Thứ Hai, 22 tháng 7, 2019

10 Thủ Tướng Canada Xuất Sắc (Phần2) - Từ Uyên

CÁC VỊ THỦ TƯỚNG CANADA XUẤT SẮC  

Theo báo Mac Lean một số Thủ tướng Canada được kể như những vị lãnh đạo tài năng nhất. Các vị đó đã khéo đưa Canada từ một nước nhỏ bé, ít dân tại miền lạnh trở thành một nước được cả thế giới khâm phục. 

THỦ TƯỚNG WILFRID LAURIER 


Năm 1896 ông Laurier lên làm Thủ tướng, và là người gốc PHÁP đầu tiên lãnh nhiệm vụ này. Và nhờ ý thức thực tiễn, tính tình ưa hoà hoãn kèm theo hình ảnh lịch lãm và phát ngôn khéo léo ông đã đem lại cho Canada một nền ổn định và được coi như lãnh tụ tài giỏi nhất trong thế hệ của ông. 

Tuy nhiên dù tài giỏi tới đâu cũng có đôi lần không hợp dân tình và phải nhường chỗ cho đảng đối lập. 

Thủ tướng Wilfrid Laurier thất bại sau cuộc tuyển cử 1911 và Ông Robert Blair Borden thủ lãnh đảng Bảo thủ Conservateur lên thay thế trong thời gian 1911-1920 trong khi có cuộc chiến tranh thế giới lần thừ nhất. 

Các công trình Ông để lại rầt sâu đậm trong toàn cõi Canada và ông không ngần ngại khi nghĩ rằng thế kỷ thứ 20 là thế kỷ của nước Canada. 

Tinh thần hoà hoãn toàn quốc. 

Từ khi Hiến pháp năm 1867 ra đời người Canadien gốc Anh rất được ưu đãi trong 19 năm dưới ảnh hưởng của Thủ tưóng Mac Donald và phái Orangiste mong muốn một nước Canada thống nhất với ngôn ngữ chính là Anh ngữ và tôn giáo chính là Tin lành, trong khi người gốc Pháp tại Quebec bị coi thường rất phẫn khích và đòi thêm nhiều quyền lợi cho người gốc Pháp cũng như ủng hộ Thiên chúa giáo. Hơn thế nữa việc xử giảo Louis Riel một người lai Thổ dân và Pháp đã khiến người gốc Pháp và cả Wilfrid Saint Laurent phẫn uất kèm thêm việc vi phạm thoả ước Manitoba khiến các trường Pháp không còn trợ cấp. 

Và khối người gốc Pháp cũng như các thổ dân rất mừng khi Saint Laurent thắng Charles Tupper Thủ tướng hậu duệ của Mac Donald và mang chính quyền Liên Bang về đảng Tự Do Liberal 

Tình trạng kỳ thị nay không còn nữa khi đảng Conservateur thua tuyển cử. Ông Laurent đã một mặt giảm bớt khí thế quá khích của cả hai phía và tạo trên tình hòa giải khiến Canada tuy có hai đặc điểm khác nhau nhưng vẫn chung sống hài hoà hơn. 

Ông ngay trong năm đầu đã thành công trong việc giải quyết vấn đề giáo dục bằng tiếng pháp tại Manitoba. Trước đây chính phủ Manitoba cắt bỏ mọi trợ giúp tài chính cho các cơ sở giáo dục Thiên chúa giáo và do đó các cơ sở giáo dục do Thiên chúa giáo suy kém và học sinh phải theo học trường công dùng Anh ngữ, hành động này trái với thỏa ước Manitoba Act trước đây nhằm cung cấp tài chánh đồng đếu cho hai cơ sở giáo dục Thiên chúa giáo và Tin lành và nhằm giúp cho người gốc Pháp và người Lai Thổ dân với gốc Pháp được dùng tiếng pháp tại tỉnh này , Sau khi Louis Riel một người thổ dân lai Pháp nổi loạn và bị xử giảo các cơ sở giáo dục Pháp bị sút giảm. Hơn nữa người di trú được tuyển từ Âu châu tới Manitoba được chính quyền Bảo thủ ưu đãi vì phần nhiều nói tiếng Anh khiến người gốc Pháp tại Manitoba thành thiểu số và chính phủ tỉnh bang Manitoba đổi đường lối trợ giúp và khiến các cơ sở Thiên chúa giáo gặp khó khăn. 

Nay Wilfrid Laurier cải tổ và bắt các trường phải dạy một số giờ tiếng Pháp nhờ đó học sinh gốc Pháp và giáo hội Thiên chuá giáo có cơ hội phục hồi tuy không áp dụng hoàn toàn Thỏa ước Manitoba act về giáo dục nhưng phục hồi lại các trường Pháp tại Manitoba bằng cách bắt buộc các trường phải dạy thêm tiếng Pháp hàng ngày. 

Năm 1899 Anh quốc yêu cầu Canada giúp tăng ảnh hưởng Đế quốc Anh bằng giúp gửi quân qua Nam Phi, Laurier chấp thuận và chỉ gửi quân tình nguyện và phần lớn người gốc Anh gia nhập, các người gốc Pháp từ chối và chính trị gia kiêm ký giả Henri Bourrassa đã công kích Laurier vì hành động này. 

Năm 1900 vì muốn tăng lợi tức, Laurier tăng thuế đầu người người Hoa trước đây Mac Donald đánh 50 dollars mỗi năm lên 100 dollars, và các năm sau trước số đông người Hoa du nhập Laurier tăng lên $500 mỗi đầu người vào năm 1907.Tuy nhiên người Hoa chưa được quyền bàu cử 

Năm 1902 Laurier thăm Anh quốc và tham dự Hội nghị các thuộc địa trù liệu cho Khối Thịnh vượng chung sau này, Đồng thời qua Pháp để thảo luận viêc giao thương với Pháp. 

Năm 1906 Laurier đón nhận Saskatchewan và Alberta vào Canada sau khi tách hai tỉnh này ra khỏi vùng Tây Bắc (North West) và vùng này cũng mất phần Yukon năm 1898. 

Ông tận tâm theo dõi việc công ty Pacific NR thiết lập đường hỏa xa tới miền Tây. 

Năm 1911 Laurier ký sắc luật cản dân da đen tại các tiểu bang miền Nam qua Canada di trú vớì lý do nhân đạo: sợ người da đen không chịu nổi cái lạnh của Canada. Được biết các y sĩ khám bệnh cho người da đen đã nhận chỉ thị gây khó khăn và mặt khác những cuộc tuyên truyền kín đáo khuyên người da đen không nên đến Canada vì không chịu nổi thời tiết quá lạnh. 

Hành động này mang danh y tế nhân đạo nhưng ý chính là tư tưởng không ưa da đen của cả người Canada gốc Anh hay Pháp. (Theo nhận định của bà Emilie Nicolas thành viên của viện Ed Broadben). 

Thành lập Hải quân. 

Trong thời gian hai đế quốc Anh và Đức tranh đua về hải quân, Anh quốc yêu cầu Canada trợ giúp phương tiện tài chánh để tăng cường Hải quân Anh, nhưng Laurier nghĩ khác và thấy cần tạo cho Canada một hải quân riêng biệt. Năm 1910 ông ký Naval Service Act thành lập Hải quân Canada với 5 tuần dương hạm và 6 khu trục hạm và gây tổn phí và đã bắt đầu gặp chống đối. Người gốc Anh muốn ông mang hải quân này hoàn toàn hiến cho cho Anh quốc. Người gốc Pháp cho rằng chi phí về Hải quân quá lớn. 

Năm sau ông ký thỏa hiệp thương mãi Reciprocity (tương tự như mậu dịch tự do) với Hoa kỳ và nhờ đó các nông phẩm và lâm sản xuất cảng dễ dàng. Nhưng các công kỹ nghệ phần lớn do người gốc Anh làm chủ ít được chú ý, phản đối vì sợ Hoa kỳ nhân dịp này đem hàng hoá kỹ thuật cao hơn xâm lấn Canada. 

Trước một số chống đối ông bèn tổ chức tuyển cử và cuộc tuyển cử năm 1911 đã khiến ông thất bại và lãnh tụ đảng đối lập Robert Borden lên thay thế. Ông Laurier làm thủ tướng 15 năm và đem lại nền hòa hoãn giữa hai nhóm dân gốc khác nhau và tín ngưỡng khác nhau có thể cho rằng đó là bước đầu của chủ thuyết đa văn hoá? 

Ông trở lại vị trí lãnh tụ đảng đối lập và chống đối luật trưng binh của Borden vào thời Thế chiến thứ nhất vào năm 1917 khi quân tình nguyện Canada gửi qua Âu châu giảm sút. Ông từ trần năm 1919 . 

Ông Lyon Mackenzie King thay ông làm lãnh tụ đảng và ông này sẽ là Thủ tướng Canada thuộc đảng Liberal sau này. Ông Mackenzie King cũng thực hiện được nhiều điều lợi ích cho Canada mặc dầu gặp trở ngại trước tình trạng suy yếu về kinh tế hậu quả của việc suy thoái thị trường chứng khoán năm 1929. Nhưng sau đó ông lại lãnh đạo nước Canada trong thời gian thế chiến thứ 2, và một mặt làm trọn nhiệm vụ một nước tham chiến, mặt khác ông cũng đưa ra nhiều biện pháp cải tiến xã hội trong chiến tranh và trong thời gian hậu chiến. 

THỦ TƯỚNG ROBERT BORDEN 


Ông Robert Borden người New Scotland và trúng cử dân biểu năm 1896. Sau khi lãnh tụ đảng ông là Charles Tupper làm Thủ tướng bị thua trong cuộc tuyển cử năm 1896 và chính quyền qua tay đảng Tự Do Liberal do Wilfrid Saint Laurent làm Thủ tướng. Ông này đã làm được nhiều công việc đáng kể được nêu trong phần trên nhưng tới năm 1911 Thủ tướng Wifrid Laurier và đảng Liberal thua cuộc tuyển cử và lãnh tụ đảng Bảo thủ Robert Borden lên thay thế. 

Thắng tuyển cử năm 1911 nhờ chống đối hai hành động giảm uy tín của Wilfrid Laurier, Robert Borden làm Thủ tướng đảng Bảo thủ Conservateur và tránh đường lối trước đây Thủ tướng Mac Donald và các vị Thủ tướng đảng Bảo thủ kế tiếp đã áp đặt khắt khe lên dân gốc Pháp và nhất là khi muốn dồn thổ dân qua nơi xa và xử giảo lãnh tụ nguời lai Pháp Louis Riel năm 1885. 

Ông Borden tăng ngay thuế nhập cảng để các hàng hoá sản xuất từ các nước không thuộc đế quốc Anh khó gia nhập thị trường Canada và dành cho hàng từ Anh qua có nhiều ưu tiên hơn. 

Tuy nhiên tài năng của ông chỉ nổi bật khi làm Thủ tướng trong thời Đệ nhất Thế chiến, Năm 1914 Canada chưa chuẩn bị gì về chiến tranh nên khi nhận ủng hộ phe Đồng Minh chống Đức, Thủ tướng Borden đã tỏ ra xứng đáng vì đã giải quyết được nhiều vấn đề. Trưng dụng nổi 500.000 quân tình nguyện qua Âu châu giúp Đồng minh, huấn luyện họ, cung cấp các vật liệu cho nhu cầu chiến tranh của Đồng minh nhờ đó kinh tế Canada phát triển, nhưng cũng đồng thời áp dụng cách tiết giảm mức sống của dân Canada qua cách giới hạn beurre và thịt của dân và để gửi nuôi quân Đồng Minh. Và tới năm 1917 mặc dầu quân đội Canada đã ghi nhiều chiến công năm 1915 tại Ypres và La Somme và năm 1917 tại Vimy, nhưng tử vong và thương vong đã khiến quân tình nguyện trở nên hiếm nên ông đã ra luật “Trưng Binh “để cho đủ quân số nhưng biện pháp này đã làm Wifrid Laurier lúc này lãnh tụ đảng đối lập và nhiều chính trị gia gốc Pháp như Henri Bourrassa phản đối. 

Tuy nhìên sau Thế chiến. một mặt kinh tế Canada phát triển, và mặt khác Robert Borden đã tranh đấu được để Canada thành độc lập hơn và được ký Hoà ước Versailles và thành hội viên Hội Quốc Liên (Société des nations unies) và theo vài ý kiến: Canada đã trưởng thành trong các hầm hố chiến tranh và Robert Borden là người giúp cho các thành tựu đó (Xin đọc bài trong các chương nói về chiến tranh đã viết trên các chương trước) 

Trong đời sống chính trị ông cũng có những hành động không chính thống khi ông cố tình không tổ chức tuyển cử năm 1916, lấy cớ vì có chiến tranh, và tới 1917 khi ông phối hợp với số đảng viên của đảng Bảo thủ còn trung thành với ông hợp với một số đảng viên đảng Tự Do Liberal bỏ đảng, thành lập đảng Union ( Liên hiệp ) và với danh hiệu này năm 1917 ông và đảng mới này thắng cử và ông tiếp tục nắm quyền. 

Ông thăm Âu châu nhất là Anh quốc nhiều lần và có dịp thảo luận về vị trí của Canada và các nước cựu thuộc địa khác trong đế quốc Anh 

Năm 1921 ông từ chức và người kế nghiệp ông là Arthur Meagen chỉ nắm quyền ít lâu và năm 1921 rồi 1926 quyền lại về đảng Tự Do và do ông Lyon Mackenzie King làm thủ tướng. 

Ông Lyon Mackenzie sau này về nghỉ và ông Louis Saint Laurent thay thế. 

THỦ TƯỚNG LOUIS SAINT LAURENT 


Stephen Louis Saint Laurent sinh quán tại Compton Quebec, cha gốc Pháp và mẹ gốc Irlandaise. Nói chuyện với mẹ ông dùng tiếng Anh và ông nói tiếng Pháp với cha. Sau khi học cấp College tại Sherbrooke ông học Luật tại Đại học Laval và hành nghề Luật sư rất thành công. Nhờ biết thạo cả hai ngôn ngữ, thân chủ của ông rất đông có cả từ Montreal, Ottawa, Pháp và nhờ đó ông thạo về giao tế và thương mại. Năm 1896 cha ông ra ứng cử vào quốc hội tỉnh bang Quebec và nhân dịp này ông gập ông Wifrid Laurier và được bắt tay vị Thủ tướng này. Tuy cùng cha ưa thích lý tưởng Liberal nhưng ông chưa muốn gia nhập đời sống chính trị. 

Sau 6 năm học trung học tại Shebrooke và Đại học Laval, ông thành Luật gia và năm 1905 tổ chức Rhodes cấp cho ông học bổng nhưng ông từ chối và theo đuổi nghề Luật trong vòng 20 năm. 

Năm 1941 với tuổi 59 và với cuộc sống nghề nghiệp thành công cũng như tài chánh khả quan ông đang tính về hưu nhưng vì phụ tá của đương kim Thủ tướng Lyon Mackenzie King qua đời nên rất nhiều người thân cận Thủ tướng khuyên Thủ tướng mời ông thay thế ông này dù ông chưa phải là dân biểu quốc hội. Vì trong tình trạng chiến tranh và với lòng yêu nước ông chấp nhận và năm sau 1942 ông trúng cử dân biểu và chính thức có chân trong Hội đồng Tổng trưởng. 

Năm 1944 Thủ tướng King ban hành luật động viên và cả hai đảng cùng không đồng ý, nhưng nhờ Saint Laurent giải thích và hoà giải nên khủng hoảng không xảy ra và nhờ đó Mackenzie King rất tin tưởng ông. 

Sau chiến tranh ông theo Mackenzie King đi dự các buổi họp tại Liên Hiẹp quốc và nhờ đó sau này khi lên làm Thủ tướng ông rất thành thạo trong các cuộc giao dịch với quốc tế. 

Được Thủ tướng Mackenzie King yêu cầu thay thế ông để lãnh đạo đảng Tư Do Liberal và ông Saint Lauent trở thành Thủ tướng năm 1948 tới 1957. 

Louis Saint Laurent là một luật gia và được Lyon Mackenzie King để ý và mời làm Tổng trưởng tài chánh từ khi chưa là dân biểu chứng tỏ các đức tính của ông 

Dưới thời St Laurent với ý nguyện mang Canada từ một nước thuộc địa ít được biết tiếng vào hàng quốc gia nổi tiếng, ông đã mang được Canada nhập tổ chức NATO Bắc đại tây dương và ONU. Và nhờ tài dùng người của ông, Lester Pearson ngoại trưởng giải quyết được cuộc chiến Suez năm 1956 và đoạt giải Nobel Hoà bình năm 1957. Nếu không có phiếu phản đối do quyền phúc quyết của Nga Sô, thành viên thường trực trong Tổ chức Liên Hiệp quốc Pearson đã trở thành Tổng Thư ký Liên Hiệp quốc. Tuy nhiên nhờ đó Canada đã có tiếng nói tại Liên hiệp quốc và thành công khi đề nghị thành lập một đoàn quân Mũ Xanh gìn giữ hoà bình tại các miền bất ổn. 

Trong nước ông tạo lại cân bình tài chánh các tỉnh bang bằng cách dùng thặng dư của tỉnh bang giàu giúp cho tiểu bang nghèo cân bằng ngân sách. Ông cũng thành công trong việc tạo dựng xa lộ xuyên Liên bang và quan trọng nhất thiết lập đường thủy vận Saint Laurent nhờ từ đó thông thương giữa Canada và Âu châu dễ dàng và nhờ đó kinh tế mở mang nhờ xuất nhập cảng dễ dàng nên kỹ nghệ cùng các sản phẩm khác được khai thác mạnh hơn. 

Terre Neuve gia nhập Canada năm 1949 cũng trong thời kỳ ông làm Thủ tướng. 

Tuy nhiên việc chấm dứt các cuộc thảo luận về ống dẫn khí đốt từ Alberta và việc chấp thuận cho thành lập ống dẫn không cần thảo luận đã khiến lãnh tụ đảng đối lập là Dieffenbaker phản đối và là đề tài tranh luận trong kỳ tuyển cử 1957. 

Năm 1957 qua tuyển cử đảng Liberal đạt được 104 trong khi đó Bảo thủ được 112 và cả hai đảng đều không đủ số phiếu để lập chính phủ đa số. 

Đảng của ông đạt được 104 ghế dân biểu, đảng Conservateur de Dieffenbaker lãnh đạo đạt được 112 ghế. Cả hai đảng muốn lập chính phủ thiểu số cần sự hợp tác của hai đảng nhỏ: Credit social 14 ghế và Co-operative 24 ghế. 

Saint Laurent lúc này 75 tuổi nên không muốn tiếp tục lập chính phủ nên nhường để Dieffenbaker mang đảng Conservative trở lại chính quyền. Đảng Bảo thủ nắm quyền tới 1963. 

Sau này Ngoại trưởng của chính phủ Saint Laurent và là người nổi tiếng đã từng đoạt giải Nobel là Lester Pearson đã thắng Dieffenbaker và chính quyền lại thuộc đảng Tự Do và sau Pearson là Pierre Trudeau rồi Jean Chretien kế tiếp dành lại cho đảng Liberal chính quyền từ 1968 tới 2003. Nhưng khi Paul Martin thua phiếu năm 2008 đảng Conservateur “đổi mới” do Stephen Harper lên nắm quyền tới 2015 Justin Trudeau lại mang chímh quyền lại cho đảng Liberal. 

Dưới Pearson và Trudeau cũng nhiều diễn biến quan trọng nhất là trong khi tới Canada tham dự hội chợ Montreal, Tướng De Gaulle đã lạm dụng cơ hội khi được mời nói với vài câu chúc mừng dân chúng Montreal. Ông đã hô lớn” Vive le Quebec libre” và do đó Thủ tướng Pearson (nghe lời khuyên của Jean Chretien lúc đó đã tham chính) đã cho mời De Gaulle trở về nước . Nhưng lời tuyên bố của De Gaulle đã khiến phong trào đòi độc lập cho Quebec bùng nổ và Trudeau cùng Chretien sau này đã vất vả khi phải đối đáp với phong trào này. Hai bài Trudeaumanie và Mộng vẫn chưa thành trong các chương trước đã nhắc tới một số diễn biến trong hai cuộc trưng cầu dân ý tại Quebec và việc mang Hiến Pháp Canada năm 1867 trở về Canada cùng các hệ quả nẩy sinh cho tới nay. 

Trong phần nói về Jean Chretien chúng tôi sẽ trình bày thêm ít nhiều chi tiết. 

THỦ TƯỚNG JEAN CHRÉTIEN 


Đây là vị Thủ tướng người gốc Quebec mà chúng ta quen thuộc nhất. 

Ông sinh ngày 11-01- năm 1933 tại Shawanigan trong một gia đình lao động nếu không muốn nói là nghèo. Cha mẹ ông có 19 con nhưng 10 nguời đã chết trẻ và chỉ còn 9 người sống sót. Và Jean Chrétien là con áp út của gia đình này. Ông cho biết từ khi đi học tới trung học ông không bao giờ có một bộ quần áo mới và đều mặc thừa quần áo của các anh ông. Cha ông học không cao nhưng nghĩ rằng cần cho các con đi học mới mong tiến được trong xã hội mới. Và cha ông có đầu óc mới nên theo lý tưởng của đảng Liberal bấy giờ do Wilfrid Laurier thủ lãnh. 

Jean Chrétien ra đời với tật điếc một tai và năm 12 tuổi lại bị thêm bệnh Charles Bell một chứng bệnh do virus làm phương hại thần kinh trên mặt và để lại dấu vết liệt phần mặt bên trái, khiến ông méo miệng và do đó phát ngôn đôi khi không rõ. Tiếng Pháp và tiếng Anh của ông không bay bướm, trái lại rất bình dân. 

Nhưng tật nguyền không làm thiếu niên này nản chí. 

Nhờ cha cố gắng cho con đi học, anh lớn của Jean là Maurice khi đi làm cho một hãng bảo hiểm đã xin được học bổng học y khoa và khi thành Y sĩ ông dùng lợi tức kiếm được giúp các em theo học và một anh khác là Michel Chretien trở thành Y sĩ chuyên khoa khảo cứu về tuyến nội tiết và trở thành giáo sư danh tiếng. Còn Jean Chretien vì năm 1944 Quebec chưa có trường công nên phải theo học tại trường đạo mới có thể vào học Đại học. Trong khi đi học Jean Chretien đã nổi tiếng can đảm và ông không ngại đánh lộn với các học sinh lớn tuổi hơn nên mang tiếng ngang ngược. Thêm vào đó khi học tại trường đạo, sư huynh Auger dạy ông, nhưng lại theo chính trị của đảng Union Nationale một đảng tại tỉnh Quebec đối lập với Liberal nên không ưa Jean Chretien và ngược lại Jean cũng không ưa gì Thiên chúa giáo. Sư huynh Auger còn khuyên bảo các thiếu nữ đừng nên thân thiện với gia đình Chretien vì từ ông nội tới cho Jean Chretien tất cả đều có khuynh hướng theo đảng Liberal và những ai theo đảng Liberal là những von người xấu nên xa lánh. Tuy vẫn không ưa tôn giáo nhưng Jean Chretien vẫn đọc và học kỹ sách đạo. 

Năm 1955 Jean đậu B.A. tại Seminaire Saint Joseph và 1958 tốt nghiệp Luật tại Laval đồng thời là Chủ tịch nhóm Thanh Niên Liberal tại quê nhà Shawanigan. Nhóm này vào đảng Liberal provincial của Jean Lesage và chống đối lại với Maurice Duplessis đảng Union Nationale đang làm Thủ tướng Quebec (ông này rất bảo thủ và được Giáo hội ủng hộ nên khiến Quebec ngày đó sống trong thời gian u tối, thanh niên thất học, trẻ em mồ côi bị tập trung và khổ cực). 

Trong khi học Đại học vì là người theo Liberal, Jean Chretien không được lãnh tiền trợ cấp 10 dollar do Duplessis riêng tặng sinh viên theo đảng ông. 

Khi tốt nghiệp Luật tới năm 1963, Jean Chretien làm tại văn phòng Luật Alexandre Gelinas và trong năm này trúng cử dân biểu liên dang đơn vị Saint Maurice La Flèche và trở thành chính trị gia khi 20 tuổi. 

Đường vào chính trường. 

Năm 1963 Jean Chretien trúng cử dân biểu liên bang tại đơn vị St Maurice Lafleche và bắt đầu vào chính trường. Ông được Thủ tướng Pearson cử làm phụ tá Phủ Thủ tướng sau đó qua làm phụ tá cho Tổng trưởng Tài chánh Michel Sharp Jean Chretien tin tưởng vào Sharp là người sẽ thay thế Pearson khi ông này muốn nghỉ. 

Năm 1965 Jean Chretien đề nghị Thủ tướng Pearson chưa nên mở tuyển cử và mặc dầu mời thêm ba kiện tướng của Quebec là Jean Marchand, Gerald Pelletier và Pierre Trudeau ra ứng cử nhưng vẫn chưa đủ đa số cần thiết để lập chính phủ đa số. Quả nhiên kết quả khá hơn kỳ trưóc một chút là chiếm được 133 ghế, hơn lần trước 3 ghế. 

Năm 1967 khi Tướng De Gaulle hô Vive le Quebec gây ra phong trào đòi tách rời khỏi Canada thì chính Jean Chretien và Jean Marchand đã khuyên Thủ tướng Pearson tuyên bố De Gaulle là nhân vật không thân thiện và mời trở lại Pháp. Từ ngày đó De Gaulle không trở lại Canada. 

Năm 1968 Thủ tướng Lester Pearson từ chức và ông mời Jean Marchand thay thế nhưng Jean Marchand từ chối vì cho biết nói tiếng Anh không giỏi và tiến cử Pierre Trudeau. Jean Chretien lúc này gần vơí Michel Sharp vì nghĩ ông này ban đầu được coi sẽ thay thế Pearson khi ông này muốn nghỉ. 

Khi Pearson từ chức lãnh đạo và mời Jean Marchand thay thế nhưng ông này từ chối và tiến cử Pierre Trudeau. Và đảng Liberal sửa soạn bàu cử lãnh đạo. Ban đầu Michel Sharp và Pierre Trudeau là hai nhân vật tăm tiếng nhất. Nhưng sau đó theo truyền thống đảng, một lãnh tụ gốc Pháp sẽ thay lãnh tụ gốc Anh khi thay đổi lãnh đạo, do đó Sharp rút lui và Trudeau thắng qua bốn vòng tranh cử. Liền đó Trudeau tổ chức tuyển cử năm 1958 đảng Liberal thắng xa và chính phủ Trudeau đa số cho tới năm 1984 khi Trudeau rời chức. 

Jean Chretien cũng tham gia chính phủ, tuy nhiên Pierre Trudeau không chú ý nhiều tới Jean Chretien vì khác nhau quá xa. Một người con nhà khá giả, học cao, đi ngoại quốc nhiều lần, bằng cấp quá nhiều, kiến thức chính trị rất rộng, tham gia các cuộc biểu tình chống Duplessis, viết báo và khả năng truyền đạt dễ dàng, khó chấp nhận một người học ít, đọc ít và dung mạo không hấp dẫn lại thêm khả năng truyền đạt khó khăn với ngôn ngữ rất bình dân. 

Nhưng nghe theo lời khuyên của một số cố vấn, Pierre Trudeau cử Jean Chretien vào chức Tổng trưởng Bộ phụ trách Thổ dân và trong thời gian này sau vài cuộc đụng chạm với một số lãnh tụ thổ dân, Jean Chretien nhận một trẻ làm con nuôi và mang tên Michel Chretien. Mặt khác ông cũng bênh vực dân Cree khi kiện Thủ tướng Quebec Bourrasa trong cuộc tranh chấp Baie James. 

Năm 1970 khi nhóm khủng bố FLQ gây rối chính Jean Chretien đã bày cho Pierre Trudeau cho quân vào Quebec theo luật chiến tranh và dẹp và bắt nhiều người tình nghi mà không có lệnh của toà án. Jean Chretien bày ra kế hoạch “Thi hành trước, Giải thích sau.” 

Sau này làm Tổng trưởng Tư pháp năm 1980 ông được Trudeau cử làm Truởng Ủy ban của Liên bang giúp Claude Ryan Trưởng ban Quebec đối đầu với nhóm đòi tách rời Quebec. Năm sau 1981 ông đóng vai chính trong việc mang Hiến Pháp Canada về nước và sau đó giúp Trudeau tu chính hiến pháp và trong đêm 4 Novembre 1981 khi không có mặt René Levesque, ông cùng hai nhà lập pháp khác Romanov của Satkaschewan và Murtry Ontario soạn thảo một bản thỏa hiệp có 9 chữ ký từ chối quyền phúc quyết của các tỉnh bang trong khi Quebec vắng mặt và như vậy Quebec phải nhận những quyết định của Liên bang. Mặc dầu Quebec kiện và không nhận theo Hiến pháp nhưng quyền của Liên bang vẫn áp dụng, và từ đó uy tín của René Levesque giảm nhưng người Quebec càng căm giận Trudeau và Jean Chretien. 

Khi ông làm Chủ tịch Ủy ban ngân khố ông rất khó khăn và cắt bỏ nhiều dự án các bộ khác đưa ra nếu thấy quá tốn kém. 

Trong thời gian làm tổng trưởng qua nhiều bộ dưới thời Thủ tướng Pierre Trudeau, Jean Chretien cũng khá nổi tiếng tuy không được Trudeau cho gia nhập nhóm thân cận người Quebec như Lalonde và Oulet. Nhưng Jean Chretien vẫn bình tâm chờ ngày lên làm Thủ tướng. 

Năm 1984 Trudeau rời chỗ đúng ngày 29 Fevrier và một cuộc tranh cử Lãnh đạo đảng được tổ chức, Jean Chretien tham dự nhưng thua John Turner người mong chức vụ này từ lâu. 

Jean Chretien được John Turner phong cho làm Phó Thủ tướng nhưng tới 1986 khi John Turner và đảng Liberal thua tuyển cử, chính quyền về tay Brian Mulroney và đảng Bảo thủ. Jean Chretien tuy vẫn trúng cử dân biểu đơn vị cũ nhưng từ chức và về lại nghề luật sư. 

Trong thời gian Brian Mulroney làm Thủ tướng nhiều diễn biến xuất hiện. Để tăng cường ngân sách thuế GST đánh trên giá mua bán và cả dịch vụ ra đời. Hiệp ước Mậu dịch tự do với Hoa kỳ được ký kết, Thỏa hìệp Hồ Meech và Hội nghị Charlottetown nhằm giải quyết vấn đề Quebec không thành công. Tất cả đều không được Jean Chretien đồng ý và ông chờ ngày trở lại chính quyền. 

Năm 1993, Mulroney và đảng Bảo thủ đại bại và chỉ còn hai dân biểu, kết cục Jean Chretien trở lại chính quyền. 

Làm Thủ tướng trong vòng 10 năm Jean Chretien áp dụng ngay chính sách tài chánh cứng rắn nhằm giải quyết mức thâm thủng tới 42 tỷ mà các chính phủ trước để lại, Ông cát giảm mọi chi phí trong các cơ quan trực thuộc liên bang, đồng thời giảm phần tài chánh chuyển giao cho các tỉnh bang. Giữ nguyên việc Mậu dịch tự do (việc trước đây ông phản đối). Nhờ các biện pháp này ông đã cân bình hoá ngân sách và tạo nên 5 ngân sách bội thu, trả nổi 30 tỷ nợ và giảm thuế cho xí nghiệp và dân tới 100 tỷ trong 5 năm. 

Tuy nhiên với những tiết giảm đó dân sống rất chật hẹp và dịch vụ Y tế cũng suy giảm nhất là khi dân số càng đông người cao tuổi. 

Đối với việc Quebec luôn luôn giữ ý tách rời và e ngại một lần trưng cầu dân ý thứ ba ông được Stephan Dion đưa ra dự luật « Câu hỏi phải rõ rệt và trong sáng khi trưng cầu dân ý « vì trước đây các câu hỏi đều không được hiểu hết ý. 

Ông cũng đặt ra thêm nhiều tổ chức Option Canada và tài trợ các tổ chức này và cử các bạn đáng tin tưởng vào các vị trí quan trọng. 

Đối ngoại ông ủng hộ các quyết định của Liên Hiệp quốc và ông đã gửi quân qua Kosovo, và trước biến cố 9-11 (11 tháng 9 2001) ông lên án hành động khủng bố và cũng gửi quân qua Afghanistan chiến đấu vào năm 2002. Nhưng năm 2006 khi Tổng Thống Geoges W Bush đánh Irak, ông không tham gia vì cho rằng cần để Liên hiệp quốc điều tra trước khi quyết định chiến tranh. 

Ngoài ra Jean Chretien còn đi thăm các nước Á châu để tìm cách khuyếch trương thương mại. 

Trước những hoạt động chính trị trong nước và ngoài nước Jean Chretien tuy thành công nhưng cũng gập trở ngại và chính trong nội bộ đảng ông cũng không được ưa thích bao nhiêu. Và vào năm 2002 ông sa thải Paul Martin là cộng sự viên trong việc lành mạnh hoá tài chánh nhưng chống đối ông và như vậy mở đuờng cho năm 2003 ông rới bỏ chính trường và trở lại hành nghề Luật. 

Ngoài ra khi rời chính quyền ông còn tham gia Tổ chức của Chirac phục vụ hoà bình và ông còn là hội viên hội BILDERBERG được coi như tập hợp các nhà Siêu quyền lực 

Hiện nay ông đang nhận sứ mạng qua Trung quốc đìều đình về việc Trung quốc giam giữ hai cựu nhân viên ngoại giao Canada và gây căng thẳng việc giao thiệp giữa Canada và Trung quốc. Tin mới nhất cho biết ông đang điều trị bệnh sỏi trong thận khi đang công cán tại Hong Kong. 

Từ Uyên

Chủ Nhật, 21 tháng 7, 2019

Thơ Tranh: Trắng Hồn Chiêm Bao


Thơ: Mặc Phương Tử
Thơ Tranh: Kim Oanh


Tạ Ân Đức Phật Thích Ca



Đức Phật Thích Ca nhập định thiền
Cứu đời đau khổ mãi triền miên.
Chúng sinh cam sống ngôi nhà lửa!
Giải thoát luân hồi thật thiện duyên.

Lưu truyền chánh pháp cứu muôn người
Nghiêm mật tu hành biền khổ vơi!
Trí tuệ sáng ngời tâm giác-ngộ!
Niết Bàn an-lạc dứt luân-hồi.

Minh Lương
16 / 07 /2019

Trên Núi


Mây trời che bóng núi
Chiều hiu hắt nặng nề
Chim rừng bay lạc lối
Ta ngồi đây quên về

Lòng chợt sầu vời vợi
Nhớ em và nhớ nhà
Nỗi buồn nào đang tới
Niềm vui nào đã qua

Em có còn đi học
Nơi trường yêu dấu xưa
Ta suốt đời cô độc
Phiêu bồng theo gió mưa

Ta suốt đời mòn mỏi
Tìm em trong vô cùng
Tình yêu ngoài tay với
Xa rồi - thôi đoái trông

Hồ Khiên
Châu Đốc mùa chiến dịch 1972

Nga, Nga, Nga!



Trong một lần cùng cha và một người khách, bạn của cha, đi ngoạn cảnh đồng quê, chú bé Lạc Tân Vương đã làm công chuyện của một "tua-gai"(tour-guide) giới thiệu với khách phong cảnh của quê mình, khi đi đến một bờ hồ nước trong xanh biếc, gió mát thoảng đưa nên mặt nước hồ gợn sóng lăn tăn, thấp thoáng một vài bông liễu trắng xóa bay phất phơ từ các nhành liễu buông rũ lã lướt bên bờ hồ, trên mặt hồ lại có vài con ngổng trắng đang bơi lội nhởn nhơ, thỉnh thoảng vổ cánh quạt nước tứ tung và kêu lên "quàng quạt". Trước phong cảnh đẹp đẽ hữu tình nầy, khách mới cười hỏi Lạc tân Vương rằng :" Nghe nói cháu làm thơ rất giỏi, giới thiệu cảnh đẹp đã hay rồi, vậy cháu thử làm một bài thơ tả cảnh trước mắt xem sao !". Lạc Tân Vương thưa rằng :" Cháu làm bài thơ Vịnh Ngổng nhé !" Đoạn chú bé đứng trầm ngâm nhìn đàn ngổng lội trên mặt hồ một lúc, rồi cất tiếng ngâm:

鵝,鵝,鵝, Nga, nga, nga,
曲項向天歌。 Khúc hạng hướng thiên ca.
白毛浮綠水, Bạch mao phù lục thủy,
紅掌撥清波。 Hồng chưởng bát thanh ba.

Có nghĩa:
Ngổng, ngổng, ngổng. Cổ cong hướng lên trời mà kêu (ca). Bộ lông trắng nổi lên trên (phù) mặt nước xanh biếc (bích thủy). Bàn chân hồng đẩy (bát) làn nước gợn sóng trong veo. (THANH 清 nầy có ba chấm thủy, có nghĩa là TRONG)


Diễn Nôm:

Ngổng, ngổng, ngổng,
Cổ cong hướng lên không,
Lông trắng trên nước biếc,
Chân hồng đẩy sóng trong! 

Ba tiếng NGỔNG, NGỔNG, NGỔNG vừa chỉ con Ngổng, vừa như là tiếng kêu của các con ngổng theo phát âm Quan Thoại: NGẠ, NGẠ, NGẠ ! Vừa tượng thanh vừa vui nhộn như tuổi trẻ của Lạc Tân Vương, vừa nói lên được tình cảm của chú bé dành cho con ngổng vui mừng khi gặp mặt. Câu hai là hình ảnh tiêu biểu rất tượng hình của cái cần cổ dài và cong của ngổng vươn lên trời cao khi cất tiếng kêu. Hai câu kết thì thật xuất sắc , nêu bật được đặc điểm của con ngổng và bối cảnh xung quanh với một thủ thuật tuyệt vời : Lông trắng nổi lên trên mặt nước xanh và chân ngổng màu hồng đẩy làn nước trong mà bơi tới!

Khách ngạc nhiên đến thích thú trước tài thơ mẫn tiệp của câu bé Lạc Tân Vương mới vừa lên bảy tuổi. Ông ta đã nói với cha của Lạc Tân Vương rằng, thằng bé tương lai sẽ là người thành đạt lớn, và quả nhiên Lạc Tân Vương là một trong TỨ KIỆT của buổi sơ Đường, ngang danh với Vương Bột, Lư Chiếu Lân và Dương Quýnh, rất giỏi về thơ ngũ ngôn, thất ngôn và nhất là tản văn... Mời đọc qua "Sơ yếu lý lịch" của ông sau đây.

LẠC TÂN VƯƠNG 駱賓王 (640-684) tự là Quan Quang 觀光, người đất Nghĩa Ô Vụ Châu (thuộc huyện Nghĩa Ô tỉnh Chiết Giang ngày nay). Từ nhỏ đã nổi tiếng là thần đồng, bảy tuổi làm bài "Vịnh Nga 咏鹅" còn truyền tụng đến hiện nay. Khi làm quan, có lần trình tấu bàn về chính sự đã chọc giận Võ Tắc Thiên, nên bị giam vào ngục. Sau theo Từ Kỉnh Nghiệp khởi binh chống lại Võ, ông đã viết bài "Vị Từ Kỉnh Nghiệp Thảo Võ Anh Hịch 為徐敬業討武曌檄" hiệu triệu mọi người cùng đứng lên chống lại Võ Tắc Thiên. Võ thấy bài hịch chỉ mĩm cười khi dễ. Kịp khi đọc đến câu "Nhất phôi chi thổ vị can, lục xích chi cô hà thác? 一坯之土未乾,六尺之孤何託?" mới thất kinh xúc mồ hôi hạn mà hỏi rằng:"Ai viết bài hịch văn nầy?" Có người tâu là của Lạc Tân Vương viết. Võ Tắc Thiên mới quở rằng :"Đây là lỗi lầm của Thừa Tướng, nhân tài như thế nầy sao không biết trọng dụng, để đến đổi lưu lạc bên ngoài theo loạn quân mà chống lại ta thế nầy?". Thì ra câu nói đó đã đánh ngay vào điểm yếu tử huyệt của Võ Tắc Thiên:" Một núm đất vàng còn chưa khô là chỉ chồng bà ta là Đường Cao Tông chết chưa bao lâu, mồ còn chưa xanh cỏ, mà bà ta đã phế đứa con côi là Đường Trung Tông được chồng ký thác để soán ngôi mà tự xưng là Châu Thiên Tử." Cái bất nghĩa bất nhân đó đã được Lạc Tân Vương khai thác để kêu gọi mọi người cùng đứng lên chống lại họ Võ. Rất tiếc ...

Bài hịch tuy hay, nhưng cuộc nổi dậy của Từ Kỉnh Nghiệp lại thất bại. Lạc Tân Vương bặc vô âm tín từ đó. Có người đồn rằng ông đã chết trong cuộc chiến, lại có người cho rằng ông đã vào núi ẩn cư tu đạo, được tôn thành thần, hiệu là "Nam Thiên Lạc Ân Sư 南天駱恩師". Lại có người cho rằng ông đã thế phát quy y vào cửa Phật, nương nhờ bóng thiền môn, hiệu là "Phổ Tế Diệu Chương Thiền Sư 普濟妙章禪師", mỗi năm vào tiết Đoan Ngọ đều được cúng tế linh đình. 

Nhắc đến bài thơ Vịnh Ngổng, ta lại nhớ đến bài viết đầu tiên trong quyển "Giai Thoại Văn Chương Việt Nam" của THÁI BẠCH được nhà xuất bản Sài Gòn xuất bản năm 1957. Xin được trích sau đây:

LÁI ĐÒ VIỆT-NAM CŨNG CÓ KHÁC (trích nguyên văn)

Nói đến giai-thoại văn-chương Việt-Nam, trước hết chúng ta phải nói đến chuyện một nhà thơ giả làm lái đò chở sứ Trung-quốc. Chuyện này không phải là chuyện bịa đặt như chuyện Cống-Quỳnh đâu, mà nói có sách, mách có chứng rõ ràng. Sự tích còn ghi trong lịch-sử của con Hồng cháu Lạc từ đời vua Lê-Đại-Hành.

Năm 907, vua nhà Tống bên Trung-quốc sai sứ là Lý-Giác sang. Nghe tiếng họ Lý là người nổi tiếng về văn thơ, vua Đại-Hành liền sai nhà sư Đỗ-Thuận cải trang giả làm lái đò ra đón ở bến đò Sách-giang.


Khi bước chân xuống đò, Lý-Giác thấy trên mặt sông có hai con ngỗng liền cao hứng đọc lên hai câu:

Nga nga lưỡng nga nga, 鵝鵝兩鵝鵝
Ngưỡng diện hướng thiên nha. 仰面向天涯

Lý-Giác vừa đọc xong thì anh lái đò cũng đọc tiếp ngay rằng:

Bạch mao phô lục thủy, 白毛鋪綠水
Hồng trạo bãi thanh ba. 紅掉擺青波

Họ Lý tưởng mình là thơ hay, nhân-vật nước Nam đâu có ai sánh được và hai câu của mình là tuyệt tác, là đủ rồi. Nhưng không ngờ anh lái đò này lại thơ hay hơn mình. Phải có hai câu của anh, bài thơ con ngỗng mới thành được bài thơ tứ tuyệt đáng giá:

Nga nga lưỡng nga nga,
Ngưỡng diện hướng thiên nha.
Bạch mao phô lục thủy,
Hồng trạo bãi thanh ba.

Xin tạm dịch:

Một đôi ngỗng xinh xinh,
Ngửa mặt nhìn trời thinh.
Lông trắng pha nước biếc,
Chèo hồng quậy sóng xanh.

Thật là cả ý lẫn lời không kém gì những bài thơ hay của đời Hán đời Đường. Họ Lý nghe xong phải cả thẹn và giựt mình, trên đường đi từ bến Sách-giang đến Tràng-An, kinh-đô vua Đại-Hành, sứ-giả của đất con Trời không còn dám hiu hiu tự đắc, khoe khoang văn tự nữa. Người nước Nam đến cả những anh chèo đò còn tài hoa như vậy, huống chi những người tai mắt ở những nơi miếu đường.
Chính cũng do đó, mà Lý-Giác phải kính trọng vua Lê-Đại-Hành cũng như kính trọng vua nhà Tống và rất có cảm tình với Việt-Nam vì căn cứ vào việc trên, họ Lý cho rằng nước ta tuy nhỏ, nhưng thật là văn hiến chi bang. (ngưng trích).

* Chú thích của ĐCĐ :
Chữ THANH BA 青波 nầy, chữ THANH 青 không có ba chấm thủy , nên có nghĩa là màu Xanh. THANH BA là Sóng xanh.

 thấy, Lạc Tân Vương là một trong TỨ KIỆT của buổi Sơ Đường (618-907), còn sứ thần Lý Giác của nhà Tống (960-1279) là thời đại nối tiếp sau nhà Đường hơn 300 năm. Nên hai câu thơ của Lý Giác đọc chắc chắn là đã sửa lại hai câu đầu bài VỊNH NGA của Lạc Tân Vương đời Đường, và nhà sư Đỗ-Thuận của ta cũng đã rất nhanh nhạy mà sửa lại hai câu cuối của Lạc Tân Vương để phối hợp một cách rất ăn ý với sứ thần Lý Giác mà tạo nên một giai thoại mới cho bài thơ "Vịnh Ngổng" bất hũ có thêm một sắc thái mới độc đáo cho nền văn học nước nhà.

Đỗ Chiêu Đức

Những Dòng Thơ Quán Thế Âm



1-Dương Liễu Quán Âm
Lắng nghe giọt nước cành dương
Tịnh bình ban rải tình thương muôn trùng
Như lai Bồ Tát viên thông
Thanh lương cam lộ tắt dòng khổ đau

2-Long Đầu Quán Âm
Oai lực trên đỉnh long vương
Bạch y tung giữa trùng dương bạc đầu
Tầm thinh lặng cõi khổ đau
Bồ Tát hóa hiện nhiệm mầu muôn nơi

3-Trì Kinh Quán Âm
Kiết già tay phải nâng kinh
Quán soi nhập diệu tịnh thanh thường hằng
Nhìn thấu suốt cõi tối tăm
Đàm kinh cứu độ thậm thâm diệu kỳ

4- Viên Quang Quán Âm

Hậu thân rực ánh hào quang
Bi nguyện cứu khổ ngập tràn thế gian
Quang bất muội* tỏa mênh mang
Quảng đại linh cảm ứng thân nhiệm mầu

*Viên Quang bất muội: ánh sáng không bao giờ tắt.

5- Du Hí Quán Âm
Thong dong du hí cõi đời
Bao dung độ lượng hạnh ngời trần gian
Đến đi giữa cuộc gian nan
Bi nguyện cứu vớt trầm luân muôn loài.

6-Bạch Y Quán Âm
Ngự trên tòa đá uy nghi
Liên hoa tay vẫy diệu kỳ tầm thinh
Ấn cát tường xóa vô minh
Cứu khổ cứu nạn hàm linh nương về.

7- Liên Ngọa Quán Âm
Bồ tát an tọa lá sen
Hai tay chấp quán soi xem cõi đời
Ta bà ác trược tơi bời
Linh cảm ứng hiện mỗi lời cầu xin.

8- Lang Kiến Quán Âm
Diệu trí quán dòng tử sanh
Nhìn chúng sanh mãi loanh quanh luân hồi
Mắt thương Ngài nhìn cuộc đời
Thường hằng bi quán vớt người trầm luân.

Như Thị
***
Các Bài Họa:


1- Dương Liễu Quán Âm
Cam lồ nước quyện nhành dương
Nhẹ nhàng trải giọt yêu thương điệp trùng
Mở lòng quảng đại tinh thông
Quán Âm Bồ Tát ngăn dòng đớn đau.

2-Long Đầu Quán Âm
Cưỡi rồng biểu thị uy vương
Dập dồn biển sóng đại dương ngẩng đầu
Thấm nhuần vạn vật buồn đau
Ơn Ngài lan tỏa phép mầu khắp nơi.

3-Trì Kinh Quán Âm
Hoá thân, Bồ Tát trì kinh
Gửi ra lời dạy hiển linh vĩnh hằng
Muộn phiền, kiết sử bặt tăm
Mới hay tứ đế huyền thâm lạ kỳ!

4-Viên Quang  Quán Âm
Ô kìa rạng rỡ ánh quang!
Phổ môn sáng chiếu rực tràn dương gian
Tùy miên, lậu hoặc chẳng mang
Ơn ai nào quản hoá thân diệu mầu.

5-Du Hí Quán Âm
Ung dung khắp nẻo trên đời
Ân cần đối đãi rạng ngời thế gian
Quên miền sinh tử nguy nan
Hành trang giáo hoá chuyển luân vạn loài.

6-Bạch Y Quán Âm
Sen đài nguyện ấn oai nghi
Kiết già an lạc bao kỳ lặng thinh?
Bồ đề soi ánh quang minh
Giũ thân tứ đại...tâm linh nguyện về.

7-  Liên Ngọa Quán Âm
Quanh Ngài chẳng thấy hoa sen
Tọa trên liên diệp, ngẫm xem sự đời
Năm châu bốn biển rối bời
Tâm thành lễ bái nghe lời khấn xin.

8- Lang Kiến Quán Âm
Ngắm dòng nước chảy tâm sanh
Lòng bi tràn ngập bủa quanh...bồi hồi
Thương sao đại chúng trên đời!
Dang tay cứu khổ giúp người chuyển luân.

Như Thu
***
1-Thi Dư
ợc Quán Âm
Chúng sinh nhờ thuốc hồi dương
Mới hay Bồ Tát tình thương muôn trùng
Nhìn hoa sen biết cảm thông
Thân tâm an lạc hết dòng khổ đau

2- Đức Vương Quán Âm
Cõi trời sắc giới Đức Vương
Bảo quan Ngài đội cành dương che đầu
Cứu người qua khỏi đớn đau
Hiện thân hóa pháp nhiệm mầu mọi nơi

3- Uy Đức Quán Âm 
Uy đức chiết phục thuyết kinh
Kim Cang trì hộ tâm thanh vĩnh hằng
Quẳng cho ác chẳng sủi tăm
Để người khỏi tạo lòng thâm kiêu kỳ

4-Viên Quang Quán Âm
Nào nhơ thanh tịnh minh quang
Quanh người chiếu sáng đã tràn trần gian
Tiêu tai khói lửa hỗn mang
Ái từ viên mãn một thân diệu mầu.

5-Du Hí Quán Âm
Ung dung dạo gót khắp đời
Vẫn gieo ánh hạnh rạng ngời thế gian
Đến đi giữa chẳng từ nan
Vớt qua bể khổ tịnh an mọi loài.

6-Bạch Y Quán Âm
Bạch y tự tại Mẫu nghi
Ngự tòa sen trắng linh kỳ tịnh thinh
Nguyện ấn ai đã tường minh
Tiêu tai trường thọ quẻ linh xin về.

7-Liên Ngọa  Quán Âm
Từ bi trên một cánh sen
Tiêu Vương tôn quý dõi xem khắp đời
Giữa dòng khổ nạn bời bời
Chúng sinh muốn thoát cất lời cứ xin.

8-Thanh Cảnh Quám Âm
Sợ thuốc độc hại chúng sanh
Phát tâm uống cạn cổ xanh chẳng hồi
Tấm gương Bồ tát cứu đời
Ráng tu để chẳng ra người phi luân.

Phan Tự Trí
***
1- Cành Dương Mầu Nhiệm
Tan sầu mầu nhiệm cành dương
Cam lồ giọt nước yêu thương điệp trùng
Đại bi vô ngại diệu thông
Cứu khổ cứu nạn vượt dòng não đau

2- Uy Lực Quan Âm
Bao la quãng đại uy vương
Song toàn trí dũng Bạch Y đương đầu
Cứu người thoát khỏi nạn đau
Tầm thanh hóa hiện phép màu nơi nơi

3-  Chuyên Tâm Trì Kinh
Nhất tâm chuyên chú trì kinh
Nương dòng quán chiếu dược linh hộ hằng
Vô vàn lậu hoặc biệt tăm
Quán Âm cứu khổ thậm thâm diệu kỳ

4-Bi Tâm Cứu Độ

Ta bà rạng chiếu minh quang
Bi tâm cứu độ khắp tràn nhân gian
Quan lâm thị hiện miên man
Cứu người thoát nạn hóa thân diệu huyền

5- Từ Bi Vô Ngại
Từ bi vô ngại giữa đời
Tâm thanh vô lượng rạng ngời thế gian
Nổi chìm sáu cỏi gian nan
Ta bà cứu độ khổ luân khắp loài

6- Bồ Tát Quámn Âm
Tòa sen pháp tọa uy nghi
Tâm từ an trụ huyền kỳ cảm thinh
Độ người thoát trược u minh
Ta bà ứng hiện hàm linh náu về

7- Hương Thơm Độ Lượng
Thơm hương độ lượng tọa sen
Thiên nhãn thiên nhĩ…soi xem khổ đời
Ta bà phiền trược bời bời
Cảm linh ứng độ bao lời cầu mong

8- Trí Bi Quán
Trí bi rộng quán quần sanh
Muôn loài tăm tối quẩn quanh tái hồi
Tâm thương bồ tát cứu đời
Hằng soi khắp chốn vớt người khổ luân

Hương Thềm Mây GM.Nguyễn Đình Diệm
19.2 Mậu Tuất - 4.4.2018
***
1-Dương Liễu Quán Âm
Tay cầm bình bát liễu dương
Rải đều muôn loại đau thương ngàn trùng
Nhiệm màu ánh sáng tinh thông
Từ bi cam lộ xoá dòng đau thương

2-Long Đầu Quán Âm
Ngồi Rồng oai thị thần vương
Bồ Tát bay giữa đại dương ngẩng đầu
Lặng nhìn trần cảnh chìm đau
Ngài bèn hoá độ phép màu nhiều nơi

3-Trì Kinh Quán Âm
Tịnh tâm lật dở trang kinh
Lần tay chuổi hạt lòng thanh tịnh hằng
Đại chúng biển khổ mù tăm
Tập trung chú niệm sâu thâm cực kỳ

4-Viên Quang Quán Âm
Muôn nơi toả rực ngời quang
Độ cho pháp giới thấm tràn trần gian
Hành trì Tứ Diệu Đế mang
Thấm vào giải thoát tâm thân diệu mầu

5- Du Hí Quán Âm
Ta bà khắp chốn trần đời
Tầm thinh cứu khổ rạng ngời thế gian
Lòng thương chẳng chút từ nan
Đạo hạnh hoá giải chuyển luân các loài

6-Bach Y Quán Âm
Hình ảnh sáng chói oai nghi
Nét Ngài thanh thoát cầm kỳ lặng thinh
Chiếu soi bao cảnh u minh
Nạn nghiệp giải thoát tâm linh nhẹ về

7-Liên ngoạ Quán Âm
Quan Âm ngự toạ đài sen
Dịu dàng ánh mắt nhìn xem cuộc đời
Tứ thân hoản loạn rối bời
Muốn cầu an lạc khẩn lời niệm xin

8-Long Kiến Quán Âm
Huệ đuốc soi cảnh diệt sanh
Nghiệp trần gian díu xoay quanh từng hồi
Giáo pháp phổ độ cõi đời
Bụt luôn thị hiện cứu người sa luân

Minh Thuý 
Tháng tư- 2018
***
1- Sái Thủy Quan Âm
Lửa phiền tắt-bởi nước dương
Từ bình Cam lộ ban thương trùng trùng.
Quan âm Sái Thủy linh thông
Độ bao phiền muộn qua dòng đớn đau.

2- Lục Thời Quan Âm
Thần thông quảng đại đức vương
Điều hành mọi việc âm dương hàng đầu
Độ cho đời khỏi thương đau
Mưa hòa gió thuận hoa màu nơi nơi.

3-Quang Đức Quan Âm
Khuyên dân năng tụng kệ kinh
Tham sân si bỏ-tâm thanh mãi hằng
Ác ma dã quỷ mất tăm
Quan âm Quang Đức cao thâm thần kỳ.

4-Thanh Cảnh Quan Âm
Mắt thần nhìn rõ u quang
Biển khơi thuốc độc sắp tràn trần gian
Ra tay cứu khổ mang mang
Nuốt bình độc dược khiến thân chuyển màu.

5- Nhất Như Quan Âm
Từ bi cứu hộ cho đời
Cản ngăn sấm sét bủa ngời nhân gian
Thần thông giải hết nguy nan
Ban dân an thái chuyển luân các loài.

6-Diệp Y Quan Âm
Đức ngài phúc hậu dung nghi
Nhân dân cầu cúng định kỳ vọng thinh
Tâm mê chiếu tỏa ánh minh
Tiêu tan phiền não tâm linh hướng về.

7-Nhất Diệp Quan Âm
Châu thân đứng cánh hoa sen
Giữa mênh mông nước nhìn xem trong đời
Tối tăm khổ não bời bời
Khai tâm mở trí nhận lời thỉnh xin.

8-Diêu Mạng Quan Âm
Là vị bảo mạng chúng sinh
Giải phiền giải độc bao quanh bao hồi
Mắt thiêng nhìn thấu cảnh đời
Giữ gìn thọ mạng độ người tịnh luân./.

Trúc Lệ - Trần Lệ Khánh-Pháp danh Diệu Phước

Thứ Bảy, 20 tháng 7, 2019

Cơn Mưa Hạ - Nhạc Sĩ Trúc Hồ -Tiếng Hát Lâm Thúy Vân



 Nhạc Sĩ Trúc Hồ  
Tiếng Hát Lâm Thúy Vân
Thực Hiện: Đặng Hùng

Mưa Hạ



Đến trường dưới cơn mưa hạ cuối mùa
Thoảng chút gió lạ bám tà áo lụa
Mưa nhẹ ôm vòng eo gầy guộc nhỏ

Vạt áo nào êm ái buộc tim ta

Chiếc cặp che tóc hiền hòa ướt đẵm
Gót chân nào in đậm bước chân sau
Giọt thương giọt nhớ rơi xuống ngọt ngào
Thấm da thịt … từng tế bào run rẩy

Mưa ơi! Xin tắm mát tuổi thơ ngây
Chuồng chuồng nước vỡ mình đây soi bóng
Chảy tràn về góc trời thơm hoa mộng
Lóng lánh giọt ngà xao động dáng xuân xưa

Anh là mưa em áo hạ ươm mùa
Như trái chín cành yêu vừa trỉu nặng

Không gian im lắng… giọt vui thầm lặng
Hạnh phúc nào theo từng chặng đời nhau.

Kim Oanh

Mưa Hè - Mưa Hạ



Mưa Hè

Mưa rơi
Sợi dày
Sợi thưa
Dệt bao nỗi nhớ…
Tại mưa?
Bởi mình?
Nỗi sầu chợt ứa rèm mi
Chiều trôi nhanh
Ước trôi đi
Giọt mờ...
Đêm hè gối mộng vào thơ
Dù ai biền biệt hững hờ, mặc ai!
Sợi dây chả tiếc nối dài!
Cạn sâu tại giếng!
Ta cứ hoài nối dây...

dovaden2010
***
Cảm Tác:
Mưa Hạ


Mùa này chợt những cơn mưa
Hạt dài hạt ngắn đủ vừa nhớ nhung
Đi trong mưa hạ mịt mùng
Giọt thương giọt hận não nùng xót xa
Mưa cho đời lại nở hoa
Dù ai biền biệt mãi là cố nhân
Phượng hồng nụ trổ tình gần
Gió cuồng mưa lũ giữ chân người về.

Kim Phượng

Nhắn Nhủ



Bài Xướng:
Nhắn Nhủ

( Thay lời một người )

Nếu một ngày kia không có ta
Xin em đừng khóc mắt mi nhòa
Chớ đau buồn mãi, thân tiều tụy
Tránh tiếc thương hoài, dạ xót xa
Kỷ niệm hãy đưa vào hội họa
Tình yêu đem gởi ở thi ca
Chuyển qua nốt nhạc, lời tâm sự
Vẫn thấy chung đôi dưới mái nhà.

Sông Thu
11/07/2019
***
Các Bài Họa:

Chẳng Xa…

Một ngày nào đó chẳng còn ta
Tôi tới phương trời xa rất xa
Nhắn bậu thôi ngay sầu chất chứa
Xin ai đừng mãi lệ hoen nhòa
Không nên than phận lời thương cảm,
Mà hãy yêu đời khúc tráng ca
Đã vốn xưa nay, hình với bóng
Hồn sao ra khỏi góc vuông …nhà

Cao Bồi Già
12-07-2019
***
Vô Đề

Có gì nhồn nhột nhói tim ta
Không khóc sao mi ứa lệ nhòa?
Văn vốn yêu người nên lắng đọng
Thơ dè lụy bút mới sâu xa...
Không dưng chẳng dễ hòa sinh sắc
Khôn tỏ khó thành hợp xướng ca?
Mượn khúc độc cầm gieo phím lặng
Vỗ về trăng ngoc đợi hiên nhà.

Nguyễn Huy Khôi
***
Nhà Ơi!


(Tặng Anh tôi)

Ai về bên ấy chỉ mình ta!
Ôn buổi chia tay lệ ướt nhoà!
Người mải trông chờ nơi xứ lạnh
Dạ còn tơ tưởng phía trời xa
Ngọt ngào kỷ niệm luôn hoài nhớ
Rã rượi tâm hồn chẳng thiết ca
Dẫu thế mà sao lòng ước mãi
Ngày nao khẽ gọi "Ới ơi nhà"!

Như Thu
***
Khúc Nhạc Giao Hoà


(Cho một người)

Vẫn muốn một ngày em với ta
Đi cùng chung lối bước quanh nhà
Niềm vui chia sẻ không phai cạn
Hạnh phúc thương yêu chẳng nhạt nhoà
Dẫu món canh rau tuy đạm bạc
Mà tình tri kỷ khó chia xa
Nhìn trăng ao ước trăng tròn mãi
Khúc nhạc giao hoà rộn tiếng ca

songquang
***
Tâm Tình


Vô thường vẫn ở cạnh bên ta
Tươi tắn rồi đây sẽ nhạt nhòa
Hãy giữ yêu thương luôn hiện hữu
Nên quăng đố kỵ mãi lìa xa
Nguyện tìm tri kỷ mà ngâm vịnh
Ước gặp thi đàn để xướng ca
Mai lỡ chia tay còn bút mực
Cùng trang góp chữ đọng chung nhà

Như Thị
***
Hẹn Nhau…


Cõi thế đây rồi chẳng có ta 
Bà con bạn hữu, lệ đừng nhòa
Chân trời góc bể mà gần gũi
Đầu núi cuối sông cũng chẳng xa
Xứ lạ thương hoài câu xướng họa
Quê hương nhớ mãi dáng thi ca
Mai kia dù lạc nơi tiên cảnh
Cùng mãi hẹn nhau, một hội nhà…

Thanh Trương
***
Cung Lìa


Nơi này lặng lẽ một mình ta
Nước mắt chưa vơi đọng nhạt nhoà
Kẻ ở dương trần còn lạnh lẽo
Người rời thế tục khuất ngàn xa
Cung lìa bóng hạ sầu thi phú
Lối rẽ đêm sương buốt cảnh nhà
Khúc nhạc anh thường say luyện hát
Cô phòng vọng lại tiếng buồn ca


Minh Thuý
***
Dấu Ánh Trăng Thơ

Một người nào đó vẫn bên ta
Có biết thơ đang thấm lệ nhoà
Vừa mới hôm qua còn hớn hở
Mà nay ngày vội đã rời xa
Câu kinh ai tụng nghe như lạ
Bài kệ chuông ngân tưởng hát ca
Tình bỗng si cuồng tìm dấu cất
Đắm say trăng sáng lệch hiên nhà ...

Hawthorne 11 - 7 - 2019
Cao Mỵ Nhân
***
Ký Ức


Nhớ mối tình xưa em với ta
Không còn như trước ,đã phai nhoà
Bao lần tự nhủ thôi dao động
Có lúc thầm khuyên chẳng luyến xa
Ký ức chập chờn theo giấc ngủ
Tơ lòng xao xuyến trách câu ca
Lối về chốn cũ như thôi thúc
Lãng tử dừng chân ghé lại nhà

Phượng Hồng
***
Hư Ảo


Đời vẫn thắm màu nếu vắng ta
Cỏ hoa tươi sắc chẳng phai nhòa
Bình minh rực rở không u tối
Lặng lẽ thời gian gió cuốn xa
Khuất nẻo chân trời theo cát bụi
Hồn vương vấn mãi những lời ca
Vần thơ góp họa tình tri kỷ
Hẹn kiếp lai sinh gặp lại mà...!!!

Hồng Vân
*** 

Tình Ta

Hoa hồng thắm trổ đượm Tình ta
Bão tố…Tình thương hổng nhạt nhòa
Kỷ niệm duyên Tình không cách biệt
Ân Tình suối mộng chẳng rời xa
Hương Tình tỏa nụ nàng thơ hát
Ả Nguyệt khai Tình các bạn ca
Hãy rót men Tình trao ước vọng…
Tình yêu mãi nở đẹp muôn nhà.

Đức Hạnh
12 07 2019
***
Khúc Âm Xưa

Trên đời chẳng phải có mình ta
Những lúc sầu, mi ướt nhạt nhòa
Nước mắt không lay người mến cạnh
Lời buồn khó níu kẻ tình xa
Còn đâu kỷ niệm bên câu hát
Đã mất thanh trầm ở giọng ca
Trên phím đàn xưa lòng vẫn nhớ
Đâu đây âm điệu của quê nhà.

Paris, 13/07/2019
Trịnh Cơ
***
Vui Sum Họp


Sương mây mù mịt chốn quê ta
Ly biệt bao năm bút chửa nhoà.
Người vượt trùng dương thuyền mộng lướt
Kẻ nương mái cũ viện mơ xa.
Vững tâm đợi thế qua cung nhịp
May vận theo thời tới điệu ca.
Rộn rã thanh âm, gia hạnh phúc
Sum vầy cá nước đẹp chung nhà

Đặng Xuân Linh
***

Em Tôi

Bao nhiêu sầu muộn để riêng ta
Đừng bắt em tôi mắt lệ nhoà
Cho dẫu muôn trùng đường diệu vợi
Cũng không một phút dạ chia xa
Tựa thời lên sáu, vang câu hát
Như thuở mười ba, rộn tiếng ca
Trong sáng, ngây thơ không chút bợn
Một bông hoa quý giữa vườn nhà

Thục Nguyên 

Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2019

Khung Trời Tưởng Nhớ - Nhạc & Lời Huỳnh Anh - Tiếng Hát Thanh Thúy



Nhạc & Lời: Huỳnh Anh
Tiếng Hát: Thanh Thúy
Thực Hiện: Đặng Hùng

Không Có Em



Không có em anh làm thơ ai đọc
Ngỏ đi về im vắng tiếng em ca
Anh mãi mãi tìm em chiều xế bóng
Tiếng thơ buồn bay lạc nẻo trời xa!

Không có em mùa thu sang rất sớm
Lá vàng rơi che kín lối em về
Vầng trăng khuyết tỏ mờ soi lối nhỏ
Anh thẩn thờ chờ đợi đứng bên lề!!!!!!!

Không có em cõi đời luôn cô độc
Vui làm sao khi vắng biệt nụ cườỉ
Ðâu còn nghe tiếng em cười khe khẻ
Rất tuyệt vời âm hưởng thoảng xa xôi.

Không có em bút nghiên sầu cạn mực
Nàng thơ xa thi sĩ cũng buồn tênh
Ðêm khó ngủ giữa canh trường thao thức
Ước tao phùng... mộng mị mãi chông chênh!

Hàn Thiên Lương

Khung Trời Năm Cũ



Đế sậy lung lay dựa mé bờ
Cò ngà cô độc đứng bơ vơ
Lao xao rượt đuổi vài con cá
Lấp láng trầm ngâm mấy miệng lờ
Một góc trời quê như bức họa
Đôi nàng nón lá tựa bài thơ
Bây giờ năm tháng trôi xa lắc
Ký ức trong tôi chửa xóa mờ

Cao Linh Tử
30/9/2016

Chốn Cũ Vườn Xưa - Phút Chạnh Lòng



Xướng:
Chốn Cũ Vườn Xưa

Viễn khách về thăm chiến địa xưa
Niềm riêng cảm khái nói sao vừa
Rì rào tiếng gió lời ai vọng
Phưởng phất anh hồn tử sĩ đưa
Thuở ấy vòng vây quần thảo địch
Hôm nay rẫy bắp đổi thay mùa
Đâu rồi dấu tích đồn năm cũ
Má ướt hay là giọt nước mưa

Viễn Khách
July 14, 2019
***
Họa:

Phút Chạnh Lòng


Ngồi buồn  nhớ lại chuyện ngày xưa
Tha thiết yêu nhau chẳng thấy vừa
Mắt biếc thơ ngây mơ mộng thoáng
Tóc xanh tươi thắm dịu dàng đưa
Lá vàng rãi rác như thay áo
Trời đục khắp nơi để chuyển mùa
Giấc ngủ cô đơn buồn quạnh quẽ
Bâng khuâng ngắm cảnh bên ngoài mưa.

 Toronto 14/7/2019
Nguyên Trần

Đón Thu



Bài Xướng:Đón Thu

Lặng lẽ Quê Người ngắm lá phong
Thoảng nghe hương tỏa đóa Lan Hồng
Ngọt ngào sương ngậm còn e ấp
Rực rỡ đêm về vẫn đợi trông
Mặc khách bâng khuâng tơ tưởng nhớ
Tao nhân xao xuyến dạ chờ mong
Thu sang thôi hãy vui giây lát
Đừng để buồn vương se sắt lòng?!

Mặc Khách
***

Các Bài Họa:

Thu Mơ

Lặng đứng bên rừng Thu lá phong
Ngất say giữa sắc đỏ chen hồng 
Lung linh dãy nắng khom mình ngó 
Lộng lẫy cây ngàn ngửa mặt trông 
Mây lướt rộn ràng khơi nỗi nhớ 
Gió lùa ríu rít gợi niềm mong 
Thu mang nét đẹp cho trần thế 
Xui khiến thi nhân nao nức lòng…

Thu T. 
 (10-2012 )
***
Thu Về 

Thu về Trung Mỹ đón nam phong
Ngây ngất hương thơm tỏa dậu Hồng
Mặc khách đê mê lòng ngóng đợi
Giai nhân bẻn lẻn dạ chờ trông
Trộm nhìn âu yếm hồn chất ngất
Thầm liếc lả lơi tình nhớ mong
Tưởng nhớ thu sang ngày tháng cũ
Người đi kẻ ở vấn vương lòng?!

Kim Hương
(Costa Rica 29-10-2012)
***
Thu

Mịt mù đất lạ ngọn thu phong
Mặc khách yêu ai, nặng bóng hồng?
Non nuớc tang thuơng đành gởi lại
Sơn hà vuơng vấn mãi chờ trông
Đoạn đuờng phiêu bạc mây ngàn nhớ
Muôn dặm trùng khơi dạ xiết mong
Con tạo dệt chi, thêu lắm cuộc
Thi nhân vò võ nát tâm lòng ...

Kiều Công Ly
***
Thu Đợi

Lá vàng rơi rắc quyện Thu phong
Quanh khóm vườn lan chớm nụ hồng
Nhớ tới bóng Ai mà mỏi ngóng
Thương về đất Mẹ ngững mòn trông
Niềm tin canh cánh bằng nung nấu
Tình ái mơ màng chút đợi mong
Hẳn biết đón chờ đầy ước vong
An vui sâu lắng đọng trong lòng

Tố Nguyễn
San Jose 30/10/2012
***
Hoài Thu

Một mình nhặt lá dưới vi phong
Trong mưa cành lan ửng chút hồng
Cú ngỡ bên lá vàng trông ngóng
Người trai Lính Chiến thỏa ước mong
Lời nguyện hôm nào còn hun đúc
Thôi thúc người em nhỏ đợi trong
Được một ước mơ trong thương vọng
Vóng tay người lính mãi bên lòng…

Hoàng Lan
***

Thu Thầm Kín

Lá vàng rực rỡ gió reo phong
Từng chiếc thu sang tựa cánh hồng
Mòn mỏi chờ ai trên bến lạ
Con đò thấp thoáng vẫn chờ trông
Người đi biền biệt phương trời đó
Có biết nơi này dạ nhớ mong
Ngày đó chia tay tiếc nuối quá
Thôi đành chôn kính ở trong lòng

Hoa Thông NM
31-10-2012