Thứ Hai, 11 tháng 8, 2014

Vu Lan Tưởng Nhớ


Hoa hồng trắng con cài lên áo
Mà nghe lòng xa xót nao nao

Nhìn người nét mặt rạng ngời
Hồng hoa đỏ thắm nụ cười thương yêu
Ngậm ngùi mong ước một điều
Xin chung góp chút ít nhiều niềm vui
Song thân còn với những ai
Hạnh phúc viên mãn nở hoa lòng người
Công ơn dưỡng dục đời đời
Muôn vàn sắc thắm tuyệt vời hôm nay
Và xin chia sẻ buồn này
Đóa hoa hồng trắng được cài ngực ai
Nỗi lòng tưởng nhớ mẹ cha
Đã xa khuất nẻo trầm kha vô thường
Bây giờ còn lại tủi hờn
Trong lòng con trẻ nhớ thương vô vàn
Tới ngày xá tội vong nhân
Nghẹn ngào thương tiếc mẹ cha chốn nào
Về đâu trong cõi ta bà
Hay là đã được vãng sanh cõi trời
Hôm nay tâm nguyện với đời
Hương trầm tỏa khắp muôn lời nguyện trao
Thập phương chư Phật trên cao
Xin đưa tay dẫn độ vào mẹ cha
Theo chân Đức Phật Di Đà
Về nơi cực lạc an vui Niết Bàn

Mùa Vu Lan 2014
Thiên Thu

Tình Mẹ - Thơ:Thérèse Nguyễn Nhạc:Quách Vĩnh Thiện


Thơ : Thérèse Nguyễn
Nhạc : Quách Vĩnh Thiện
Tiếng hát : Mai Thảo


Giang cánh ấp của tình thương vô lượng,
Cây nhân sinh èo uột đã tươi mầm,
Mẹ dâng hiến trải cõi lòng độ lượng,
Yêu tha nhân không vướng chút vị thân.

Tình mẫu tử ôi mênh mông biển cả,
Dưỡng mầm non hoa cỏ trở cây xanh,
Hiếu với mẹ có khi nào con đã,
Trả ơn cây đã lấy máu nuôi cành,
Ôi nước mắt có bao giờ chảy ngược ?
Nghĩa vị tha ngất ngất đỉnh trời.

Giang cánh ấp của tình thương vô lượng,
Cây nhân sinh èo uột đã tươi mầm,
Mẹ dâng hiến trải cõi lòng độ lượng,
Yêu tha nhân không vướng chút vị thân.

Vắt cạn sữa chỉ suốt đời mơ ước,
Mong các con thật xứng đáng làm người,
Rồi đến lúc cây già nua bóng xế,
Vòng từ sinh lửa leo loét cuối đời,
Thương các con mắt mẹ còn rơi lệ,
Đâu quản thân mình sinh tử đầy vơi.

Paris, le 25 Aout 2009

Thơ Tranh: Giọt Lệ Vu Lan



Thơ: Trầm Vân
Thơ Tranh: Kim Oanh

Chút Tình Buồn Gởi Lại Ba Xuyên


Ở trời nam. nhớ đất phương nam
trời với đất xa nhau mấy biển
con đường xưa xe đạp trắng bông tràm
áo mới nôn nao mùa gió Tết

Em ngóng trời nam ba mươi năm
chiếu đất màn sương đầy hoa sao nở
chút buồn gởi lại Ba Xuyên
ta phiêu bạt như người tình l
Biết có mai này giữa ghế bàn xưa
tay phấn trắng vẻ em buồn như phượng
chút tình gởi lại Ba Xuyên
ta thất trận dẫu không là quân tướng

Quen rồi café quán Sydney
mưa Vancouver ướt người bên Starbucks
bạn bè gọi nhau quán Lú Cali.
nhắc tách café đen thơm mùi thuốc bắc

Chút tình buồn gởi lại Ba Xuyên
đôi mắt đệ tam hàng sao già đệ nhất
chiều tan hoang chưa gặp lại bao giờ
đêm sóng gọi.thấy sông tràn nước mắt

Chút tình buồn gởi lại Ba Xuyên
đi mới thấy ngôi trường đã mất
lòng như đất y nguyên
đem dấu kín mối sầu trang sách

Biết có mai này phố chợ bừng lên
xe đạp cũ cầu Quay vàng kỷ niệm
chút tình buồn gởi lại Ba Xuyên
chút tình cũ. thắp cùng em ngọn nến

Biết có mai này. biết có còn nhau
đôi mắt đệ tam hành lang đệ nhất
biết sẽ mai này
biết chẳng còn nhau
khăn gói ra đi. còn gì em để mất

Lâm Hảo Khôi
(tháng 8-2014)

Thưa Rằng...


    v(Từ "Xin Câu Trả Lời" của Đỗ Hữu Tài)

Thưa rằng những lúc gió sương
Nhìn trăng anh nhớ người thương chứ gì?
Rằng xưa kia em chẳng kiêu kỳ
Tại ai thích ngắm cây si bên đường

Rằng thưa “không” nói mà “thương”
Thương mà không nói lòng vương vấn hoài!
Tiếng “Ừ” ngại nói cùng ai
Thôi thì cứ để thêm ngày đợi mong!

Được lòng thì phải nhọc công
Được tình ắt phải đi vòng quanh quanh
Thở dài nở lớn gan anh
Để mời em bước theo anh chung đường

Cây si trồng trước cổng trường
Biệt ly sầu khúc em thường lắng nghe
Gió ru êm ả chiều hè
Tiếng thơ em ngọt... tiếng ve lạc rồi!

Thắm tình ươm mộng đầy vơi
Thề non hẹn biển trao lời cùng nhau
Hỏi rằng duyên nợ cau trầu
Tu bao nhiêu kiếp tình trao nghĩa đầy?

Duyên thơ mộng mị gió mây
“Sum vầy” hai chữ kiếp nầy có không?
Thuyền xưa ngược gió xuôi dòng
Sông tương bến đổ qua đông hẹn về

Biết rằng ngày tháng cận kề
Mà nghe xa vắng bộn bề nhớ nhung
Người mơ hai chữ “tương phùng”
Em mơ hai chữ “thủy chung” thuyền tình!

Yên Dạ Thảo
03.08.2014

Xin Câu Trả Lời


Đố em trong lúc gió sương
Anh thường nghĩ ngợi nhớ thương điều gì
Đố em ai đã kiêu kỳ
Cho anh ngơ ngẩn đứng lì đợi trông
Đố em ai cứ nói " không "
Cho anh lẽo đẽo chờ mong tiếng " ừ "
Đố em ai vẫn chần chừ
Cho anh xuôi ngược lừ đừ đi theo

Đố em đường xá cong queo
Mà sao anh vẫn cố đeo đuổi hoài
Đố em nhìn dáng trang đài
Mấy ai gan dạ thở dài bỏ đi
Đố em trồng được cây si
Có ai hát khúc biệt ly vẫy chào
Đố em nghe giọng ngọt ngào
Hồn ai không lạc đường vào ngô nghê

Đố em tình thắm cơn mê
Ai không mộng mị ủ ê mong chờ
Đố em ai dám hững hờ
Khi tình hò hẹn đến giờ gặp nhau
Đố em duyên nợ trầu cau
Ai không mong muốn mau mau tới ngày
Đố em nghiã đẹp tình đầy
Ai không hạnh phúc xum vầy yêu đương

Đố em trên bến sông Tương
Thuyền nào không vượt trùng dương quay về
Đố em hạnh phúc tràn trề
Tình nào không ngọt cận kề ấm êm
Đố em những lúc về đêm
Ai cùng em sẽ ngồi xem sao trời
Đố em đi hết cuộc đời
Ai nhìn âu yếm nói lời yêu em ...


Đỗ Hữu Tài(Thế Thôi)

26.07.2014

Lương Xuân Việt - Người Mỹ Gốc Việt Đầu Tiên Thăng Chức Chuẩn Tướng



      Ông là con trai duy nhất trong gia đình có 7 chị em gái, họ đều thành công trên đất Mỹ. Ông còn thân mẫu năm nay 77 tuổi (2014) sinh sống tại Los Angeles, và thân phụ ông là cựu Thiếu tá Sư đoàn Thủy quân Lục chiến Quân lực Việt Nam Cộng hòa Lương Xuân Ðương, đã qua đời năm 1997 tại California. 

      Khi tới Mỹ vào năm 1975, cậu bé Lương Xuân Việt chưa đầy 10 tuổi và gia đình ông đã chọn thành phố Mountain View, California để sinh sống. Sau khi tốt nghiệp cử nhân sinh học và cao học (thạc sĩ) khoa học quân sự tại Đại học Nam California, ông tình nguyện vào quân đội, mang cấp bậc Thiếu úy Bộ binh, năm 1987 và được chọn vào danh sách sĩ quan hiện dịch. Ðồn trú tại Colorado, ông lần lượt giữ chúc vụ trung đội trưởng rồi đại đội phó Bộ binh. 

     Ông có khả năng chỉ huy và được đề bạt sang Sư đoàn 101 Biệt kích dù, lần lượt giữ các chức vụ đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng rồi lữ đoàn trưởng. Ông lần lượt giữ các chức vụ tác chiến cấp Trung đội, Đại đội, Tiểu đoàn, cũng như Tham mưu và Huấn luyện. Trước khi được thăng cấp Đại Tá và được bổ nhiệm vào chức vụ Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 3, Sư Đoàn 101 Không kỵ, ông đã làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 505 Bộ Binh Nhảy Dù Hoa Kỳ vào năm 2005 và chiến đấu tại chiến trường Iraq với cấp bậc Trung Tá để phục vụ "Chiến Dịch Người Iraq Tự do". 

      Thăng cấp Đại Tá, ông trở thành lữ đoàn trưởng cho chiến trường Afghanistan. Năm 2012, ông được cử về đại học Stanford để tham gia huấn luyện chính trị cao cấp.

      Ông được Chính Phủ và bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ thăng cấp bậc Chuẩn Tướng Lục quân quân đội Hoa Kỳ ngày 20 tháng 5 năm 2014 (chính thức tấn phong ngày 6 tháng 8 năm 2014), trở thành tướng Mỹ gốc Việt đầu tiên trong quân lực Hoa Kỳ. Chức vụ hiện tại của ông là Tư lệnh phó Sư đoàn Kỵ binh số 1 (Hoa Kỳ), phụ trách hành quân tác chiến


      Sáng ngày 6 tháng 8 năm 2014, lần đầu tiên trong quân sử Hoa Kỳ, một người Việt tị nạn được vinh thăng Chuẩn tướng.

      Ông là Đại tá Lương Xuân Việt, Phó tư lệnh đặc trách hành quân của Sư đoàn I Thiết kỵ. Chức vụ vừa được gắn lên chiếc nón Thiết kỵ đã đưa ông vào danh sách người Việt Nam đầu tiên vinh dự có tên trong hàng tướng lãnh Hoa Kỳ vốn là nơi xét duyệt một cách nghiêm ngặt chức vụ này trong quân đội của họ.

      Vinh quang của Chuẩn tướng Lương Xuân Việt cũng là niềm tự hào của người Việt tại Hoa Kỳ. Hàng trăm đồng hương đã lặn lội đến tận Cooper Field, tiểu bang Texas nơi tổ chức gắn lon cho ông để chia sẻ những gì mà một đứa con trong gia đình có đến bảy chị em gái, theo cha mẹ sang Mỹ lúc ông mới 10 tuổi. Cha ông là Thiếu tá Thủy quân lục chiến Quân lực VNCH và do đó ông đã thấm sâu ba chữ Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm.

      Trong bài phát biểu bằng tiếng Việt, Chuẩn tướng Lương Xuân Việt nhắc lại truyền thống này một cách tự hào và cũng không quên cám ơn đồng ngũ với cha của ông, người từng mang trên người trọng trách bảo vệ quốc gia như ông đang làm trong vai trò một tướng lãnh:

      "Nhìn những bộ quân phục lòng tôi thật bùi ngùi xót xa. Những người đã làm con tim tôi rung động vì ba chữ Danh dự, Trách nhiệm, Tổ quốc và những ý nghĩa của các câu dặn dò do cha ông để lại như. “Nam quốc sơn hà nam đế cư”… Chính là thân phụ tôi, đồng đội của các anh, vì vậy ngọn lửa trong tim tôi lúc nào cũng hướng về đất mẹ dù đã 30 năm xa cách. Không có sự hy sinh xương máu của các anh thì chúng tôi chắc chắn không có ngày hôm nay. Tổ quốc mãi mãi ghi ơn, vì vậy tôi xin các anh nhận cái chào của tôi!"


Yên Đỗ
Sưu tầm từ Internet.

Chủ Nhật, 10 tháng 8, 2014

Bông Hồng Cài Áo - Phạm Thế Mỹ - Chùa Hoằng Pháp



Nhạc: Phạm Thế Mỹ

Ca Dao Mẹ


Lẫn vào giữa tiếng mưa đêm
Lời ru của mẹ êm đềm đưa nôi
Gió rung phên lá bồi hồi
Như thương thân mẹ một đời gian nan

Ngược xuôi thân mẹ nhọc nhằn
Tháng năm chèo chuyến đò ngang một mình
Sóng trôi, thuyền mẹ chông chênh
Cánh cò thầm lặng giữa mông mênh đời

Đêm đêm cất tiếng ru hời
Thương con ngọt giọng à ơi dịu dàng
Lời êm như gió khẽ khàng
Như tay mẹ quạt mơn man giấc nồng

Bao lần xuân đến tàn đông
Bao lần than mẹ bão giông hao gầy
Thương sao vẫn tiếng ru này
Khao khao giọng đục lạc loài đêm sâu

Vẫn ca dao ấy… Ví dầu
Đường đời lắc lẻo bắc cầu con sang
Mẹ già như nắng chiều tàn
Mà lời ru mãi thênh thang giữa đời…

Trần Thị Dã Quỳ

Thơ Tranh : Câu Đối Vu Lan


Câu Đối : Huỳnh Hữu Đức
Thơ Tranh: Kim Oanh


Mùa Vu Lan Nói Chuyện Mâm Cơm Đôi Đũa.

      Tự ngàn xưa, không biết từ thuở nào, tổ tiên chúng ta đã ý thức việc thờ Trời. Chúng ta thấy các nhà ở thôn quê cũng như các tỉnh nhỏ, trước nhà thường có cái bàn ông Thiên. Ông Thiên là ông Trời. Mỗi đêm, thường là bà chủ nhà đốt vài nén hương, ra trước bàn Trời cầu nguyện cho cha mẹ, gia đình được bình yên, hưởng được nhiều lộc Trời:
           “Mỗi đêm mỗi thắp đèn Trời,
             Cầu cho cha mẹ sống đời với con.”
       Ngày xưa, Tồ tiên chúng ta đã biết kính sợ Trời, biết kêu cứu ông Trời mỗi khi hoạn nạn, giống như đứa trẻ mỗi lần gặp điều gì nguy hiểm thì gọi Cha.


        Theo Kinh Dịch, Trời nói về sự bắt đầu sinh ra, cho nên Âm ở trên Dương ở dưới. Ấy là cái nghĩa giao thái. Đất là nói về sự đã thành cho nên Dương ở trên, Âm ở dưới.
Các số lúc đầu chỉ là một âm, một dương. Tượng của Dương tròn, tượng của Âm vuông. Hình vẽ tròn, giống Trời, nghĩa là trời tròn mà xoay, bao bọc ngoài đất. Hình vẽ vuông giống đất, nghĩa là đất vuông mà đứng im, bị nhốt trong trời. Hình vẽ tròn là đạo Trời, có Âm có Dương. Hình vẽ vuông là đạo Đất, có cứng có mềm. 
Đạo Đất phải theo đạo Trời. Trời tròn, đất vuông.
Vì vậy khi đàn bà sắp sinh nở, người thân hay chúc phúc. “Chúc cho mẹ tròn con vuông.” Nhiều người cho câu chúc nầy lạ tai, vì không hiểu bốn chữ “mẹ tròn con vuông.” là gì? 
Đó là câu chúc hết sức tốt lành, là chúc cho mẹ con đều lành lặn, khoẻ mạnh, thuận theo ý muốn của Trời Đất.
        Chúng ta hãy đi vào chuyện mâm cơm. Tổ tiên chúng ta ngày xưa đã biết qua về Kinh Dịch nghĩ là Trời tròn, nên làm cái mâm hình tròn. Trên cái mâm được bày biện thức ăn, ý nghĩa của nó là các thức ăn trong mâm là lộc Trời ban cho. Có thể một số người đọc đến đây sẽ không đồng ý và nói rằng: “Chúng tôi phải làm việc đổ mồ hôi trên, mồ hôi dưới mới có tiền để nua thức ăn, thử không làm việc Trời nào mà cho?” 
Nói thế nghe cũng hợp lý nhưng nếu Trời không cho bạn được khoẻ mạnh thì sức đâu bạn làm việc để có thức ăn? 
Tổ tiên chúng ta biết được điều đó nên thường cầu Trời để có miếng ăn.
         “Lạy Trời mưa xuống
           Lấy nước tôi uống
           Lấy ruộng tôi cày
           Lấy đầy bát cơm
           Lấy rơm đun bếp.”

         Uống nước Trời, ăn hạt cơm Trời nhưng thử hỏi trong chúng ta có ai biết nói tiếng cám ơn Trời không? Và trong ngày, chúng ta dành bao nhiêu phút để cám ơn Trời đã giữ gìn chúng ta trong đôi tay bình yên của Ngài. Làm việc gì thất bại, chúng ta hay than Trời. Bị vợ đánh cho một bạt tay thì ôm đầu máu kêu Trời, nhưng những lúc vui vẻ, cơm no bò cỡi thì chẳng nhớ ông Trời ở đâu.
          Các bạn hãy làm thử xem.
        Trước khi ăn cơm, các bạn hãy nói câu: “Cám ơn Trời đã cho con một bữa cơm ngon.” hoặc những người lớn tuổi thử nói rằng: “Cám ơn Trời cho con khoẻ mạnh để ăn còn biết ngon.” Các bạn thử xem! Tôi nghĩ, không ai chê cười các bạn đâu. Đôi khi người ta còn nghĩ bạn không phải là một kẻ vô tình, biết sống xứng đáng với lượng bao dung của Trời Đất.

        Trở lại chuyện mâm cơm, nhìn mâm cơm, chúng ta thấy được trách nhiệm của người chồng cũng như người vợ trong gia đình. Chồng làm việc vất vả để có tiền mua thực phẩm, vợ ở nhà chế biến thực phẩm thành những món ăn ngon miệng cho cả gia đình cùng ăn vì vậy chúng ta hay nói “của chồng công vợ.” 
          Vợ chồng sống phải biết thương yêu nhau, có trách nhiệm với nhau, chia sẻ gánh nặng hay niềm vui nỗi buồn với nhau để hằng ngày vợ chồng con cái quây quần bên mâm cơm hưởng lộc Trời cho. Thật là hạnh phúc!  
          Trong gia đình tôi có lần thằng con trai sắp lập gia đình, hỏi:
“Ba dạy, muốn gia đình hạnh phúc thì vợ chồng phải biết nhường nhịn nhau. Thí dụ, chồng nóng thì vợ phải nguội, còn vợ nóng thì chồng nguội. Còn con vợ nóng hoài thì mình làm sao đây?
           “Thì con phải nguội hoài chớ sao?
             Thằng con còn trẻ, tính tình nóng nảy, phản đối:
           “Vậy đâu được ba?”
           “Sao không được. Ở nước Mỹ, nổi nóng, đánh đàn bà là cảnh sát còng tay cho.”
           Thằng con bất mãn, hỏi:
           “Thế không có giải pháp nào bảo vệ đàn ông sao?’’
           “Sao không? Chuá tạo cho con cặp giò để làm gì?”
           “Để chạy hả ba?”
           “Còn phải hỏi!”
            Từ đó thằng con bỏ ý định cưới vợ.
          Bây giờ chúng ta hãy bàn qua đôi đũa. Chúng ta thử nghĩ, nếu ngày xưa ông bà chúng ta dùng đũa chỉ có một chiếc thì việc lấy thức ăn vào chén không phải dễ và dùng một chiếc đũa đưa thức ăn vào miệng cũng khó vô cùng nên ông bà chúng ta phải dùng hai chiếc đũa, tức là đôi đũa để gắp thức ăn cho dễ.


          Đôi đũa cũng tượng trưng cho đôi vợ chồng. “Vợ chồng như đũa có đôi”. Đũa lúc nào cũng có đôi, thì vợ chồng lúc nào cũng như hình với bóng, sống thỉ chung với nhau cho đến lúc chết. Vợ chỉ biết có chồng và chồng khi ra đường gặp gái đẹp thì phải mau mau nhắm mắt lại đưa tay cho vợ dẫn đi thì gia đình mới được êm ấm.

         Qua bên Mỹ nầy chúng ta thấy bao nhiêu người đã già vẫn còn bước thêm bước nữa. Té lên té xuống cũng không tởn, té xong, lồm cồm ngồi dậy bước nữa.
Nhiều bà mồm miệng đã móm sọm, mấy ông nha sĩ thấy đã lắc đầu nhưng vẫn mò lên internet tìm bạn bốn phương, email qua lại tìm chồng cho đỡ cô đơn. Về với nhau rồi, đêm đêm chỉ còn biết nhìn nhau thở dài. “Than ơi! Thời oanh tạc nay còn đâu!” Mồm miệng móm sọm, muốn cạp cũng chẳng còn răng để cạp, có ráng cũng chẳng nên cơm cháo gì, cùng lắm đưa lưng ra gãi vần công cho đỡ ngứa, đỡ buồn. Nửa đêm thức giấc, quay qua bên cạnh, thấy một bà già đang nằm ngủ, dáng nằm như con tôm, mặt mũi nhăn nheo, miệng thở phì phò hôi hám, nước dãi trong miệng chảy ra. Hình ảnh trông chẳng đẹp mắt chút nào nhưng cũng tạm yên lòng ngủ tiếp. Còn nửa đêm thức giấc thấy mình trơ thân cụ trên chiếc giường rộng, đôi khi buồn quá không ngủ tiếp được.
         Nhà thơ Anh Vân đã từng than thở:
          “Ta sợ lắm những đêm dài trăn trở
            Đời vắng em giấc ngủ cũng đeo sầu.”
         Có lẽ vì hoàn cảnh:
        “Nàng ở Melbourne,
         Ta ở đây
          Xa nhau cách khoảng
         Trời mây chập chùng.” 
         Nên chàng mới có cảm hứng làm câu thơ trên.
         Hoàn cảnh nghe ra thật đáng ngậm ngùi. Yêu nhau nhưng chẳng được gần nhau, ai lại chẳng buồn. Với chàng thì:
          “Đêm nằm tơ tưởng bâng khuâng
           Chiêm bao thấy bậu, lâng lâng cõi lòng.”  
          Còn phần nàng:
         “Đêm nằm tơ tưởng, tưởng tơ,
           Chiêm bao thì thấy, dậy sờ thì không”
         Tội nghiệp thì thôi!
          Vì sợ buồn, sợ cô đơn nên mới có cảnh:
        “Bà già đi chợ Cầu Đông,
          Bói xem một quẻ, lấy chồng lợi chăng
         Ông thầy xem quẻ nói rằng
          Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn.”
       Răng chẳng còn thì húp cháo mà sống nhưng sống “cu ky” một mình quả tình buốn lắm nên những người goá vợ, mất chồng thường tìm đến với nhau cho đũa có đôi, cho đời sống bớt đi những khó khăn, buồn thảm. Trường hợp nầy gọi là góp gạo thổi cơm.

        Đàn bà rất quan trọng trong đời sống người đàn ông. Chúng ta thấy sự thành công hay thất bại trong gia đình phần lớn do người vợ biết khuyến khích và chia sẻ gánh nặng với chồng. Một nhà tư tưởng nào đã nói: “Sau lưng một ông chồng thất bại, tất có một bà vợ cà chớn.
         Các bạn muốn biết sự lợi hại của đàn bà ra sao không?
         Một ông bác sĩ dẫn ông Giám Đốc bịnh viện tâm thần đi thăm viếng bịnh nhân. Ông Giám Đốc chỉ một người đàn ông đang ngồi ủ rũ, hỏi:
         “Anh nầy tại sao điên?”
        “Thưa, bị vợ bỏ.”
         Ông Giám Đốc chỉ tay vào một bệnh nhân khác đang nhảy múa ở góc phòng, hỏi tiếp:
       “Còn anh kia, tại sao điên?”
        Vị bác sĩ đáp”
        “ Thưa, người vợ bỏ anh nầy và lấy anh kia.”
        Vì vậy khi chọn vợ, chúng ta hãy cầu xin ý Trời trước rồi hãy quyết định.
       Đũa chỉ có một chiếc, gắp thức ăn sẽ gặp khó khăn, trở ngại. Loài người sống một mình cũng sẽ gặp những khó khăn tương tự.
        Trong Kinh Thánh, sách Sáng Thế Ký có câu: “Giê-hô-va Đức Chuá Trời phán rằng: Loài người sống một mình thì không tốt, ta sẻ làm một kẻ giúp đỡ giống như nó.”(Sáng Thế Ký 2: 17)
         Đũa phải có đôi, loài người phải có vợ có chồng, đời sống sẽ dễ dàng hơn.
        Những gia đình thành công thường là gia đình có những cặp vợ chồng biết thương yêu nhau, đoàn kết nhau. Tránh cảnh, ông nói, ông nghe, bà nói, bà nghe. Ông bà cùng nói cho lối xóm nghe, thì trước sau gì cũng sập tiệm.
         Đôi đũa tốt phải có những yếu tố sau đây:
        1- Cùng tính chất:
        Nhà giàu ăn đũa ngà, trung lưu ăn đũa gỗ, gỗ mun, gỗ đước, nhà nghèo ăn đũa tre nhưng loại đũa nào cũng vậy, phải cùng một tính chất. Đũa ngà thì cả hai chiếc phải bằng ngà. Không ai dùng một chiếc đũa ngà, một chiếc đũa tre.
        a- Vợ chồng cũng thế, muốn sống hạnh phúc, vợ chồng cần có trình độ hiểu biết tương đương để dễ hiểu nhau, tránh cảnh trống đánh xuôi, kèn thổi ngược. Nếu gặp phải người vợ ít học thì vợ phải biết vâng lời chồng.
        b- Một thể chất khoẻ mạnh tương đương. Ông bà chúng ta có câu: “tốt mái hại trống.” hay “khoẻ trống hỏng mái.” Người đàn bà mạnh quá trong khi ông chồng yếu xìu, kim đồng hồ cứ chỉ sáu giờ mà đêm nào bà vợ cũng bán giấy ép, đòi ông chồng phải đóng thuế đầy đủ thì chỉ còn nước kêu ambulance chở ông chồng vào nhà thương hay ngược lại ông chồng khoẻ quá, bà vợ yếu quá thì bà vợ cũng sớm khăn gói vào nghĩa địa nằm dưỡng thương. 
         2- Ngay thẳng:
         Đôi đũa cả hai chiếc phải ngay thẳng thì việc gắp thức ăn mới dễ dàng. Đạo vợ chồng cũng vậy, sống phải ngay thẳng, thật thà với nhau thì tình vợ chồng mới bền bĩ. Sống mà đêm đêm vợ chồng phải chịu cảnh đồng sàng dị mộng thì còn nỗi khổ nào hơn.
         “Đêm nằm vuốt bụng thở dài
           Nhớ chồng thì ít, nhớ trai thì nhiều.”
        Lâm vào trường hợp nầy thì trước sau gì, đầu của ông chồng cũng mọc cả chục cái sừng, và cái cảnh “vợ nhà thương, chồng khám lớn” có thể sẽ xảy ra.
          3- Một đời sống tâm linh giống nhau.
          Vợ chồng cùng đời sống tâm linh thật khó có hạnh phúc nào bằng. Bằng không sẽ có chuyện tranh cãi: ‘Đạo ông là chính giáo, đạo bà là tà giáo hay ngược lại.
           Người viết bài nầy từng chứng kiến nhiều lần cảnh mỗi buổi tối, gia đình gồm vợ chồng con cái hiệp nhau cầu nguyện và cám ơn Trời đã đổ ơn phước xuống gia đình họ và giữ gìn họ trong đôi tay bình yên của Ngài. Thật là cảm động!
           Mùa Vu Lan nói lan man chuyện mâm cơm đôi đũa cho thấy tổ tiên chúng ta đã dạy con cháu phải biết ơn Trời, phải biết cầu nguyện ông Trời để có miếng ăn, để cả gia đình được sống bình an. 
           Ông Trời gần gũi với dân tộc của chúng ta lắm nhưng tiếc rằng tổ tiên chúng ta đã không đi xa hơn để biết ông Trời là ai. Vậy quý bạn đọc muốn biết Ông Trời là ai chăng?
          Xin thưa, đó là Đức Chuá Trời của chúng ta đó, Đấng đã tạo ra vũ trụ và loài người. Nếu quý vị nào đọc xong bài nầy và có ý muốn tốt, muốn tìm hiểu Đức Chuá Trời là ai, xin tìm đến bất cứ Hội Thánh Tin Lành nào, sẽ có người cung cấp tài liệu cho quý vị
          Muà Vu Lan, kẻ viết bài nầy xin kính chúc tất cả quý đồng hương ở hải ngoại hưởng được nhiều ơn phước Chúa.

Quách Tố Vương ( Anh Vân )
Mùa Vu Lan 2009


Cha Mẹ Về Đâu


Còn Cha Mẹ tràn đầy nhựa sống
Chung một lòng chống đỡ gian nguy
Tuy cách xa tâm hướng quê nhà
Huyên thuyên kể mặn mà yêu thương

Tình thủ túc trưởng huynh dìu dắt
Đàn em thơ thắt chặt vòng tay
Dựng xây khuôn phép ngay từ nhỏ
Noi gương mình chăm khó học ngoan

Ngôi nhà xưa nặng tình đoàn kết
Dịp Tết về tâm sự đầy vơi
Vui lây mừng Cha Mẹ lệ rơi
Giọt nồng ấm tràn đời hạnh phúc

Ơn Mẹ Cha chăm lo từng chút
Vẹn toàn con những lúc chiến tranh
Công danh sự nghiệp sống an lành
Thành đạt ấy công lao trời biển

Đời Mẹ Cha rồi cũng quy tiên
Bước cùng nhau về cõi thiên đường
Giật mình lại cảnh vườn xôn xao
Các con vội thay màu nhà cũ

Tại Mẹ Cha rủ rê sớm mất
Làm các con sanh tật đổi thay
Tình cốt nhục phai dần năm tháng
Giành giựt lời nặng nhẹ đáng chê

Bức tranh "Yêu" là nỗi ê hề !
Ta về lại tô màu nguyên thủy
Đơn giản lời thủ thỉ ngày xưa
Vui biết mấy! Nhà tranh vừa Tết!

Pleiku 15-8-2011

Lê Kim Hiệp

Dưới Chân Tòa Sen Vàng - Dương Thượng Trúc


Sáng Tác & Trình Bày: Dương Thượng Trúc

Chiều Quê


Gió chiều lắc mạn thuyền nan
Hắt hiu khói nhạt quyện hàng cau thưa
Thoảng mùi cỏ dại hương xưa
Tiếng còi mục tử vọng đưa điệu buồn
Bìm bịp gọi nước về nguồn
Đàn cò mỏi cánh cuối đường bay xa
Rầu rầu tiếng nhái ngắt nga
Dừa nghiêng xoả lá la đà bên sông
Mái đình u ẩn rêu phong
Hàng dầu trước ngõ rụng bông bên thềm
Chiều qua Phú Hữu êm đềm
Rạch Bàng, Ngã Bát sương đêm khuất dần.

Lê Kim Thành


Phú Hữu thuộc Xã Trung Ngãi Quận Vũng Liêm, Tỉnh Vĩng Long (quê Nội tôi)
Rạch Bàng, Ngã Bát thuộc Xã Đức Mỹ, Quận Càng Long, Tỉnh Vĩnh Bình(quê Ngoại tôi)

Thoại Ca Xanh Sáu Tám Hai


Suối trời ngọt nước tình chung
Hồn thơm dấu vết bướm hồng tháng xưa
Dung nhan đồng tóc thêu mùa
Nai sầu lạc dốc phân bua trăm miền
Môi che bão gió muộn phiền
Anh về chiêm ngưỡng - chiều lên hoa hường
Hẹn hò trong buổi máu xương
Nhìn nhau hiu hắt lệ vương vấn buồn.

Phạm Hồng Ân