Hiển thị các bài đăng có nhãn Ôn Đình Quân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ôn Đình Quân. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 27 tháng 3, 2025

Mộng Giang Nam Kỳ 2 夢江南其二 - Ôn Đình Quân (Vãn Đường)

(Từ)

Ôn Đình Quân (溫庭筠, 812-870), vốn tên Kỳ (岐), tự Phi Khanh (飛卿); là nhà thơ, và là nhà làm từ Trung Quốc thời Vãn Đường.

Ôn Đình Quân là người đất Kỳ, phủ Thái Nguyên (nay là huyện Kỳ, tỉnh Sơn Tây), là cháu nội của Ôn Ngạn Bác, tể tướng triều Đường Cao Tông.

Ông thông minh, giỏi văn thơ, âm nhạc; nhưng dung mạo xấu xí và có tính phóng đãng. Ông “thường cùng bọn con em vô lại các nhà quý tộc ra vào nơi ca lâu, rượu chè, bài bạc, say đắm nữ sắc, vì thế bị các sĩ đại phu đương thời khinh rẻ, suốt đời không đỗ được tiến sĩ”.

Có một thời, ông hay lui tới nhà quan tướng quốc Lệnh Hồ Đào (con Lệnh Hồ Sở), nhưng sau vì việc riêng, Hồ Đào đâm ra ghét ông.

Đến khi người ông quen là Từ Thương đi trấn giữ Tương Dương, ông được theo làm tuần quan, nhưng rồi vì bất đắc chí, ông xin thôi chức để sống đời phiêu lãng.

Mãi đến khi tuổi đã cao, đời vua Đường Tuyên Tông, ông mới nhận làm chức úy ở Phương Thành, rồi đổi sang huyện Tùy. Năm 866, ông được cử làm chủ thí, cuối cùng Quốc tử trợ giáo. Sau, ông lại bỏ chức, từ giã kinh thành Trường An, đi lưu lạc giang hồ cho đến khi mất.

Trước đây, người ta thường coi Lý Thương Ẩn và Ôn Đình Quân là hai nhà thơ cùng một phái, và gọi là “Ôn Lý”. Song, theo các nhà nghiên cứu văn học gần đây, thì gọi như thế có phần không chính xác, vì phong cách nghệ thuật của hai ông rất khác nhau. Về thành tựu thơ ca, Ôn Đình Quân còn kém xa Lý Thương Ẩn, vì thơ ông có phần “phù phiếm, nông cạn, thiếu những tình cảm chân thành”; nhưng nói về từ thì ông có nhiều bài rất đặc sắc. Từ của Ôn Đình Quân hiện còn hơn 70 bài trong Kim thuyên tập, nội dung hầu như đều viết về phụ nữ, về những mối sầu tương tư; và lấy màu sắc nồng đượm, lời lẽ hoa mỹ, tạo thành phong cách “thơm tho mềm mại, tràn ngập hương vị son phấn” của riêng ông. Phong cách này có ảnh hưởng đến các nhà làm từ đời sau, hình thành “Phái trong hoa” (Hoa gian phái) mà ông được tôn vinh là người đứng đầu.

Cho nên khi nói về từ đời Đường, học giả Nguyễn Hiến Lê cũng đã có lời khen ngợi từ của ông như sau:

Từ Ôn Đình Quân rất diễm lệ, lại sáng tác được nhiều điệu mới, ảnh hưởng đến đời sau rất nhiều. Ông đứng đầu trong nhóm từ gia có tác phẩm chép trong bộ “Hoa gian tập”. Ông chiếm một địa vị đặc biệt ở giữa cái thời thơ suy mà từ thịnh.

Tác phẩm của ông có Hán Nam chân cảo và Ác Lan tập, song đều tán lạc không còn nhiều.
(Trích trong Thi Viện)


Nguyên tác Dịch âm

夢江南其二 Mộng Giang Nam kỳ 2.

梳洗罷 Sơ tẩy bãi,

獨倚望江樓 Độc ỷ Vọng Giang lâu.
過盡千帆皆不是 Quá tận thiên phàm giai bất thị,
斜暉脈脈水悠悠 Tà huy mạch mạch thuỷ du du,
腸斷白蘋洲 Trường đoạn bạch tần châu.

Chú giải

梳 sơ: cái lược, chải đầu.
洗 tẩy: giặt, rửa (mặt).
罷 bãi: ngừng; xong; bãi bỏ.
帆 phàm: buồm thuyền.
洲 châu: bãi; cù lao; châu lục.

Dịch từ

Mộng Giang Nam kỳ 2

Chải đầu xong,

Ngồi tựa Vọng Giang lầu.
Ngắm cả ngàn buồm đều chẳng phải,
Tà dương lãng đãng nước nao nao.
Ruột đứt cỏ tần đau!

Lời bàn

Đây là kỳ 2 trong một cụm hai bài từ tả tâm trạng của một kẻ thất tình ngóng người yêu biệt tăm (Xem kỳ 1: LTCD thế kỷ 21 số 707). Bài từ có 5 câu, làm theo điệu Mộng Giang Nam kỳ 2; ngôn từ kỳ này cũng lãng mạn và ai oán như kỳ 1.
Đại ý của toàn bài: chải đầu xong, một mình ngồi tựa lầu ven sông ngắm cả ngàn thuyền mà không thấy thuyền của người yêu, chỉ thấy ánh tà dương nao nao và cỏ tần trắng xóa (ví với tóc mình đã bạc như cỏ tần); đau đứt ruột.

 Con Cò
***
Xong Tắm Gội.

Một bóng tựa lầu sông,
Ngắm cả ngàn buồm sao chẳng thấy.
Chiều buông lặng lẽ nước mênh mông.
Nát dạ bãi tần trông.

Mỹ Ngọc phỏng dịch.
Mar. 15/2025.
***
***
Nhớ Giang Nam kỳ 2

Điểm trang đơn giản cho xong
Lên sân thượng ngắm con sông lững lờ
Ghe thuyền tấp nập hai bờ
Ở đâu thuyền mộng đợi chờ ngóng mong?
Nắng chiều êm ái thong dong
Đau lòng đứt ruột chợt trông Bạch Tần

Thanh Vân
***
Sơ Chải Gội.

Ngắm sông, dựa trên lầu
Nhìn hết ngàn thuyền đều chẳng phải
Chiều buông hiu hắt nước lao xao
Đứt ruột Bạch Tần châu!

Sơ trang cô quạnh dựa lầu cao
Ngàn thuyền soi hết bóng chàng đâu?
Hắt hiu chiều xuống mênh mông nước
Sầu dâng đứt ruột Bạch Tần châu!

Lộc Bắc
***
Mộng Giang Nam Kỳ 2

Tóc chải y thay phấn điểm trang
Lầu cao mong ngóng bóng tình lang
Tà huy hấp hối trôi trên nước
Dõi mắt ngàn dâu chẳng thấy chàng

Kiều Mộng Hà
March.21.2025
***
Đúng như ÔC nói, bài này cũng tả nỗi lòng của người thiếu phụ đợi chồng hay người yêu.

Câu 1:
Sơ là cái lược hay chải đầu.
Tẩy là giặt, rửa.
Bãi là xong, hết.

Vậy Sơ Tẩy Bãi là Gội Đầu Xong có lẽ hợp lý hơn là chải đầu, vì thiếu chữ tẩy không dịch.

Câu 2: một mình ngồi tựa lầu Vọng Giang.
Câu 3: qua hết cả ngàn cánh buồm mà không đúng cái của chàng.
Câu 4:
Tà huy là lúc chiều tàn, hoàng hôn.
Mạch là đường máu chảy, như động mạch. Mạch mạch là nhìn đăm đăm.

Du là nhớ những, xa xôi, lo buồn. Du du là lo lắng, bối rối, xa dằng dặc, thăm thẳm. (Tống quân khứ hề tâm du du, đưa chàng lòng dằng dặc buồn, trong Chinh Phụ Ngâm.). Câu tà huy mạch mạch thủy du du, BS hiểu là lúc chiều tàn, nàng nhìn đăm đăm trên sông, thấy nước trôi xa dằng dặc.

Câu 5:
Tần là một loại rau. Tần châu là bãi có rau tần. Rau tần trắng xóa làm nàng đau lòng đến đứt ruột…

Gội Đầu Xong,

Mình tựa Vọng giang lâu,
Ngàn cánh buồm qua chẳng thấy đâu,
Chiều tàn, nhìn nước trôi dằng dặc,
Đứt ruột trắng tần châu.


Đầu gội vừa xong chợt thấy sầu,
Một mình ngồi tựa Vọng giang lâu,
Ngàn cánh buồm qua mà chẳng thấy
Chiều tàn dằng dặc nước trôi mau,
Đứt ruột rau tần đà trắng bãi,
Bao giờ mình mới gặp lại nhau.

Dịch kiểu này rõ ý hơn, vì BS thêm một câu, thôi thì xin lỗi tác giả và độc giả.

Bát Sách.
(Ngày 17/03/2025)
***
Mộng Giang Nam Kỳ 2 - Ôn Đình Quân

夢江南其二 - 溫庭筠

Bài từ này có tựa nguyên thủy là Mộng Giang Nam 夢江南 đăng trong sách thời Đường. Các sách thời Minh Thanh đổi tựa là Ức Giang Nam 憶江南, nên chỉ có từ phổ dưới tựa này. Điển hình là bài Ức Giang Nam của Bạch Cư Dị. Bài có 27 chữ, 5 câu, ngắn dài khác nhau, câu 2, 4 và 5 vần bằng, có mộc bản trong các sách:

Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐詩-清-聖祖玄燁
Hoa Thảo ? Biên - Minh - Trần Diệu Văn 花草稡編-明-陳耀文
Hoa Gian Tập - Đường – (Hậu Thục) Triệu Sùng Tộ 花間集-唐-(後蜀) 趙崇祚
Từ Tống - Thanh - Chu Di Tôn 詞綜-清-朱彝尊


Luật thanh:

Phiên âm:

Nguyên tác:

Khâm phổ

BXT

XTTBBv
XTXBBTT
XBBTTBBv
BTTBBv

Long phổ

BXT

XTTBBv
XTXBBTT
XBXTTBBv
XTTBBv

Ức Giang Nam Kỳ 2

Sơ tẩy bãi

Độc ỷ vọng giang lâu
Quá tận thiên phàm giai bất thị
Tà huy mạch mạch thủy du du
Trường đoạn bạch Tần Châu

夢江南其二

梳洗罷

獨倚望江樓
過盡千帆皆不是
斜暉脈脈水悠悠
腸斷白蘋洲

Chú thích: X: thanh không bắt buộc B: thanh bằng bắt buộc
T: thanh trắc bắt buộc Bv: thanh bằng vần
Khâm phổ chỉ khác Long phổ ở chữ 3 câu 4 và chữ 1 câu 5.

Ghi chú:

Mộng Giang Nam: nguyên là tên bài hát của Giáo Phường thời Đường, sau được được dùng chỉ một từ điệu; nhà Thanh đổi tên là Ức Giang Nam
Sơ tẩy: chải tóc, rửa mặt, trang điểm và các hoạt động hàng ngày khác của phụ nữ.
Giang lâu: tháp nằm cạnh bờ sông, vọng giang lâu:
Thiên phàm: ngàn cánh thuyền buồm
Giai: trạng từ, tất cả
Bất thị: không hẳn
Tà huy: ánh sáng nghiêng, ánh nắng chiều trước khi mặt trời lặn
Mạch mạch: nhìn nhau đăm đăm, yên lặng dịu dàng trìu mến, thường được dùng để bộc lộ cảm xúc
Du du: liên tục, không đạt yêu cầu
Trường đoạn: đứt ruột, diễn tả nỗi buồn và đau khổ tột cùng
Bạch (bình): cỏ nổi trên mặt nước, màu trắng. Vào thời xa xưa, nam nữ thường hái hoa bình làm quà chia tay.
Châu: vùng đất gần nước
Bạch Tần Châu: địa danh, tên một đảo trên sông Lô

Dịch nghĩa:

Ức Giang Nam Kỳ 2 Nhớ Giang Nam Kỳ 2

Sơ tẩy bãi Trang điểm qua loa xong

Độc ỷ vọng giang lâu Một mình lên lầu nhìn ra sông
Quá tận thiên phàm giai bất thị Hơn ngàn con thuyền đi qua nhưng không thấy thuyền mong đợi
Tà huy mạch mạch thủy du du Nắng chiều dịu dàng, nước chảy triền miên
Trường đoạn Bạch Tần Châu Buồn đứt ruột nhìn thấy Bạch Tần Châu.



Sau khi trang điểm, một mình nàng lên lầu nhìn dòng sông. Hàng ngàn con thuyền đi qua, nhưng người nàng mong chờ vẫn không xuất hiện. Ánh nắng mặt trời chiếu rọi xuống dịu dàng và dòng sông vẫn chậm rãi trôi. Nỗi nhớ nhung càng ray rứt khi nàng nhìn xa thấy Bạch Tần Châu.

Khâm phổ:

BXT

XTTBBv
XTXBBTT
XBBTTBBv
BTTBBv

Phiên âm:

Ức Giang Nam Kỳ 2

Sơ tẩy bãi

Độc ỷ vọng giang lâu
Quá tận thiên phàm giai bất thị
Tà huy mạch mạch thủy du du
Trường đoạn bạch Tần Châu

Điền từ:

Nhớ Giang Nam 2

Trang điểm nhã

Đơn độc bước lên lầu
Nhìn thấy ngàn thuyền nguời chẳng thấy
Nắng chiều êm dịu nước trôi mau
Đứt ruột thấy Tần Châu.

Chú thích: X: thanh không bắt buộc B: thanh bằng bắt buộc
T: thanh trắc bắt buộc Bv: thanh bằng vần

Dịch thơ:

Nhớ Giang Nam 2

Trang điểm vừa xong bước đến lầu,
Ngàn thuyền qua lại thấy chàng đâu.
Nắng chiều êm dịu trên dòng nước,
Đứt ruột nhìn xa chỉ bãi dâu.

Phí Minh Tâm
***

 Góp ý:


Tựa đề 夢江南=Mộng Giang Nam

Đoàn An Tiết (段安节), rể của Ôn Đình Quân, nghiên cứu về âm nhạc và viết cuốn 樂府雜錄=Nhạc Phủ Tạp Lục nói về nguồn gốc của cổ nhạc, ngũ âm luân (五音輪) và nhị thập bát điệu đồ (二十八調圖, những loại nhạc dùng trong triều đình), tên hiệu và giai thoại về những ca kỷ. v.v... Rất tiếc là tác phẩm nguyên thủy với hình ảnh và lời diễn tả nhạc điệu đã thất truyền nên người đời sau có rất ít dữ kiện về nhạc thời Đường. Trong cuốn sách đó, họ Đoàn cho ta biết rằng tên đầu tiên của từ bài Mộng Giang Nam là Tạ Thu Nương (謝秋娘) và đến từ một câu trong bài từ do Lý Đức Dụ (李德裕, tể tướng thời Đường) viết cho ca kỷ Tạ Thu Nương. Bài từ có thêm nhiều tên về sau tùy theo một câu nào đó trong bài từ do các thi nhân viết: Ức giang nam, Giang nam hảo với Bạch Cư Dị; Xuân khứ dã với Lưu Vũ Tích; Vọng giang lâu với Ôn Đình Quân (rồi thành Vọng giang nam); Mộng giang nam hay Mộng giang khẩu với Hoàng Phủ Tùng; An Dương hảo với Vương An Trung; Mộng tiên du với Trương Tư; Bộ hư thanh với Thái Chân Nhân; ngoài ra còn có các tên Hồ san hảo, Vọng bồng lai, Quy tắc bắc. Thế có nghĩa rằng cho dù các bài từ đó có tựa đề khác nhau, chúng vẫn phải theo đúng âm vận của một bài nhạc nguyên thủy.

Huỳnh Kim Giám

Thứ Hai, 1 tháng 5, 2023

Bồ Tát Man Kỳ 7 菩薩蠻其 7- Ôn Đình Quân (Vãn Đường)


(Từ) 

Ôn Đình Quân (溫庭筠, 812-870), vốn tên Kỳ (岐), tự Phi Khanh (飛卿); là nhà thơ, và là nhà làm từ thời Vãn Đường. Ông là người đất Kỳ, phủ Thái Nguyên (nay là huyện Kỳ, tỉnh Sơn Tây), là cháu nội của Ôn Ngạn Bác, tể tướng triều Đường Cao Tông.

Ông thông minh, giỏi văn thơ, âm nhạc ; nhưng dung mạo xấu xí và có tính phóng đãng. Ông thường cùng bọn con em vô lại các nhà quý tộc ra vào nơi ca lâu, rượu chè, bài bạc, say đắm nữ sắc, vì thế bị các sĩ đại phu đương thời khinh rẻ, suốt đời không đỗ được tiến sĩ.

Có một thời, ông hay lui tới nhà quan tướng quốc Lệnh Hồ Đào (con Lệnh Hồ Sở), nhưng sau vì việc riêng, Hồ Đào đâm ra ghét ông.

Đến khi người ông quen là Từ Thương đi trấn giữ Tương Dương, ông được theo làm tuần quan, nhưng rồi vì bất đắc chí, ông xin thôi chức để sống đời phiêu lãng.

Mãi đến khi tuổi đã cao, đời vua Đường Tuyên Tông, ông mới nhận làm chức úy ở Phương Thành, rồi đổi sang huyện Tùy. Năm 866, ông được cử làm chủ thí, cuối cùng làm Quốc tử trợ giáo. Sau, ông lại bỏ chức, từ giã kinh thành

Trường An, đi lưu lạc giang hồ cho đến khi mất.Trước đây, người ta thường coi Lý Thương Ẩn và Ôn Đình Quân là hai nhà thơ cùng một phái, và gọi là “Ôn Lý”. Song, theo các nhà nghiên cứu văn học gần đây, thì gọi như thế có phần không chính xác, vì phong cách nghệ thuật của hai ông rất khác nhau. Về thành tựu thơ ca, Ôn Đình Quân còn kém xa Lý Thương

Ẩn, vì thơ ông có phần “phù phiếm, nông cạn, thiếu những tình cảm chân thành”; nhưng nói về từ thì ông có nhiều bài rất đặc sắc. Từ của Ôn Đình Quân hiện còn hơn 70 bài trong Kim thuyên tập, nội dung hầu như đều viết về phụ nữ, về những mối sầu tương tư; và lấy màu sắc nồng đượm, lời lẽ hoa mỹ, tạo

thành phong cách “thơm tho mềm mại, tràn ngập hương vị son phấn” của riêng ông. Phong cách này có ảnh hưởng đến các nhà làm từ đời sau, hình thành “Phái trong hoa” (Hoa gian phái) mà ông được tôn vinh là người đứng đầu.

Cho nên khi nói về từ đời Đường, học giả Nguyễn Hiến Lê cũng đã có lời khen ngợi từ của ông như sau:

Từ Ôn Đình Quân rất diễm lệ, lại sáng tác được nhiều điệu mới, ảnh hưởng đến đời sau rất nhiều. Ông đứng đầu trong nhóm từ gia có tác phẩm chép trong bộ “Hoa gian tập”. Ông chiếm một địa vị đặc biệt ở giữa cái thời thơ suy mà từ thịnh.
Tác phẩm của ông có Hán Nam chân cảo và Ác Lan tập, song đều tán lạc không còn nhiều. 

Bài Bồ tát man kỳ 7 là một trong 14 bài trích từ Bồ Tát Man chú giải - Ôn Đình Quân 

HHD

***

Nguyên tác     Dịch âm 

菩薩蠻其7     Bồ Tát Man Kỳ 7 

鳳凰相對盤金縷     Phụng hoàng tương đối bàn kim lũ,
牡丹一夜經微雨     Mẫu đơn nhất dạ kinh vi vũ.
明鏡照新妝     Minh kính chiếu tân trang,
鬢輕雙臉長     Mấn khinh song kiểm trường.
畫樓相望久     Họa lâu tương vọng cửu,
欄外垂絲柳     Lan ngoại thùy ty liễu.
音信不歸來     Âm tín bất quy lai,
社前雙燕回     Xã tiền song yến hồi.

Chú giải: 

- Bồ tát man 菩薩蠻: tên từ điệu.  Thể từ Bồ Tát Man có 8 câu, 44 chữ, 2 câu thất ngôn và 6 câu ngũ ngôn. Từng cặp câu vần trắc vần với nhau và từng cặp thơ vần bằng cũng vần với nhau. 
Phụng hoàng 凤凰: chim phụng và chim hoàng.
- Bàn thác 盤錯: vòng vo rắc rối, chỉ sợi thêu xuyên qua xuyên lại. Bàn tú 盤绣 là 1 kiểu thêu của người dân tộc thiểu số ở Thanh Hải, Tân Cương, TH.
- Kim lũ 金缕: sợi vàng hay sợi tơ mầu vàng.
- Mẫu đơn 牡丹: hoa mẫu đơn, chỉ người trang điểm mỹ lệ. Có người cho rằng 2 câu 1 và 2 có liên quan với nhau vì thành ngữ "Phụng hoàng mẫu đơn"t; chỉ những hình vẽ, hình thêu hoa điểu trên quần áo vải vóc. Do đó hoa mẫu đơn ở câu 2 cũng chỉ là hình thêu.
- Tân trang 新妝: mới trang điểm.
- Mấn khinh 鬢輕: tóc mỏng, tóc thưa.
- Song kiểm trường 雙臉長: hai bên má gầy guộc, chỉ bộ mặt gầy guộc.
- Họa lâu 画楼: nhà lầu hoa lệ.
- Âm tín 音信: tín tức. Có bản khác chép ý tín.
- Xã 社: ngày xưa chỉ thổ thần. Ở đây chỉ ngày lễ tế thổ thần còn gọi là xã nhật, có thu xã và xuân xã. Trong bài này chỉ xuân xã.

Dịch Nghĩa:
 
Bồ Tát Man Kỳ 7
 
Hình chim phụng hoàng đối nhau thêu bằng sợi chỉ vàng, 
Hoa mẫu đơn trải qua 1 đêm mưa bụi. 
Người mới trang điểm soi gương sáng, 
Tóc thưa, hai má gầy guộc. 
Trên căn gác hoa lệ, đứng lặng hồi lâu nhìn (xa xa), 
Phía ngoài lan can là cành liễu rủ. 
Tin tức không thấy về, 
 Trước ngày tế Xã Nhật có đôi chim yến về. (Xuân đến, chim én về nhưng người không thấy về) 

Dịch từ:   

Bồ Tát Man Kỳ 7

Phượng hoàng trên vải thêu kim tuyến, 
Mẫu đơn một tối mưa phùn đến. 
Gương sáng soi chân mày, 
Tóc mai phủ má gầy. 
Ngóng hoài trên gác nữa, 
Tơ liễu thòng ngoài cửa. 
Tin tức chẳng nghe gì, 
Tế thần đôi yến về.

Lời bàn 

Bồ Tát Man Kỳ 7

Kỳ 7 trong một chuỗi từ theo điệu Bồ tát man. Điệu từ Bồ Tát Man có 8 câu, 44 chữ; 2 câu thất ngôn và 6 câu ngũ ngôn. Từng cặp câu vần trắc vần với nhau và từng cặp thơ vần bằng cũng vần với nhau.
Bài này tả một thiếu nữ khuê các tương tư người tình xa vắng lâu năm. Mặc quần áo bằng vải thêu chim phụng hoàng và hoa mẫu đơn. Trang điểm soi gương chỉ thấy tóc thưa mặt gầy. Đứng lặng trên lan can nhìn xa xăm, chỉ thấy cành liễu phất phơ tăng thêm nỗi buồn cô liêu, nỗi nhớ nhung người yêu. Trước
ngày lễ Xã Nhật không có tin tức gì ngoài đôi chim yến báo xuân mà không thấy bóng chàng.

Bồ Tát Man kỳ 7

Phượng hoàng cặp đối thêu vàng óng,
Qua đêm đóa mẫu đơn mưa đọng.
Gương sáng điểm trang ngay,
Tóc thưa đôi má gầy.
Đứng lầu son ngóng mãi,
Liễu lả lơi hiên ngoại,
Tin tức bặt không nghe,
Tế thần đôi én về.

Song Thất Lục Bát.

Chỉ vàng óng thêu đôi chim phụng,
Hoa mẫu đơn còn sũng mưa đêm.
Soi gương son phấn điểm duyên,
Tóc thưa má hõm tô thêm phấn hồng.
Lên gác tía đứng trông xa tắp,
Liễu buông lơi xanh ngắt hiên ngoài.
Tin thơ chẳng thấy vãng lai,
Tế thần Xã Nhật én bay về rồi.

Mỹ Ngọc phỏng dịch.
Sept. 21/2022.
***
Thay vì dịch theo thể từ, kỳ này BS dịch thoát theo lục bát, chỉ giữ ý của tác giả:

Gấm thêu đôi lứa phụng hoàng,
Tranh mẫu đơn tựa phủ làn mưa đêm,
Trang điểm xong, ngắm gương xem,
Tóc thưa, hai má gầy thêm, nát lòng.
Lầu hoa vò võ chờ mong,
Liễu buồn ủ rũ ngoài song não nề…
Chờ tin, nào thấy tin về,
Có đôi chim yến xập xè đón xuân.

Bát Sách.
(ngày 22 tháng 09 năm 2022)

 Bồ Tát Man Kỳ7

Phượng hoàng tinh xảo thêu trên lụa
Mưa ray lay động hoa như múa
Gương lộ nét mày ngài
Tóc mai che má gầy
Nhớ ai cay mắt ngóng?
Liễu rũ ủ sầu mộng
Nhạn chẳng thấy bay về
Người xa, yến cận kề…

Lục Bát

Lụa thêu kim nhũ phượng hoàng
Điểm thêm mấy đoá mẫu đơn… mưa phùn
Săm soi gương lộ chân dung
Lầu hoa lặng đứng gió rung má gầy
Tóc mai sợi ngắn sợi dài
Ngóng người vạn dặm mắt cay lệ nhòa 
Nhạn mong chẳng thấy tin xa
Dăm con én liệng… bóng tà huy phai

Kiều Mộng Hà
April 20th2023
***
Bồ Tát Man Kỳ7

1-

Phượng hoàng đối mặt thêu vàng sợi
Mẫu đơn qua một đêm mưa bụi
Gương sáng mày vừa tô
Tóc thưa, hai má gồ

Lầu vẽ ngóng xa xứ
Ngoài rào tơ liễu rủ
Có đâu tin tức gì
Trước lễ đôi én về!

2-

Phượng hoàng một cặp vàng tươi
Mẫu đơn đêm trải một trời mưa bay
Kính trong vừa mới soi mày
Mặt gầy, má guộc tóc mây buông xòa

Gác cao hoa lệ nhìn xa
Lan can tơ liễu thướt tha bốn bề
Dõi trông nào thấy tin gì
Trước ngày tế lễ én về một đôi!

Lộc Bắc
Sept22
***
Nguyên tác:     Phiên âm: 
菩薩蠻其七 -溫庭筠 Bồ Tát Man Kỳ 7 – Ôn Đình Quân

鳳凰相對盤金縷 Phụng hoàng tương đối bàn kim lũ
牡丹一夜經微雨      Mẫu đơn nhất dạ kinh vi vũ
明鏡照新妝      Minh kính chiếu tân trang
鬢輕雙臉長      Mấn khinh song kiểm trường
畫樓相望久      Họa lâu tương vọng cửu
欄外垂絲柳      Lan ngoại thùy ty liễu
音信不歸來      Âm tín bất quy lai
社前雙燕回      Xã tiền song yến hồi

Bài từ này của Ôn Đình Quân miêu tả tình cảm u sầu của người phụ nữ đang chờ chồng có lẽ đang đi chinh chiến. Sau khi trang điểm nơi thư phòng, nàng lên lầu nhìn về phía xa xăm, chỉ thấy liễu rũ và đôi chim én đã trở về. Trong phần nhập đề, câu 1 nhắc đến phượng hoàng và câu 2 nói về mẫu đơn.
Phượng hoàng là vua các loài chim, là linh vật phú quý cao sang, trong khi hoa mẫu đơn đoan trang diễm lệ đứng đầu trăm hoa, biểu tượng của sự thịnh vượng của tất cả mọi thứ, ngụ ý tất cả những điều tốt đẹp, một khao khát cho một cuộc sống hạnh phúc, biểu tượng vinh quang huy hoàng, biểu hiện cát tường phú quý, vạn vật phồn vinh. Nên có câu nói phượng hoàng hý mẫu đơn hoặc hình ảnh phượng hoàng diễm lệ nghỉ ngơi trên cành mẫu đơn.
Thời cổ đại, hình phượng hoàng và mẫu đơn được sử dụng để thể hiện tình yêu, vợ chồng tương thân tương ái, hòa thuận lâu dài. Khi kết hôn, người ta thích đem tặng chăn mền có thêu phượng hoàng và mẫu đơn để chúc phúc cho vợ chồng mới cưới có tương lai tốt đẹp.
Ngày nay, phượng hoàng và mẫu đơn được in hoặc thêu lên hàng lụa để may áo quần, rất được phụ nữ Trung Hoa và Nhật Bản ưa chuộng.
Bồ Tát Man là bài từ có 44 chữ . Hai câu đầu 7 chữ và có vần trắc. Sáu câu còn lại mỗi câu 5 chữ. Câu 3 và 4 có vần bằng. Câu 5 và 6 có vần trắc. Câu 7 và 8 có vần bằng. Các chữ trong câu phải có thanh bằng hay trắc như bản bên dưới.

Từ phổ:

B B T T B B Tv
B B T T B B Tv
T T T B Bv
T B B T Bv
T B B T Tv
T T B B Tv
B T T B Bv
B B B T Bv

Dịch từ:

Chỉ vàng cặp phượng đồng tương đối,
Mưa tắm mẫu đơn trong đêm tối.
Soi kiếng vẽ lông mày,
Tóc thưa hai má gầy.
Lên lầu buồn ngắm cảnh,
Gió nhẹ vờn tơ liễu.
Không tín hiệu từ quê,
Dù đôi én đã về.
Ghi chú:
B: thanh bằng không bắt buộc B: thanh bằng bắt buộc
Bv: thanh bằng vần T: thanh trắc không bắt buộc
T: thanh trắc bắt buộc Tv: thanh trắc vần

Pu Sa Man No. 7 by Wen Ting Yun

The pair of phoenix embroidered with gold thread are looking at one another,
The peonies are battered mercilessly over night by the rain.
In the morning she looks in the bright mirror to make up,
Her hair is thin and the cheeks are bony.
She goes to the top floor to look into the distance’
And see only the weeping willows.
There is no news from the frontier,
Although the swallows have already returned.

Phí Minh Tâm

***
Góp ý:

社前雙燕回 xã tiền song yến hồi
社=xã, nguyên thủy (giáp cốt văn) vẽ hình một đống đất là từ chỉ thổ thần, rồi thêm vào hình một bàn thờ (kim văn), sau đó được dùng để chỉ lễ tế thần đất; dần dần nghĩa cho đơn vị hành chánh (làng xã) được thêm vào. 社日=xã nhật là một trong những ngày lễ lâu đời nhất ở Hoa Lục, được ghi chép trên các mu rùa bói toán, từ đời Thương. Có hai dịp xã nhật, trong các tiết lập xuân và lập thu.
春社=Xuân xã được cử hành ngày 戊=mậu thứ 5 sau lập xuân và là xã nhật trước thời Hán. Sau thời Hán có thêm 秋社=thu xã và bây giờ thu xã trùng với tết trung thu. Trong xã hội nông nghiệp ngày xưa, cúng cầu/tạ ơn trời đất đầu xuân và giữa thu là tập tục quan trọng cho nông dân, và cũng là dịp hiếm hoi để trai gái gặp nhau, vui mừng. "Xã tiền" trong bài từ này không dính dáng gì đến
việc cúng tế thổ thần hết; thời nay con nít mừng tết trung thu, thời xa xưa trai gái mừng xuân về.
Lời hát 社前雙燕回=xã tiền song yến hồi diễn tả ước mong của người hát được "song phi" với tình nhân lúc xuân về. Không như các tục ngủ mái/ngủ mèo/ngủ ngửi/ngủ thăm trong các sắc tộc thượng du Bắc Việt, trai gái Hoa Lục ngày xưa có dịp tự do "giao hoan" với nhau trong dịp xuân xã. Hiểu câu chót như thế hợp với tinh thần Liêu Trai hơn.
(Trích từ zh,Wikipedia: 
在当时春社是真正的狂欢,在进行完祭祀之后,实
行内部婚姻制度的氏族男女可以自由地进行杂乱的 群交 ,而实行外部婚姻
制度的氏族男女则与相近氏族的男女也同样进行群体杂交,随意 交媾
。Tại đương thì xuân xã thị chân chánh đích cuồng hoan,tại tiến hành hoàn tế tự chi hậu thật hành nội bộ hôn nhân chế độ đích thị tộc nam nữ khả dĩ tự do địa tiến hành tạp loạn đích quần giao, nhi thật hành ngoại bộ hôn nhân chế độ đích thị tộc nam nữ tắc dữ tương cận thị tộc đích nam nữ dã đồng dạng tiến hành quần thể tạp giaotùy ý giao cấu] Dịch đại khái thành Xuân xã (đến thời Tây Chu) thật cuồng loạn vì trai gái tự do làm tình tập thể sau khi việc tế tự chấm dứt, với người trong hay ngoài thị tộc tùy tập tục"

Huỳnh Kim Giám


Thứ Tư, 5 tháng 4, 2023

Bồ Tát Man Kỳ 1 菩薩蠻其一 - Ôn Đình Quân (Vãn Đường) Từ


Ôn Đình Quân (溫庭筠, 812-870), vốn tên Kỳ (岐), tự Phi Khanh (飛卿); là nhà thơ, và là nhà làm từ thời Vãn Đường.
Ông là người đất Kỳ, phủ Thái Nguyên (nay là huyện Kỳ, tỉnh Sơn Tây), là cháu nội của Ôn Ngạn Bác, tể tướng triều Đường Cao Tông.
Ông thông minh, giỏi văn thơ, âm nhạc ; nhưng dung mạo xấu xí và có tính phóng đãng. Ông thường cùng bọn con em vô lại các nhà quý tộc ra vào nơi ca lâu, rượu chè, bài bạc, say đắm nữ sắc, vì thế bị các sĩ đại phu đương thời khinh rẻ, suốt đời không đỗ được tiến sĩ.
Có một thời, ông hay lui tới nhà quan tướng quốc Lệnh Hồ Đào (con Lệnh Hồ Sở), nhưng sau vì việc riêng, Hồ Đào đâm ra ghét ông.
Đến khi người ông quen là Từ Thương đi trấn giữ Tương Dương, ông được theo làm tuần quan, nhưng rồi vì bất đắc chí, ông xin thôi chức để sống đời phiêu lãng.
Mãi đến khi tuổi đã cao, đời vua Đường Tuyên Tông, ông mới nhận làm chức úy ở Phương Thành, rồi đổi sang huyện Tùy. Năm 866, ông được cử làm chủ thí, cuối cùng làm Quốc tử trợ giáo. Sau, ông lại bỏ chức, từ giã kinh thành Trường An, đi lưu lạc giang hồ cho đến khi mất.
Trước đây, người ta thường coi Lý Thương Ẩn và Ôn Đình Quân là hai nhà thơ cùng một phái, và gọi là “Ôn Lý”. Song, theo các nhà nghiên cứu văn học gần đây, thì gọi như thế có phần không chính xác, vì phong cách nghệ thuật của hai ông rất khác nhau. Về thành tựu thơ ca, Ôn Đình Quân còn kém xa Lý Thương Ẩn, vì thơ ông có phần “phù phiếm, nông cạn, thiếu những tình cảm chân thành”; nhưng nói về từ thì ông có nhiều bài rất đặc sắc. Từ của Ôn Đình Quân hiện còn hơn 70 bài trong Kim thuyên tập, nội dung hầu như đều viết về phụ nữ, về những mối sầu tương tư; và lấy màu sắc nồng đượm, lời lẽ hoa mỹ, tạo thành phong cách “thơm tho mềm mại, tràn ngập hương vị son phấn” của riêng ông. Phong cách này có ảnh hưởng đến các nhà làm từ đời sau, hình thành “Phái trong hoa” (Hoa gian phái) mà ông được tôn vinh là người đứng đầu.
Cho nên khi nói về từ đời Đường, học giả Nguyễn Hiến Lê cũng đã có lời khen ngợi từ của ông như sau:
Từ Ôn Đình Quân rất diễm lệ, lại sáng tác được nhiều điệu mới, ảnh hưởng đến đời sau rất nhiều. Ông đứng đầu trong nhóm từ gia có tác phẩm chép trong bộ “Hoa gian tập”. Ông chiếm một địa vị đặc biệt ở giữa cái thời thơ suy mà từ thịnh.
Tác phẩm của ông có Hán Nam chân cảo và Ác Lan tập, song đều tán lạc không còn nhiều.
Bài Bồ tát man kỳ I là một trong 14 bài trích từ Bồ Tát Man chú giải - Ôn Đình Quân - HHD Bellephoto. Google.

Nguyên tác Dịch âm
菩薩蠻其一 Bồ tát man kỳ 1
小山重疊金明滅 Tiểu sơn trùng điệp kim minh diệt,
鬢雲欲度香腮雪 Mấn vân dục độ hương tai tuyết.
懶起畫娥眉 Lãn khởi hoạ nga mi,
弄妝梳洗遲 Lộng trang sơ tẩy trì.
照花前後鏡 Chiếu hoa tiền hậu kính,
花面交相映 Hoa diện giao tương ánh.
新帖繡羅襦 Tân thiếp tú la nhu,
雙雙金鷓鴣 Song song kim giá cô.

Chú giải
Bồ Tát Man 菩薩蠻: tên một điệu từ, còn viết là Bồ tát man菩萨鬘, Tử dạ ca子夜歌, trùng điệp kim重叠金….; gồm 44 chữ; 2 đoạn; mỗi đoạn có 4 câu: 2 câu vần trắc vần với nhau và 2 câu vần bằng cũng vần với nhau.
小山重叠 tiều sơn trùng điệp: chỉ hình vẽ sơn thủy trên tấm bình phong. Vì bình phong gồm 2, 3 tấm nối lại với nhau cho nên nói là trùng điệp.
滅 diệt: giết, tắt (lửa).
欲度 dục độ: muốn che.
腮 tai: gò má.
娥眉 nga mi: lông mày đẹp.
懶起 lãn khởi: biếng dậy.
弄妝 lộng trang: Hóa trang.
梳 sơ: chải tóc.
洗 tẩy: rửa mặt.
遲 trì: trễ.
照花 chiếu hoa: soi gương xem bông hoa cắm trên tóc mình.
前後鏡 tiền hậu kính: kính trước mặt và kính sau lưng.
花面 hoa diện: mặt đẹp của người con gái.
交相映 giao tương ánh: ánh phản chiếu nhau (bông hoa và mặt cô gái).
帖 thiếp, thiệp: Viết chữ vào lụa. Ðời xưa chưa có giấy, phải viết vào lụa gọi là thiếp. Ðời sau viết vào giấy cũng gọi là thiếp.
繡 tú: thêu thùa.
羅襦 la nhu: áo cánh lụa, vải lụa mềm.
雙雙 Song song: đi sóng đôi.

Dịch nghĩa
Bồ tát man kỳ 1

Núi nhỏ trùng điệp trên bình phong, ánh vàng lúc sáng lúc mờ,
Tóc mây phất phơ che khuôn mặt trắng như tuyết.
Uể oải thức dậy vẽ chân mày,
Trang điểm chải đầu rửa mặt muộn.
Dùng 1 gương đằng trước và 1 gương đằng sau để nhìn bông hoa (cài trên mái tóc),
Hoa và mặt phản chiếu lẫn nhau.
Mặc cái áo ngắn mới, có thêu thùa...
2 con chim giá cô được thêu bằng chỉ vàng.

Dịch từ
Bồ tát man kỳ 1

Núi non trùng điệp bình phong đẹp,
Tóc mây uốn lượn da như tuyết.
Biếng dậy vẽ lông mày,
Điểm trang môi tóc tai.
Hoa mặt cùng phản ảnh,
Trong trước sau hai kính.
Mặc áo lụa thêu thùa:
Song đôi chim giá-cô.

Lời bàn 

Kỳ 1 trong một chuỗi từ theo điệu Bồ tát man, một đầu đề đã xuất hiện từ thời Thịnh Đường. Thể từ Bồ Tát Man có 8 câu, 44 chữ; 2 câu thất ngôn và 6 câu ngũ ngôn. Từng cặp câu vần trắc vần với nhau và từng cặp thơ vần bằng cũng vần với nhau. Đời Đường Tuyên Tông, nhân thấy người nước Nữ-Man ai cũng đeo chuỗi hạt có tên là Bồ-tát-man bèn phổ lời vào một điệu dân ca và đặt tên là điệu Bồ-tát-man; Sau này các thi nhân thời Vãn Đường và thời Tống phổ lời thơ ngẫu hứng của mình vào điệu nhạc này làm cho nó trò thành rất phổ thông.
Nhân vật chính của bài này là một cô gái ở tuổi dậy thì, tuy hơi lười dậy sớm, trang điểm, rửa mặt, chải đầu… nhưng nhan sắc rất mỹ miều, lại thích ăn diện như cài bông hoa trên tóc rồi dùng 2 tấm gương (một gương trước mặt và một gương sau lưng) coi xem bông hoa cài trên tóc có chỉnh hay chưa. Cuối cùng cô mặc cái áo lụa thêu đôi chim giá cô đi song song!
Lời thơ diêm dúa, và lãng mạn.

Xin bấm vào link màu xanh dưới đây để nghe Diêu Bối Na hát bài Bồ Tát Man do Lưu Hoan biên khúc phỏng theo bài từ của Ôn Đình Quân:  https://youtu.be/xrzSzAuuvDE

Con Cò
***
Bồ Tát Man Kỳ 1 
 
Núi đồi chồng chất màu vàng nhạt,
Tóc mây xõa mặt da thơm ngát.
Uể oải dậm mày ngài,
Khoan thai chải tóc tai.
Soi gương hoa đẹp ý,
Hoa mặt cùng cao quý.
Yếm mới tơ thêu tô,
Một đôi kim giá cô..

Thất Ngôn

Chập chùng núi nhỏ ánh vàng vơi,
Gò má mịn thơm tóc rối bời.
Uể oải tô mày cong lá liễu,
Khoan thai chải tóc mướt mây trời.
Gương soi sau trước hoa vừa ý,
Kính chiếu mặt hoa ánh tuyệt vời.
Khoác áo tơ mềm thêu kiểu mới,
Chỉ vàng lóng lánh giá cô đôi.

Mỹ Ngoc 
Jun.19/2022.
***
Bồ Tát Man Kỳ 1 

Núi nhỏ chập chùng, khi sáng tắt
Tóc mây muốn che trắng da mặt
Thức, lười vẽ mày ngài
Trang điểm trễ sơ sài
Ngắm hoa kính sau trước
Mặt-hoa phản chiếu mượt
Áo lụa mới, thêu thùa
Đôi chim vàng giá cô!

Chuỗi núi nhỏ, ánh tỏ mờ
Tóc mây phơ phất che cho tuyết bày
Dậy trưa lười vẽ mày ngài
Vội vàng trang điểm sơ sài cho xong
Cài hoa sau trước kính trông
Mày-hoa phản chiếu sắc hồng khó so
Thêu thùa khéo léo áo tơ
Song song một cặp giá cô chỉ vàng!

Lộc Bắc
Jun22
***
Bồ Tát Man Kỳ 1 

Núi non trùng điệp vàng phai hết,
Tóc mai xõa chạm da như tuyết,
Biếng dậy vẽ mày ngài,
Chậm trau chuốt tóc tai.
Ngắm hoa, nhìn sau trước,
Hoa, mặt cùng đẹp mướt.
Mang áo lót năm mầu,
Thêu đôi chim cạnh nhau.

Bát Sách.
(Ngày 30 tháng 3 năm 2023)
***
Dịch Nghĩa:

(Hình) Núi nhỏ (trên bình phong) trùng điệp, (ánh) vàng lúc sáng lúc mờ,
Mái tóc mây (phất phơ) muốn che khuôn mặt trắng như tuyết.
Lười uể oải thức dậy vẽ chân mày,
Trang điểm chải đầu rửa mặt muộn.
Dùng gương đằng trước và gương đằng sau để xem bông hoa (cắm trên mái tóc),
Hoa và gương mặt ánh chiếu lẫn nhau.
Mặc cái áo ngắn mới có thêu thùa...
Hai con chim đa đa được thêu bằng chỉ vàng.
(Re'f. Google.com)

Choàng Tỉnh Giấc Điệp

Bình phong, sơn thủy điệp trùng,
Có hòn non nhỏ mông lung ánh vàng.
Đen tuyền mái tóc mỹ nhân,
Ảo mờ che khuất khuôn trăng mơ màng.
Làn da như tuyết ngoài đàng,
Mùi hương sực nức - chiếu màn đẫm hơi.
Hãy còn thiêm thiếp khắc thời,
Biếng lười uể oải - chơi vơi giấc nồng.
Muộn màng trang điểm cạnh song,
Mày ngài chau chuốt - ngắm trông kỹ càng.
Gương soi sau trước lan man,
Trâm cài điểm xuyến rỡ ràng há chê.
Hớp hồn mặt ngọc đê mê,
Như hoa giắt tóc mọi bề đến hay.
Lụa tơ ngũ sắc yếm này,
Giá cô thêu cặp - ngất ngây đợi 

Khánh-Hưng
***
Bồ Tát Man Kỳ 1 

Núi đồi ẩn hiện… bình phong dựng
Tóc che cô gái da tươi đứng
Chưa kẽ cặp mày ngài
Quên tô môi, tóc mai
Mặt/hoa gương phản chiếu
Nét đẹp, người hiền dịu
Yếm lụa chỉ vàng thêu
Một đôi chim đáng yêu


Lục Bát:

Bình phong dãy núi xanh rì
Có cô gái tuổi dậy thì mơ xuân
Tóc loà xoà chửa cài trâm
Môi chưa tô thắm còn nằm ngắm mây
Chợt bừng tỉnh mộng vừa xây
Chải đầu trang điểm má hây hây hồng
Soi gương phản chiếu hài lòng
Yếm đào thêu cặp chim lồng bên nhau

Kiều Mộng Hà
Mar31st2023
***
Nguyên tác:               Phiên âm:

菩薩蠻其一 -溫庭筠 Bồ Tát Man Kỳ 1 – Ôn Đình Quân

小山重疊金明滅 Tiểu sơn trùng điệp kim minh diệt,
鬢雲欲度香腮雪 Mấn vân dục độ hương tai tuyết.
懶起畫娥眉 Lãn khởi hoạ nga mi,
弄妝梳洗遲 Lộng trang sơ tẩy trì.
照花前後鏡 Chiếu hoa tiền hậu kính,
花面交相映 Hoa diện giao tương ánh.
新帖繡羅襦 Tân thiếp tú la nhu,
雙雙金鷓鴣 Song song kim giá cô.

Bài từ này là bài 1 trong 15 điệp khúc Bồ Tát Man của Ôn Đình Quân theo các trang web Việt Nam và có đăng trong các sách:

Bồ Tát Man chú giải - Ôn Đình Quân ~ HHD Bellephoto

● Bài thơ: Bồ tát man kỳ 1 - Ôn Đình Quân - (thivien.net)
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐詩-清-聖祖玄燁
Hoa Thảo Đọt Biên - Minh - Trần Diệu Văn 花草稡編-明-陳耀文
Từ Tống - Thanh - Chu Di Tôn 詞綜-清-朱彝尊
Hoa Am Từ Tuyển - Tống - Hoàng Thăng 花菴詞選-宋-黃昇

Ghi chú: 詩詞 溫庭筠 菩薩蠻 其一 (sou-yun.cn)

Bồ Tát Man: Theo Hán Điển Zdic.net, Bách Độ Bách Khoa 百度百科, trang web Sưu Vân cũng như Hán Ngữ Đại Từ Điển 漢語大詞典, Bồ Tát Man là một bài từ, bài ca, bài hát của Giáo Phường thời Đường, còn có tên Tử Dạ Ca, Trọng Diệp Kim và nhiều tên khác. Một nghĩa khác là tiếng người Trung Hoa thời Tống gọi người Hồi. Theo Wiktionary, Bồ tát man = 菩薩蠻 = (bính âm) púsàmán là phiên âm của tiếng Ba Tư مسلمان‎ (mosalmân). Chữ bồ tát ở đây không có nghĩa thông thường người giác ngộ của Phật giáo, chữ man 蠻viết giống như trong Nam man南蠻, không biết có hậu ý là man rợ hay không. Tiếng Pháp musulman có lẽ cũng do phiên âm tiếng mosalmân mà ra.

Bồ Tát Man là một điệu từ có 44 chữ. chia làm 2 đoạn, mỗi đoạn 4 câu. Hai câu đầu 7 chữ và có vần trắc. Sáu câu còn lại mỗi câu 5 chữ. Câu 3 và 4 có vần bằng. Câu 5 và 6 có vần trắc. Câu 7 và 8 có vần bằng. Các chữ trong câu phải có thanh bằng hay trắc như bản bên dưới. Trình tự gieo vần trong bài này là vần liền aabbccdd, từng cặp câu.

B B T T B B Tv X B X T B B Tv
B B T T B B Tv X B X T B B Tv
T T T B Bv X T T B Bv
T B B T Bv X B X T Bv

T B B T Tv X B B T Tv
T T B B Tv X T X B Tv
B T T B Bv X T T B Bv
B B B T Bv X B X T Bv

Ghi chú

B: thanh bằng không bắt buộc
B: thanh bằng bắt buộc
Bv: thanh bằng vần
T: thanh trắc không bắt buộc
T: thanh trắc bắt buộc
Tv: thanh trắc vần
X: thanh bằng hay trắc cũng được

Tiểu sơn trùng điệp: hình vẽ núi non nối tiếp nhau trên tấm bình phong; tiểu sơn còn chỉ một kiểu vẽ lông mi của phụ nữ gọi là "tiểu sơn mi"
Kim minh diệt: ánh sáng vàng chiếu lấp lánh ẩn hiện trên bình phong; cũng ám chỉ những đồ trang sức lấp lóe cắm trên mái tóc người phụ nữ
Mấn vân: tóc mây, mái tóc mai của một người phụ nữ đẹp như những đám mây
Dục độ: muốn che trùm, mái tóc dài che trước mặt.
Hương tai: má mặt thơm của phụ nữ
Nga mi: lông mày đẹp của phụ nữ, nhỏ dài và cong như râu của con ngài lộng trang: ăn mặc, trang điểm, sửa soạn sắc diện
Sơ tẩy: chải đầu và rửa mặt, cũng chỉ trang điểm
Chiếu hoa tiền hậu: soi gương trước sau, xem bông hoa cắm trên tóc
Hoa diện: khuôn mặt đẹp như hoa
Tương ánh: làm nổi bật lẫn nhau
La nhu: áo ngắn bằng tơ lụa

Giá cô: trông như chim trĩ cái, với đầu chim cút, có chấm trắng giống như những viên ngọc trai trên ngực. Loài chim này sống ở miền nam Trung Hoa và hay bay về phương nam, như bạn đồng hành với các quan bị lưu đày, do đó chim giá cô bị coi như chim mang đến điềm xấu. Giá cô còn thường được sử dụng trong các bài thơ để thể hiện nỗi nhớ nhà của khách đường xa.

Dịch nghĩa:

Bồ Tát Man Kỳ 1 – Ôn Đình Quân

Tiểu sơn trùng điệp kim minh diệt
Núi nhỏ trùng trùng điệp điệp ánh vàng lúc tỏ lúc mờ,
Mấn vân dục độ hương tai tuyết
Mái tóc mây bồng bềnh như che khuôn mặt thơm trắng như tuyết.
Lại khởi họa nga mi
Uể oải dậy vẻ lông mày cong và dài,
Lộng trang sơ tẩy trì
Thong thả rửa mặt, chải đầu và trang điểm cẩn thận.
Chiếu hoa tiền hậu kính
Dùng gương trước sau để cài hoa trên tóc,
Hoa diện giao tương ánh
Mặt người và hoa phản chiếu ánh lẫn nhau.
Tân thiếp tú la nhu
Mặc chiếc áo lụa ngắn mới có thêu.
Song song kim giá cô
Hai con chim giá cô thêu chỉ vàng bay song song

Dịch từ:

Luật bằng trắc Bồ Tát Man 1: Thiếu Phụ

X B X T B B Tv Núi non trùng điệp mờ mờ tỏ,
X B X T B B Tv Tóc che khuôn mặt nhìn không rõ.
X T T B Bv Uể oải vẻ lông mày,
X B X T Bv Điểm trang đẹp cả ngày.

X B B T Tv Hoa cài gương lấp lánh,
X T X B Tv Hoa mặt như cùng ánh.
X T T B Bv Mặc áo lụa thêu hoa,
X B X T Bv Giá cô vàng lượn qua.

Dịch thơ:

Bồ Tát Man 1: Thiếu Phụ

Trùng trùng điệp điệp núi mờ mờ,
Mái tóc bồng bềnh che nét thơ.
Uể oải kẽ mày cong đậm nét,
Chải đầu rửa mặt điểm trang sơ.
Dùng gương sau trước cài hoa tóc,
Tương phản mặt hoa ánh mộng mơ.
Mặc chiếc áo tơ màu sắc mới,
Đôi chim vàng giá như chần chờ.

Pu Xa Man 1 by Wen Ting Yun

On the screens, mountains after mountains appear and disappear with the light,
Her thick floating hair almost covers her flagrant snow white face.
Lazily, she draws long curved and slender eyebrows,
She takes her time to wash face, comb hair and make up carefully.
Using back and front mirrors to attach flowers to her hair,
Face and flowers reflect identical hues.
She puts on a new embroidered short blouse,
A pair of golden birds seem to fly side by side.

Nghe hát:

Thật ra các bài từ, trong đó có bài Bồ Tát Man, không phải để đọc mà để hát và nghe. Lời mỗi bài có thể khác nhau, nhưng âm điệu giống nhau cho tất cả các bài Bồ Tát Man. Bên dưới mời nghe bài số 1 của Ôn Đình Quân, hát bằng tiếng bính âm (màu nâu đậm). Nhớ mở âm thanh và lưu ý số chữ trong bài hát là: 7 /7 /5 /5 /5 /5 /5 /5.

Diêu Bối Na - Hậu Cung Chân Hoàn Truyện 姚貝娜 -后宫甄嬛传
Diêu Bối Na - Cao Thanh Bản 姚贝娜 - 高清版
Chân Hoàn Truyện Bồ Tát Man 甄嬛傳 菩薩蠻

Pú Sà Mán Qí 1 - Wēn Ting Yún
Shào shān zhòng dié jīn míng miè
Bìn yún āi dù bì sāi lián
Lǎn dì huà é kān
Lòng zhuāng shū xǐ chí
Yù huā qián hòu jìng
Huā miǎn jiāo xiāng yìng
Xīn bēn xiù luó rú
Shuāng shuāng jīn zhè gū

Phí Minh Tâm:
***
Góp ý:

Tại sao điệu từ Bồ Tát Man dùng chức vị thiêng liêng của Phật giáo làm đầu đề cho những bài từ lãng mạn?

Tống Sử Nhạc Chí (宋史, 樂志) bảo rằng 菩薩蠻隊=Bồ Tát Man đội là tên triều Đường thời Tuyên Tông đặt cho một nhóm vũ công do người Man tiến cống. Các vũ công này búi tóc cao, đeo đầy vàng ngọc. Các nhà điếm thời đó nhân dịp đặt ra loại nhạc bồ tát man. Đường Tô Ngạc (唐蘇鄂) kể trong Đỗ Dương Tạp Biên (杜陽雜編) rằng Đường Tuyên Tông mê nhạc này và Lệnh Hồ Đào (令狐綯) sai Ôn Đình Quân đặt lời để dâng vua. Họ Ôn làm 14 bài trong Hoa Gian Tập (花間集).

Bài từ này của ÔĐQ còn có tên 重疊 金=Trọng Điệp Kim, lấy từ các chữ gần cuối trong câu đầu. Có một thuyết nói 小山=tiểu sơn là tên của một lối vẽ lông mày, và một thuyết khác bảo tiểu sơn chỉ hai cái vú của người phụ nữ dậy trễ trong nắng ban mai, kim minh nói đến ánh nắng trên ngực.

Huỳnh Kim Giám



Thứ Ba, 19 tháng 4, 2022

Tân Thiêm Thanh Dương Liễu Chi 新添聲楊柳枝 - Ôn Đình Quân


Ôn Đình Quân 溫庭筠 (812-870), vốn tên Kỳ 岐, tự Phi Khanh 飛卿, người Thái Nguyên thời Vãn Đường (nay thuộc tỉnh Sơn Tây), là cháu của tể tướng Ôn Ngạn Bác. Ông tinh thông âm nhạc, là một thi nhân tài tử mẫn tiệp, từ trẻ đã nổi danh thi từ nhưng thi không đỗ nên đi chu du đây đó. Từ của ông lời rất đẹp, phái Hoa gian liệt ông vào người đứng thứ nhất đời Đường. Tác phẩm của ông có Hán Nam chân cảo và Ác Lan tập, song đều tán lạc không còn.

1/ Tình yêu trường cửu của Ôn Đình Quân, cuối thế kỷ thứ 9:

Nguyên tác        Dịch âm

新添聲楊柳枝 Tân thiêm thanh Dương Liễu Chi*


井底點燈深燭伊 Tĩnh để điểm đăng thâm chúc y,
共郎長行莫圍棋 Cộng lang trường hành mạc vi kỳ.
玲瓏骰子安紅豆 Linh lung đầu tử an hồng đậu,
入骨相思知不知 Nhập cốt tương tư tri bất tri?

Chú giải.

* Lời mới thêm vào khúc Dương Liễu Chi: Tác giả đã viết một tổ thơ 8 bài thất ngôn tứ tuyệt với tựa đề Dương liễu chi, nay lại thêm bài này nữa không kể vào tổ thơ đó.

底 để: đáy, như thuỷ để 水底 đáy nước.
點 điểm: chấm, điểm.
燭 chúc: ngọn đuốc.
伊 y: y, hắn, anh ta, chị ta.
圍 vi: vây quanh, bao quanh.
棋 kỳ: cờ, bàn cờ.

** Hồng đậu:
Loài đậu mọc ở Lĩnh Nam, hạt màu đỏ, rất xinh, có thể làm kẹp cài đầu. Tích xưa có người chết ngoài thành, bên cây hồng đậu. Vợ chôn chồng xong, ngồi bên cây hồng đậu khóc thương cho tới chết. Nhân đó, người đời gọi cây hồng đậu tượng trưng cho tình yêu, hạt hồng đậu là hạt tương tư, đeo hạt hồng đậu để tỏ ra đang nhớ tới ai đó.

Dịch nghĩa

Lời mới thêm vào khúc Dương Liễu Chi


Dưới đáy giếng sâu có phản chiếu bóng hình em,
(Anh) Cùng em đi đường dài đừng vào ngõ cụt.
Hạt hồng đậu trên kẹp tóc sáng lung linh trên đầu,
Rõ ràng để nhớ nhau, phải không em?

Dịch thơ

Lời mới thêm vào khúc Dương Liễu Chi*

Đáy giếng đèn soi hình bóng em,
Cùng đi đường thẳng chớ đi xiên.
Lung linh hồng đậu** cài trên tóc,
Rõ mặt yêu nhau anh với em!


Con Cò
***
Nguyên tác:      Phiên âm:

新添聲楊柳枝 Tân Thiêm Thanh Dương Liễu Chi
溫庭筠             Ôn Đình Quân

井底點燈深燭伊 Tỉnh để điểm đăng thâm chúc y
共郎長行莫圍棋 Cộng lang trường hành mạc vi kỳ
玲瓏骰子安紅豆 Linh lung đầu tử an hồng đậu
入骨相思知不知 Nhập cốt tương tư tri bất tri

Dị bản:

Bài tứ tuyệt bên trên là Thủ 2 của bài Nam Ca Tử Từ Nhị Thủ 南歌子詞二首 đăng trong Ngự Định Toàn Đường Thi. Bài thơ còn có một tựa khác là Tân Thiêm Thanh Dương Liễu Chi 新添聲楊柳枝 và được khắc bản trong nhiều sách qua các thời đại:

· Ôn Phi Khanh Thi Tập Tiên Chú - Đường - Ôn Đình Quân 溫飛卿詩集箋注-唐-溫庭筠
· Vân Khê Hữu Nghị - Đường - Phạm Sư 雲谿友議-唐-范攄
· Đường Nhân Vạn Thủ Tuyệt Cú Tuyển - Tống - Hồng Toại 唐人萬首絕句選-宋-洪遂
· Hoa Thảo Đọt Biên - Minh - Trần Diệu Văn 花草稡編-明-陳耀文
· Từ Uyển Tùng Đàm - Thanh - Từ Cầu 詞苑叢談-清-徐釚
· Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐詩-清-聖祖玄燁

Tất cả các sách đều có chữ điểm點 trong câu 1 khắc dưới dị thể 㸃 không tìm thấy trong từ điển hiện hành.

Ghi chú:
Nam Ca Tử: một ca khúc thời Đường với giai điệu giọng nam
Thâm chúc: nến/đuốc thâm sâu, dặn dò sâu sắc, ngụ ý sâu sắc
Y: đại danh từ - bạn, em, anh
Trường hành: đi đường xa, một hành vi cao quý, một trò chơi bình dân thời Đường
Vi kỳ: cờ vây, một trò chơi của người Trung Hoa. Đồng âm “vi kỳ” còn có nghĩa là trái ký, lở hẹn
Linh lung: tinh xảo, tinh tế, rõ ràng
Đầu tử: con xúc xắc có 6 mặt, mỗi mặt được khắc 1 đến 6 lõm tròn, mặt 1 và 4 sơn đỏ, các mặt còn lại sơn đen, các lõm đỏ được gọi là hồng đậu. Ban đầu, xúc xắc được làm từ đá quý, sau làm từ xương trắng.
Hồng đậu: tên gọi chung của hạt giống thực vật như cây đậu đỏ, có hột hình tròn, màu sắc tươi hồng, hình dạng đáng yêu, thường làm trang sức trên mái tóc phụ nữ. Các tác phẩm văn học thường được sử dụng hồng đậu để tượng trưng cho tình yêu hoặc tương tư. Bài thơ Tương Tư của Vương Duy cho biết Hồng đậu sinh nam quốc (Lĩnh Nam?)
Nhập cốt: các chấm đỏ trên xúc xắc ăn xâu vào xương ẩn dụ cho tương tư thấm vào xương cốt.
Tương tư: tình cảm nhớ thương mà không gặp nhau được
Tri bất tri: có biết chăng, nhấn mạnh ý nghĩa câu kết

Dịch nghĩa:

Tân Thiêm Thanh Dương Liễu Chi Mới Thêm Vào Khúc Dương Liễu Chi Tỉnh để điểm đăng thâm chúc y Em thắp đèn dưới đáy giếng để sâu sắc dặn dò chàng,
Cộng lang trường hành mạc vi kỳ Cùng chàng trước hành trình (cuộc sống) dài lâu, chàng đừng quên ngày về.
Linh lung đầu tử an hồng đậu Rõ ràng hồng đậu đã ăn sâu vào xúc sắc,
Nhập cốt tương tư tri bất tri Chàng biết chăng, tình yêu em dành cho chàng đã thâm nhập vào xương cốt em.

Bình luận:

Dùng lời người phụ nữ, Ôn Đình Quân viết một bài thơ tình bốn câu ngắn ngủi, tỏ tình cảm sâu đậm của người phụ nữ với tình lang. Bài thơ sâu sắc, dùng nhiều nhiều kỹ thuật từ ngữ như:
· ẩn dụ (hồng đậu chỉ lõm đỏ trên xúc xắc, tương tư)
· đồng âm, đồng từ, khác nghĩa (thâm chúc, trường hành)
· đồng âm, khác từ, khác nghĩa (vi kỳ),
· cụm từ cùng nghĩa (tỉnh để điểm đăng=thâm chúc, đầu tử an hồng đậu= nhập cốt tương tư) làm người đọc thoáng qua thấy khó hiểu nếu không muốn nói là không hiểu chính xác được nghĩa.

Nhưng nếu để chút thời giờ tìm hiểu tất cả các thủ pháp hài âm song quan trong bài thơ, ta sẽ thấy nó thâm thúy, hàm súc, và vô cùng ý vị.

Trong câu 1, thâm chúc nghĩa đen đuốc/ nến thâm sâu gần như cùng nghĩa với tỉnh để điểm đăng=đèn sâu dưới đáy giếng. Theo từ điển 全站搜索 (zdic.net), thâm chúc còn có nghĩa là ngụ ý sâu sắc 寓意深遠, sâu sắc khó lường 寓意深長…Ở đây phương pháp tu từ hài âm được sử dụng để viết về người phụ nữ dặn dò tình lang (Âm hài thâm chúc, thử xử dụng đích thị hài âm song quan đích tu từ thủ pháp, tả nữ tử “thâm chúc” tình lang 音諧深囑, 此處用的是諧音雙關的修辭手法, 寫女子”深囑”情郎. In the term deep exhortation, the rhetoric/melodic technique of homophonic/harmonic pun is used here to write a woman's "deep exhortation" to lover.)

Câu 2 với bốn chữ cộng lang trường hành cho biết nàng mới chia tay và có lời nhắn nhủ chàng đừng quên ngày về. Theo 长行的解释|长行的意思|汉典“长行”词语的解释 (zdic.net), trường hành có 2 nghĩa: đi dài lâu và một trò chơi bình dân thời Đường. Trong bài thơ này, Ôn Đình Quân dùng cả hai nghĩa. Cũng trong câu 2, vi圍 kỳ棋=trò chơi cờ vây. Thi nhân lại dùng đồng âm vi kỳ để dặn dò người yêu đừng quên ngày về, đừng lỗi hẹn, vi違=trái, kỳ期= kỳ hẹn.

Câu 3 nói hồng đậu (lõm đỏ) ăn sâu vào hột xúc xắc làm bằng xương khác chi nghĩa câu 4 khi tương tư đã nhập vào xương cốt nàng. 

Trong câu 4, có thể nói là nội tâm của nàng đã đạt tới giới hạn tột cùng, làm cho người đọc cảm nhận được tình yêu sôi động của người phụ nữ đa tình muốn chia sẻ tình cảm cùng chồng khi hỏi: Chàng có biết không (tri bất tri)? Thâm tình cùng với tương tư khắc cốt ghi tâm của nàng, được nhiều người yêu thích dùng để biểu đạt tình ý của chính mình.

Bài thơ kết thúc ở đây, nhưng tình yêu chân thành và nóng bỏng trong trái tim người phụ nữ vẫn còn đó. Phải chăng nam tử nào cũng thích có một phụ nữ yêu thương mình như thế!

Dịch thơ:
Dương Liễu Chi Từ


Thắp đèn đáy giếng dặn dò chàng,
Phải nhớ ngày về chớ muộn màng,
Hồng đậu ăn sâu vào xúc xắc.
Thấu xương có biết thâm tình nàng.


Song of the Willow Branch by Wen Tingjun

Lighting the lamp at the bottom of the well, I am with you on the long journey and deeply exhort you not to forget the return date.
The red dots are engraved in the dices like my love for you is deeply engraved in my bones.

Phí Minh Tâm
***
Mới Thêm Vào Bài Dương Liễu Chi

Đáy giếng in hình lửa đuốc bay,
Cùng anh sánh bước, tránh cờ vây,
Hồng đậu long lanh trên mái tóc,
Xương khắc tương tư, anh có hay.

Bát Sách.
(25/03/2022)
***
Hãy Cứ Rong Chơi, Thiếp Vẫn Chờ

Tình quân hỡi trăng soi đáy nước
Cuộc giải khuây đánh cược cờ vây
Dẫu cho chàng đó thiếp đây
Vẫn chim liền cánh, vẫn cây liền cành

I'm still waiting

My ardent love for you
Sheds light on the bottom of the well
While you indulge in gambling and entertainment
We're apart but inseparable
Like birds with wings and trees with branches

Yên Nhiên
***
Li Mới Thêm Vào Khúc Liễu Chi

1-
Đáy giếng nến cô chiếu dáng hình
Đường quang chung bước tránh u minh
Lung linh đậu đỏ trâm cài tóc
Khắc cốt ghi tâm tình hỡi tình!

2-
Phòng khuya thắp nến dặn dò nghe
Chung sống dài lâu nhớ lối về
Xúc xắc tràn trề tâm sắc đỏ
Lậm tim, xương buốt nỗi đam mê!

Lộc Bắc
Mars22
***
Lời Mới Thêm Vào Khúc Dương Liễu Chi*

Đáy giếng thắp đèn dặn kỹ nhau,
Đường dài sóng bước hẹn về mau.
Rõ điểm hồng chìm xương xúc xắc,
Tương tư, có biết cũng thâm sầu!!!!

Mỹ Ngọc 
Mar. 27/2022.

Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2018

Lợi Châu Nam Độ - Ôn Đình Quân (- 859 -)


Lợi Châu Nam Độ  

Đạm nhiên không thủy đới tà huy
Khúc đảo thương mang tiếp thúy vi
Ba thượng mã tê khan trạo khứ
Liễu biên nhân yết đãi thuyền quy
Sổ tùng sa thảo quần âu tán
Vạn khoảnh giang điền nhất lộ phi
Thùy giải thừa chu tầm Phạm Lãi
Ngũ Hồ yên thủy cộng vong ky
Ôn Đình Quân (- 859 -)

Dịch Xuôi: 
Qua Bến Đò Nam Lợi Châu

Sông nước lững lờ chở nắng cuối ngày trôi
Khúc đảo xanh xanh vòng quanh chân núi xanh 
Trên sóng nước, ngựa hý , nhìn thuyền chèo đi
Bên bờ liễu ,khách đợi , ngóng thuyền quay về
Bầy chim âu chạy xao xác , quanh mấy bụi cỏ trên bãi cát
Một cánh cò bay lờ lững trên cánh đồng mênh mông dọc ven sông
Có mấy ai hiểu được chuyện chèo thuyền đi tìm Phạm Lãi
Để cùng hưởng thú Ngũ Hồ khói nước ,thoát khỏi vòng danh lợi thị phi . 

Chú Thích:
(1) Lợi Châu , tên đất thuộc huyện Quảng Nguyên , tỉnh Tứ Xuyên 
(2) Phạm Lãi , người nước Việt . Chuyện kể , sau khi giúp Việt Vương Câu Tiễn diệt được nước Ngô của Phù Sai , đã cùng người đẹp Tây Thi sống mai danh ẩn tích ở Ngũ Hồ, vùng có năm hồ (Động Đình Hồ, Ba Dương Hồ , Sào Hồ , Thái Hồ , Chung Hồ ) thuộc các tỉnh Hồ Nam , Giang Tô , và Chiết Giang .

Qua Bến Đò Chiều

Lững lờ sông nước ráng chiều sa,
Khúc đảo mờ xanh chân núi xa.
Ngựa hí chèo xuôi khua sóng nổi 
Liễu buông, khách đợi ngóng thuyền qua.
Vài con âu chạy quanh lùm cỏ,
Một cánh cò bay dưới nắng tà...
Ai hiểu chuyện xưa ông họ Phạm,
Ngũ Hồ ẩn tích lánh phù hoa? 

Phạm Khắc Trí