Thứ Ba, 15 tháng 3, 2022

Quán Cơm Tấm Trần Quý Cáp, Viết Theo Trí Nhớ

 

Nhà bán cơm tấm đường Trần quý Cáp gần đường xe lửa. Nhiều lần các anh chị chuyển cho đọc mấy bài về các nơi ăn ở SG xưa, nhưng tui không thấy tác giả nào kể lại một nơi bán cơm, của mấy quán cơm ở đường Trần quý Cáp. Tui kể lại nơi nầy để đồng môn đọc chơi giải trí:
Tui gọi nơi nầy là nhà bán cơm tấm đường Trần Quý Cáp thay vì gọi như dân tình là "quán cơm tấm Trần Quý Cáp". Tui dùng tên theo lý do. Khi chưn ướt chưn ráo lên Sài Gòn vào Kiến Trúc, một buổi tối, ông anh tui dẫn tui đi ăn nơi nầy. Tui có thấy quán tiệm ăn gì đâu khi anh ngưng xe trước một căn nhà hơi lụp xụp. 
Tui còn đứng xớ rớ vì có biết vô đâu mà là quán tiệm cơm! Dựng xe xong anh kéo tui vào căn nhà mà cửa vào phải hơi khòm một chút mới vào. Trong tiệm không có 1 bàn ghề gì hết mà chỉ có 1 bộ ván. " Mầy ngồi lên ván đi, tao gọi cơm kẻo hết chỗ ngồi"! Trời đất quỷ thần thiên địa ơi, quán cơm gì mà lạ dzậy, ngay cả Sa Đéc hay các quận hẻo lánh cũng không có cảnh nầy, đừng nói tới Vĩnh Long. Tui nghe lời, xề vào ngồi mép bộ ván, hai chưn thòng đung đưa trên mặt đất rồi ....sau đó khi tui chưa có cơm thì thêm mấy người nữa bước vào cũng tìm mép ván ngồi tỉnh queo! Cũng có người ngồi xếp bằng kiểu thiền phía bên trong ván vì 4 mép ván hết chỗ ngồi!
Có người bưng tới cho anh em tui hai dĩa cơm sườn nướng mở hành thơm phức như cơm sườn nướng bắc Mỹ Thuận.


Sau bữa cơm dĩa đó, tui không đến ăn một thời gian khá lâu, khoảng 1 năm, Khi hai anh em mướn 1 phần trước của 1 căn nhà trong hẻm rộng, vừa xe cam nhông, nối đường Trần Quý Cáp qua Phan Đình Phùng thì oái oăm thay, từ nơi tui mướn đến căn nhà bán cơm mặt đường Trần Quý Cáp chừng 50 thước tây!

Lúc nầy bà đã sửa sang căn nhà khang trang hơn nhưng vẫn là căn nhà bình thường, nhưng có phần thay đổi cho ra vẻ một quán ăn: có mấy cái bàn bên trong cạnh quầy thức ăn, và buổi chiều tới giới nghiêm thì có bày vài bàn nữa trên mặt lộ, trước cửa nhà. Thực khác nhiều khi ngồi chung 1 bàn nhưng hoàn toàn xa lạ vì thiếu ghế. Như vậy cho thấy quán của bà ỲỲY khá đắc. Về thức ăn thì đặc sệt thức ăn miền nam: thịt kho trứng vịt (chánh hiệu trứng vịt),....hũ nước mắm ớt hấp dẫn......Các thức ăn rất bình dân và giá cũng bình dân luôn. Thí dụ như thịt kho thì vừa có nạt vừa có mỡ còn miếng da hẳn hòi. Mở ngoặc: nói về hiện nay tui cũng có thit kho trứng (gà) ngon ăn hằng ngày nhưng "ba bỏ miếng mỡ còn dính kià (miếng mỡ nặng khoảng nửa gram)" hay "ba bỏ miếng da và miếng mỡ cho sạch...." cho nên da mặt tía nó hiện nay nhăn như giẻ rách!. Đóng ngoặc.

Thành phần thực khách cũng thật khó biết hết: có thể các sĩ quan hay các anh lính hay các anh cảnh sát, có thể các thư ký, có thể sinh viên, cũng có thể các anh đạp xích lô hay tài xế taxi hay một số người ăn mặc tươm tất, các gương mặt thường xuất hiện trên sân khấu cải lương hay sân khấu tân nhạc.....Thành phần ăn uống đạm bạc nhứt là các anh đạp xích lô: chỉ một dĩa nhiều cơm trắng chan thêm vài muỗng nước thịt kho kèm theo một miếng da heo kho cong queo, nhìn các anh ăn ngon lành! Kế đến là các anh sinh viên với một dĩa cơm trắng, chan nước thịt kho với 1 trứng vịt kho.

Khoảng 1970, căn nhà của bà được xây dựng lại rất khang trang, 2 từng lầu và từng trệt là Quán Cơm Tấm Trần Quý Cáp. Sau 30 tháng Tu 1975, tui còn đến ăn một hai lần, nhưng hương vị thay đổi nhiều...
Điều thay đổi nầy từ thức ăn hay từ lưỡi của tui?

Nguyễn Cao Khải

Thứ Hai, 14 tháng 3, 2022

Chùa Long Thiền Phường 5 Vĩnh Long(Qua Cầu Thiềng Đức)

(Ba chữ Long Thiền Tự,
Khoảng thời gian 1901 một chử viết giá 15 đồng, một đồng giá bằng 4 giạ gạo)

Khoảnh đất mà ngôi chùa tọa lạc thuở đầu, bề ngang 50 thước, dài 50 thước, tổng cộng khoảng 2500 thước tương đương hai công rưỡi, với thời gian cùng sức ép cư dân, đất chùa teo tóp dần còn lại khoảng chừng non hai công cho ba công trình: Sân trước, chùa và khu mộ phía sau chùa. Nằm bên trên bờ sông Long Hồ, giữa hai chiếc cầu là cầu Thiềng Đức và cầu Bạch Đằng, phía sau chùa giáp ranh phía sau nhà thờ họ đạo Thiềng Đức, hai ông này đâu lưng nhau, mặt xây hai hướng khác nhau, nhưng mục đích không khác nhau …

 
(Cửa chánh điện nhìn từ bên ngoài)

Ngôi chùa nhìn từ phía ngoài đường Nguyễn Chí Thanh mà ngày xưa là đường Lê minh Thiệp, xa nữa là lộ làng, xa hơn nữa là đường thôn xóm vắng. Cách mặt đường khoảng gần hai mươi thước là ngôi chùa theo kiến trúc phái thiền thuộc Lâm Tế tông, từ ngoài nhìn vào không thấy được bên trong chánh điện, bức tường gạch gian chánh điện che kín liền lạc, muốn vào viếng chùa phải qua sân đất trống được lát đá xanh nguyên tảng, dài khoảng 1 thước rưỡi, ngang khoảng 3 tấc, dầy chừng 1 tấc rưỡi, đi gần chục tảng đá sấp xuôi là đến 5 bậc thềm, hai bên hông chánh điện gồm hai hành lang thường gọi, đông lang dành cho nam, bên trái hông chùa là tây lang dành cho nữ. Vào chánh điện phải đi hết hai hành lang tùy theo nam nữ, rẽ trái hay phải mới vào chánh điện được. Cuối đông lang là chiếc chuông công phu sáng sớm và chiều tối, cuối tây lang "dành cho nữ"an vị chiếc trống to, dùng trong dịp lễ, nhịp trống vào giữa thời kinh còn gọi "đánh trống bát nhã ", cửa vào chánh điện mở chính giữa, cách khung cửa khoảng hai thước là bức vách bằng cây che phía lưng tượng đức Thế Tôn, vào chánh điện cũng đi vòng theo nam nữ, mà vào hẳn bên trong hành lễ thì nam nữ đồng vị Trong chánh điện bện trái sát giữa tường có bộ lễ âm gồm một trống nhỏ, một cái giá treo chiếc chuông nhỏ đường kính khoảng 3 tấc, phía dưới chuông treo tấm cây bằng gỗ đen, còn gọi là bảng, để đánh trống có cặp dùi nhỏ, để đánh bảng cùng chuông dùng chiếc búa bằng cây, bộ lễ cụ này thường dùng trong công phu khuya gần sáng, phần này phải học nhuần nhuyễn mới đánh được, chỉ bởi một vị thầy. 

(Cửa chánh điện nhìn từ bên ngoài)

Hồi xưa, tượng đức Bổn Sư ngồi trên nghi cao, mà người lớn đi dưới nghi không cần cuối đầu, tượng được dát vàng, theo thời gian mầu sậm lại trông cổ kính, nhìn kỹ chiếc miệng dường như cười, nên vừa từ ái lẫn nét hoan hỉ. Cách đây khoảng hơn 10 năm vị trụ trì già, có lẽ nghĩ để trang nghiêm tượng phải làm cho đẹp, nên ông sơn bên dài bằng sơn dầu với môi son mặt hồng phấn, y sơn nhủ vàng sáng sủa, còn chiếc đại hồng chụng theo thời gian đã đen mun, ông nhận thấy cần cho bóng mới đẹp, ông sơn dầu trong cho toàn chuông, và chuông bị điếc. Giữa chánh điện và tổ đường có khoảng đất trống bên dưới, cũng để trống luôn bện trên thường gọi là sân khấu, chẳng biết ngày xưa có phải dùng vào việc họp tăng chăng? Cũng xưa lắm trong khuôn viên nhỏ của sân khấu có một con quy khá lớn thường chậm chạp bò quanh sân nhỏ ẩm ướt, được cho ăn rau cải, thường là trái chuối xiêm, có lần “ ông chín khùng” thân cao to mập ăn trầu liền miệng, trên tay luôn có cây gàu với đầu gàu là chiếc son sữa bò, dùng múc nước tưới cây dọc đường đi, tưới vài lon nước là xin tiền hoặc xin trầu ăn, ông vào chùa ngồi lên con quy, vị thầy trụ trì phải hô lên vài lần ông mới chịu đứng lên, cách đây vài chục năm không thấy con quy trong sân khấu, có lẽ đã tham gia buổi nhậu nào đó chăng?

(Trong chánh điện vào lễ đêm năm 2009 khi chưa thay đổi thêm)

Trước tổ đường, gần sát sân khấu có một nghi trên đó an vị tượng đang ngồi, mặt hướng về sân khấu sau chánh điện, tay tựa lên cán búa dùng cho tiều phu, được sơn son thếp vàng, vị này là lục tổ Huệ Năng khi còn là tiều phu danh xưng trong đại chúng là Ông Giám, tương truyền trong lịch sử thiền tông ngài là vị dốt đặc, dốt một cách bi tráng, ngài chỉ nghe âm hưởng tụng đọc của bộ kinh Kim Cương mà cảm ngộ. Phía sau lưng tượng, nghi giữa là tổ vị, hai bên là hai nghi thờ các vị có công đức với chùa.

(Trong chánh điện vào lễ đêm năm 2009 khi chưa thay đổi thêm)

Ngày xưa, sát vách ván của gian thờ tổ, mà đàng sau là nơi ngụ của vị hòa thượng, hai bên phía ngoài sát vách là hai phòng, bề ngang khoảng 2 thước rưỡi, sâu khoảng hơn bốn c, cả hai phòng dành cho giáo thọ và yết ma, là hai chức vụ phụ hòa thượng điều hành mọi việc trong chùa. Trên nghi cao của tổ vị, góc trái có một xương đầu cọp, mà theo truyền miệng là của vị tu trì đầu tiên nơi cuộc đất này, ông ngụ nơi đây tịnh tu cùng với một con cọp, mà người xưa gọi là ông hổ tu theo thầy, sau đó vị sư này mất, con hổ cũng chết theo, mộ của con hổ nằm cuối dãy mộ, gần sát mương nước, thuở tôi còn nhỏ, thì núm mộ nhỏ đã lạng gần sát mặt đất, cách đó khoảng 5 thước là một buội trúc sát mương nhỏ, mương này thông ra cống chảy vào sông Long Hồ. Hiện nay xương đầu cọp cũng hô biến đâu mất tiêu, chắc là được vào nồi nấu cao du hí muôn phương rồi.

(Phía trong sân khấu nay là ao sen trên đó tượng Quán Thế Âm bằng đá cảm thạch trắng)

Thông thường gian thờ tổ thường xây dựng cao hơn chánh điện một chút, với ước mong hậu bối tấn phát hơn các vị tiên hiền. Bên phải chùa là gian nhà cất riêng biệt rộng, dùng tiếp đãi bá tánh trong những ngày rằm, ngày vía lớn, với hai dãy bàn dài cùng hai bộ ngựa bằng gỗ khá to, phía trong cũng nằm bên phải của nhà khách là phòng dành cho khách tăng hoặc tăng nhân của chùa cư ngụ. Phía sau bên ngoài cùng là trù phòng, nơi nấu ăn cho tăng chúng, từ đây mở ra sân sau, nơi an nghĩ vĩnh hằng của hòa thượng, tăng nhân cùng bá tánh.

(Trong chánh điện vào lễ đêm năm 2009 khi chưa thay đổi thêm khấu nay là ao sen trên đó tượng Quán Thế Âm bằng đá cảm thạch trắng)

Vào khoảng năm 1956 bên trái phía ngoài sân trước chùa, chánh quyền có xây một giếng nước dùng bơm tay để đưa nước lên, người dân cũng ít dùng vì sát mé sông, theo thói quen dân cư là xách hay gánh nước từ mé sông lên, lóng phèn là dùng, không phải hì hục bơm, thời gian lâu lại phải chờ đợi, do vậy đám con trai trong xóm buổi xế chiều thường tụ tập kẻ bơn người bịt cho đến khi áp suất lớn, mới nhích khẻ tay ra cho nước văng tung tóe rồi cùng nhau đùa giỡn, hơn mười năm sau, chánh quyền đặt ống nước dẫn vào nhà dân, một trụ nước sạch công cộng đặt sát đường cách giếng nước cũ khoảng 5 thước, về phía cạnh đường đi, kể từ đó giếng bơm tay được gở bỏ.

Năm 1968 chiến tranh lan vào thành phố, gian nhà khách bị cháy và sập, chùa nghèo không xây dựng lại được, khoảng sau đó ít lâu, hai nhân sĩ địa phương phá bức tường phía trước chánh điện làm cửa mở thẳng ra phía lộ, cho sáng sủa mặt tiền chùa do vậy đức bổn sư không còn ngồi trên nghi cao nhìn tường mà ngó thẳng ra đường cho vui mắt.

(Tượng Thánh Đế Quân nơi gian bên trái)

Đến đây chấm dấu hết nét xây độc đáo dành riêng cho ngôi cổ tự thuộc phái Lâm Tế tông ở địa phương.
Khi xưa chùa không có cổng, nay trước chùa là chiếc cổng tam quan bề thế, vị trụ trì hiện tại đã khởi công tu sửa và phát triển toàn bộ ngôi chùa đâu khoảng từ năm 2007 cho đến nay là năm 2015. Mặt sân trước được nâng lên cách nền chùa khoảng 2 tấc, do vậy khi vào chùa không còn phải lên năm cấp như xưa. Hai hành lang đông và tây được bỏ vách tường ngăn, nên bề ngang chánh điện được rộng thêm, nền lót gạch men theo hiện thời, chồng lên nền gạch tàu cũ, nơi nghi giữa, có thêm tượng đức Thích Ca cao to, tượng xưa cũng chính giữa nhưng thấp hơn, hai bên vách hông cũng nhiều nghi đặt tượng mà không biết tên vị nào, thành thử cũng không biết luôn thứ bậc “ chức vụ “, cho nên các vị thiện tín khi vái lạy có lẽ vái trổng rồi lạy mà thôi, phần này cũng dễ, thấy tượng phía trước có bát nhang thì cứ cuối lạy là trúng. Ngói nóc từ chánh điện cho đến tổ đường đã hư hỏng khá nhiều được đưa xuống thay gổ hỏng, rồi xấp nóc trở lại, do đó từ trên nhìn xuống vẫn y nguyên kết cấu của ngôi chùa cổ.

(Tượng Quán Thế Âm bên gian phải, hai tầng trên dành nơi giữ cốt)

Theo cách bày trí ngày nay, thông thường trước chùa miếu thường có tượng đức Quán Thế Âm, thân nữ, ngài đứng, có lẽ tiện lợi cho người cầu nguyện khỏi phải vào chánh điện. Nơi sân khấu sau chánh điện, hiện thời là một ao sen vuông, chiếc cầu bắt dẫn lối đến một tượng Quán âm ngồi xem sách có lẽ được tạc từ đá cẩm thạch trắng, tượng khá bề thế và đẹp. Bên trái khuôn viên sân khấu, một gian xây dành thờ riêng đức Quan Thánh Đế Quân, được biết tượng được tạc từ một gốc cây cổ thụ hàng trăm năm, thế ngồi cao to đen bóng khá uy nghi.

Bên phải là khuôn viên một trệt hai lầu, tầng trệt một tượng bằng cây to, ngồi trên tòa sen cũng là tượng đức quán thế âm, hai tầng trên sử dụng làm nơi đặt cốt cho bá tánh.
Đứng trên bao lơn tầng cao có thể nhìn bao quát thành phố và một phần sông Tiền Vĩnh Long

Dựa theo thông tin được cập nhật gần đây, Phật giáo Việt Nam đã phát triển từ lâu lắm, có lẽ từ trước công nguyên, bởi tại Bắc Ninh đã có trung tâm tu học phật tên gọi –Trung tâm Tuy Lâu – Tại nơi này, đôi vợ chồng người Ấn sang buôn bán, hạ sinh một người con trai,” khoảng giữa những năm 180- 190 “ hai ông bà mất khi cậu con còn vị thành niên, vị này xin vào tu học nơi trung tâm Tuy Lâu, tỉnh Bắc Ninh, đó là thiền sư

Khương Tăng Hội, tạm gọi là sơ tổ thiền tông Việt nam.
Vào khoảng giữa năm 500 thời Lý Nam Đế, Tì Ni Đa Lưu Chi đắc đạo với tam tổ
Tăng Xán, đã sang Việt Nam truyền pháp.
Năm 826 nhánh thiền Vô Ngôn Thông vào tiếp
Năm 867 nhánh Chuyết Công Nguyên Thiều, thuộc dòng Lâm Tế.
Năm 949 nhánh Vô Ngôn Thông với tông phái Thảo Đường.
Cuối năm 800 đến đầu những năm 900 nhánh Tào Động Tông với phái Nhất Cú

(Gian tổ đường)

Năm 1683, thiền sư Nguyên Thiều người Quảng đông, Trung Hoa, theo thuyền buôn vào Bình Định, góp nhặt gạch, đá của Thập Tháp xậy nên ngôi chùa Thập Tháp Di Đà hoàn thành năm 1683. Tính đến nay đã hơn 16 đời truyền thừa dòng Lâm Tế chánh tông nơi chùa Thập Tháp. Các đời kế tiếp xuôi về phương nam theo sự khuyến khích của chúa Nguyễn, riêng thời Tự Đức cho mở mang bờ cõi mạnh về phương nam, kèm theo đó là nơi nào có làng xã thì lập chùa, các sư, tăng, từ các chùa miền trung cũng được vua khuyến khích vào nam khoảng năm 1853. Chùa Long Thiền cũng được tạo dựng trong khoảng thời gian này.

Vị sư đầu tiên đến lập nơi thờ Phật và truyền bá là hòa thượng Thiện Sơn, ngài đến cùng với một con cọp, về sau ngài tịch con cọp cũng mất theo.
Vị kế tiếp là hòa thượng Tâm Hội, ngài vốn người Bình Định, họ Lại, sinh năm kỷ tỵ

– 1869, là đệ tử chánh truyền dòng Lâm Tế, là tổ thứ 39 của chùa Thập Tháp Di Đà kế thừa và xây cất lại toàn bộ chùa Long Thiền. Trong thời gian hoằng hóa Phật Pháp, ngài lên vùng Châu Đốc mua gỗ súc kết thành bè, xuôi theo sông đưa bè gỗ đến bến an lành, trừ thời gian công phu khuya và sớm, suốt ngày trầm nơi bến sông lo việc cất chùa.

Không rõ thời gian xây chùa trong bao năm mới hoàn thành, năm hoàn tất được ghi trên tấm hoành gian giữa chánh điện vào năm nhâm dần ( 1902 ). Hai vị thí chủ lớn của chùa là Đốc Phủ Bảo và bà Phủ Y “ Trương Thị Loan “, ngoài ra còn nhiều vị nữa được ghi trong bảng treo bên vách trong chánh điện của chùa. Như vậy hòa thượng Tâm Hội là sơ tổ chùa Long Thiền, thuộc hệ phái Lâm Tế chánh tông chùa Thập Tháp, ngài viên tịch ngày mùng 3 tháng 8 năm bính tý ( 1936 ), hưởng thọ 63 tuổi. Các đệ tử truyền thừa của ngài thuộc hàng chử Chơn, rất nhiều được phân ra các nơi trong miền nam, hai đệ tử còn lại gắn bó với chùa là, thầy Chơn Hòa và Chơn Nguyện, thầy Chơn Nguyện yết ma kế thừa chùa Long Thiền.

Khoảng thập niên 70 thầy Yết Ma già yếu, thầy Thiện Tâm kế thừa, Thiện Tâm là pháp hiệu, pháp danh là Từ Khai do sư bác là thầy Chơn Hòa đặt trong lễ xuất gia tại chùa Hội Phước nơi An Hữu, thuộc tỉnh Định Tường, cách bắc Mỹ Thuận khoảng 10 cây số, sau đó ông theo học tốt nghiệp cao trung Phật học, cư ngụ nhiều chùa tại Sài Gòn, sau cùng về chùa Long Thiền.

(Một phần nóc trước chùa nhìn từ trên cao)

Giữa năm 1985 Thiện Tâm mời thầy Minh Thanh, đang trụ trì chùa Bảo An, tỉnh Cần Thơ, về chăm sóc chùa, có lẽ do duyên tu của Thiện Tâm không còn nữa. Thầy Minh Thanh trụ trì hơn năm năm, rồi cũng rời chùa.

Nhận thấy ngôi tam bảo không thầy chăm sóc, chánh quyền phường 5 mời vị cư sĩ tu tại gia là ông ba Bê, người địa phương đến trông nom hương khói, pháp danh Minh Pháp, ông trở thành trụ trì chùa trong nhiều năm sau đó, vào thuở chính thức nhận chùa, ông cũng đã cao niên lắm, sức yếu, phải nhờ đến một vị thượng tọa phụ việc trong chùa, thầy Phước Quang, vốn là thầy trẻ, có học lại giao tiếp rộng, được các vị thí chủ ủng hộ, trong số đó có vị đại thí chủ là cô Diệu Mãn gần như lo toàn bộ từ xây dựng cho đến an vị các tượng thờ. Chùa Long Thiền có thể được xem như đổi mới toàn bộ, khi viếng khách có cảm giác tôn kính trước cảnh uy nghiêm rạng rỡ của ngôi chánh điện.

Từ năm 1902 trở về sau là cảnh hưng thịnh của chùa, với đầy đủ lễ nghi theo phong thái tông Lâm Tế, nhưng mang đậm nét tịnh độ của dân tộc Việt nam. Đó là thời của sơ tổ Hòa Thượng Tâm Hội, sau khi ngài tịch, chùa suy hoại từ từ, mãi đến thời thầy Minh Thanh, rồi sư ông Minh Pháp, chùa không còn suy trầm, song chưa phát triển được. Nay đến thời thầy Phước Quang chùa khởi sắc trở lại với nhiều hoạt động Phật sự, thật đáng mừng cho địa phương và chư phật tử.

Trong bài chùa Long Thiền, tấm ảnh chụp bức hoành, trên đó là ba chữ Long Thiền Tự,

Trương Văn Phú
 

Lời Tự Tình


Anh sẽ ra đi đi thật xa
Trần ai lăn lóc cõi ta bà
Đời anh sao cứ đau thương mãi
Năm tháng lạnh lùng cơn gió qua

Ngày bỏ cuộc chơi sắp đến rồi
Buồn vui nhân thế lúc đầy vơi
Thiên đàng cực lạc không buồn đến
Địa ngục trần gian chẳng muốn rời

Em có còn thương anh nữa không?
Riêng anh vẫn nhớ em trong lòng
Mặc trời buốt giá hay giông bão
Sáng nắng chiều mưa cứ ngóng trông

Không biết bây giờ em ở đâu?
Một đời xuân sắc có tươi màu
Anh đời lữ thứ thân phiêu bạt
Nhật nguyệt chờ nhau nối nhịp cầu.

Toronto 6/3/2022
Nguyên Trần

Cô Em Răng Khểnh

 

(Thương tặng Kim Oanh)

Áo em trắng cả sân trường,
cặp ôm che ngực, tóc vàng nắng mai.
Rộn ràng những bước chân nai,
qua cầu Thiềng Đức xếp dài ... cây si.

Nửa vòng trái đất phân ly,
áo em nay tím xuân thì ngày xưa.
Hương còn đọng nét ngây thơ,
chiếc răng khểnh bé vẫn chờ người thương.


Sông-Hương
***
Cô bé nào có chiếc răng khểnh
Mặc áo tím làm người ta bệnh 
Cũng như trời bị bệnh nắng mưa 
Người ta vì cô mắc tương tư!

Chẩm Tá Nhân

Mãi Mãi Bên Em - Sáng Tác Từ Công Phụng - Tiếng Hát Bảo Côn


Sáng Tác: Từ Công Phụng 
Tiếng Hát: Bảo Côn

Vời Vợi



Lang thang vào cõi mịt mờ
Áo mây áo gió nằm chờ tình ca
Để dành áo bướm ngàn hoa
Mai kia về đến quê nhà tặng em

Chắc là em thích em khen
Hay là em đã quên tên quên người
Xin em giữ mãi nụ cười
Thơ ngây như dáng hoa tươi thẹn thùng

Đường đi dù thiếu điểm chung
Xin đường về chớ ngại ngùng song song
Trời xanh trong mắt nai trong
Cho thơ vời vợi cho hồng chiêm bao

Tim em sao chẳng lối vào
Tóc tơ bối rối không sao chỉ đường
Vai mòn cát bụi gió sương
Kiếp sau xin sổ đoạn trường xoá tên

Áo sầu gió lạ lênh đênh
Thuyền không bến đậu hay quên hẹn hò
Cuối dòng nước ngược quanh co
Cánh bèo tơi tả cánh cò ngừng bay

Không năm không tháng không ngày
Vô cùng vô tận bướm bay mưa nguồn
Buồn trôi vui nỗi tang thương
Chơi vơi trong đục vô thường khói mây...

MD 03/13/03
LuânTâm

Bồ Câu Trắng Và Tôi


Bồ câu trắng là biểu tượng của hòa bình và là sứ giả của hy vọng trong ý nghĩ của tôi từ khi tôi học trung học. Ấn tượng sâu đậm về loài chim dễ thương này đã khảm sâu vào tâm trí của tôi từ câu chuyện bồ câu trắng đem nhánh ô liu báo cho Noah biết nước lụt của nạn hồng thuỷ đã rút. Tôi yêu mến phẩm chất tốt đẹp của loại chim này nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ mình có điều kiện nuôi chúng như thú cưng hay tiếp cận chúng như ba loài chim mà tôi đang nuôi trong nhà là vẹt đuôi dài (Cockatiels), Yến Phụng (Parakeets) và Sẻ Vằn (Zebra Finch). Thế mà trong một buổi chiều đi bộ trong xóm, một em chim bồ câu trắng bất thần sà xuống trước mặt tôi. Em ngáng đường tôi đang đi và nghiêng đầu ngước lên nhìn tôi rất lâu.

Tôi kinh ngạc đến độ không dám bước tiếp. Tôi e rằng sẽ làm kinh động khiến em bay đi; còn em bình thản đi qua lại trước mặt tôi và chốc chốc dừng lại nghiêng đầu, ngước mắt lên nhìn tôi với ánh mắt rất thân thiện, dễ thương. Tôi khá thú vị với hiện tượng lạ nên nhờ chồng tôi chụp dùm một tấm hình. Tuy nhiên, khi nhờ anh làm điều này, tôi chỉ yêu cầu với sự hồi hộp, không chắc. Rất khó cho anh có thể rút điện thoại cầm tay ra khỏi túi, mở mật mã, mở phần chụp hình và bấm nút kịp thời trong khi chim là loài thường hay nhạy cảm với những động tác của người, nhất là người lạ. Chúng sẽ vụt bay đi đột ngột như khi sà xuống. Em chim bồ câu trắng này có thể bay ngay khi anh vừa lấy chiếc điện thoại cầm tay ra, không chừng. Kỳ lạ thay, em vẫn đứng yên nhìn tôi rất lâu. Một lúc sau, em lững thững qua lại trước mặt tôi, như muốn nói với tôi gì đó mà không thể diễn đạt qua ngôn ngữ chim của em.

 

Vậy là chồng tôi có đủ thì giờ chụp cho em và tôi vài tấm hình. Tôi không dám nhúc nhích nhưng tôi đã liên tiếp hỏi và nói với em bằng giọng nói nhão nhoẹt và chả chớt, như tôi vẫn thường nói chuyện với những con chim tôi nuôi trong nhà, rằng“Con đi đâu đó?” “Con ăn gì chưa?”, “Con có đói không?”, “Bạn của con đâu mà con lạc loài ở đây?”, “Con đang lạc bạn phải không?”, “Con cần‘mẹ’ làm gì?”, “Mà thôi, ‘sang đàng’ như vầy đủ rồi, con bay về nhà đi, chiều tối rồi đó!” Tôi nói với em như độc thoại, nói cho chỉ mình nghe, nhưng tôi không chán. Tôi chỉ ngưng, không nói, khi em bay đi, và tiếp tục bước để kết thúc cuộc đi bộ hàng ngày của tôi.

Từ chỗ gặp em bồ câu trắng đến nhà tôi chỉ cách có tám căn nhà; vậy mà, lúc ấy, tôi cảm tưởng như xa lắm. Tôi vừa đi vừa ngẫm nghĩ, không hiểu vì sao có hiện tượng này. Tôi nhớ mỗi lần cho chim trong nhà ăn xong, tôi thường đem thức ăn cho sóc, chuột sóc (chipmunk) và các loài chim ở sau vườn. Mỗi lần như thế, tôi thường quan sát chúng ăn như thế nào, và có thêm “khách lạ” nào đến dự buổi “tiệc họp mặt hàng ngày” trong sân cỏ sau nhà của tôi không. Tuy nhiên, tôi chỉ thấy đám chim sẻ quen thuộc, chào mào, hồng tước và vài con cu đất hòa nhập với những con sóc, sóc chuột hay vài chú thỏ, chứ tôi chưa hề thấy con chim bồ câu trắng nào. Dù chỉ cư ngụ ở “Đồi Anh Đào (Cherry Hill) của vùng Maryland” trong năm năm tôi cũng đủ khẳng định nơi đây không là nơi lưu trú của loài chim mang biểu tượng hòa bình này. Tôi đoán em chim bồ câu trắng này bị lạc đàn, lạc bạn trong phút chốc và không chóng thì chầy, em sẽ tìm về với bầy thôi.

Ngày hôm sau, đi làm về, tôi nghe chồng tôi kể là em chim bồ câu trắng bay đến nhà tìm thăm tôi. Tôi ngỡ anh đùa, ai dè, anh đưa cho tôi xem tấm hình anh chụp để chứng thực lời anh nói.


Anh kể: “Buổi sáng anh đang làm việc trong phòng chim, bỗng nghe tiếng lốc cốc trên nóc. Nhìn lên, thì ra con chim bồ câu trắng đang đứng trên mặt cửa kính của nóc nhà. Nó nhìn xuống rồi đi qua lại tỏ ý cho anh biết là nó đến nhà thăm mình.”

Chuyện lạ lẫm này đã khiến tôi thích thú, lưu tâm nhiều đến những căn nhà gần chỗ tôi gặp em bồ câu trắng. Chiều hôm ấy, khi tôi đi bộ quanh xóm, đến chỗ gặp gỡ đầu tiên với em, tôi dáo dác nhìn những cây cối xung quanh rồi ngước mắt nhìn lên tận đỉnh của những nóc nhà gần đó. Quả như tôi đoán, em bồ câu trắng hôm trước đang đậu trên nóc nhà cao chót vót đối diện với con đường tôi đang đi bộ, đang ngó xuống, vẻ chăm chăm nhìn tôi. Lúc ấy, tôi hiểu ra là em đã từng đứng trên nóc nhà ấy nhiều lần để ngắm mọi vật xung quanh và đã từng thấy vợ chồng chúng tôi đi bộ trên con đường này nhiều lần nên muốn sà xuống chặn đường, làm quen. Nhưng tôi không hiểu sao em biết nhà tôi mà bay đến tìm. Tôi nghĩ có lẽ em đã từng bay trên nóc nhà tôi, nhìn thấy những con chim tôi nuôi qua tấm kính trên nóc nhà hay đã từng chứng kiến cảnh tôi “nói chuyện” với những con chim thú cưng của tôi. Tôi hiểu rõ hơn là mình đã từng bị quan sát và theo dõi bởi nhiều loài lông vũ khác nhau trên những cành cây cao của khu rừng sau nhà. Nhưng, tôi vẫn chưa biết là tôi đã từng bị em bồ câu trắng theo dõi nhiều lần khi những loài chim, loài sóc, và chuột sóc trong cánh rừng sau nhà ùn về sân cỏ của vườn sau nhà tôi chỉ vì tiếng gọi to “Tuýt tà tuýt tà tu! Tuýt tà tuýt tà tu!” của tôi.

Tôi thường cho chim và sóc ăn hạt hướng dương và hạt kê vào những buổi chiều khi đi làm về. Mỗi lần như thế, tôi ra hiên nhà sau rải hạt khắp nơi trong sân cỏ sau, gọi to “Tuýt tà tuýt tà tu! Tuýt tà tuýt tà tu!” rồi vội vã vào nhà lo cơm nước, ăn uống và đi bộ; chứ tôi không có thời gian ngắm chúng ăn uống và tiếp xúc với nhau ra sao. Cuối tuần, trong hai ngày thứ Bảy và Chủ nhật, sau khi rải hạt, tôi có thì giờ quan sát chúng kỹ hơn. Hễ sau bốn tiếng gọi “Tuýt tà tuýt tà tu! Tuýt tà tuýt tà tu!” là các chú chim và sóc lần lượt xuất hiện. Vài chú sóc từ đồi chạy xuống, và vài chú sóc từ dưới mương nước suối chạy về.Chúng cùng len qua hàng rào để vào sân cỏ. Những con chim cũng sà xuống từ những cây cao sau rừng. Nhiều loài chim, sóc và chuột sóc với kích cỡ khác nhau nhưng chúng không thị oai, bắt nạt hay gây hấn. Vốn đã biết nhau và biết luật “bất thành văn” nên chúng ăn một cách từ tốn rồi tìm hạt mới. Tôi chủ tâm rải hạt khắp nơi để ngừa tình trạng tranh ăn và bảo đảm các em đều được ăn đầy đủ. Mấy con thú có lẽ đã quen cảnh tụ họp ăn uống như thế trong thời gian khá dài nên không có cảnh hung hăng đấu đá tranh ăn. Mỗi lần nhìn chúng ăn, tôi rất hài lòng vì cảm thấy mình là người có ích. Nhưng tôi đâu có dè: Ngoài tôi ra, em bồ câu trắng còn là kẻ từng ngắm cảnh những con chim, sóc ăn trong cảnh hòa bình và đáng yêu như thế.Hơn thế nữa, nó đã từng theo dõi tôi rải hạt trên sân sau ra sao trước khi tôi gọi bầy chim, sóc về ăn.

Ngày thứ Bảy hôm ấy, sau khi tôi lên giọng gọi “Tuýt tà tuýt tà tu! Tuýt tà tuýt tà tu!” kêu chim sóc về ăn, tôi chợt linh tính có “ai đó” đang nhìn mình. Ngước đầu nhìn lên, tôi thấy em bồ câu trắng hôm trước đang đậu trên mái nhà tôi, và đang cúi đầu xuống nhìn tôi. Nó nhấp nhứ muốn bay xuống hòa theo bầy chim và sóc nhưng có lẽ nó e ngại điều gì đó nên còn lưỡng lự. Tôi hiểu ý, cố gắng dùng “lời ngon ngọt” với giọng nói nhẹ nhàng nhão nhoẹt để “vời” nó dời gót xuống sân cỏ bên dưới, nhưng nó gượm bước, đứng yên trong lúc chăm chú nhìn tôi và đám chim sóc ở phía dưới.

Hôm sau, sáng Chủ nhật, tôi dậy trễ, chưa kịp đem hạt ra cho chim sóc ăn, em bồ câu trắng đã đậu trên hành lang ngoài hiên sau, nơi tôi thường đứng rải hạt và ngắm bầy chim sóc, để đợi tôi.

Tôi đang bưng thau hạt, mở cửa sau, bước chân ra ngoài, chợt chững lại vì sự xuất hiện của em. Bồ câu trắng không tỏ ra sợ khi nghe tiếng động của cửa mở và cũng không sợ khi tôi đến gần. Em trông có vẻ mừng khi thấy tôi. Mắt không rời tôi, em điềm nhiên bước qua lại trên thành chắn của hàng hiên. Điệu bộ của em cho tôi hiểu là em lo ngại khi em không thấy tôi xuất hiện đúng giờ như em từng thấy. Thương em quá, tôi dịu dàng nói em hãy bay xuống sân cỏ ăn với bạn chim sóc đi. Dĩ nhiên là tôi nói bằng tiếng Việt như lần đầu tiên tôi gặp em. Thế mà không hiểu sao, em ngoan ngoãn nghe lời, bay xuống đám cỏ bên dưới chờ tôi rải hạt, và cao giọng kêu “Tuýt tà tuýt tà tu! Tuýt tà tuýt tà tu!” để gọi chim sóc về ăn.

Từ đó, chim bồ câu trắng thường bay đến vườn sau nhà tôi ăn hạt với bầy chim sóc mỗi khi nghe tiếng tôi kêu “Tuýt tà tuýt tà tu! Tuýt tà tuýt tà tu!”. Sự xuất hiện của nó sau tiếng gọi của tôi đã khiến cho người hàng xóm cạnh nhà tôi rất ngạc nhiên. Mọi người tưởng em chim bồ câu trắng này là thú cưng của tôi bị sẩy chuồng hoặc tôi từng là người huấn luyện loài lông vũ. Chính tôi không rõ vì sao em muốn làm quen và thân thiện với tôi. Mỗi lần họp mặt cùng bạn trong “tiệc họp mặt hàng ngày”, ăn hết hạt xong, các bạn em bay đi hay chạy hết, em vẫn ở lại lững thững trong vườn hay bay lên thành của hiên hàng lang nhìn xuống xem tôi dọn vườn.

                              

Sự xuất hiện của em mỗi ngày luôn làm tôi vui và an tâm. Tôi vui vì thấy em có dịp hòa vui cùng các bạn khác để giảm bớt sự cô đơn của em. Tôi an tâm vì tin em biết cách bảo vệ bản thân mình. Điều mà tôi lo sợ là màu lông sáng trắng của em dễ gây chú ý của những con chim ó, những con chim thỉnh thoảng núp trong cánh rừng sau nhà, rình chụp vồ mồi.

Sáng thứ Bảy và Chủ Nhật, em đến nhà tôi ăn từ lúc tám giờ sáng đến mười giờ trưa mới bay đi. Có lúc, tôi dọn vườn, quét lá xào xạc em vẫn bình thản đi tìm ăn trong sân cỏ chứ không sợ nhảy đi như sóc hay vụt bay như chim sẻ. Từ thứ Hai đến thứ Sáu, tôi thường đi làm từ sáng sớm đến năm giờ rưỡi chiều mới về nhà. Tôi không biết em có chờ tôi gọi cho ăn như hai ngày thứ Bảy, Chủ Nhật cuối tuần. Nhưng mỗi khi về nhà, vào đúng năm giờ chiều, tôi đã thấy em đứng trên mái chái nhà hàng xóm sát cạnh nhà tôi ngóng tôi.

  

Mỗi khi nghe tiếng cửa của nhà để xe của tôi kéo lên và gập xuống, là em đi qua lại trên mái chái, nôn nóng nhìn phía trước rồi phía sau nhà của tôi. Suốt hơn hai tháng, em đến chờ tôi đúng giờ đến nỗi chồng tôi phải tấm tắc khen: “Bồ câu mà biết giờ, đúng giờ không thua gì người!” Cũng vì em quá đúng giờ nên mỗi khi bước vào nhà là tôi quẳng chiếc giỏ đi làm trên ghế sô-pha, rồi tất tả lấy hạt hướng dương và hạt kê ra hiên sau, kêu “Tuýt tà tuýt tà tu! Tuýt tà tuýt tà tu!” gọi chim, sóc về ăn.

Em Bồ câu Trắng chỉ chờ thế, bay sà xuống ăn hạt với bạn. Nhìn em Bồ câu Trắng ăn cùng các bạn chin, sóc và chuột sóc trong không khí hòa thuận và thân thiện, tôi hiểu rõ hơn sự nôn nao chờ đợi của em. Có lẽ đây là khoảnh khắc vui nhất trong cuộc sống cô đơn của em hiện thời.


Thương em, vợ chồng tôi đóng cho em một cái chuồng sơn màu rất đẹp và để chén đựng đủ loại hạt hầu mong em đến ăn và ở. Nhưng, em chỉ đứng trên mái nhà nhìn xuống với vẻ thờ ơ chứ không buồn bay xuống để ăn những loại hạt tôi mà tôi để dành cho em. Em cũng không bao giờ bay vào cái chuồng đẹp ấy để ngủ hay sống ở đó.


Thói quen duy nhất của em là bay đến nhà tôi khi tôi gọi “Tuýt tà tuýt tà tu! Tuýt tà tuýt tà tu!”; hay chờ tôi đi làm về để được ăn hạt cùng bạn chim sóc. Có hôm trời mưa tầm tã, sấm chớp vang rền, em vẫn đứng trên mái chái nhà hàng xóm bên cạnh để chờ tôi. Tôi phải đội dù ra, năn nỉ em bay đi, nếu không, sẽ bị cảm lạnh. Thế mà, em vẫn đứng ỳ trên mái chái ấy. Tôi nói trong nước mắt vừa quơ tán dù xua em, cốt làm em sợ bay đi. Vậy mà em vẫn ương bướng đứng im, không nhúc nhích, cũng không hề tỏ ra sợ sệt với việc tôi bung ra, xếp lại tán dù nhiều lần. Tôi cảm thấy đôi mắt của em thật buồn và ẩn chứa một sự van lơn nào đó. Tôi đoán có lẽ em muốn tôi làm những việc mà tôi thường xuyên làm cho em trong hai tháng vừa qua là rải hạt và kêu các bạn chim sóc về cho em được ăn chung với chúng, và được tiếp xúc với chúng, ít ra một lần trong ngày. Nghĩ thế, tôi vào nhà lấy hộp hạt rải xuống khắp sân cỏ ướt nước rồi gọi lớn “Tuýt tà tuýt tà tu! Tuýt tà tuýt tà tu!” Tưởng đâu, các loài chim khác và mấy con sóc đã trốn đâu đó vì trời mưa lạnh, nào ngờ chúng đều bay đến và chạy đến, hợp quần. Thấy vậy, em Bồ Câu Trắng vụt bay sà xuống với vẻ hớn hở. Em quây quần cùng mấy đứa chim sóc và cùng ăn hạt một cách từ tốn và thuận hòa như những ngày trước đó. Sau này, tôi mới hiểu sức chịu lạnh của những con thú hoang dã rất cao, chúng không hề sợ mưa lẫn tuyết. Chúng rất buồn khi phải sống trong cảnh cô đơn nên hầu hết đều muốn có tình bạn làm niềm vui trong cuộc sống. Không phải chỉ có em bồ câu trắng muốn kết bạn với các loại chim khác, các loài sóc và sóc chuột (Chipmunk) mà mấy con vật này cũng thích kết bạn với bồ câu trắng.

Tháng tư năm ấy tôi phải đi xa không thể tiếp tục công việc gọi các em về nhà ăn như những lần trước. Khi trở về nhà, tôi kêu “Tuýt tà tuýt tà tu! Tuýt tà tuýt tà tu!” chỉ có hai con sóc quen thuộc là con “Bạn Thân” (Buddy) và con Kiên Nhẫn (Patience) đến ăn. Vài con chim khác xa lạ bay đến, đậu trên cành ngơ ngác nhìn, không rõ có phải là những con chim cũ hay không. Không hề thấy một con sóc chuột nào xuất hiện. Chim Bồ câu trắng cũng biệt tăm. Suốt hai tuần, tôi rải hạt, rồi kêu lớn “Tuýt tà tuýt tà tu! Tuýt tà tuýt tà tu!” nhưng lần nào cũng vô vọng.

Thuỳ My, bạn tôi ở Cali thích nghe tôi kể về những con chim hoang dã mà tôi “huấn luyện” nên đã có ý tưởng thay cái hồ trồng sen thành hồ tắm cho bầy chim sẻ và mua hạt cho bầy chim này ăn hàng ngày. Chúng tôi thường gọi điện thoại trao đổi cách nuôi chim, mua loại thực phẩm nào, thay nước sạch cho chúng ra sao và kể cho nhau nghe những màn hay và lạ của các em.

Thuỳ My nói “Mỗi lần ngắm tụi chim sẻ bay xuống ăn hạt và tắm mát, My thấy vui lắm vì mình đã làm chuyện hữu ích. Làm cho chúng vui là mình vui rồi! Vậy mà bây giờ My buồn ghê! Mới đi chơi hai tuần về, tụi nó đi đâu mất tiêu, không có con nào bay đến nữa.”

Tôi cũng kể chuyện bặt tăm của em bồ câu trắng rồi nói rằng:
“Loài chim vậy đó My. Hễ mình cho nó ăn thường xuyên thì nó còn đến. Nếu không, nó sẽ đến chỗ khác tìm ăn.”

Tôi định nói thêm:
“Không phải là chúng bạc bẽo mà vì chúng đến tìm mình nhiều lần, không thấy mình, chúng nghĩ mình đã bạc bẽo với chúng nên chúng đi nơi khác để tìm vui và tìm quên.”

Với ý nghĩ này tôi đã buồn rất lâu. Mỗi lần nghĩ đến em bồ câu trắng tôi nhớ ngày em chờ tôi dưới cơn mưa tầm tã. Và mỗi khi nghĩ đến em, tôi thường thấy lòng mình đau xót. Tôi không biết em đã kiên nhẫn chờ tôi bao nhiêu ngày trong thời gian tôi vắng nhà và em đã nghĩ gì trước khi “dứt áo ra đi, không bao giờ trở lại”. Có phải em nghĩ tôi là người bạc bẽo hay không?

Xin mời xem Youtube: 

1/Bồ câu trắng ăn với bạn chim sóc thỏ và sóc chuột
https://www.youtube.com/watch?v=-hjWN4HvW_8
2/Em Bồ câu trắng chê chuồng mái đỏ không chịu ở:
https://www.youtube.com/watch?v=Bso23QMg01c&t=1s
3/Ngày nào em Bồ câu trắng cũng đến đúng giờ
https://www.youtube.com/watch?v=pJKy4Ex_rLk

Cung Thị Lan


Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2022

Biệt Kinh Kỳ - Minh Kỳ - Hoài Linh - Tam Kim


Sáng Tác:Minh Kỳ - Hoài Linh
Trình bày: Tam Kim

Mùa Thu Không Trở Lại - Sáng Tác:Phạm Trọng Cầu -Tiếng Hát Đình Lộc


Sáng Tác:Phạm Trọng Cầu 
Tiếng Hát: Đình Lộc

Tự Tình


Chiều buông nắng phút giây thần thoại
Môi mắt chờ chìm đắm mộng mơ
Chân bước động hờ rung ngọn cỏ
Tự tình lời rụng trắng vườn thơ

Kim Phượng

Nắng Lụa



Tháng ba trời bỗng ngoan hiền
Nghe em nhớ nắng thuở tiền duyên xưa
Vai xuân tóc xoã ngang vừa
Tình xuân mới nụ theo mùa xuân sang

Yêu em thương nắng lụa vàng
Vui con bướm lạ, mơ hàng cau xa
Tình đầy theo tháng năm qua
Quên em khôn lớn đã sa sút lời…

Cách ngăn bỗng mấy phương trời
Anh trong gió núi em ngoài biển mây
Tình phai theo nắng hao gầy
Hồn thơ anh chết từ ngày vắng xa

Trang Châu

Grand Canyon, Arizona Vào Xuân



Grand Canyon, đứng trên cao lộng gió
Ánh tà dương nhuộm đỏ quan sang
Ráng hồng dải nắng thênh thang
Có người trầm lặng, miên man định thiền

Nửa thung lũng, dốc triền chợt tối
Hoàng hôn về, hấp hối vực sâu
Thiên nhiên bí ẩn, nhiệm mầu
Con người bé nhỏ, biết đâu bến bờ

Canyon Walls tối lờ mờ vách núi
Gió rít như xát muối kim châm
Khu nhà giữa núi âm thầm
Chở che lữ khách yên thân giấc nồng

Cảnh hùng vĩ xoáy trong tâm thức
Ánh bình minh sáng rực sắc hồng
Trên cao nhìn xuống dòng sông
Xanh xanh dải lụa, luồn trong hang cùng

Theo đường núi, tháp tùng du khách
Chợt nghĩ về khoảnh khắc hồng hoang
Dấu chân bộ lạc lang thang
Quây quần cuộc sống ngang tàng, đơn sơ

Bright Angel Trail nên thơ, vô tận
Dẩn ai lên tới cận thiên đàng
Hào quang tỏa xuống trần gian
Muôn ngàn sợi nắng, chứa chan ánh vàng

Sky Walk đó, kỳ quan nhân tạo
Phía dưới là lòng chảo vực sâu
Trên cao, gió lộng về đâu?
Cúi nhìn qua kiếng, hồi lâu rợn người

Ánh thiều quang mỉm cười chào đón
Những mầm non trên ngọn núi cao
Thiên nhiên chuốt lục thanh tao
Cỏ cây chen đá, dạt dào xanh tươi

Lưng chừng núi, có người thiền định
Một sát na thanh tịnh, tâm không
Mây trời, vực thẳm mênh mông
Hòa chung nhứt thể, chữ Không diệu kỳ!

Duy Anh
Grand Canyon Arizona in the Early Spring


Một Ngày Không Có Thơ



Anh thử để một ngày
Không làm thơ cho em
Anh ác quá là ác!
Để cho em…thòm thèm

Một ngày không có thơ
Dài như là một tuần
Một tuần không có thơ
Sẽ dài hơn cả tháng
Anh đừng như thế nhé
Em nhè, khóc cho xem

Cứ làm thơ cho em
Gửi bất cứ lúc nào
Vào sáng sớm tinh mơ
Vào buổi tối sương mờ
Hoặc buổi chiều mơ màng
Đêm trăng vằng vặc sáng

Anh gọi em là Nhỏ
Tiếng Nhỏ dễ thương ghê!
Cảm ơn thi sĩ nhé
Thơ anh làm mết, mê!

Như Nguyệt

Cung Lan Cảm Tạ

 

Nghệ Thuật Sống Hạnh Phúc


Ca sĩ Jane Marczewski
(Nghe/coi YouTube:https://youtu.be/SvdyQokpxO0)

Làm sao bạn có được hạnh phúc trong những lúc cực kỳ thất vọng? Chỉ có cách duy nhất là khuyến khích mọi người vui tươi!

Vào một buổi chiều, tôi coi truyền hình chương trình “Tuyển lựa ca sĩ - America’s Got Talent” đoạn mùa Thu năm 2021. Cô ca sĩ cuối cùng đã làm tôi cảm động rơi nước mắt. Cô Jane Marczewski ở Zanesville, tiểu bang Ohio, Hoa Kỳ đã không chỉ là một ca sĩ tuyệt vời mà còn gây nhiều cảm hứng cho khán thính giả và riêng tôi. Khi một vị giám khảo hỏi cô đã làm gì để sống. Cô ca sĩ 30 tuổi đã lên tiếng, nói về cuộc chiến đấu, vật lộn với nỗi lo sợ cá nhân của riêng cô.
Cô trả lời:“Tôi đã ngừng không làm việc một thời gian mấy năm. Tôi đã phải chiến đấu với bệnh ung thư của tôi.”

Trước khi bắt đầu hát bài hát của cô “It’s OK”, cô cắt nghĩa: “Đây là câu chuyện đời của tôi ở một năm trước.
Cô nhấn mạnh: “Điều quan trọng mà mọi người nên biết là tôi đã phải chịu nhiều điều xấu và đau khổ hơn là những điều đã xảy ra cho tôi.”

Toàn thể ban giám khảo đã thực sự linh hứng, cảm thông với nỗi niềm của cô, thương cảm cho hoàn cảnh của cô. Sau khi cô trình bày bài hát của cô, một vị giám khảo đã cho cô phần thưởng huy chương Vàng. Phần thưởng này tự động đưa cô lên vị trí hạng nhất không cần phải có những lá phiếu của những vị giám khảo khác.

Cô lên tiếng cắt nghĩa về thái độ đã giúp cô tiếp tục tiến bước: “Quí vị không thể đợi đến khi cuộc sống của quý vị không còn xấu nữa, quí vị mới quyết định là quý vị sung sướng và hạnh phúc.”
Nếu có ai có quyền đau khổ, thì chính là cô. Bởi vì cô đã chiến đấu với cái bệnh ung thư của cô mà sự sống còn chỉ là 2% trong nhiều năm nay.

Đến đó thì vị chủ khảo chương trình bèn la lên và tuyên bố: “Cô đã thổi bay tất cả chúng tôi rồi. Tiếng nói của cô là tiếng nói mà tất cả chúng tôi cần phải lắng nghe trong suốt năm nay.”
Hãy An-Nhiên-Tự-Tại trong lúc buồn phiền
Chắc chắn là phải như vậy. Sau khi chúng ta đã trải qua mọi sự trong những thời gian mới đây với nhiều thách đố ảnh hưởng đến chúng ta về mọi phương diện và bằng mọi cách.

Trong năm qua chúng ta đã trải qua đủ thứ chuyện về đại dịch Covid 19. Nào là bị ngăn cách, nào là sợ hãi, nào là buồn phiền lo lắng và giận dữ. Con người chia rẽ nhau, ngay cả trong gia đình. Những ý nghĩ gì mà cô ca sĩ trẻ này đã dùng để viết nên bài hát như khuyến khích mọi người cần phải có ngay trong lúc này. Vì vậy ban giám khảo cuộc thi America’s Got Talent và những người coi nó đã ngậm ngùi xúc động. Nếu người thiếu phụ trẻ này có thể tiếp tục sống với chỉ 2% may mắn qua khỏi căn bệnh ung thư hiểm nghèo này, thì chúng ta cũng có thể làm được như vậy.

Quả là một ý kiến tuyệt vời và vĩ đại! Có đúng vậy không? Nói thì dễ, làm thì khó. Vậy thì chúng ta phải làm thế nào?
Một ngày sau khi tôi coi hết cuộc thi tuyển lựa ca sĩ America’s Got Talent, tôi được nghe một vị khách đặc biệt nói cho chúng tôi cách thức làm sao để chống đỡ những buồn phiền lo lắng! Đây quả là thời gian tuyệt vời, đúng lúc, sau khi chúng tôi linh hứng được những điều hay ho tốt đẹp và đầy ý nghĩa của người ca sĩ trẻ đã nêu lên trong đêm trước.
Người trình bày vấn đề là Andi Chapman. Cô đã đưa ra những điểm tuyệt vời để giúp mọi người chiến đấu chống đỡ lại mọi lo âu buồn phiền.

Một điều vượt khỏi trí tưởng tượng của tôi là sức mạnh của khuyến khích. Sự khuyến khích người khác. Thật là kỳ diệu khi mình mở rộng lòng mình đẻ an ủi khuyến khích người khác thì những ưu phiền của chính minh sẽ tự nhiên tan biến hết. Tất cả mọi người cần có sự khuyến khích. Tất cả mọi người mà bạn có liên hệ hàng ngày đều cần phải được khuyến khích. Tất cả mọi người đều đang cần phải vượt thắng một cái gì đó.

Hãy coi lại người phụ nữ trẻ trong chương trình Tuyển Lựa Ca Sĩ America’s Got Talent. Cô ta có lý do để ở nhà và buông xuôi mọi sự. Nhưng cô đã xuất hiện trước công chúng, quyết định đi ra ngoài, vươn lên, vượt khỏi mọi trở ngại để đến với mọi người, để khuyến khích mọi người bằng tiếng hát tuyệt vời của cô, bằng gương sáng huy hoàng, bằng sứ điệp mạnh mẽ, gói trọn trong bài hát của cô “KHÔNG SAO ĐÂU / It’s OK”.


Hai phương cách giúp bạn vượt qua trở ngại

Khi chúng ta gặp thử thách, việc đầu tiên là phải trở lại với Chúa, rồi đến gần Chúa. Không cần biết bạn sẽ phải đương đầu và vượt qua những gì, hãy nhớ những phương cách giúp bạn hành động tốt hơn. Đây là hai phương cách bạn nên biết:

Thứ nhất. Cầu xin Thiên Chúa giúp bạn chọn Hạnh Phúc, bất kể bạn gặp phải điều gì. Chúa đã nói trong Isaiah 41:10 “Đừng sợ hãi, có Ta đang ở với ngươi. Đừng nhớn nhác, Ta là Thiên Chúa của ngươi. Ta cho ngươi sức mạnh. Ta còn trợ giúp người bằng cánh tay mặt toàn thắng của Ta”

Thiên Chúa hiện diện ở đó để giúp bạn vượt qua mọi trở ngại không cần biết nó khó khăn thế nào. Hãy đọc sách Xuất Hành để nghe Thiên Chúa phán: “Đích thân Ta sẽ đi và hiện diện với ngươi. Ta sẽ cho ngươi được nghỉ ngơi” (Xh 33:14). Hãy cầu xin Thiên Chúa giúp bạn chọn điều tích cực và hạnh phúc.

Thứ hai. Hãy vong thân rồi tiếp cận và khuyến khích tha nhân. Sách Châm Ngôn (Cn12:25) cho chúng ta biết: “Mối lo lắng trong lòng làm con người suy sụp, lời tử tế khiến họ hân hoan.” Và, khi nói lời ngọt ngào êm ái với người khác thì tự nó sẽ làm cho bạn vui sướng. Giống như nó đã làm cho cô ca sĩ trẻ - vào cuối buổi trình diễn, cô ra về lòng hân hoan thơi thới vì cô đã cổ động, khuyến khích những người khác “Vui Sống”. Sách Châm Ngôn còn viết: “Miệng lưỡi người ngay là suối nguồn sự sống; miệng kẻ ác ẩn dấu bạo hành.” (Cn 10:11)

Hãy nhớ lời người ca sĩ trẻ nói trước khi hát bài It’s OK: “Điều quan trọng mà mọi người nên biết là tôi đã phải chịu nhiều điều xấu và đau khổ hơn là những điều đã xảy ra cho tôi.” Cô đã quyết định vượt lên trên mọi hoàn cảnh của cô, chọn lấy hạnh phúc trong khi khuyên bảo những người khác sống vui....

Thánh Phaolo Tông Đồ đã viết trong thư gửi tín hữu Roma (Rm 14:19):“Vậy chúng ta hãy theo đuổi những gì đem lại bình an và những gì xây dựng cho nhau.” Chúng ta hãy chọn hạnh phúc trong khi khuyên những người khác vui mừng hạnh phúc. Hãy là suối nguồn hạnh phúc cho cuộc sống của tha nhân!

Fleming Island,Florida
Feb.21, 2022
Nguyễn Tiến Cảnh