Thứ Ba, 23 tháng 10, 2018

Đêm Viễn Phương



Đối bóng canh chầy đêm viễn phương
Hồn khuya lấm tấm giọt sao sương.
Nhớ tình thơ cũ xanh cung phím,
Chạnh bến thu xưa trắng bụi đường.
Dẫu hết một mùa xuân gởi mộng,
Vẫn còn mấy chiếc lá đưa hương.
Bên trời ánh nguyệt mênh mông sáng
Muôn ngã sầu mây, một hướng dương.

Mặc Phương Tử



Tình Thơ



Bài Xướng:
Tình Thơ

Tình Thơ nẩy nở thắm duyên đời
Tình nghĩa Thơ lòng trổ khắp nơi
Tình trải hồn Thơ hòa cuộc sống
Tình trao đất Mẹ trổi Thơ lời…
Tình Thơ sáng tỏ ngời chân lý
Tình cảnh nên Thơ đẹp đất trời
Tình cảm Thơ hòa…vui Quý hữu
Tình Thơ nẩy nở thắm hoa đời…

Đức Hạnh 
15 10 2018
***
Bài Họa:
Tình Nghĩa

Tình nghĩa thân thương thắm cuộc đời.
Tình yêu rộng lượng trổ muôn nơi
Tình duyên sáng tỏ ngời trăng nước
Tình mộng nên thơ đẹp ý lời
Tình giữ công bằng vui đất Mẹ
Tình trao chính trực thỏa duyên Trời
Tình yêu thắm nở vườn chân lý
Tình chúc an vui thắm cuộc đời.

Hồng Xuyến
15 10 2018
***
Tình

Tình nghĩa trao nhau thấu lẽ đời
Tình người thắm nở trãi muôn nơi
Tình sâu sáng tỏ đường chân lí
Tình nặng khiêm cung ẩn tiếng lời
Tình quyện nhân duyên hòa ý Chúa
Tình bền tri kỷ thuận duyên trời
Tình khơi bút lực ngời tâm cảm
Tình mãi tin yêu đẹp cảnh đời!

Nguyễn Huy Khôi
15 10 2018
***
Tình Yêu

Tình Yêu thắm nở nụ hoa đời
Tình cảm Yêu người tỏ vạn nơi
Tình nghĩa công bằng Yêu chính thể
Tình Yêu chính trực thỏa muôn lời
Tình khơi suối nhạc Yêu trăng nước
Tình trổ thương Yêu quý biển trời
Tình hát nồng nàn Yêu đất Mẹ
Tình Yêu quảng đại nở hoa đời..!

Thành Kha
16 10 2018
***
Tình &Thơ

Tình thường mượn bút viết thơ đời

Tình cậy thơ chùm ngắm mọi nơi.
Tình muốn thơ bày cơm hóa áo
Tình qua thơ ngỏ ý trong lời
Tính sinh bởi đất ươm thơ nguyệt
Tình lớn cùng thơ cưỡi gió trời
Tình phải thiện lương thơ mới hậu
Tình già thơ tặng vạn vui đời

Trần Như Tùng.
***
Tình


Tình yêu mây trải gió đầy vơi
Tình hận mang theo suốt cuộc đời
Tình nước bao người quên bến cũ
Tình non lắm kẻ vượt trùng khơi
Tình in đáy mắt sầu cô quạnh
Tình đọng vành môi nhớ vạn lời
Tình chẳng là chi sao trói buộc
Tình buồn mưa nắng mộng vàng ơi!

Vetra Tho 
15 10 2018
***
Tình Thơ 


Tình muôn chất chứa ủ thơ đời
Tình muốn thơ đầy gởi khắp nơi
Tình mộng thơ dâng sầu lắm chữ
Tình thơ gió lộng tủi bao lời
Tình say khúc hát thơ bên nguyệt
Tình ngất men thơ cảnh giữa trời
Tình buốt đêm sâu thơ với thẩn
Tình tràn hạnh phúc tiếng thơ rơi

Minh Thuý
17 tháng 10_2018***
Tánh
“ Tứ đối”
Tánh thiện thường trau ngát cuộc đời
Tánh hiền mãi chuốt thơm muôn nơi
Tánh luôn đằm thắm nuôi đầu lưỡi
Tánh mãi trầm tư dưỡng cuối lời
Tánh giữ tinh thần soi mặt đất
Tánh gom hạo khí rọi gầm trời
Tánh vô úy dạo miền tang hải
Tánh hữu tình vờn chốn biển khơi

Như Thị
***
Đáp họa:


Cảnh Đông

Cảnh vật đông về gió trỗi lời
Cảnh trời bão tố khổ ngàn khơi
Cảnh thuyền vượt sóng tìm bờ cõi
Cảnh nước trôi dòng vọng nẻo đời
Cảnh tượng nghìn phương còn ảm đạm
Cảnh tình vạn lối vẫn chơi vơi
Cảnh nhà ước vọng bình minh sáng
Cảnh biển tưng bừng gọi ới ơi..!

Đức Hạnh
15 10 2018

Thi Họa Sĩ Vũ Hối Con Người Và Tác Phẩm

(Thi Họa Vũ Hối)

Tâm hồn con người là một thế giới mênh mông muôn màu và đầy bí ẩn, đối với người nghệ sĩ sự đa cảm lại càng bén nhạy hơn vì chỉ một thoáng cảm xúc về ngoại cảnh cũng đủ biến hiện thực thành ý niệm khởi đầu cho một tác phẩm. Nếu hội họa là nghệ thuật của đường nét ánh sáng màu sắc, nhạc là nghệ thuật của âm thanh, tiết tấu và thơ là nghệ thuật của lời, thì sáng tạo nghệ thuật là tố chất cần thiết của người nghệ sĩ. 

Thi ca và hội họa từ thời cổ đại đến nay về hình thức, cấu trúc đã có nhiều thay đổi nhưng giá trị đính thực vẫn hướng về chân thiện mỹ. Từ ngàn xưa người Việt đã biết vẽ tranh nặn tượng điêu khắc, ngành mỹ thuật mang tính dân gian, trang trí. Nhhững loại hình thể đó truyền lại nhau theo lối thủ công nghiệp. Tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống Hà Nội, ngành điêu khắc, đúc tượng, các đồ thờ tự bằng sơn mài chỉ «cha truyền, con nối» không có trường sở chính thức để nghiên cứu học hỏi về mỹ thuật. “ Theo những tài liệu còn lưu trữ ở thư viện Paris. Lịch sử nghệ thuật tạo hình Việt Nam thật sự khởi sắc từ khi có trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (L’École Supérieure Des Beaux -arts de l’Indochine). 
Trường được thành lập ở Hà Nội năm 1925 do họa sĩ Victor Tardieu một người Pháp làm hiệu trưởng suốt 12 năm. Trường đã được sự cộng tác đắc lực của họa sĩ Joseph Imguimberty giảng dạy từ năm1925cho đến khi bị giải thể 1945 (vì chiến tranh). Họa sĩ Victor Tardieu thuộc Trường phái Cổ điển cuối thế kỷ 19, ông từng là bạn học với danh họa Henri Matisse, Raoult. Họa sĩ Joseph Imguimberty tốt nghiệp trường Trang Trí Quốc Gia Pháp, ông yêu đất nước Việt Nam nên có nhiều họa phẩm sơn dầu rất nhập thần về phong cảnh đồng quê Việt.

Họa Victor Tardieu và Joseph Imguimberty là hai họa sĩ bậc thày đã hướng dẫn các sinh viên Việt Nam làm quen với kỹ thuật hội họa phương Tây, biết những nét căn bản của Trường phái Cổ điển. Với những kiến thức được học hỏi bài bản, sau khi tốt nghiệp, các họa sĩ có thể tự chọn cho mình một trường phái khác, một con đường riêng : tân cổ điển, ấn tượng, lập thể, trừu tượng, siêu thực, nhưng vẫn phát huy truyền thống nghệ thuật của nước nhà như lụa và sơn mài. Từ đó ngành MỹThuật của Việt Nam mới có những tên tuởi lớn:
«Tô Ngọc Văn, Nam Sơn Nguyễn Vạn Thọ, Lê Phổ, Nguyễn Phan Chánh, Mai Trung Thứ, Công Văn Chung, Đỗ Đức Thuận, Vũ Cao Đàm, Lê Thị Lựu, Thạch Lam, Nguyễn Tường Lân, Phạm Hậu, Nguyễn Khang, Nguyễn Đỗ Cung, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Cát Tường (người vẽ áo dài kiểu Le Mur), Lưu Văn Sìn, Lương Xuân Nhị, Nguyễn Thị Nhung, Nguyễn Văn Tỵ, Trịnh Hữu Ngọc, Hoàng Lập Ngôn, Nguyễn Dung, Nguyễn Tiến Chung, Hoàng Tích Chù, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Đức Nùng, Dương Hướng Minh, Nguyễn Sĩ Ngọc, Trần Đình Thọ, Huỳnh Văn Thuận, Phạm Văn Đôn, Nguyễn Thị Kim, Nguyễn Trọng Hợp, Phan Tại, Nguyễn Sáng, Huỳnh Văn Gấm, Tạ Khúc Bình, Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi Xuân Phái, Phan Thông, Lê Thanh Đức, Mai Văn Hiến, Trần Duy, Phan Kế An, Dương Bích Liên, Nguyễn Kim Đồng, Văn Cao, Văn Giáo, Lê Quốc Lộc, Phạm Viết Song, Tạ Tỵ, Phạm Đăng Trí»….

(Thi Họa Vũ Hối & Tác Giả Đỗ Bình)

Từ ngàn xưa «Cầm , Kỳ, Thi , Họa » đánh đàn, đánh cờ, ngâm thơ, vẽ tranh là bốn cái thú của kẻ tao nhã, nhưng biết đàn làm thơ và vẽ tranh chưa hẳn là nghệ sĩ. Hành trình đi tìm Chân Thiện Mỹ của nghệ thuật là bước vào con đường thênh thang nhưng đầy gian nan khó khăn mà người nghệ sĩ phải tự mình tìm lối đi riêng. Trong làng văn nghệ có những trường hợp nghịch lý: 
Người đã có tác phẩm được ra mắt công chúng chưa hẳn đã hay hơn những người có tác phẩm nhưng chưa in, hoặc ít phổ biến. Giá trị đích thực của một tác phẩm không hẳn được công chúng hoan nghênh khi mới ra mắt, mà gía trị đích thực phải qua thử thách với thời gian và được công chúng yêu mến lưu truyền lâu dài, hoặc được giới nghiên cứu phê bình văn học công nhận. 

Trong giới nghệ sĩ những người vừa là thi sĩ vừa là họa sĩ mà mỗi lãnh vực đều xuất sắc mang dấu ấn nhưng được công chúng biết đến thì không nhiều! Có người do thiên phú khởi đầu con đường văn nghệ chỉ làm thơ và có những bài thơ xuất sắc độc đáo nên được công chúng biết, rồi sau đó mới học vẽ và miệt mài với cây cọ mảng màu để thành họa sĩ. Ngược lại có người đã là họa sĩ sau yêu thơ, nghiên cứu thơ, làm thơ, đắm đuối vì thơ thành thi sĩ. 
Đó là những người đam mê và am tường thấu đáo bài bản về hai bộ môn nghệ thuật. Vào thập niên 60 của thế kỷ trước ở miền Nam, những nghệ sĩ có thi phẩm trình làng và tranh triển lãm không nhiều, họ được công nhận là thi họa sĩ: Nữ sĩ Minh Châu Thái Hạc Oanh, thi họa sĩ Vũ Hối, thi họa sĩ Phạm Tăng, thi họa sĩ Mùi Qúy Bồng, thi họa sĩ Nguyễn Hữu Nhật, thi họa sĩ Lưu Nguyễn Đạt, thi họa sĩ Huỳnh Ngọc Điệp, thi họa sĩ Bồng (Phạm Văn Thoại), hi họa sĩ Phạm Kế Viêm ( GS Phạm Kế Viêm và GS Phạm Văn Thoại là thi họa sĩ có tài nhưng rất khiêm nhường, ít muốn trình bày tác phẩm của mình nên người đời biết hai ông ở lãnh vực dạy học)….vv…. 

(Thi Họa sĩ Vi Vi Võ Hùng Kiệt)

Những nghệ sĩ khi ở trong nước đã là họa sĩ hoặc thi sĩ, ra hải ngoại sau năm 1975 đeo đuổi thêm ngành nghệ thuật khác: thi họa sĩ Vi Vi Võ Hùng Kiệt, (họa sĩ Vi Vi tốt nghiệp Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn, có nhiều tác phẩm tranh màu nước, sơn dầu nổi tiếng ở miền Nam trước năm 1975, và ở hải ngoại được giải thưởng cao qúy của chính phủ Canada với những bức tượng điêu khắc), thi họa sĩ Nguyễn Tư ở Úc, thi họa sĩ Diễm Châu Cát Đơn Sa ở Mỹ….vv….
Ở Pháp, Paris nói riêng, những người theo ngành nghệ thuật tạo hình không nhiều, đây là đất của các danh họa quốc tế lâu đời. Muốn có tên trên tháp vàng đó ngoài tài năng xuất chúng, còn phải quen biết những danh họa có tầm vóc quốc gia, quốc tế, những tổ chức uy tín có thế lực tiền tài của người bản xứ đỡ đầu giới thiệu. Những họa sĩ Việt Nam dù có tài nhưng không đủ tài chánh và phương tiện làm những cuộc triển lãm lớn để quảng bá những tác phẩm của mình đến giới thưởng lãm qua những phương tiện truyền thông, truyền hình, báo chí..., vì thế họ đành chấp nhận sự chờ thời, và vẫn miệt mài theo đưổi con đường nghệ thuật. 

Vào thế kỷ 19 khu nghệ sĩ Montparnasse và hiện nay là khu nghệ sĩ trên đồi Montmartre có biết bao nghệ sĩ có tài. Họ là những họa sĩ thuộc nhiều quốc tịch, trong đó có một số ít là người Việt. Cũng ở những nơi này đã có một số danh họa Pháp từng sống và hành nghề nhưng rất tiếc họ đã mất trước khi tranh của họ nổi tiếng được thế giới biết, gía mỗi bức tranh tính bằng vàng!. Những họa phẩm mới ngày nào còn nằm trên những con đường nhỏ, những ngõ cụt bày bán với giá hời cho khách du lịch; bỗng một số bức họa như có phép nhiệm màu tỏa sáng được nâng niu đưa vào trưng bày ở viện bảo tàng quốc gia để người đời chiêm ngưỡng. Tranh cũng có số phận!

Những họa sĩ Việt thành danh ở Pháp có nhiều cuộc triển lãm và giải thưởng cao quý, nay đã mất: Nguyễn Vạn Thọ, Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Điềm Phùng Thị, Dương Cẩm Chương, Vĩnh Ấn, Thái Tuấn, Minh Châu Thái Hạc Oanh, Phạm Tăng, Lê Bá Đảng, Anh Trần, Vũ Thái Hòa.
Những họa sĩ thành danh, còn sống, có nhiều cuộc triển lãm, có người dạy ở các trường Cao Đẳng Mỹ Thuật vùng Paris: GS Nguyễn Cầm, GS Lê Tài Điển, GS Đỗ Văn Bình, GS Vũ Công Minh…..Họa sĩ: Võ Hoài Nam, Nguyễn Đức Tăng, Hồng Loan, Vương Đình Thư, Nguyễn Minh, Hoàng Đình Tuyên, Nguyễn Long Diên, Oanh,(Phạm Hoàng Oanh, con thứ BS Phạm Khắc Hy cựu Đại Sứ đầu tiên VNCH tại Pháp), Duy Nga, trưởng nữ họa sĩ Duy Liêm (Tranh Sơn Mài Thành Lễ, bìa nhạc..), Phạm Trọng Chánh (Điêu khắc), Huỳnh Thanh Lý( (Vẽ áo dài), Vương thu Thủy ( điêu khắc), Văn Tấn Phước (Thư Họa)….

Những họa sĩ trung niên: Vũ Đình Lâm(Điêu khắc), Vũ (TrầnTrọng Vũ, (con trai nhà thơ Trần Dần), Vũ Hòa, Ngọc Tuyết, Trang Thanh Trúc, Trúc Tiên, Julien Ngưyen Verhaeghe (TS Thẩm Mỹ Học, Phê Bình Nghệ Thuật, con trai trưởng nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Thanh& Nguyễn Mây Thu, học trò của Lê Tài Điển, Nguyễn Cầm).

Tác giả và Tác phẩm: 


Trong thế giới vô tận của nghệ thuật đã có biết bao nhiêu nhiều nghệ sĩ tài danh đã để lại cho đời những tác phẩm tuyệt tác. xin có đôi dòng cảm nhận về con người và tác phẩm của thi họa sĩ Vũ Hối: Ông sinh ngày 22 tháng 11 năm 1932 tại Tam Kỳ, Quảng Nam, do thiên phú Vũ Hối đã biết làm thơ và hoa tay vẽ đẹp ngay từ thuở nhỏ. Ông lấy bút hiệu là Hồng Khôi năm 1957, nhưng sau này ông ký tên thật làm bút hiệu. 
Ông có dáng người cao dong dỏng, bản tính đôn hậu dễ mến, hay cười, rất khiêm nhường và chân tình khi sử thế với bằng hữu, thêm có óc khôi hài thỉnh thoảng xen câu chuyện tếu làm mọi người vui. Là một tên tuổi lớn của nền văn học nghệ thuật nước nhà và quốc tế, ông được mời vẽ chân dung tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy, vẽ chân dung Đại tướng Creighton W. Abrams. Đã nhận Giải Khôi Nguyên Hội Họa Quốc Tế năm 1963 tại Hoa Kỳ. Sáng lập trường phái Luân Vũ Họa (Paintings In Motion) và Thư Họa (Handwriting Painting). Là nghệ sĩ Á Châu duy nhất được vinh danh về Sáng Tạo Nghệ Thuật cho thế giới, tại Atlanta - Hoa Kỳ ngày 5-11-1994. 

Có Tên Trong: 
- Văn Học Tự Điển thời Việt Nam Cộng Hòa
- Bách Khoa Tự Điển Larousse, bộ tự điển nổi danh nhất của Pháp và thế giới.
Tự Điển Danh Nhân Thế Giới, ấn hành tại Anh Quốc năm 1998 (Dictionary of International Biography 1998 – Cambridge – England).

- Được ghi trong “5000 Personalities of The World”, do American Biographical Institute ấn hành năm 2000. Là nhà Thư Họa Việt Nam duy nhất được ghi tên trong “Tuyển Tập Thư Họa Bậc Thầy Đông Phương”, ấn hành tại Tokyo – Nhật Bản năm 2006 (Volume 6International Editonal – Tokyo – Japan).

Ngoài danh tài về họa, Vũ Hối còn là một nhà thơ, nhà nhiếp ảnh, đã xuất bản nhiều thi tập:
-Mùa Giao Cảm (Thơ, 1958). -Vần Thơ Màu Trắng (Thơ, 1959) – La Poésie de Couleur Blanche, được phiên dịch ra Anh và Pháp ngữ năm 1959 tại Sài Gòn.
- Những Dấu Chân Đi (Truyện Ngắn), xuất bản năm 1960, 1963). -Chiêm Bao Trở Giấc (Thơ), xuất bản năm 1997.
-Nghìn Thương Đất Mẹ (Thơ và Thư Họa), năm 1999
-Thơ Nhạc Trong Tranh (CD, 2000)- Mây Ngàn, (Thơ, Thư Họa Norway 2003); Nghệ Thuật, (Thơ Thư Họa 2007), Thư Họa Truyện Kiều, Nguyễn Du 2003)….

Thơ là cõi vô tận nên không thể nào trang trải tâm hồn nhà thơ chỉ qua ít dòng trên trang giấy, do đó xin mời qúy đọc giả thưởng thức những bài thơ tác giả không lấy bút hiệu Hồng Khôi mà ký tên thật. Bài thơ «Men Chiều Cali » đăng trong tập tuyển 3 Cụm Hoa Tình Yêu, xuất bản năm 1997. Nhà thơ Như Hoa Lê Quang Sinh và Vũ Hối đã ký tặng người viết ở Paris ngày 21 .06. 1997.
Bài thơ như sau:

« Vẽ cả trong tranh khung trời lộng gió
Vẽ cả men tình, một độ lên ngôi
Nâng niu ta vẽ cành hoa Nhân Ái
Những đóa hoa cười, nở mãi trên môi!
Nắn nót tình thơ, khung trời lộng gió
Mười ngón tay hoa, vướng nhạc bỗng trầm…
Ta về đâu ướp lạnh miền Đông Bắc
Nhớ Cali, từng vạt nắng hanh vàng
E ấp hành trang : men chiều kỷ niệm
Phong kín gửi người : nỗi chứa chan!
Vẽ người thương, giữa khung trời lộng gío,
Vẽ mình ta, ngồi đếm nỗi cô liêu
Vẽ cánh chim rừng, một trời lạc xứ
Cali ơi ! Xin gởi nồng ấm men chiều !...»

Tác giả đã diễn tả nỗi lòng mình, một kẻ tha hương tạm dung nơi miền Đông Bắc Mỹ lạnh lẽo mà chan chứa tình người nhưng vẫn thèm nắng ấm Cali như nắng quê nhà để sưởi nỗi nhớ về một quê hương xa ngàn dặm. Chất họa trong con người thi sĩ qua hình ảnh trong câu: «Vẽ cánh chim rừng, một thời lạc xứ », đây không phải là ngôn ngữ hình tượng của hội họa, nhưng ngôn ngữ mang chất ẩn dụ để diễn tả những thân phận tha hương với nỗi niềm cô đơn. Nhưng trong câu: «Khung trời lộng gió » có những hình tượng, thơ và họa đều có thể vẽ và tả được. Nhưng có câu: «Vẽ cả men tình một độ lên ngôi» chỉ có thơ mới diễn tả được mà những màu sắc và đường nét của hội họa không thể vẽ được! 
Thơ Vũ Hối nhẹ nhàng, tha thiết, đượm chất nhân ái. Nhà thơ không mang thù hận vào thơ dù đã mất mát, trải qua nhiều năm tháng trong ngục tù CS, và để lại nơi chốn đọa đày đó một phần ánh sáng! Vận nước thay đổi, lòng người gian dối, hiểm ác đối xử nhau nghiệt ngã, thi sĩ vẫn gượng cười, vẫn giữ niềm tin hướng về chân thiện mỹ. Bài thơ lục bát: 


Nửa
« Đời ta nửa tỉnh, nửa say
Nửa đen, nửa trắng, nửa ngày, nửa đêm
Nửa vui với cảnh ưu phiền
Nửa sông cồn cát, nửa triền núi cao
Nửa thương, nửa nhớ, nghẹn ngào
Nửa cười tha thiết, nửa ngao ngán tình
Nửa hồn đau kiếp nhân sinh
Chênh vênh nửa cuộc hành trình bể dâu
Chập chờn nửa giấc canh thâu
Cười say bên ngọn đèn dầu nửa khuya.»

Đó là tiếng lòng, nỗi u uất như tiếng thở dài về thân phận mình, thân phận của kiếp người, rộng lớn hơn là của đất nước mà một phần lãnh thổ đang bị lấn chiếm bởi ngoại xâm. Nhà thơ đã trút hết tâm tư dệt thành câu thơ buồn. Câu thơ mở đầu : «Nửa tỉnh, nửa say», tỉnh ở đây tác giả muốn nói đã nhận thức giá trị cao qúy của sự sống, nhà thơ đã trải qua biết bao khổ đau mà vẫn giữ tâm an lạc làm thơ vẽ tranh cho đời. 
Say trong thơ không phải say vì men rượu mà say vì đất nước, nhà thơ nhìn quê hương như bức tranh mang gam màu buồn dù rằng nơi ấy trong chốn phồn hoa có những tòa nhà cao tầng đèn lấp lánh; những con đường rực sáng làm lóa mắt người qua lại hầu khỏa lấp che dấu sự nghèo đói của một phố thị đông người! 
Thi sĩ Vũ Hối là người bất khuất hông chịu uốn cong mình trong tù mà vẫn hiên ngang thực hiện một tác phẩm nhằm phản kháng lại chế độ khi vẽ bức tranh“Mặt Trời Đỏ” trong tranh chỉ có một cây khô trụi lá cành nhọn đâm về hướng mặt trời diễn tả dưới chế độ đỏ sự sống bị hủy diệt dù thành cây khô cành nhọn vẫn đâm vào chế độ! Sự phản kháng của nhà thơ đã bị những đòn thù của ca tù nên đã bị mất một mắt! Một ccon mắt còn lại nhìn đời nửa đen nửa trắng, phần con mắt mất ánh sáng là một hố đen sâu thẳm, nửa trắng là chút ánh sáng xót lại để nhìn màu sắc trên đời, nhất là với người họa sĩ ánh sáng là nguồn sống, là niềm hy vọng. Hai câu thơ cuối:
«Chập chờn nửa giấc canh thâu
Cười say bên ngọn đèn dầu nửa khuya.» 

Nhà thơ nặng tình với quê hương dù đang sống tha hương nhưng tâm hồn vẫn quanh quẩn nơi quê nhà. Đêm khuya thao thức bên ngọn đèn dầu nghĩ chuyện nước và thấy bất lực trước thời cuộc nên nhà thơ cười để tự chế nhạo mình cũng là chế nhạo những nhiễu nhương đảo điên sự đời. Chữ say ở đây không phải vì rượu mà say vì tê tái đau buồn cho mệnh nước nổi trôi, quê hương vẫn lầm than. Sau bao năm dưới xã hội chủ nghĩa dân vẫn nghèo, vẫn phải quay quắt vì miếng cơm manh áo mưu sinh, còn những kẻ cơ hội trở nên giàu có chìm đắm trong vật chất đã đánh mất lương tâm. Người cầm quyền thì mải mê tranh đoạt quyền lực nên đã xa rời niềm đau nỗi khốn cùng của dân đen khiến con người và đất nước đang mất dần bản sắc tình tự dân tộc! Bài thơ dù viết đã lâu nhưng vẫn mang tính hiện thực về một xã hội Việt Nam bị tha hóa hôm nay.

Từ Hội Họa Đến Thư Họa.


Trời phú choVũ Hối một bàn tay tài hoa để vẽ và một trái tim đa cảm để làm thơ. Nhờ năng khiếu bẩm sinh đó đã mở cánh cửa nghệ thuật cho người nghệ sĩ bước vào con đường hội họa để thành danh. Ông vẽ từ tranh Sơn Dầu qua tranh Lụa, từ hiện thực đến siêu thực nên khi chuyển sang Thư Pháp không khó khăn mà còn đầy chất sang tạo. 
Thư Pháp là nghệ thuật viết chữ đẹp đã có từ hàng ngàn năm trước đối với văn tự của nhiều nước trên thế giới. Ngày xưa ở Trung Hoa đời Đường có những nhà thư pháp nổi tiếng như Vương Hi Chi, Vương Hi Hiến, Nhan Tài Khanh, Liễu Công Quyền. Ở những nước như Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn Việt Nam Thư Họa là nghệ thuật dùng bút lông mực tàu để viết chữ như vẽ những câu thơ, câu đối, câu ca dao, hay ngạn ngữ, danh ngôn bằng chữ Hán, chữ Nôm, thuở xưa nước ta có hững nhà thơ Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến. Kể từ khi có chữ quốc ngữ có vài người như các nhà thơ Đông Hồ, Trụ Vũ, Vũ Hoàng Chương cũng đem thư pháp vào chữ Quốc Ngữ trước Vũ Hối. 

Mặc dù bước vào con đường thư pháp sau nhưng Vũ Hối đã sáng tạo ra lối vẽ riêng để thành trường phái Luân Vũ Họa hay Hội Họa Sinh Động (Paintings In Motion để lột tả hết sắc thái độc đáo của con chữ. Để diễn tả thần khí của thư họa nét vẽ mang sắc thái con chữ có lúc chứa ý chí rực lửa theo lối ‘hỏa tự’, có lúc trầm mặc tĩnh lặng chứa tư tưởng hiền triết theo lối ‘thủy tự’ diễn tả qua nhũng đường nét nghệ thuật viết chữ Việt tạo thành bức tranh rồng bay phượng múa.

Vũ Hối Và Những Sinh Hoạt NghệThuật Bên Trời Âu.


Năm 1997, họa sĩ Vũ Hối sang Paris ra mắt thi phẩm: Chiêm Bao Trở Giấc, xuất bản năm 1997.
Tháng 9 năm 2002, họa sĩ Vũ Hối sang Paris ra mắt thi phẩm Mây Ngàn viết chung với thi sĩ Hoài Việt TS Nguyễn Văn Hướng, thi phẩm, khổ lớn, giấy màu, láng, rất đẹp do nhà xuất bản Anh Em ở NaUy in năm 2002. Dịp này họa sĩ Vũ Hối mang tặng tôi bức tranh lụa: Đôi Chim Trên Cành Trúc, màu sắc, phong cảnh thật đẹp.
Trong cuốn tuyển tập đặc biệt:«Vũ Hối Nghệ Thuật Thư Họa», khổ lớn, giấy láng, hình màu rất đẹp do nhà xuất bản EM T.MO S.J Magazine in năm 2007, người viết được thi họa sĩ chọn một tấm hình sinh hoạt ngày ra mắt sách và Thư Họa của Vũ Hối năm 1997 tại Paris, do CLB VH VN Paris tổ chức, để đưa vào tuyển tập cùng với nhiều tấm hình của sinh hoạt khác.
Tháng 6 năm 2008 người viết cùng nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên tác giả nhạc phẩm tiền chiến vang bóng một thời:“ Trăng Mờ Bên Suối” sang WDC ra mắt sách và CD nhạc, do, Hội Văn Bút VN Hải Ngoại tổ chức, dịp đó họa sĩ Vũ Hối đã tặng chúng tôi mỗi người một bức thư họa.

Vào năm 2009 họa sĩ Vũ Hối cùng một số anh chị em văn nghệ sĩ từ Mỹ, Canada, Âu Châu sang Paris sinh hoạt văn học nghệ thuật chủ đề : Thu Tao Ngộ. Sau buổi sinh hoạt, đêm đó trở về nhà tôi hai người bạn thời thơ ấu Vũ Hối và Nguyễn Thùy cùng nhau tâm sự. Sáng hôm sau trong lúc dùng điểm tâm, Vũ Hối nói:
«Mình với Nguyễn Thùy nói chuyện đến gần sáng.»
Nguyễn Thùy tiếp:
« Hai đứa chỉ nói về số bạn bè tan tác sau 1975.»

Rồi vừa cười vừa hỏi:
« Nhớ lại chiều qua nơi phòng khánh tiết , một số đông các ông các bà, cả những cô trẻ vây quanh Vũ Hối xin 'thư họa', nhiều bà, nhiều cô xin như thế, Hối có 'thư sướng' không? » 
Vũ Hối cười trả lời:
«mệt thấy mồ, sướng con mẹ gì' Dĩ nhiên, được mến mộ thì cũng vui lắm. Mà sao Thùy hỏi lạ vậy? » 
Nguyễn Thùy trả lời:
«Tôi bảo có 'thư sướng' không chứ có bảo ông 'sướng' đâu?'. Ông có biết 'thư sướng là từ Hán Việt, theo Tự Điển Nguyễn Văn Khôn là 'khoan khoái, thoải mái, dễ chịu' chứ có phải 'sướng theo nghĩa thông thường đâu ».
Rồi Nguyễn Thùy hỏi tiếp:
« Có người nói 'thư họa là vẽ chữ', có như vậy không?
Vũ Hối :«Thì phần nào cũng có thể nói thế. Còn Thùy nghĩ sao?.»
Nguyễn Thùy trả lời:
«Rất phục Hối vì Hối là người đầu tiên đã đem chữ viết VN vào Hội họa. Thêm nữa, theo mình' Thư Họa là đem thơ vào họa'. Hối đã thư họa nhiều câu danh ngôn, nhiều câu thơ trong một số tác phẩm nổi tiếng và số thơ của nhiều người. Nhưng mình nhắc Hối chỉ thư họa những câu thơ nào sáng giá, hay đẹp chứ đừng vì cảm tình thư họa những câu thơ không hay đẹp gì khiến nhiều ngườit có thể nghĩ 'Hối đã khiến ngón thư họa của Hối trở nên tầm thường.» 
Nguyễn Thùy quay sang tôi hỏi :
« Anh quan niệm thế nào là hội họa ?»
Tôi vội xua tay trả lời:
«Anh phải hỏi anh Vũ Hối chứ sao lại hỏi tôi ?! » 
Nguyễn Thùy tiếp:
«Thấy anh thích tranh lắm sao không có ý kiến ? »
Vì muốn chấm dứt câu chuyện để còn thời gian chuẩn bị cho cuộc du ngoạn, tôi nói:
« Theo tôi hội họa là những cảm xúc mạnh pha chút tưởng tượng của họa sĩ: đã kết hợp màu sắc, ánh sáng, bóng tối thể hiện qua những đường nét đậm nhạt để thành tác phẩm. Nhưng bức vẽ không phải là sự sao chép cho giống với hình mẫu ; mà phải sáng tạo để tác phẩm có nét riêng, nghĩa là phải độc đáo cả nội dung lẫn hình thức.»
Vũ Hối:
« Một quan niệm rất hội họa. »

Hai người cứ mải mê nói chuyện nên tôi thúc dục các anh dung điểm tâm nhanh để các bạn đến đón đi chơi, nhưng Nguyễn Thùy vẫn gân cổ lên nói:
« Mình chẳng biết gì về Hội Họa nhưng lại ưa nói quan điểm của mình về Hội Họa. Theo mình, hội họa là thứ nghệ thuật tĩnh, nó sôi nổi trong trầm mặc, nó động trong bất động, nó càng đón nhận khinh bạc càng trở nên cao trọng, lâu dài. Mình đã viết như thế trong truyện 'Mây Rồng', có tặng Hối, Hối thấy sao? » 
Vũ Hối đáp:
« Có đọc. Truyện hay nhưng quan điểm Hội Họa nơi quyển đó, cao kỳ quá, khó ai thực hiện được. Mình chưa đủ khả năng để kết hợp cả hai lối 'công họa và tâm họa' như Thùy nói. Mà chắc cũng khó có người làm nổi. Mình già rồi, sức yếu nữa nên khó lòng nghiên cứu, học hỏi thêm để có thể có được nhiều tác phẩm sáng giá hơn »
Nguyễn Thùy :
« Nếu có thêm càng tốt. Nhưng với bao tác phẩm đã nổi tiếng, chừng ấy, mình thấy Hối đã đem lại cho Việt Nam một tiếng vang khá lớn cho nền Hôi Họa VN rồi. Mình mừng và vui hơn nữa là Hối là nguời Quãng Nam, đồng hương với mình, xứ Quãng được thêm một 'nhân tài' về Hội Họa thì cũng hãnh diện lắm chứ»

Tôi đành phải cắt ngang câu chuyện của các anh, và hẹn tối về sẽ để các anh tha hồ nói. Dùng điểm tâm vừa xong thì các bạn cũng vừa đến. Chúng tôi : Nhà báo Nguyễn Bảo Hưng, nhà biên khảo Mỹ Phước Nguyễn Thanh, nhà văn Nguyễn Thùy, họa sĩ Vũ Hối và tôi cùng đi Giverny thăm viện bảo tàng của danh họa Claude Monet cha đẻ trường phái ấn tượng.

Con đường từ Cergy đến làng Giverny chạy xuyên qua vùng Vexin français, bình nguyên phía Tây Bắc Paris, vùng đất phì nhiêu phủ màu xanh của đồng cỏ, ruộng lúa mì, cụm rừng... Sông ngòi chảy uốn khúc, xoáy mòn lớp đất vôi tạo nên một địa hình mấp mô gồm đầm lầy, thung lũng và đồi gò nối tiếp nhau. Kỳ vĩ hơn tất cả chính là dòng sông Seine, cửa ngõ thông thương từ Paris ra biển cả. Dòng sông chảy ngoằn ngoèo soi bóng hàng cây dương liểu, sườn dốc cheo leo, những tòa dinh thự lâu đài...Từ xa xưa nơi đây đã in dấu chân từng đoàn quân La Mã. Những phế tích do tàn phá của chiến tranh suốt nhiều thế kỷ, chứng tỏ từ lâu dân cư đã sống gắn bó với mảnh đất và dòng sông.

Do cảnh sắc độc đáo cùng với môi trường sinh vật phong phú, một khu bảo tồn thiên nhiên được thành lập tại vùng này vào năm 1995 (Parc naturel régional du Vexin français). Thỉnh thoảng dọc bên vệ đường hay giữa cánh đồng ta còn gặp những cây thập giá bằng đá vôi chạm trổ, bốn nhánh hình tam giác, người xưa dùng làm cột mốc ranh giới giữa các xứ đạo, các đất đai sở hữu. Ngày nay di sản nông thôn này trở thành biểu tượng cho vùng Vexin français. Làng Giverny nằm dọc theo sườn phía nam dãy đồi, bên cạnh hợp lưu nơi sông Epte đổ vào sông Seine.
Trong lúc anh Nguyễn Thanh mải mê lái xe tìm đường, anh Nguyễn Bảo Hưng vui vẻ cất tiếng:« Anh Vũ Hối từ Mỹ sang, lại là họa sĩ, hôm nay được bọn mình dẫn đi thăm Giverny là trúng tủ rồi đấy.»

(Maison et Jardins de Claude Monet)

Tuy không phải là họa sĩ, nhưng thích tìm hiểu về hội họa, đặc biệt là trường phái ấn tượng, anh Nguyễn Bảo Hưng giải thích: «Anh phải biết, với người Mỹ, Giverny được coi là cái nôi của hội họa ấn tượng và là chốn hành hương của hầu hết các đoàn du khách Mỹ viếng thăm Pháp.Thực ra Claude Monet không phải là người sáng lập ra trường phái ấn tượng. Sở dĩ tên tuổi ông được gắn liền với hội họa ấn tượng, ấy là nhờ nhà phê bình Loui Leroy, trong một bài báo, đã dùng từ impressionniste để nói lên cảm nhận của mình trước bức họa « Rạng Đông » (Soleil levant,1972) được Claude Monet đem ra trình làng tại cuộc triển lãm do ông cùng một nhóm họa sĩ đứng ra tổ chức riêng vào năm 1974 tại Paris. 

Thế là từ Impressionnisme được ghi vào sổ bộ đời hội họa từ đấy để nói về Trường phái Ấn Tượng(*). Còn nói rằng Giverny là cái nôi của hội họa ấn tượng cũng không hẳn đúng. Bởi vì tất cả những bức tranh mang đường nét ấn tượng hầu hết đều được các họa sĩ theo trường phái này như Manet, Sisley, Pissarro, Renoir v.v… thực hiện trong các thập niên 1860, 1870 và tại nhiều địa điểm không gian khác nhau.Chỉ từ sau 1883 Monet mới tới trú ngụ tại Giverny thuộc hạt Eure không cách thành phố Rouen bao xa. Nhưng vì ngôi nhà xinh xắn với khu vườn phô bày đủ mọi sắc hoa, và đặc biệt cái đầm hoa súng (l’étang des nénuphars) với cây cầu kiểu nhật (le pont japonais) duyên dáng được dùng làm đề tài cho nhiều bức tranh ngoạn mục đã khiến địa danh này trở thành đối tượng viếng thăm của khách yêu chuộng hội họa trên toàn thế giới.»

Câu chuyện tới đây thì cũng là lúc anh Nguyễn Thanh bắt đầu lái xe đi vào thành phố Auvers Sur Oise. Lần theo dấu vết xưa qua những phiến đá tường đã phủ màu thời gian, chiều xuống ánh nắng dần phai nhìn con phố cổ bên dòng sông Oise trầm mặc hơn. Nguyễn Thanh bỗng dừng xe trên con đường chính, ngay trước quán trọ Ravoux, trạm dừng chân chót của Van Gogh. Chúng tôi ngẩn ngơ trước ngôi nhà trọ nay đã được chỉnh trang lại bộ mặt trông sáng sủa hơn, nhưng trong lòng không khỏi bồi hồi nghĩ tới tới hai tháng cuối đời của nhà danh họa này trên căn gác xép chạm mái. Còn đang trầm ngâm suy tưởng bỗng nghe tiếng Nguyễn Thanh kêu gọi qua công viên bên cạnh nơi có bức tượng đồng Van Gogh do Zadkine sáng tác. Sau khi chụp một tấm chung lưu niệm, đứng cạnh tượng Vũ Hối thở dài than:
«Trông Van Gogh khốn khổ quá, như kẻ đi lang thang, bụi đời !»

Nguyễn Thanh mở ống kính ngắm chụp, sau khi bấm máy liền góp ý:
« Van Gogh đã từng thố lộ: "Khi tôi càng xấu xí, già, ác độc và nghèo, tôi càng tìm cách chuộc lại những thất bại ấy bằng cách làm cho màu của tôi rực rỡ, cân đối, tỏa sáng". »

Từ khu nhà ga cũ đến ngôi giáo đường cổ, tất cả chúng tôi theo đường lên dốc khá quanh co, tìm đến ngôi nhà thờ nơi bìa làng. Van Gogh đã dừng chân nơi đây và họa bức tranh mặt ngoài hậu cung nhà thờ, diễn tả một kiến trúc không theo phép phối cảnh nhưng bằng những đường cong quẹo. Anh Vũ Hối đi tới đi lui trên dốc đá góc nhà thhờ, ngắm từng chi tiết như tìm cách đứng đúng chỗ Van Gogh đặt giá vẽ, rồi mới nâng máy lên thu hết hình ảnh vào ống kính. 
Từ ngôi nhà thờ theo con đường làng ra khỏi vòm cây phong là cánh đồng mênh mông hiu quạnh, nơi an nghỉ của danh họa Van Gogh và ngôi mộ bên cạnh là người em trai Théodore. Trong hoang vắng, đứng trước hai ngôi mộ quá đơn sơ của họa sĩ nghèo, mộ chỉ lấp mà không xây, bia được cuốn bằng thừng ! Đất Trời cũng cảm động, xót xa cho người họa sĩ tài hoa nên kết những loài hoa cỏ đầy màu sắc rực rỡ thành tấm thảm phủ lên ngôi mộ. 

Anh Vũ Hối và Nguyễn Thùy lần đầu đến thăm nên xúc động mạnh rướm lệ. Vũ Hối từ từ thu mình ngồi cạnh mộ Van Gogh, anh im lặng nhưng chắc hẳn lòng đang thổn thức ? Trên khuôn mặt buồn bã ấy có chút gì thương tiếc và ngưỡng mộ một danh tài hội họa thế giới bạc mệnh nằm trên cánh đồng hoang vu! Sau khi thăm mộ Van Gogh và người em trai Théodore, chúng tôi đi thẳng ra cánh đồng trước mặt đến nơi đã ghi dấu kỷ niệm họa phẩm "Đồng Lúa Mì và Đàn Quạ". Đứng trước thiên nhiên, mường tượng lại bức tranh, chắc hẳn trong mỗi người chúng tôi đều có cảm nhận riêng về hình ảnh đầy bí ẩn: «Đàn quạ đen bay sà trên đồng lúa chín vàng dưới bầu trời màu xanh sẫm như báo hiệu cơn dông sắp đổ xuống ?» 
Chúng tôi định đi tiếp vào thăm làng nhưng con đường đến đây chia làm ba ngã, biết chọn ngã nào? Anh Vũ Hối bảo:
" Van Gogh vẽ đường cho chúng ta nhưng không chỉ dẫn rõ ràng, vậy thì đi đâu cũng được".

Nguyễn Thanh bảo đường quẹo tay trái trở về nhà thờ. Anh Bảo Hưng khuyên nên đi thẳng, tất cả chúng tôi theo hướng đó.
Tối hôm đó về nhà, chúng tôi thức khuya nói chuyện. Nguyễn Thùy bảo Vũ Hối:
«Hai họa sĩ đều nổi tiếng nhưng một 'vừa nổi tiếng vừa nổi miếng' (ý nói có tiền, giàu) còn một thì 'vừa nổi tiếng vừa nổi điên', còn Vũ Hối thì nổi gì?»
Vũ Hối trả lời:
«chẳng nổi gì cả, đời quá nhiều bầm dập chỉ 'nổi chìm' thôi !»

Họa sĩ Vũ Hối là một nghệ sĩ tài hoa nhưng nhìều thăng trầm. Sự nổi tiếng về hội họa đã làm lu mờ phần nào mặt văn thơ, cho dù nhà thơ vẫn sáng tác đều, vẫn cho đời những vần thơ hay nhưng công chúng tìm đến anh qua hội họa.Tôi hỏi Vũ Hối :"Giữa Thơ và Hội họa nếu phải chọn một anh chọn cái nào ? "

Vũ Hối:"Mình xin chọn cả hai, nếu tách ra là chết (!)Vì Thư Trung Hữu Họa"
Trước năm 1975 và đến bây giờ, họa sĩ Vũ Hối luôn luôn chân thành với tình bạn, ở trong hoàn cảnh nào, dù lúc thăng hay trầm con người đó vẫn thế, vẫn không xa cách với bạn. Bản tính hiền hòa đôn hậu và trung nghĩa đã được các bằng hữu rất qúy trọng. 
Họa sĩ Vũ Hối chọn một lối sống hòa nhã, an lạc, ông mê say văn học nghệ thuật, xem nhẹ vật chất mà chỉ trợng tình tngười. Ngoài những tác phẩm sơn dầu vẽ chân dung các yếu nhân, Vũ Hối còn vẽ những bức tranh sơn dầu khác ở các thể loại phong cảnh, ấn tượng, những tác phẩm đó đều thể hiện tấm lòng tha thiết của ông đối với quê hương, đất nước. Những tác phẩm: Cảnh Làng Quê, Con Trâu, Cầu Tre, Lũy Tre, Phố Cổ, Ven Sông, Quê Hương với dòng sông Thu Bồn, Tình Mẫu Tử …vv dù xa xăm nhưng vẫn ẩn trong tâm khảm. Tác phẩm Chim Bồ Câu đã nói lên sự khát khao tự do, sự yên bình, ước mơ của nhân loại.

Con đường văn nghệ của Vũ Hối mang hương thơm tình tự dân tộc nơi xứ người. Đã có biết bao người tiếp nối ông đi trên con đườngThư Họa. Điều làm cho ông hãnh diện và sung sướng là người con trai của ông là họa sĩ Vũ Quốc, một họa sĩ tài hoa chuyên về sơn dầu đã từng làm những cuộc triển lãm thành công. Rồi đây họa sĩ Vũ Quốc theo con đường văn nghệ của cha, thi họa sĩ Vũ Hối và của bác ruột là cố giáo sư, nhà văn, nhà nghiên cứu văn học Vũ Ký ; gieo những bông hoa đẹp cho đời.

Văn Học Nghệ Thuật quả có một sức cuốn hút lạ lùng, hễ ai đã vướng vào nó thì cả đời khó dứt, muốn bỏ nó để đỡ gánh tâm sức nhưng nó lại chẳng phụ mình, đành phải theo đến cùng! Con đường nghệ thuật bất tận, mênh mông ý tưởng, đa chiều và muôn lối. Nhưng người làm nghệ thuật vẫn thích đi chung lối sát nhau đôi khi vướng nhau vấp ngã! Chỉ có những kẻ đam mê nghệ thuật một cách say đắm mới đi trọn con đường đến cùng, dù là gian nan, trắc trở, thiếu thốn… Đó là nghệ sĩ."


Đỗ Bình
Paris 16.01.2017

Thứ Hai, 22 tháng 10, 2018

Cứ Ngỡ...

Sánh vai lặng ngắm dòng trôi
Bên bờ xanh biếc chung đôi soi mình



Ngỡ đời êm nhẹ khúc tình
Nào ngờ nửa cánh lặng thinh bước thầm



 Vội chi hởi bạn trăm năm
Trùng khơi vạn nẽo biết tầm nơi đâu



Biển xanh đau đáu dáng sầu
Nghe trong vô tận nỗi đau dâng tràn


Nhẹ nhàng từng bước nhẹ nhàng
Để tâm lắng đọng khẽ khàng nhớ nhung...

Thơ & Hình Ảnh: Kim Oanh
Noosa Beach15/10/2018

Đề Đại Dữu Bắc Dịch 題大庾嶺北驛 - Tống Chi Vấn (636 - 712)

Mới đây, nhận được thơ của một cựu nữ sinh Đoàn Thị Điểm Cần Thơ hỏi thăm "năm nay thầy có đi trốn lạnh ở đâu không", tôi ngồi dịch lại bài "Nhạn trốn lạnh" này gửi đi để thay lời cám ơn và để mọi người cùng đọc cho vui thôi ̣ Cầu chúc an lành ̣ PKT 10/21/2018



題大庾嶺北驛    Đề Đại Dữu Bắc Dịch

陽月南飛雁,    Dương nguyệt nam phi nhạn,
傳聞至此回。    Truyền văn chí thử hồi.
我行殊未已,    Ngã hành thù vị dĩ,
何日複歸來。    Hà nhật phục qui lai?
江靜潮初落,    Giang tịnh triều sơ lạc,
林昏瘴不開,    Lâm hôn chướng bất khai.
明朝望鄉處,    Minh triêu vọng hương xứ,
應見隴頭梅。    Ưng kiến lũng đầu mai!

宋之問               Tống Chi Vấn (636 - 712)

Diễn nghĩa:

Tháng 10, trốn lạnh, nhạn bay về Nam
Nghe nói bay đến đâu đó không hiểu sao lại bay ngược trở về
Còn người sao cứ phải đi mãi nhỉ
Ngày nào mới trở về nhà được đây
Sông êm thủy triều vừa rút xuống
Lâm hôn chướng khí chưa tan
Sáng ra, trời xuân, vời trông cố quận 
Thương người xa xứ, cả một rừng mai vàng đã nở hoa! 
(Viết Ở Quán Dịch Trên Rặng Núi Bắc Đại Dữu)

Phụ Chú: Chuyện kể vào tháng 10, nhạn ở phương Bắc, rủ nhau từng đàn bay về Nam, để trốn lạnh. Ngang qua rặng núi mênh mông, thấy hoa mai nở ngút ngàn , ngỡ mùa xuân ấm đã về, nên đã bay ngược trở lại.

Hà Nhật Phục Quy Lai
PKT - Mây Tần

Tháng mười nhạn trốn lạnh,
Đâu đó không bay xa.
Còn khách đời phiêu bạt,
Ngày nao trở lại nhà?
Sông êm triều mới rút, 
Rừng ám chướng chưa nhòa.
Sáng sớm bên trời lạ, 
Thương ai mai nở hoa.

Phạm Khắc Trí
***
Đè Nơi Trạm Bắc Đại Dữu

Tháng mười phương nam chim bay mãi
Nghe đâu đến đó lại về ngay.
Sao ta lê bước chân hoài,
Ngày nao không biết được quay về làng?
Sông phẳng lặng triều đang rút xuống,
Rừng âm u chướng khí chưa tan.
Sớm trông quê cũ bàng hoàng
Tưởng chừng lắp ló đầu làng rừng mai!

Mailoc phỏng dịch

Cali 2013
***
Đề Thơ Tại Trạm Bắc Núi Đại Dữu

Trốn lạnh, xuôi nam, nhạn sải bay
Giữa đường đổi ý lại về đây
Thân ta năm tháng đi biền biệt
Tâm trí bao lần nhớ quắt quay
Triều thấp, dòng sông buồn phẳng lặng
Rừng xa , sương khói tỏa nhòa phai
Sáng ra, vọng ngóng về quê cũ
Bát ngát một vùng mai mãn khai.

Phương Hà phỏng dịch
***
題大庾嶺北驛 Đề Đại Dữu Bắc Dịch

陽月南飛雁, Dương nguyệt nam phi nhạn,
傳聞至此回。 Truyền văn chí thử hồi.
我行殊未已, Ngã hành thù vị dĩ,
何日複歸來。 Hà nhật phục qui lai ?
江靜潮初落, Giang tịnh triều sơ lạc,
林昏瘴不開, Lâm hôn chướng bất khai.
明朝望鄉處, Minh triêu vọng hương xứ,
應見隴頭梅。 Ưng kiến lũng đầu mai!

宋之問            Tống Chi Vấn

TỐNG CHI VẤN ( 656-712 ), tự là Diên Thanh, còn có tên là Thiếu Liên. Người đất Phần Châu ( thuộc huyện Phần Dương , tỉnh Sơn Tây hiện nay ). Còn có thuyết cho rằng, ông là người Hoằng Nông Hoắc Châu ( thuộc Linh Bảo, tỉnh Hà Nam hiện nay ). Ông là thi nhân nổi tiếng đời Đường.

Tống Chi Vấn là cậu của Lưu Hi Di, cả hai cậu cháu đều rất giỏi thơ và cùng đậu Tiến Sĩ năm Thượng Nguyên thứ hai đời Đường ( 675 ). Hai cậu cháu có một giai thoại về thơ rất thương tâm, sẽ kể hầu quí vị ở bài thơ sau.....

Tông Chi Vấn vì có dính líu đến vụ án Thái Bình Công Chúa, nên bị biếm làm Trường Sử Việt Châu. Khi Đường Tuấn Tôn lên ngôi, ông lại bị đày đến Khâm Châu ( thuộc Khâm huyện tỉnh Quảng Đông ngày nay ). Chính trên đường đi đày này, khi trọ ở bắc dịch quán ở biên giới Giang Tây và Quảng Đông , ông đã làm bài thơ thương cảm nầy 

CHÚ THÍCH:
ĐẠI DỮU LÃNH 大庚嶺 : là một ngọn núi trong Ngũ Đại Lãnh, đây là ranh giới giữa Bắc Nam nằm giữa tỉnh Giang Tây và Quảng Đông. Ngày xưa theo truyền thuyết : Khi nhạn phương Bắc bay về Nam để tránh lạnh, khi bay đến Nam lãnh nầy thì không bay nữa. có thể vì là giao giới giữa Bắc Nam nên khí hậu đã khá ấm áp rồi. Vì khí hậu ôn hòa ấm áp, tháng mười đã thấy nở đầy cả bạch mai và hồng mai, nên còn có tên là MAI LÃNH 梅嶺.
BẮC DỊCH 北驛 : DỊCH là Dịch Quán, nhà trọ cho những công sai, quan viên đi lại nghỉ ngơi. BẮC DICH: là Dịch quán cuối cùng của đất Bắc được xây dưng giữa ranh giới Bắc Nam.
DƯƠNG NGUYỆT 陽月: là tên gọi riêng của tháng Mười theo cách gọi của dân gian là : Chánh Đoan, Nhị Hoa, Tam Đồng, Tứ Mai, Ngũ Bồ, Lục Lệ, Thất Qua, Bát Quế, Cửu Cúc, Thập DƯƠNG, Thập Nhất Hà, Thập Nhị Lạp 「正端、二花、三桐、四梅、五蒲、六荔、七瓜、八桂、九菊、十陽、十一葭、十二臘」( Tháng Giêng gọi là tháng ĐOAN, tháng hai gọi là tháng HOA, tháng ba gọi là tháng ĐỒNG... ) Hiện nay rất ít người biết gọi theo cách nầy, kể cả Hoa Kiều ở khắp nơi trên thế giới.
TRUYỀN VĂN 傳聞 : Theo Truyền thuyết nghe thấy được . Ở đây có nghĩa là " Nghe nói rằng..."
THÙ 殊 : là Đặc Thù, là đặc biệt, là ngoại lệ.
HÔN 昏 : là Hôn ám, là Âm U. CHƯỚNG 瘴 : là Chướng Khí : Khí độc trong rừng thẳm, nơi ít người lui tới. BẤT KHAI là Không Mở Ra, Không tan ra. Nên câu 6 " Lâm hôn chướng bất khai " có nghĩa : " Rừng già âm U, ngập tràn cả chướng khí chưa tan đi được ! "
LŨNG ĐẦU 隴頭 : là Gò đất cao, ở đây chỉ những ngọn núi ở xa xa. Chữ LŨNG 隴 : khi là Danh từ riêng mới có nghĩa là tên riêng của tỉnh CAM TÚC, một tỉnh ở cực tây TQ, thuộc lãnh thổ của Lưu Bị thời Tam Quốc. Đây là nơi giáp giới giữa 2 dân tộc Hán Hồ mà tôi đã đề cập trong bài LƯƠNG CHÂU TỪ của VƯƠNG HÀN.

DỊCH NGHĨA:
CẢM ĐỀ NƠI DỊCH QUÁN PHÍA BẮC CỦA ĐẠI DỮU LÃNH
Trời tháng mười miền Bắc bắt đầu se lạnh, nên chim nhạn kết đoàn bay về phương Nam. Nghe nói rằng nhạn chỉ bay đến nơi nầy rồi dừng lại ( Vì nơi đây khí hậu đã ấm áp lắm rồi !). Còn hành trình của ta thì ngoại lệ, một kẻ đi đày, nên không thể dừng lại đây được. Và không biết ngày nào mới được trở về quê cũ đây. Hôm nay dừng chân nơi quán dịch giáp giới nầy , nhìn dòng sông phẳng lặng trong lúc thủy triều đang xuống và cánh rừng mờ mịt chướng khí của buổi chiều không tan đi được ! Sáng ngày mai khi đứng trên ngọn núi nầy mà trông ngóng về quê nhà, thì chắc cũng chỉ thấy được rừng mai nở rộ phủ kín cả núi đồi mà thôi ! ( chớ đâu có thấy được quê hương đâu ! Cũng như người Việt lưu vong ở MỸ, đứng bên bờ biển Cali mà nhìn, thì chỉ thấy được biển xanh mây trắng, tuy có đẹp, nhưng làm sao thấy được đất nước Việt Nam ở bên kia bờ Thái Bình Dương xa lơ xa lắc !!! ).

Toàn bài toát lên một nỗi sầu cô độc da diết của kẻ đi đày. Chim nhạn còn có chỗ dừng chân và bay trở lại, còn mình thì không biết bao giờ mới trở lại được đây ? Cảnh trí phương nam với sông ngòi phẳng lặng đìu hiu, rừng sát thâm u chướng khí, chỉ có khí hậu là ấm áp nên ngàn mai nở rộ, rực rở cả núi đồi, nhưng cũng không làm cho tác giả cảm thấy cảnh trí tươi đẹp. Mai nở rộ chỉ làm che khuất tầm mắt của tác giả trông ngóng về quê hương mà thôi ! Toàn bài thơ không có dùng một chữ SẦU nào cả, nhưng lòng SẦU TƯ của tác giả thì man mác từ câu đầu đến câu cuối!
DIỄN NÔM:

Tháng mười xuôi nam chim nhạn,
Đến đây dừng cánh đợi về.
Riêng ta thân đày lưu lạc,
Ngày nào mới được hồi quê ?!
Sông lặng buồn trông nước xuống,
Rừng sâu lam chướng ủ ê.
Sáng ngày quê xa trông ngóng,
Núi đồi mai nở tái tê!

Lục bát:

Xuôi nam chim nhạn tháng mười,
Đến đây dừng cánh xuân tươi lại về.
Riêng ta lòng luống ủ ê,
Quê hương biết thuở nào về lại đây ?!
Sông buồn lặng lẽ nước mây,
Rừng sâu lam chướng phủ đầy lối qua.
Sáng ngày trông ngóng quê xa,
Quê xa chẳng thấy, mai hoa nở đầy !!!

Đỗ Chiêu Đức

Quán Chiều - Có Còn



Quán Chiều

Chiều nay quán vắng lạ lùng
Tiếng ve bớt rộn bậc cung bẽ bàng
Gió thu sớm nhẹ mơn man
Lá vàng chưa rụng mưa đan kín trời

Bao lần thu đến rồi qua
Bao lần mình lại nhớ ra đã buồn
Mặc cho vận rủi không buông
Mặc cho chớp biển mưa nguồn sá chi!

Nguyễn Cao Khải
2018
***
Cảm Tác:

Có Còn


Lời than ai oán não nùng
Cành cao nức nở ve chung nỗi buồn
Thu chưa vàng lá vội tuông
Tình kia con nước xuôi nguồn mãi xa
Quán chiều vắng ngắt người qua
Ngóng trông tin nhạn vào ra mỏi mòn
Tiếc thời...nhòa nhạt màu son
Hồn xưa hương cũ có còn thiết tha

Kim Phượng  

Nửa Mảnh Trăng Khuya



Bài Xướng: 
Nửa Mảnh Trăng Khuya

Tri kỷ hồng nhan chẳng dễ tìm
Lồng thưa khó giữ một loài chim
Hương rừng hoa trắng đang ngào ngạt
Tiếng hót oanh vàng bỗng lặng im
Khó hiểu vì ai cầu gãy nhịp
Khôn nguôi chỉ tội kẻ mò kim
Chiều buông thấm thía buồn chim vịt
Nửa mảnh trăng khuya đáy nước chìm!

Cao Linh Tử

20/10/2018
***
Các Bài Họa:
Niềm Tin Lịm Tắt

Ta, nửa hồn đơn mãi kiếm tìm
Nửa phần còn lại biệt tăm chim
Nhìn trời, chỉ thấy vầng trăng úa
Ngó đất, buồn trông vạt cỏ im
Khắc khoải vào ra ngày lại tháng
Thẫn thờ xếp mở kéo cùng kim
Cô đơn vò võ trong mong đợi
Tắt lịm niềm tin ngỡ lún chìm

Phương Hà
***

Họa Vận:
An Phận Thủ Thường


Hồng nhan tri kỷ biết đâu tìm ?
Biền biệt phương trời cá nước chim !...
Tuổi trẻ mơ hoa ôm mộng đẹp,
Trưởng thành kiếm sống kiếp nghèo im.
Đẩy đưa duyên phận đành an phận,
Ẩn nhẫn thành kim ấy vạn kim.
Chấp nhận hiện tình là hạnh phúc,
Thủ thường an phận sợ chi chìm !...

Đỗ Chiêu Đức

Chủ Nhật, 21 tháng 10, 2018

Xin Gọi Nhau Là Cố Nhân- Sáng Tác Song Ngọc - Tiếng Hát Trang Mỹ Dung


Sáng Tác: Song Ngọc
Tiếng Hát: Trang Mỹ Dung
Thực Hiện: Đặng Hùng

Ta Làm Thơ Cho Vui Vẻ Tháng Ngày


Ta chưa gặp mà đã thành tri kỷ
Chưa bao giờ nói chuyện* đã tình si
Qua thơ văn ta liên lạc đều chi
Tình trên ảo mong manh miều mỹ


Đâu phải thật nên sợ gì anh nhỉ?
Chút mộng mơ cho đời sống nên thơ
Chút lãng mạn cho trái tim trẻ mãi
Ta làm thơ cho vui vẻ tháng ngày

Thú tiêu khiển nhẹ nhàng, tao nhã
Thơ yêu đương quên thực tế phủ phàng
Thích làm thơ khi tuổi đã muộn màng
Nên thích lắm, em yêu thơ…yêu lắm!

Nhắm mắt lại, mường tưởng chiều trên biển
Em thẩn thơ quên đi hết muộn phiền
Sóng rù rì, tóc lộng gió tung bay
Mây trắng xóa… đời mầu hồng đẹp quá!

Người yêu dấu, anh là người tưởng tượng
Anh trong thơ không có thật ngoài đời
Anh an ủi, dịu dàng trong tư tưởng
Anh là người lý tưởng, rất bao dung

Là người ảo nên thương em nhiều lắm!
Không bao giờ anh nỡ phụ em đâu
Chẳng bao giờ anh làm tim em đau
Luôn ở đó, bên cạnh em mãi mãi…

Như Nguyệt
19 tháng 10, 2018
*nói chuyện qua phone

Mãi Vì Nhau



Xướng: Mãi Vì Nhau

Sao mà chảy mãi biết từ đâu
Chỉ có giờ đây trắng một màu
Khoảnh khắc ân tình về vạn kiếp
Trường miên trân cảm tới thiên thâu
Chưa trao lược biếc nào tơ rối
Chẳng giữ tóc xanh luống bạc đầu
Mòn hết da rồi thương vẫn chải
Muôn đời đá nước mãi vì nhau.

Phan Tự Trí
***
Các Bài Họa:
Mãi có Nhau

Thấu tận nhân tâm,...có lạ đâu
Ngàn năm mây trắng vẫn nguyên mầu?!
Sâu đằm nghĩa cũ lưu muôn thuở
Nặng trĩu niềm riêng thức vạn thâu!
Thâm đặng gió trăng xanh tận trí
Quản chi sương gió bạc trên đầu?!
Tấm thương rộng mở lòng khoan ái
Sau trước thủy chung mãi có nhau!

Nguyễn Huy Khôi 

4-7-2018
***

Thác Đổ Ngàn Năm

Bắt nguồn ở mãi tận đâu đâu
Chảy xuống nơi đây trắng xóa màu
Róc rách băng rừng trên núi thẳm
Ầm ầm đổ vực suổt đêm thâu
Đã dồn dập sóng như triều dữ
Lại tóe tung mưa tựa bão đầu
Cứ thế thi gan cùng tuế nguyệt
Say nồng đá nước mãi bên nhau.

Sông Thu 
04/07/2018
***
Lời Đá

Dẫu là bão lũ,...đổ từ đâu
Thạch trụ trầm kiên giữ vẹn mầu!
Đèo dốc lô xô muôn dặm nẻo
Lạch nguồn thầm thĩ suốt canh thâu!...
Nước dù ào ạt lao mòn thác
Đá vẫn thung dung thế ngẫng đầu!?
Thấu lẽ càn khôn truyền cổ sử
Một lòng Đá - Nước khó rời nhau?!

Nguyễn Huy Khôi
 5-7-2018
***
Mãi Bên Nhau

Thời gian bóng ngựa …lạ gì đâu
Đọng giọt trăm năm trắng trọn màu
Giữ nẽo ân tình còn một thuở
Gìn nơi tâm sự bấy canh thâu
Mây trôi lẳng lặng ru lòng hạc
Sương rụng lâm râm nhuộm mái đầu
Thỏa dạ trời mây trăng cố lý
Canh gà vàng đá mãi bên nhau.

Hương Thềm Mây
GM.Nguyễn Đình Diệm 

05.7.2018
***Ngàn Năm Thác Đổ 

Thác dội miên man, cớ tự đâu ?
Mưa ngàn, lũ cuốn khởi ban đầu
Lách luồn rừng núi năm canh tận
Len lỏi nương đồi sáu khắc thâu
Đá, nước muôn đời ưa sát cánh 
Mây, trời vạn nẻo thích bên nhau
Suối rơi thạch phiến tung làn trắng
Mòn mỏi tháng năm chẳng đổi màu.

Thanh Hoà.
***
Mãi Cho Nhau

Bức hình tuyệt quá, cảnh nơi đâu.
Chảy rót vào mô tạo đỏ mầu.
Con tạo khéo bày cùng khéo gợi
Người chơi tài kiếm lại tài thâu.
Thủy buông dòng biếc tia chùm đáy
Thạch đỡ mom xanh bọt phủ đầu.
Lưu lại mai sau tình nước đá
Cầu trời gió lặng, mãi cho nhau .

Trần Như Tùng
***

Thương Hoài

Người còn đi mãi biết về đâu?
Thuở ấy tóc xanh chửa bạc màu
Lòng chẳng phôi pha hình dáng cũ
Đêm nằm khắc khoải suốt canh thâu
Côn trùng rên rĩ tràn sân vắng
Tiếng dế râm ran gợi phút đầu
Một mối tình si buồn thắt thẻo
Ngàn đời cũng vẫn mến thương nhau!

Thiên Hậu
***
Vẫn Nhớ Nhau


Bóng khuất lưng trời biệt tích đâu
Đường xa , bụi gió áo phai màu
Người còn giấc muộn sâu trăn trở
Kẻ mãi đêm dài thức trắng thâu
Cuối Hạ âm thầm tô ánh nắng
Tàn Thu lủi thủi điểm sương đầu
Non cao, vực thẳm hoài mong đợi
Nước chảy sông mòn vẫn nhớ nhau

Minh Thuý
Tháng 7_2018
***
Vẫn Còn Nhau


Yêu chi cho lắm, bởi vì đâu
Xanh mãi tình ta, chẳng bạc màu
Cho dẫu cách xa nhiều tháng suốt
Vẫn luôn chờ đợi lắm canh thâu
Thương làn tóc rối công viên cũ
Nhớ giọt lệ vui buổi thuở đầu
Ấy thế, làm sao mà xóa được
Núi mòn, sông cạn, vẫn còn nhau 

 Thanh Trương

Chiếc Xe Ô Tô Đồ Chơi


Tôi chắc chắn rằng chẳng có một ai đến cái tuổi chớm về chiều như tôi, khi nhìn lại quá khứ đời mình mà không mang ít nhiều cảm giác ăn năn vì những lỗi lầm nào đó mà mình đã phạm phải trong cuộc sống. Những lỗi lầm có thể do tính xấu bẩm sinh của mình gây ra, chẳng hạn như tính ích kỷ, tính keo kiệt, tính đố kỵ với bạn bè, người thân... Nhưng cũng có thể do thiếu kinh nghiệm sống hay chỉ vì dốt nát, ngu đần nên gặp phải, hoặc vì chủ quan, tự tin qúa lố để rồi mất đi sự thông cảm, sự hiểu biết hợp lý mà dẫn đến lầm lạc..v..v.. Tóm lại nói đến chữ THỎA MÃN TOÀN VẸN về con người mình trong cuộc đời chỉ là điều không có thật, nếu không muốn nói là u mê chưa tỉnh, hay không có can đảm nhìn rõ về mình mà thôi.

Tôi cũng thế, không một tí ngoại trừ. Nhìn lại khỏang thời gian trải dài đằng đẵng hơn 60 năm tuổi đời. Nhớ lại biết bao nhiêu sự việc không mấy tốt đẹp, với những thất bại ê chề xẩy ra trong đời, ít hay nhiều do chính mình gây ra. Tôi chẳng muốn dấu giếm hay ngượng ngùng khi nhìn nhận mình đã có quá nhiều khiếm khuyết, ngày nay quay nhìn lại với những ăn năn, tự trách. Đúng như vậy, kể làm sao cho hết những khiếm khuyết, lỗi lầm mà tôi đã gây ra cho chính bản thân và cho những người thân thương, ruột thịt của mình. Từ lúc ấu thơ sống dưới sự cưu mang, chăm sóc (dù thiếu thốn,nghèo khổ) của cha mẹ khi là đứa bé hàng ngày lang thang ờ thành phố Hà nội xa xưa đến lúc lớn khôn bước vào đời đi làm việc. Rồi nhờ tí may mắn kèm theo những cố gắng học hỏi về chuyên môn với những hối thúc bởi tham vọng mà có giai đọan được bước vào vị trí nhàn nhã có tí chút hơn người.... 

Đôi lần tôi đã quên đi những thất bại, những lầm lạc mà tưởng rằng mình giỏi, mình khôn ngoan! Nhưng đến một lúc nào đó, trong một không gian tĩnh lặng, tâm tư thoáng đãng chợt đưa mắt nhìn rất thật vào cái gương soi rõ con người mình. Tôi không còn tí chút nào cao ngạo nữa , thay vào đó với bao nhiêu cảm giác ăn năn vì những lỗi lầm trong đời . Tôi tự nghĩ nếu thực sự khôn ngoan hơn, suy tính kỹ lưỡng hơn và nhất là dám nhận khuyết điểm, can đảm sửa sai, phục thiện…Có lẽ tôi đã đạt được kết qủa tốt hơn và không bị dày vò ân hận với những thất bại như ngày nay. 

Ngay với 3 đứa con của tôi, chúng đã sinh ra, lớn lên, được giáo dục trong tình thương yêu đậm đà cùng với bao ước mơ của tôi dành cho chúng. Tôi cũng có quá nhiều khuyết điểm, sai lầm trong vai trò người cha đối với con. Tôi đã quá nghiêm nghị, quá khắt khe đôi khi mang tính cố chấp, độc tài với các con. Tôi đã ôm tính tự ái quá cao với vị trí của người bố để không dám xin lỗi hay tìm cách sửa sai trước mặt các con. Tôi không dám hay thật ra cố tìm cách quên đi những bản chất tự nhiên của trẻ thơ . Cái bản chất mà chính ngày xưa, lúc tôi còn ở tuổi như chúng, tôi cũng thế, nếu không muốn nói là còn đáng trách hơn. Tôi đã rầy la, ngăn cản không cho chúng được thể hiện những cái mà ở tuổi chúng phải như thế. Tôi không hiểu được rằng, nếu chúng không như thế, chúng đúng y hệt như cha mẹ chúng chỉ dẫn tức là chúng bất bình thường. Tôi muốn chúng chơi đùa, ăn học có lúc, đúng với thời khóa biểu chỉ vì tôi không hiểu một điều đơn giản, đó là thời gian của trẻ thơ không bao giờ được đếm bằng chiếc kim đồng hồ và dẫn dắt bởi ý kiến lạ kỳ của ông cha, bà mẹ. Thời gian của trẻ thơ được tính toán bằng sự hồn nhiên phóng túng liên hệ đến bầu năng lượng mà sức khỏe của chúng xác định . Một đứa bé chỉ biết cắm đầu vào sách vở không biết gì đến xã hội chung quanh, không biết chơi đùa, nghịch phá như bạn cùng lứa tuổi tức là chúng khác thường hay đang đi vào một loại bệnh tật nào đó. Hãy lo lắng hơn là vui mừng với đứa con như vậy! 

Tôi đã uốn nắn, tìm cách hướng dẫn ba đứa con theo những kinh nghiệm , khôn ngoan của tôi. Tôi muốn chúng hiểu rõ những cay đắng thất bại, những khổ cực mồ hôi nhầy nhụa của đời tôi. Một cuộc đời sinh ra lớn lên trong thiếu thốn và luôn luôn bị đe doạ bới những bấp bênh của chiến tranh, loạn lạc và đầy rẫy bất công ... Tất cả những cái thua thiệt đó đã tôi luyện cho tôi thành một con người sắc xảo, khôn lanh ( có lẽ cả sự gian trá nữa ?!) . Tôi nghĩ rằng đó là kinh nghiệm sống, là cấu chất của thành công. Nhưng tôi đã lầm, cái lầm lẫn quá lớn lao và đầy tệ hại . Tôi đã không biết một điều rất đơn giản, quá hiển nhiên, đó là những đứa con tôi chưa bao giờ biết ý niệm của thiếu ăn, khốn khổ vì chiến tranh thì tại sao bắt chúng phải nhịn bữa cơm khi bụng đang đói? Chúng phải nghi ngờ , nói xấu sau lưng hay phùng má trợn mắt lên chống đối người khác khi họ không đồng quan điểm hay chính kiến với chúng ? ! 

Thật là vô lý! Cái vô lý ngớ ngẩn và rất khó hiểu khi chúng thấy tôi nghĩ đó là khôn ngoan và muốn truyền đạt cho chúng. Tôi dậy dỗ chúng dè xẻn tiền bạc để phòng ngừa lúc túng thiếu, nhưng tôi quên một điều là xã hội chúng đang sống, đang cưu mang chúng khác hoàn toàn với xã hội nghèo khổ, chiến tranh và đầy bấp bênh của tôi ngày xưa. Chúng cần gì nén lòng không dám bỏ tiền ra mua một món đồ vật mà chúng ham thích khi trong túi đang có tiền hay phải ngại ngần không dám đến ngân hàng để mua trả góp khi chúng có khả năng hoàn trả ?!


Tóm lại đến ngày nay khi các con tôi đã lớn khôn, tôi đã có đầy đủ thời gian và hoàn cảnh để nhìn về mình, nhìn khá rõ! Tôi đã im lặng chịu đựng những ăn năn vì những lỗi lầm của mình. Viết ra đây một lầm lỗi rất bé nhỏ cái lầm lỗi mà nhiều người cho rằng nó không quan trọng, chẳng đáng để tâm. Nhưng với tôi lại là một biểu tượng của hàng trăm lỗi lầm khác liên hệ đến cái tính xấu, độc tài, cứng nhắc, tự ái qúa đáng của tôi, đã làm tôi xấu hổ với chính mình và cả với vợ con nữa . 

Khi 3 đứa con tôi còn bé, gia đình chúng tôi thường cùng đi với nhau, ngay cả việc đi siêu thị mua đồ ăn hàng ngày. Đặc biệt vào những ngay nghỉ lễ hay cuối tuần tôi luôn luôn lái xe cùng gia đình tìm chốn vui chơi hay thăm viếng bạn bè . Ngay cả những khi vì công việc phải đi công tác xa, trong Thụy Sĩ hay ngoại quốc. Tôi cũng không bao giờ bỏ qua dịp may, xếp đặt lấy thêm vài ngày nghỉ thường niên để cả gia đình cùng đi, coi như một cuộc du lịch thư dãn vui chơi cùng vợ và con tôi. 

Một lần, vào dịp nghỉ hè, chúng tôi dùng xe ô tô tham dự một lễ hội ở thành phố Bern, thủ đô của Thụy Sĩ. Trong những lần đi xa như vậy, vợ tôi luôn luôn ngồi phía trước để giúp đỡ tôi trong việc mở bản đồ chỉ dẫn đường đi và cũng để giúp tôi những việc lặt vặt cá nhân khi lái xe. Các con tôi ngồi hàng ghế phiá sau. Lần đó, khi xe vừa vào thành phố, hai đứa con lớn của tôi bắt đầu gây gỗ, đánh nhau vì tranh dành đồ chơi. Vợ tôi quay lại giàn hoà rất nhiều lần nhưng cũng chẳng xong, tôi la hét, dọa dẫm đều vô ích. Lái xe trong một thành phố chưa quen thuộc đường đi, lại vào dịp lễ hội đông xe, đông người đã làm cho vợ chồng tôi nhiều khi luống cuống . Trong khi đó ở hàng ghế sau lũ con thì khóc lóc, đánh nhau muốn phá tung lên, càng làm tôi gần như điên lên vì tức giận. 

Tôi vừa lái xe, vừa dùng đủ lời đe dọa, mong chúng sợ mà yên lặng.Vợ tôi cũng chẳng khá hơn, quay hẳn người lại để tìm cách phân xử. Nhưng cuộc tranh dành vẫn không chấm dứt. Lo sợ tai nạn và lầm lẫn hướng đi, tôi có ý định tìm chỗ dừng xe để giải quyết. Nhưng ở một thành phố đang lễ hội, đường xá lại hẹp, bảng chỉ dẫn đường bị thay đổi để tránh nạn kẹt xe… Hoàn toàn không dễ dàng cho việc dừng xe mà không làm ngăn cản giao thông. Cuối cùng quá bực bội, tôi hét lên với lũ con: 
- Chúng mày mà không chấm dứt, ba sẽ dừng xe lại, liệng hết đồ chơi đi đó! 
Nhưng cũng chẳng đến đâu, tiếng khóc, tiếng cãi nhau của lũ trẻ chẳng ít đi mà có phần nhiều hơn. Tôi gần như giận run lên ! Ngay lúc đó, gặp một ngã rẽ bên phải, tôi quẹo xe vào con đường bên cạnh, ít xe hơn, cùng lúc tôi hét lên: 
- Ba kiếm chỗ dừng xe, chúng mày sẽ biết ba sẽ làm gì, ba không muốn đùa! 
Chạy được một khỏang ngắn, thấy một khỏang đất trống, nơi để những chiếc thùng rất to mầu xanh để thu gom đồ vật tái chế ( thủy tinh, kim loại … ). Chẳng ngần ngại tôi giảm tốc độ, quay đầu nhìn lại lũ con, với lời nói rất rõ ràng: 
- Chúng mày sẽ thấy ba sẽ làm đúng như lời nói. 

Lũ con tôi, lúc này đã nhận thấy câu nói của tôi không còn là câu đe dọa xuông nữa. Chúng im lặng hoàn toàn, ngồi đúng chỗ trên xe. Đứa đưa mắt sợ hãi nhìn tôi như van lơn, đứa nhìn vợ tôi mong cứu giúp. Thành thật lúc quay lại nhìn các con, thấy chúng đã biết sợ, im lặng, nhất là thấy đôi mắt như van lơn tha thứ của chúng … Sự tức giận của tôi đã có phần nào giảm bớt. Nhưng tự ái, muốn xác nhận quyền hành làm cha ! Muốn chứng tỏ lời nói của mình không đùa dỡn, đâu ra đó … Tất cả những cái cứng mạnh muốn tỏ lộ vai vế một ông bố “nói là làm“, một ông bố nghiêm nghị đã xóa nhòa nhãn giới, suy nghĩ đúng sai của tôi để mất đi sự cảm thông với trẻ thơ. Dù lúc đó lòng thương yêu con tràn đầy trong tim tôi khi nhìn những cặp mắt ăn năn, đầy sợ hãi của lũ con! 

Tôi vẫn lạnh lùng điều chỉnh cho chiếc xe dừng lại đúng chỗ, ngay bên cạnh chiếc thùng thu gom đồ tái chế. Vợ tôi hình như nhìn thấy sự quyết liệt của tôi, nhưng không cầm lòng được khi nhìn thấy sự im lặng sợ hãi , khẩn cầu giúp đỡ của các con. Đưa mắt nhìn tôi, vợ tôi dấu dịu: 
- Thôi bỏ qua cho chúng đi, chúng đã biết tội rồi! 

Nhưng vẫn khuôn mặt vô cảm, ánh mắt cau có đầy tức giận, im lặng không nói tiếng nào, tôi xuống xe, bước đến mở cánh cửa sau, đưa bàn tay vào trong xe, với giọng quyết liệt: 
- Đưa những đồ chơi mà chúng mày tranh dành, đánh nhau ra đây! 

Ba đứa con tôi đưa ánh mắt lo sợ, van xin, im lặng nhìn về hướng tôi. Vợ tôi cũng lập lại lời xin tôi tha lỗi cho chúng, nhưng tôi hoàn toàn không động lòng, tôi nói nhát gừng từng chữ : 
- Đưa ngay! Nếu không muốn tất cả đồ chơi sẽ được bỏ vào thùng rác! 

Lúc đó thằng con trai và đứa em gái lớn tranh nhau phân trần với tôi về chiếc xe ô tô đồ chơi là nguyên nhân mà chúng tranh dành. Tôi chẳng cần nghe phải trái của hai đứa con, với tất cả quyết liệt, không khoan nhượng tôi nhắc lại : 
- Đưa đây ! 

Vợ tôi không cầm lòng được khi nhìn thấy lũ con sợ hãi và tiếc rẻ món đồ chơi, nhìn tôi như năn nỉ : 
- Thôi, anh tha cho chúng nó đi. 
Quay về hướng các con vợ tôi nói : 
- Các con xin lỗi bố đi .

Chẳng cần vợ tôi nói lần thứ hai, cả ba đứa con cùng cất lời xin lỗi. Lúc đó tôi hoàn toàn không còn giận tức nữa, nhưng vẫn muốn chứng tỏ mình không đe dọa xuông, muốn chứng tỏ oai quyền của ông bố quyết liệt. Đúng là tự ái rởm, thiếu bao dung, không cảm thông, quên đi cái tôi của chính mình ngày xưa, thời còn ở tuổi như chúng, chắc chắn mình còn tệ hại, hư đốn hơn chúng rất nhiều (!)… Tôi vẫn đưa bàn tay về hướng thằng con, với lời nói rất sắt đá: 
- Ba nói lại một lần nữa, đưa đây cho ba liệng đi ! 

Đến lúc này thì thằng con đã thực sự rơi vào thất vọng trước sự quyết liệt của bố. Đôi mắt nó mờ dại, tay run run cầm lấy chiếc xe ô tô đồ chơi đưa chậm chạp về hướng tôi. Tôi vẫn không động lòng dù đã nhìn rõ ánh mắt tiếc rẻ, đầy ăn năn vì lỗi lầm dại khờ của thằng con. Tôi cũng chẳng thu nhỏ bàn tay của mình đang ngửa trước mặt nó. Trong khi thằng con vừa đưa chiếc xe ra vừa run run (tôi chắc chắn con tôi run run không phải vì sợ hãi mà nó run vì tiếc rẻ chiếc xe ô tô cũ kỹ, nhỏ bé chỉ bằng trái chuối cau) 

Nhưng hình ảnh cuối cùng của sự việc có lẽ đã làm tôi xúc động nhất, đau khổ nhất và đến nay đã mấy chục năm qua tôi vẫn không quên được ánh mắt buồn đau, tiếc rẻ của thằng con, đã khắc sâu vào trí nhớ của tôi, đã làm tôi ân hận mãi mãi. Đó là lúc thằng con tôi run run đưa chiếc xe vào tay tôi, tôi chưa kịp nắm lấy chiếc xe đồ chơi. Con tôi rút tay lại, nó đưa chiếc xe lên ngang tầm mắt, nước mắt chẩy dài dưới gò má. Thằng con đờ đẫn ngắm nghía chiếc xe đồ chơi cũ kỹ ra vẻ rất đau xót. Cuối cùng nó đưa chiếc xe sát vào miệng, hôn đắm đuối chiếc xe trước khi nhìn ngơ ngẩn như si dại rồi đặt nhẹ chiếc xe vào bàn tay tôi vẫn lạnh lẽo xoè ngửa trước mặt đứa con ! 

Tôi chứng kiến tất cả! Từ bàn tay run run đưa ra! Từ ánh mắt ngây dại buồn đau, dàn dụa nước mắt đến cả lúc con tôi đắm đuối hôn từ gĩa chiếc xe đồ chơi trước khi đưa chiếc xe vào bàn tay tôi. Nắm được chiếc xe đồ chơi của con, không một tí lưỡng lự, thương con.Tôi quay người ra khỏi cửa sau chiếc xe. Dù lúc đó lòng tôi cũng đau và thương con như muối xát nhưng chỉ vì cái tự ái qúa lớn của một ông bố đã làm tôi quên đi tất cả. Tôi cầm lấy món đồ chơi còn hơi hám nụ hôn và nước mắt xót đau của đứa con, đi đến chiếc thùng thu gom rác kim loại, tàn nhẫn tôi bỏ chiếc xe đồ chơi của con tôi vào đó!


Đến nay bất cứ khi nào khắt khe với con, hình ảnh đau buồn và đầy ân hận đó luôn luôn hiện ra trong trí nhớ tôi, mang đến cho tôi những cảm giác của một ông bố lỗi lầm. Tôi đã ngoan cố, tôi đã thiếu cảm thông với thế hệ con của tôi. Tôi đã hèn nhát, không trung thực để không dám chấp nhận một điều rất rõ ràng và chính xác. Đó là chắc chắn các con tôi, chúng ngoan ngoãn, biết sống ngay ngắn đầy tính nhân bản hơn tôi ngày xưa rất nhiều. Chẳng có gì phải suy nghĩ cao siêu để nghi ngờ điều này cả. Chúng sinh ra, lớn lên trong một xã hội thanh bình, có nền giáo dục tốt đẹp như Thụy Sĩ. Chúng không phải ngụp lặn trong một xã hội chiến tranh và đầy rẫy tật ách như tôi đã không may bị vướng vào thì làm sao chúng nó xấu xa hơn tôi được?!. 

Nếu có điều gì đó ngày xưa của tôi khả dĩ tốt hơn chúng(dù chỉ là cái tốt epsilon!),thì đó cũng chỉ là một hệ qủa đương nhiên vì cuộc sống ngày xưa, nghèo đói tôi đã không có điều kiện để hư đốn mà thôi. Bản chất và mầm giáo dục từ cái xã hội chiến tranh, phong kiến, đầy rẫy gian xảo trong tôi có lẽ chẳng có gì để tự hào hơn chúng nó cả. 

Lưu An