên cũng là sự bừng nở của thảo mộc, như tấm lòng của con người ta bừng nở tươi vui với đời sống tinh thần, với cảnh giới Niết Bàn, với sinh hoạt của thế giới, và của vũ trụ.  

     Trong cuộc sống hàng ngày, bác sĩ Hoài sống một đời sống hết sức thanh đạm và giản dị của một bậc hiền triết đã thấm nhuần đạo lý. Ông ăn uống thanh đạm, ăn mặc đơn giản. Ngày ngày, ngoài giờ làm việc, ông còn bỏ giờ ra đọc sách và giải trí, và thường đi bách bộ trong khuôn viên Dưỡng Trí Viện. Có người hỏi bác sĩ Hoài là tại sao ngoài giờ làm việc ông không tìm nơi khác hơn Dưỡng Trí Viện mà tiêu khiển cho tâm trí đở mệt mỏi, bác sĩ Hoài đã khẳng quyết: “Mỗi chúng ta đều là một người điên trong phút giây nào đó.” Thật là chí lý, vì trong xã hội này, nếu nói về khuyết tật, thì mỗi chúng ta đều có khuyết tật cả.

     Ông mất vào ngày 28 tháng 5 năm 1955 tại Dưỡng Trí Viện Biên Hòa. Ngày đó chẳng những gia đình ông mất đi một người chồng, người cha, người ông rất đáng kính, mà cả người dân vùng đất phương Nam cũng cảm thấy mất đi một bậc hào kiệt tài danh đầy lòng nhân ái. Chính vì vậy mà ngày làm lễ phát tang, người ta thấy cả rừng người đến phúng viếng, và tất cả nhân viên cũng như bệnh nhân của Dưỡng Trí Viện Biên Hòa đều để tang và quỳ trước linh cửu một vị Thầy, một người cha chung của tất cả các bệnh nhân khi linh cữu của ông được đưa ngang qua bệnh viện. Tất cả nhân viên và bệnh nhân tại Dưỡng Trí Viện Biên Hòa ai nấy đều nói rằng “Phải là người có lòng kiên nhẫn và có một tâm hồn cao cả, không thích xa hoa phù phiếm của cuộc sống ở thị thành, trừ Bác sĩ Hoài, chắc không còn vị Bác sĩ thứ hai nào chịu bền lòng hy sinh đến thế.” Đến tháng 11 năm 1955, chánh phủ VNCH đã cho lấy tên của Bác sĩ Nguyễn Văn Hoài đặt tên cho Dưỡng Trí Viện Biên Hòa, và đoạn đường quốc lộ 1, từ cầu trung tâm Cải Huấn Tân Hiệp chạy đến trước Bộ Chỉ Huy Quân Y cũng được mang tên ông. Từ ngày bác sĩ Nguyễn Văn Hoài qua đời đến nay, hàng năm vào ngày 28 tháng 5, toàn thể ban Giám Đốc và nhân viên bệnh viện Tâm Trí Biên Hòa đều có tổ chức ngày kỵ giỗ cho ông. 

    
(Con đường mang tên bác sĩ Nguyễn Văn Hoài tại Sài Gòn)

       (Di ảnh bác sĩ Nguyễn Văn Hoài lúc qua đời 1955)

     Người viết tập sách nầy rất tự hào được làm người đồng hương Vĩnh Long của bác sĩ Nguyễn Văn Hoài, một trong số những người Việt Nam rất được người Tây phương kính trọng vì tấm lòng từ bi bác ái, một bậc hào kiệt tài danh đầy lòng nhân ái, rất đáng kính, lúc nào cũng hết mực thương yêu đồng loại, nhất là những người có hoàn cảnh không may mắn. Thật là đáng được tự hào và đáng được tưởng nhớ làm sao một tấm gương vị tha bác ái. Tấm lòng bác ái nhân hậu của ông chẳng những được những người có hoàn cảnh không may mắn của vùng Đất Phương Nam ghi nhớ, mà nó sẽ mãi mãi là tấm gương sáng chói cho đàn hậu bối chúng ta noi theo!

 ( Hình vẽ chân dung Bác Sĩ Nguyễn Văn Hoài, được một bệnh nhân tên Lê Văn Tường vẽ tặng cho gia đình bác sĩ Hoài sau khi được xuất viện vào năm 1960. Đến năm 1995, ông Nguyễn Văn Thuyết, con trai bác sĩ Hoài, đã hiến tặng bức chân dung nầy cho Bệnh Viện Tâm Thần Biên Hòa.)

Hình 1: Bên ngoài Dưỡng Trí Viện Biên Hòa, 1934*.
Hình 2: Bên trong Dưỡng trí viện Biên Hòa 1925*.
Hình 3-4: Bên trong Dưỡng Trí Viện Biên Hòa 1934*.
Hình 5: Những dãy giường cho bệnh nhân, 1934*.
Hình 6: Dưỡng Trí Viện Biên Hòa 1955*.
Hình 7: Con đường mang tên Bác Sĩ Nguyễn Văn Hoài tại Sài Gòn.
Hình 8: Di ảnh Bác Sĩ Nguyễn Văn Hoài lúc qua đời vào năm 1955*.
Hình 9: Hình vẽ chân dung Bác Sĩ Nguyễn Văn Hoài.

Người Long Hồ
*Nguồn ảnh từ Internet.

Thứ Ba, 8 tháng 3, 2022

Mùa Thu Đến

 

Mùa thu đến!
Không lá rơi trắng trời mưa tầm tã
Len vào hồn băng giá kết mù sương
Mưa nhớ ai từng giọt lệ trời tuôn
Tâm tư khép gió luồn cơn mưa lạnh
Mới hôm nào vòng tay quanh dĩ vãng
Đi dưới mưa tràn ngập những vấn vương
Vị tình yêu say khước những con đường
Quên đau xót buồn thương hoa phượng rũ





Thơ & Ảnh: Kim Phượng

Tháng Ngày Qua...

Thu vẫn mơ mà lòng tàn mộng ước
Lá úa nhàu phai kỷ niệm ngày qua
Cuộc tình tan từ khi vận nước nhà
Trời mây xám một đời hoa òa vỡ

Ngày xưa đó nhớ mùa hè lửa đỏ
Xếp bút nghiêng anh khoác áo hoa màu
Em khép trang lưu bút nhốt tình đầu
Tiễn đưa người ôm thương nhớ ngàn sau

Rồi một chiều em lặng lẽ ra đi
Xa quê hương, chôn cả tuổi xuân thì
Nơi xứ lạ đêm ôm niềm ray rức
Ánh đèn tường thao thức bóng chinh nhân

Thu vẫn đến thu đi thu tàn nhẫn
Mang hồn hoang trôi dạt tận chốn nào
Ký ức phai tình rơi rụng đớn đau
Cố nhân hỡi tình đầu tìm đâu nữa?

Kim Oanh

Tình Tự Mùa Thu - Nhạc Phạm Anh Dũng - Tiếng Hát Quang Minh


Nhạc: Phạm Anh Dũng
Tiếng Hát: Quang Minh