Mạnh Hạo Nhiên 孟浩然 (689-740) tên Hạo, tự Hạo Nhiên, hiệu Mạnh sơn nhân 孟山人, người Tương Dương (nay là huyện Tương Dương tỉnh Hồ Bắc), cùng thời với Trần Tử Ngang.
Ông từng làm quan, nhưng ông không thích hợp với đám quý tộc lạm quyền, nên rất thích nơi nhàn cư. Ông lui về ở ẩn, tìm lấy đời sống tao nhã ở Long Môn quê nhà và trong cuộc du ngoạn ở những nơi xa, khắp vùng đất. Ông đi nhiều, thấy nhiều, mạch thơ đầy ắp những khí chất hồn hậu của thiên nhiên núi sông diễm lệ, hợp với tâm hồn trong sáng của mình.
Ông để lại 260 bài thơ. Có thể gọi thơ ông là thơ sơn thuỷ được. Thơ năm chữ của ông luật lệ nghiêm cách, phóng khoáng, hùng tráng, rất nổi tiếng.
Hôm nay thuyền ta đậu trên sông Tương. Quê đất Sở của ta quá xa vời, chim bay mỏi cánh cũng chưa tới. Thuyền thì đơn độc. Người cũng đơn côi. Sông hồ thì mênh mông như biển. Sóng lại nhăn mặt. Tuy đã thoát tục nhưng vẫn nhớ nhà. Đó là tâm trạng của Mạnh Hạo Nhiên, đi hoang trong một đêm trời trở lạnh sớm trên sông Tương (con sông buồn).
Nguyên tác Dịch âm
早寒江上有懷 Tảo Hàn Giang Thượng Hữu Hoài
木落雁南渡 Mộc lạc nhạn nam độ,
北風江上寒 Bắc phong giang thượng hàn
我家襄水曲 Ngã gia Tương thủy khúc,
遙隔楚雲端 Dao cách Sở vân đoan.
鄉淚客中盡 Hương lệ khách trung tận,
孤帆天際看 Cô phàm thiên tế khan.
迷津欲有問 Mê tân dục hữu vấn,
平海夕漫漫 Bình hải tịch man man.
Dịch nghĩa
Lá cây rụng, nhạn bay về nam
Gió bắc trên sông gây lạnh
Nhà ta ở cách đây một khúc sông Tương
Cách xa nước Sở cả một đường mây bay
Nước mắt nhớ quê khô cạn trên đất khách
Nhìn cánh buồm cô đơn ở chân trời
Mịt mùng (không biết đâu là bờ bến); muốn hỏi lối về
(mà) Chỉ thấy biển chập chùng mênh mông
Dịch thơ
Hoài Cảm Lạnh Sớm Trên Sông
Nhạn xuôi Nam lá đổ,
Sông lạnh bởi heo may.
Khúc sông Tương ta ở,
Cách Sở đường chim bay.
Nhớ quê khô mắt lệ,*
Buồm đơn côi chân mây,
Hỏi đâu là bờ bến,
Biển mênh mông chau mày.
*Người già rất ít lệ, chỉ khóc một lát là khô nước mắt. Ngày xưa Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê cũng giống như vậy: ….Tuổi già hạt lệ như sương, Hơi (sức) đâu ép lấy hai hàng chứa chan.
- Câu 1:
Lá rụng nhiều. Nhạn bay về Nam trốn lạnh,
- Câu 2:
Gió heo may lạnh thổi trên sông.
- Câu 3:
Nhà ta ở cách chỗ ta đang đậu thuyền một khúc sông Tương,
- Câu 4:
(có nghĩa là ta còn) Cách Sở một đường chim bay mỏi.
- Câu 5:
Nhớ quê khóc khô nước mắt,
- Câu 6:
(cảm nỗi cô đơn) với cánh buồm đơn côi nơi chân trời,
- Câu 7:
(Ta muốn) Hỏi đâu là bờ bến?
- Câu 8:
Câu cuối cần dịch theo nghĩa của toàn bài hơn là theo nghĩa của từng chữ trong câu: Biển mênh mông chau mày.
Con Cò
***
Đi Trên Sông Cảm Thấy Lạnh.
Nhạn về nam lá rơi,
Sông lạnh bấc tơi bời,
Nhà cách sông Tương nổi,
Sở xa đường mây trôi.
Nhớ quê hương cạn lệ,
Nhìn cánh buồm chân trời.
Muốn hỏi đâu bờ bến,
Chiều tà lặng biển khơi.
Song Thất Lục Bát.
Chim trốn rét xuôi nam lá trút,
Bấc lạnh sông hun hút thê lương.
Cách nhà cả khúc sông Tương,
Sở xa biền biệt một đường mây trôi.
Người đất khách lệ rơi khô mắt,
Nhìn buồm côi hiu hắt chân trời.
Bến bờ muốn hỏi đâu nơi?
Mênh mông biển lặng trùng khơi chiều tà.
Mỹ Ngọc.
May 16/2026.
***
***
Lạnh lẽo trên sông
Lá rơi chim nhạn bay về
Trên sông gió bấc não nề lạnh thay
Nhà ta cuối khúc Tương này
Cách xa nước Sở đường mây rã rời
Lệ sầu cạn kiệt quê người
Buồm cô trông ngóng cuối trời xa xăm
Bến mê những muốn hỏi thăm
Mênh mông như biển, lặng câm chiều tà!
Thanh Vân
***
Rét sớm trên sông nỗi nhớ
Nhạn xuôi nam lá rụng
Gió bấc lạnh trên sông
Ta ở bến Tương khúc
Sở mây cách vạn trùng
Lệ sầu khô đất khách
Cuối đất buồm cô trông
Muốn hỏi bến mê đó
Biển êm tối mịt mùng!
Lộc Bắc
***
Mộc lạc anh Giám đã giải thích, và hỏi tại sao không dùng chữ Diệp cho dễ hiểu. Anh Tâm và anh Giám còn tìm hiểu xem bài thơ làm năm nào, lúc đó Mạnh ở đâu… đọc cũng vui, nhưng dịch thì cứ dịch, tôi chắc đại đa số không thắc mắc về những vấn đề đó.
Tác giả dùng MÊ TÂN là chữ nhà Phật, là BẾN MÊ, để chỉ cuộc đời, nhờ Phật dẫn dắt mà mình tới bến thật..
Bài thơ tả cảnh mùa thu, lá rụng, nhạn thiên di bay về nam, và gió bắc đã lạnh… Tác giả ở cạnh sông Tương, nhìn về quê không thấy vì mấy đám mây che, tình hoài hương làm ông khóc tới cạn nước mắt, trên sông chỉ có cánh buồm cô đơn ở cuối chân trời. Tác giả muốn hỏi về mê tân, có lòng tìm Phật, nhưng chỉ thấy biển chiều êm ả và mênh mông, không sao tìm thấy bến.
Cảm Xúc Khi Lạnh Sớm Trên Sông
Lá rụng, nhạn xuôi nam,
Trên sông gió lạnh lùng,
Nhà ta nơi Tương khúc,
Mây vần Sở khó trông,
Nhớ quê dòng lệ cạn,
Buồm lẻ cuối trời dong,
Bến mê lòng muốn hỏi,
Chiều biển lặng mênh mông.
Bát Sách.
(Ngày 19/05/2026)
***
Nguyên tác: Phiên âm: Dịch thơ:
早寒江上有懷 Tảo Hàn Giang Thượng Hữu Hoài
-孟浩然 - Mạnh Hạo Nhiên Cảm Xúc Trên Sông
木落雁南渡 Mộc lạc nhạn nam độ Lá rụng nam nhạn bay,
北風江上寒 Bắc phong giang thượng hàn Gió bấc sông lạnh thay.
我家襄水曲 Ngã gia Tương thủy khúc Nhà ta trên sông Hán*,
遙隔楚雲端 Dao cách Sở vân đoan Đất Sở cách ngàn mây.
鄉淚客中盡 Hương lệ khách trung tận Khách sầu tuôn cạn lệ,
歸帆天際看 Quy phàm thiên tế khan Thuyền về ghé bờ đây.
迷津欲有問 Mê tân dục hữu vấn Lạc bến mong hỏi lối,
平海夕漫漫 Bình hải tịch man man Chiều xế biển khói đầy.
*Núi Lộc Môn, Tương Dương, Hồ Bắc quê hương của Mạnh Hạo Nhiên nằm trên sông Hán.
Bài thơ có mộc bản trong các sách:
Mạnh Hạo Nhiên Tập - Đường - Mạnh Hạo Nhiên 孟浩然集-唐-孟浩 然
Quốc Tú Tập - Đường - Nhuế Đĩnh Chương 国秀集-唐-芮挺章
Đường Thi Kỷ Sự - Tống - Kế Hữu Công 唐诗纪事-宋-计有功
Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石仓历 代诗选-明-曹学佺
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐 诗-清-圣祖玄烨
Giải nghĩa các chữ khó:
Tảo hàn: đầu mùa lạnh, chớm lạnh.
Mộc lạc: lá cây rụng.
Tương Thủy khúc: Khúc quanh của sông Tương
Sở vân đoan: nơi tận cùng của đám mây trên đất Sở (vùng Tương Dương xưa thuộc nước Sở).
Hương lệ: nước mắt nhớ quê hương.
Khách trung: trong cảnh sống nơi đất khách quê người.
Quy phàm: cánh buồm trở về.
Thiên tế: chân trời.
Mê tân: lạc bến đò, bến nước mê mờ, bến sông lạc lối, không tìm được đường qua sông. Điển tích xuất phát từ sách Luận Ngữ. Khi Tử Lộ hỏi đường qua sông, hai nhà ẩn sĩ Trường Thư và Kiệt Nặc đã trả lời đầy ngụ ý rằng thiên hạ đều đang trong cảnh loạn lạc, ai cũng đang lạc lối, cần gì phải hỏi bến sông làm gì. Nghĩa bóng chỉ sự lạc lối, hoang mang trên đường đời, trạng thái u mê, chưa giác ngộ về tâm linh.
Bình hải: mặt biển phẳng lặng, ở đây chỉ mặt sông rộng mênh mông như biển.
Tịch man man: cảnh chiều tà mờ mịt, bao la vô tận.
Dịch nghĩa bài thơ:
Tảo Hàn Giang Thượng Hữu Hoài
Cảm Xúc Trên Sông Vào Đầu Mùa Lạnh
Mộc lạc nhạn nam độ
Lá cây rụng, chim nhạn bay về phương nam,
Bắc phong giang thượng hàn
Gió bấc thổi trên sông lạnh buốt.
Ngã gia Tương thủy khúc
Nhà của tôi ở cách đây một khúc sông Tương,
Dao cách Sở vân đoan
Cách xa nơi tận cùng của đám mây trên đất Sở.
Hương lệ khách trung tận
Nước mắt nhớ quê đã cạn trong cảnh tha hương,
Quy phàm thiên tế khan
Nơi chân trời xa, chỉ thấy những cánh buồm đang quay về.
Mê tân dục hữu vấn
Muốn hỏi thăm tìm lối đi trong cuộc sống,
Bình hải tịch man man
Nhưng trời chiều đã buông xuống, mặt biển/sông mênh mông mờ mịt.
Bình luận:
Mạnh Hạo Nhiên nửa đời đầu sống ẩn dật tại Lộc Môn Sơn, quê nhà Tương Dương. Năm 40 tuổi, ông lên kinh đô Trường An thi tiến sĩ nhưng không đậu. Sau đó, ông chu du khắp vùng Giang Nam, sống cuộc đời của một vị khách tha hương. Theo trang Sưu Vân, bài thơ Tảo Hàn Giang Thượng Hữu Hoài được sáng tác năm 726 khi Mạnh Hạo Nhiên đang ở Vũ Hán vùng sông nước Giang Nam, xa cách quê hương Tương Dương hơn 300km về hướng đông nam. Nếu thật sự bài thơ được làm sau khi ông thi rớt, lúc đó ông đã 40 tuổi, thì niên đại bài thơ có thể phải là 728.
Bài thơ ra đời vào một buổi xế chiều đầu mùa đông (tảo hàn). Cảnh tượng thiên nhiên tiêu điều (lá rụng, gió bấc, nhạn bay về nam) đã khơi dậy nỗi cô đơn và sự bế tắc của nhà thơ sau những thất bại trên con đường công danh.
Bài thơ mượn cảnh sắc mùa thu muộn, đông chớm để bày tỏ nỗi lòng cô đơn, nhớ quê hương da diết của kẻ tha hương. Bài thơ là một bức tranh phong cảnh nhuốm màu tâm trạng, thể hiện sâu sắc hai nỗi niềm: tình yêu quê hương và sự bế tắc trước cuộc đời. Hai câu cuối thể hiện tâm trạng hoang mang, bế tắc của tác giả trước cuộc đời khi chưa/không tìm được hướng đi cho sự nghiệp.
On the River in Early Cold, Harboring My Feelings by Meng Haoran
Leaves are falling, and the wild geese are flying south.
The north wind blows over the river, bringing a bitter cold.
My home is located at a bend of the Xiang River,
Far away, separated by the distant clouds of the old Chu land.
Tears of homesickness have run dry during my time as a traveler,
I watch the returning sails on the horizon.
I want to ask for directions at this lost ferry crossing,
But the river is vast like a flat sea, and the evening mist stretches endlessly
Phí Minh Tâm
***.
"Tảo Hàn Giang Thượng Hữu Hoài 早寒江上有懷 " của Mạnh Hạo Nhiên còn có một tựa nữa là "Tảo Hàn Hữu Hoài 早寒有懷". Bài thơ "Ngũ Ngôn Luật Thi" nầy được Mạnh Hạo Nhiên sử dụng những từ rất độc đáo và rất đặc biệt. Ta hãy tìm hiểu lại các từ nầy xem sao....
早寒江上有懷 Tảo Hàn Giang Thượng Hữu Hoài
木落雁南渡, Mộc lạc nhạn nam độ,
北風江上寒。 Bắc phong giang thượng hàn.
我家襄水曲, Ngã gia Tương thuỷ khúc,
遙隔楚雲 端。 Dao cách Sở vân đoan
鄉淚客中盡 , Hương lệ khách trung tận,
孤帆天際看。 Cô phàm thiên tế khan.
迷津欲有問, Mê tân dục hữu vấn,
平海夕漫漫。 Bình hải tịch man man.
孟浩然 Mạnh Hạo Nhiên
* Chú Thích :
Cảm xúc trên sông khi trời lạnh sớm.
1. Mộc Lạc : là CÂY RỤNG, ta biết là Cây không thể rụng được, vì trong tiếng Hoa và tiếng Việt ta không có Thể Thụ Động (Passive voice) , nên ở đây phải hiểu là : Cây bị rụng hết lá vì trời đã cuối thu. Ở đây chỉ những loại cây thuộc "Lạc diệp kiều mộc 落葉喬木" là loại cây có thân cao to và lá sẽ vàng rụng vào mùa thu.
2. Nhạn Nam Độ : Sao không nói là Nhạn Nam PHI 飛 mà nói là Nhạn Nam ĐỘ.渡, Thì ra ĐỘ ở đây có ba chấm thủy chỉ đi ngang qua sông hồ ao biển. Vì tác giả đang ở trên sông, nên nhìn thấy chim Nhạn bay ngang qua sông đi về hướng Nam. 3. Giang Thượng : là Trên sông, xác định lại một lần nữa là Tác giả đang đi thuyền trên sông.
4. Tương Thủy : 襄水 Tương Thủy nầy khác với Tương Giang 湘江 mà ta thường hay nhắc tới là : Quân tại Tương giang đầu, Thiếp tại Tương giang vĩ... Tương Thủy nầy chảy ngang qua phía Nam thành Tương Dương nên nay được đổi tên thành Nam Cừ. Nhà của Mạnh Hạo Nhiên ở Lộc Hành Sơn, mao lư của ông nằm ở chỗ uốn khúc (voi hay vịnh) của dòng Tương thủy. Nhập giang tùy KHÚC là chữ KHÚC nầy đây.
5. Vân Đoan : Đoan là ngay ngắn( Đoan chính ), là đầu, là đầu mối (chấp kỳ lưỡng đoan 執其兩端 : Giữ lấy 2 đầu), là Bưng, là Lý do... Ở đây VÂN ĐOAN là Trong đám mây, ngay cái đám mây đó đó...
6. Hương Lệ : Không phải là giọt lệ của quê hương , mà là giọt lệ rơi vì thương nhớ quê hương.
7. Thiên Tế : là đường chân trời (Horizon). Ta có thể hiểu là Góc trời, Bên trời gì cũng được.
8. Mê Tân : Tân là Bờ, là Bến. Mê Tân ta quen gọi là Bến Mê (Bọt trong bể khổ bèo đầu Bến Mê). Nhưng ở đây chỉ Bến bờ mờ mịt không biết nơi đâu.
9. Bình Hải : là Mặt biển bằng phẳng ?. À, thì ra ngày xưa phương tiên giao thông thô sơ, trên chiếc thuyền nhỏ nhìn ra sông lớn, cũng chỉ thấy trời nước mênh mông, nên gọi là Bình Hải, chớ không có biển gì ở đây cả !
10. Tịch : là Đêm (Thất tịch, Trừ tịch ). là Buổi chiều, là Hoàng hôn : Tịch Dương là Nắng Chiều. TỊCH MANG MANG là Chiều xuống mênh mông, là Hoàng hôn phủ đầy bầu trời.
Ta thấy Mạnh Hạo Nhiên toàn dùng những từ rất lắc léo, rất đặc biệt và sử dụng cả những biện pháp Tu Từ, Mỹ từ Pháp rất mới đối với lúc bấy giờ.
* Dịch Nghĩa :
Cảm xúc trên sông khi trời lạnh sớm.
Ngồi trên thuyền nhìn lên hai bên bờ, thấy cây đều đã rụng hết lá, nhìn lên bầu trời lại thấy đàn chim nhạn bay ngang sông để về Nam. Gió bấc về làm lạnh cả dòng sông, nhà ta ở mãi tận khúc quanh của dòng Tương Thủy, cách trở xa xôi như đám mây Sở xa xa kia. Giọt lệ nhớ quê nơi đất khách đã hầu cạn rồi, nhưng chỉ thấy được có cánh buồm đơn lẻ ở phía chân trời. Nếu có muốn hỏi nơi đâu là bờ bến thì cũng không biết nơi đâu trước cảnh mịt mù của buổi hoàng hôn đang phủ trùm trong sóng nước mênh mông nầy.
* Diễn nôm:
Tảo Hàn Giang Thượng Hữu Hoài
Lá rụng nhạn xuôi nam,
Trên sông gió lạnh tràn.
Nhà ta bên Tương Thủy,
Cách trở Sở mây ngàn.
Nhớ quê dòng lệ cạn,
Buồm nhỏ trôi mênh mang.
Bến mê như có hỏi,
Sông nước chiều thênh thang !
Lục bát:
Lá rơi nhạn hướng về nam,
Ù ù gió bấc lạnh tràn trên sông.
Tương Giang quê cũ vời trông,
Ngẩn ngơ mây Sở cách ngăn mấy lần.
Nhớ quê dòng lệ cạn dần,
Buồm côi đơn lẻ chiếc thân u hoài.
Bến mê như muốn hỏi ai,
Mênh mông sông nước cho dài hoàng hôn!
Đỗ Chiêu Đức
***
Góp ý của Huỳnh Kim Giám
..cần dịch theo nghĩa của toàn bài hơn là theo nghĩa của từng chữ trong câu
Đã đành dịch thì phải làm sao cho hợp ý toàn bài nhưng nếu ý trong câu cuối này phản với ý toàn bài thì nên dịch thế nào nhỉ?
Người viễn khách lạc vào bến mê, có thể vì đã chọn lầm đường hay đi lạc hướng. Rất tiếc rằng ta chẳng biết gì nhiều về cuộc đời của Mạnh Hạo Nhiên để có thể biết hoàn cảnh nào đưa đẩy một người sống hầu như suốt đời ở Hồ Bắc lại có vẻ đang lâm vào tình cảnh của những bạn bè đang sống kiếp lưu đày ở sông Tương xứ Hồ Nam, đứng bên sông nhìn lá rụng và nhạn xuôi Nam lúc cuối thu, và nhớ quê hương. Nhưng quê hương này là ở đâu? Trong câu 遙隔楚雲端 (Dao cách Sở vân đoan): Sở là tên của nước Sở, và Vân là một tên cổ của ... Sở; 楚雲端 (Sở vân đoan) có thể hiểu là biên giới của nước Sở. Địa phận của Sở ngày xưa gồm cả Hồ Bắc lẫn Hồ Nam thì ngoài lúc họ Mạnh đi Tràng An và gặp Vương Duy thì hình như rằng ông ta chưa hề ra khỏi đất Sở, tại sao lại có chuyện đứng trên bờ sông Tương hay gần biển mà nhớ nhà!
平海夕漫漫 (Bình hải tịch mang mang): Biển phẳng lờ mênh mông cho người đọc cái cảm tưởng rằng tâm tình của thi sĩ không tạo ảnh hưởng gì đến biển, hay không được phản ảnh trên biển thế thì làm sao mà biển chau mày, trừ khi biển muốn nói rằng nhà ngươi đặt câu hỏi vô ... duyên. Đang ở trên bến mê sao còn mê muội hỏi chuyện ... bến bờ thay vì hỏi làm sao mà tìm lối thoát. Đây chưa kể sự kiện rằng sông Tương chỉ là một phụ lưu bên hữu ngạn của Trường Giang và cách xa biển hàng trăm cây số, không có cách gì mà thấy được biển!
Bài thơ này làm tôi nhớ đến thân phụ tôi. Ông cũng thích làm thơ, và làm bạn với vài thi sĩ, nam lẫn nữ có tiếng tăm một thời nhưng thằng con út đọc thơ của ông không rung cảm được, và có thể đó là một lý do tại sao nó không thích làm thơ. Cho dù cha tôi chưa hề ra Bắc, chưa hề thấy tuyết, thơ của ông cũng có tuyết băng trong đó. Tôi có cảm giác rằng đôi khi Mạnh Hạo Nhiên cũng làm thơ như thế vì tôi không làm sao hình dung được một người ở trên quê cha đất tổ của ta, không bị lưu đày mà lại làm thơ nhớ quê hương và tả một cảnh biển cách nơi ta ở hàng trăm cây số!
@ ý kiến của Phí Minh Tâm:
Bài thơ Tảo Hàn Giang Thượng Hữu Hoài được sáng tác năm 726 khi Mạnh Hạo Nhiên đang ở Vũ Hán vùng sông nước Giang Nam, xa cách quê hương Tương Dương hơn 300km về hướng đông nam. Câu 5 - Hương lệ khách trung tận: Nước mắt nhớ quê đã cạn trong cảnh tha hương – không phải vì không còn đau buồn, mà vì đã khóc quá nhiều trong những ngày dài lưu lạc.
Bài thơ thường là một sáng tác văn chương, nên thường không sát với thực tế. Hai câu thực: Ngã gia Tương thủy khúc: Nhà của ta ở khúc quanh sông Tương, Dao cách Sở vân đoan: Cách xa nơi tận cùng của đám mây trên đất Sở, trên phương diện văn chương không có gì sai vì thời Đường, người ta đôi khi nhắc chung trong thi phú vùng Sở–Giang Nam. Trong thực tế, Tương Dương nằm trong vùng sông Hán ở Hồ Bắc trong khi sông Tương chảy qua Hồ Nam vào Động Đình Hồ ở phía nam cách nhau gần 500km. Tương thủy khúc không thể là nơi có nhà của Mạnh ở Tương Dương được!
Câu kết Mê tân dục hữu vấn: Muốn hỏi thăm tìm bến đò bị lạc. Dịch theo nghĩa đen như thế cũng xong. Nhưng liệu có phải là ý của thi nhân hay không? Hiểu ý và suy nghĩ của thi nhân ngày nay thật khó. Ta có thể làm ngược lại là hiểu ý nghĩa câu thơ để suy diễn hoàn cảnh của thi nhân. Mê tân là một điển tích, một ẩn dụ nói lên tâm trạng cô đơn lạc lõng và hoàn cảnh bế tắc của thi nhân khi thi rớt phải rời Trường An.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét