Thứ Tư, 15 tháng 10, 2014

Nỗi Lòng Tú Uyên


Đời thường nói: hoa người hái, gái người trêu
Hoa không người hái-cánh hoa hoang dại
Gái không người trêu- thì gái ế chồng
Nhưng với nàng anh tha thiết hoài mong
Ước gì được…cánh hoa kiều diễm ấy
Anh đớn đau trong tâm hồn là vậy
Nên biến mình thành một gã si mê
Anh sẵn lòng làm một tên nô lệ
Bởi yêu em, người em gái hoài mong
Tự lâu rồi, anh giấu kín đáy lòng
Anh chỉ sợ làm phật lòng em gái
Anh muốn ngỏ nhưng vô cùng ái ngại
Giai nhân ơi! anh ngây dại điên rồ
Giọt nắng thu vàng vọt hanh hao
Anh chết lặng giữa rừng thu hoa cúc tím
Anh ôm mãi tình đơn phương kỷ niệm
Đến cuối đời khi nhắm mắt ra đi
Để anh còn lưu luyến khối tình si
Nơi đáy mộ nghìn thu xin vĩnh biệt
Xin gởi lại tình đơn phương thống thiết
Tình yêu anh bất diệt trên trần đời
Anh yêu em lòng vô vọng em ơi!
Anh xin gởi vần thơ làm kỷ niệm
Anh xin gởi “cánh hoa môi” âu yếm
Cho lòng mình chết lịm giữa nhân gian
Em đẹp lắm em ơi ! đẹp ngỡ ngàng
Anh ôm lấy riêng anh màu hoa tím
Em phải đâu là “Chung Vô Diệm”?
Mà em là GIÁNG NGỌC, TÂY THI
Để lòng anh những mơ mộng cuồng si
Đêm thầm khóc ngày sầu lên áo não
Anh đắm đuối ngắm nhìn hình ảnh ảo
Mà nghe lòng rạo rực thiết tha yêu
Anh xin viết ra đây một chữ YÊU
Qùy dâng tặng “ GIÁNG KIỀU” ngà ngọc

Ngô Quang Diệp

Thứ Ba, 14 tháng 10, 2014

Tình Thu Gửi Bạn


Xướng:
Chút tình gởi bạn ở phương xa
Viết vội vần thơ ấy gọi là...
Thu đến,bâng khuâng rừng* xứ lạ
Hè đi nhung nhớ phượng quê nhà
Heo may nhẹ thổi lòng se lạnh
Chiếc lá vàng rơi dạ xót xa
Gởi gió đôi dòng thơ lạc lỏng
Tri âm mời uống mấy chung trà

Song Quang
Thân tặng Sỷ Bình và các thân hữu Tây thành
9/18/2014
* Rừng xứ lạ:ở đây ý muốn nói rừng phong chỉ ở Mỹ và Canada mới có rừng phong,chứ ở VN không có.

Kính họa vận:

Thu nhớ nhung nhiều bạn chốn xa
Cảm nhau dào dạt bấy nhiêu là…
Rừng phong rụng lá rơi vàng đất
Bước khách tìm ai ngóng trắng nhà
Khắc khoải heo may vào biển động
Mơ màng lữ điếm đẫm mưa sa*
Nhìn Ngâu sùi sụt cơn giông bão
Giọt lệ quê hương đọng chén trà!…

Sỹ Bình (Tây Ninh)

Xót xa


(Từ Tình Thu Gửi Bạn của Song Quang)
Thương nhớ người đi mãi cách xa
Cõi lòng quay quắt biết bao là…
Thu sang ngày ấy còn hò hẹn
Đông đến giờ đây lạnh mái nhà
Nhớ thuở ban đầu trao nguyện ước  
Ngờ đâu lời cuối tiễn tình xa
Mai này gặp lại còn lưu luyến
Xin hãy cùng nhau nhấp chén trà

10/2014
Thiên Thu

Mùa Nước Ngập


Mười bảy năm nay nước lớn
Thêm mưa tháng chín kéo về
Nước tràn như bờ đê vỡ
Lũ dâng phủ trắng đường quê.

Nước cao dậy miền ký ức
Theo cha săn chuột trong mưa
Cánh đồng mênh mông trắng xóa
Chuột bơi đeo bám gốc dừa.

Mùa lũ dịu dàng ít nắng
Mưa bay phủ ráng nắng chiều
Nước lên bốn bề phẳng lặng
Tràn đầy tâm sự buồn hiu.

Mẹ tôi năm nào cũng cực
Xắn quần chạy lũ trong nhà
Hằng đêm chong đèn thao thức
Canh chừng mực nước đêm qua.

Lũ về thuở còn đi học
Đặt lờ ruộng nước mênh mông
Bây giờ đến mùa nước ngập
Âm thầm nỗi nhớ không quên.

Dương Hồng Thủy
(10/10/2014 – 17/9 âl)

Thơ Tranh: Mùa Nước Nổi



Thơ: Kim Quang
Thơ Tranh: Kim Oanh

Cháo

Người miền Nam không phân biệt cách phát âm cháu với cháo, nên phải hiểu theo cái ngữ cảnh.
Cháo ở đây là món ăn hóa thân từ gạo mà ra như cơm vậy. Nên cụm chữ cơm-cháu được người mình dùng chung riết rồi thành quen, có khi chỉ cơm cũng có khi chỉ cháo và cũng có khi ẩn dụ một cái gì khác nữa, không dính dáng gì với cháo, với cơm!
Cháo xuất hiện hàng ngày trong bữa ăn của người mình: Cho người già, người bịnh, người ưa ăn cháo và đặc biệt là cho trẻ sơ sanh.
Thế mới có câu:
- Thuộc như cháo.
- Ăn cháo, báo cơm.
Thuở mới sanh ra chúng ta đã được bà, được mẹ, được chị cho ăn cháo rồi. Cháo nuôi ta lớn dần và ta lại “nuôi cháo” còn mãi đến ngày nay.
Ngày nay trẻ con sanh ra tập ăn sữa, nên ít gần gũi, gắn bó với chén cháo đơn sơ nhưng đậm đà tình mẫu tử như thế hệ ông bà, cha mẹ ngày xưa.
Nói “thuộc như cháo” nghĩa là đã rành rồi, nhưng nói về cháo chợ, cháo quê có khi ta đã quên ít nhiều!

Này nhé!
Trước hết là cháo trắng. Có lẽ cháo trắng có mặt sớm nhứt trong dòng họ cháo, do nhu cầu của các bà mẹ ở cái thời xa xưa, dùng để thay sữa nuôi con.
Cháo trắng chỉ là gạo nấu loãng, nấu nhừ, mà thành. Nhìn nó màu trắng nên đặt tên là cháo trắng. Gạo thì cũng nhiều loại chớ đâu phải là một loại. Nhà nghèo thì gạo đỏ, gạo nát, gạo mốc; có tiền thì gạo ngon, gạo Nàng Thơm Chợ Đào!

Để lửa “riu riu”, hột gạo nở bung ra như cánh hoa nên nghe nói bà con ngoài Bắc gọi là “cháo hoa”. Còn ở Lục Tỉnh có người pha trò gọi là “cháo cò” vì trắng như con cò (chớ không phải nấu với thịt cò).
Văn minh hơn các bà cho vào nồi cháo một ít “thuốc muối” cho cháo mau nhừ, mau rục rả, ăn ngon và dễ tiêu hóa.
Nghèo thì ăn cháo trắng “ên” thôi, hoặc có được vài lát đường tán thì ngon hơn.
Người lớn thích ăn cháo trắng với nước mắm kho quẹt, cá kho tiêu. Người Tàu khoái ăn với mắm ba khía, hột vịt muối. Sang hơn thì cháo trắng với trứng gà, với tiêu và hành. Dân dã thì cháo trắng với dưa mắm cũng ngon đáo để.
Nợ trả lần, cháo húp quanh

Ăn cháo lúc nào cũng phải ăn nóng, vừa thổi vừa húp. Húp phải húp xoay quanh tô cháo nếu không sẽ phổng miệng !
Kiểu nói trên ẩn dụ một cách sống, cách xử sự của người Việt ta ngày xưa, người Tây Phương làm sao có được.
Ngày nay ở quê mình vẫn còn nhiều bà mẹ nuôi con bằng cháo trắng và cũng đã có bao thế hệ lớn lên như vậy, họ cũng đã làm ông nầy bà nọ như thường chớ thua ai.
Xin nói tiếp về cháo vịt. Con vịt nấu cháo rất quen thuộc ở quê mình có thể để cúng, để đãi khách phương xa tới chơi, để ăn trong gia đình và để nhậu nhẹt.
Vịt thì có vịt Tàu, vịt ta, vịt Xiêm và vịt Xiêm lai.
Thông dụng là vịt Tàu, vì nó dễ nuôi, miệt vườn có nhà nuôi cả 1000 con để lấy trứng, chở lên vựa của người Tàu ở miệt cầu Chà Và bán cho họ ấp thành trứng hột vịt lộn, thành vịt con rồi bán lại cho dân mình !!!

Vịt nấu cháo rất nhanh. Trong lúc nhổ lông vịt thì bắt lửa nấu nồi nước, độ tàn điếu thuốc thì vịt làm xong và nồi nước cũng vừa sôi.
Thả con vịt vào luộc vừa chín tới thì vớt ra và cho gạo vào nồi nước luộc vịt mà nấu cháo. Thế là bạn có nồi cháo vịt nóng hổi, ngon lành.
Vịt chặt ra từng miếng vừa gắp, cháo nêm với tiêu, hành và nước mắm ngon, ăn kèm với rau thơm trộn bắp chuối hột, chấm với nước mắm gừng thì hết chỗ chê!
Nhìn tô cháo nóng bốc khói, mùi thơm của tiêu hành, mùi của con vịt bốc theo làm cho ta phải húp nóng mới thấy đã. Ăn cháo húp quanh là vậy.
Cháo nấu “vịt ta” hay “vịt Xiêm” lai thì ăn rất độc, mấy ông già xưa bảo người yếu trong mình ăn vô sẽ bị “phát lảnh” (phát lạnh, phát rét).
Cháo vịt Xiêm là loại cao cấp. Vịt Xiêm thường phải nấu với cháo đậu xanh mới đúng điệu. Vào mùa nóng, nhà có tiền, nhà giàu dư ăn dư để hay bày nấu cháo vịt Xiêm đậu xanh cho con cháu ăn phòng ngừa bịnh thời khí, không bị nổi trái, nổi sải.
Vịt Xiêm tơ nấu cháo, xương mềm, nhai rất béo, rất ngọt, ngon hơn vịt tàu, vịt ta nhiều.
Nhiều người ăn cháo vịt với cơm, với bún vừa ngon, vừa no và không cần ăn thêm gì nữa.
Nhớ thuở nhỏ, khi ở nhà mần vịt nấu cháo là mình lấy phần lông vịt, phơi khô bán cho mấy bà mua “ve chai lông vịt”. Hôm sau, có tiền đi học ăn cà kem, nước đá nhận.
Còn con gà nấu cháo gọi là cháo gà.
Cháo gà ngon và bổ dưỡng, dễ tiêu hóa hơn cháo vịt và nhứt là ăn “không độc”.
Phải lựa con gà giò, gà trống vừa lớn, mới vỗ cánh tập gáy. Lúc đó con gà vừa đủ lớn, xương thịt phát triển đầy đủ, sung sức, mập nhưng không có mỡ.
Gà nấu cháo ăn ngon độc đáo nhờ “xé phay” chớ không chặt như vịt. Dùng tay xé gà lúc còn nóng, xé sao cho miếng gà còn nguyên không bị nát; trộn với rau răm, nặn một trái quít lấy nước rưới lên làm cho thịt gà ngon hơn nhiều.


Có một món cháo mà nếu không cẩn thận, nói lộn tên dễ gây mít lòng lắm nhé !
Đó là cháo lòng. Bà con đặt tên món cháo nấu với lòng, với thịt heo là cháo lòng chớ không kêu là cháo heo!
Cháo heo là cháo nấu gạo lức với tấm, cám, chuối cây... để nuôi heo, muốn biết rõ hơn xin tìm đọc tác phẩm “Ngọn Cỏ Gió Đùa” của nhà văn Hồ Biểu Chánh, trong đó có nhân vật Lê Văn Đó ăn cắp nồi cháo heo...

Cháo lòng có lẽ do sáng kiến từ các buổi lễ hội cúng đình. Thuở xưa người dân nghéo ít khi có dịp ăn thịt heo nên chỉ mong dịp cúng đình.
Nồi cháo lòng ở đình rất to, nấu với nước luộc đầu heo, luộc lòng, luộc thịt.
Đầu, lòng, thịt luộc chỉ dành cho các chức sắc ban hội tề; còn dân đen chỉ được hưởng phần cháo lòng với bún, cũng “quí” rồi, nên mới có câu tục ngữ:
“Mượn đầu heo nấu cháo”
Cháo lòng ở nhà mẹ nấu thì ngon hơn, nhưng cháo ở quán cóc, ở chợ quê lại có cái ngon khác.
Lòng heo sắt mỏng chấm với nước mấm trong, dằm ớt ăn với cháo rất ngon và cũng là món đưa cay của các bác xích lô, của người lao động.

Mấy cô, mấy cậu học trò cũng thích ăn cháo lòng buổi sáng, rẻ mà no.
Khi Sài Gòn phát triển, có những nhà máy làm ca đêm là dịp để cho các gánh cháo lòng xuất hiện. Cháo lòng tiện lợi là phục vụ nhanh, ăn bổ dưỡng, nhứt là hợp với ban đêm.
Nay cháo lòng đã trở thành một phần của đời sống về đêm của dân Saigon, phục vụ cho cả các doanh nhân, văn nghệ sĩ, các cô cậu choai choai đi chơi đêm về.
Nay nói về “cháo cá”, và đặc biệt cháo cá nhà quê. Nói là cháo cá nhà quê chớ đâu phải người nhà quê nào cũng ăn qua. Có người chỉ có nghe thôi, có người chưa hề nghe nói!


Đó là món cháo cá lóc với rau đáng đất.
Mấy lão nông Lục Tỉnh nói rằng cá lóc tát đìa nấu cháo mới ngon.
Khi nước rút xuống –mấy cụ lão nông kể, con cá lóc tìm xuống đìa, xuống vũng, xuống đầm để sống, Con cá trụ lại, lo ăn, không “bay nhảy” đó đây nên mập ra vì ăn nhiều sinh vật tích tụ trong đìa.
Tát đìa vào lúc đó, lựa cá lớn, có trứng, làm sạch để nguyên con nấu cháo.
Gạo thời điểm nầy là gạo mới đầu mùa, nấu cháo có mùi thơm.
Con cá nấu cháo vớt nguyên con ra để trên dĩa bàn, rồi tùy thích: Đầu, bụng, trứng hay đuôi mà chấm nước mấm gừng.

Cháo nóng múc ra tô, cho vào vài đủa rau đắng đất, chan một ít nước mắm gừng, chúng ta có một tô cháo cá lóc rau đắng đất tuyệt diệu, khó tìm.
Tin chắc rằng bạn không tìm đâu có được món ngon như thế. Đâu đó ở Saigon, trong nhà hàng mà bạn đã ăn qua cũng chẳng qua là phó bản, là nhái theo, không lừa được cái lưỡi của người sành điệu!
Đến món cháo cá bống kèo độc nhứt vô nhị xin giới thiệu cùng khách mộ điệu.
Cá bống kèo cũng năm bảy dường khác nhau. Nổi tiếng nghe nói là cá bống kèo miệt ruộng muối Bạc Liêu, nhưng ngon nhứt là cá ở miệt Cửa Tiểu –Cửa Đại vùng nước lợ.
Từ xưa ông bà kể là con cá bống kèo do đất sanh ra, và sống chỉ ăn bọt nước.
Ở quê vừa mưa xuống đã thấy có cá bống kèo con rồi, nó sống nhờ phiêu sinh vật, rong rêu nổi theo bọt. Đến mùa lúa trổ đầy đồng, mài non của hột lúa rụng khắp ruộng, là mồi nuôi cá bống kèo miệt Cửa Tiểu, Cửa Đại.
Cho nên tháng 10, tháng 11 ta, sắp Tết, con cá bụng to đầy mở, và mập tròn đẩy đà.
Bắt nồi cháo gạo mới đầu mùa lên bếp, canh lửa riu riu cho gạo nở từ từ bạn sẽ nghe mùi thơm mời gọi, độc đáo từ nồi cháo gạo mới bốc ra.

Đi theo chân ông lão nông bước ra đầu ruộng kéo “cái đó” lên bắt cá bống kèo còn sống nhảy soi sói, đem về trút thẳng vào nồi cháo đang sôi trên bếp. Con cá vùng vẫy, trong nước sôi, nghe tiếng kêu “rồ rồ” rồi tắt hẳn.
Lúc đó con cá vừa chín tới. Đem nồi cháo xuống, vớt cá ra dĩa bàn to, con cá bống kèo nứt da, dựng kỳ, dựng vi nhìn không quen thấy “ớn” nhưng ăn ngon, có vị ngọt, thịt mềm.
Thưởng thức món cháo bống kèo kiểu nầy rồi bạn sẽ chán kiểu nấu cầu kỳ: Làm sạch, chặt đầu, nấu với cải bắc thảo và nói theo dân quê thì ăn như “dậy” là “hổng biết” ăn cá bống kèo nấu cháo.
Hột cháo hột cơm, gắn với người mình từ thuở mới sanh ra, nó đi vào tim can, huyết quản của từng người.
Cháo không chỉ là món ăn nuôi ta lớn mà đã trở thành cái gì ở trong ta như một thứ tình cảm nho nhỏ, có lúc có khi tưởng như đã quên rồi.
Nay nhắc lại, nó sẽ trở về như một kỷ niệm, thôi thúc ta quay về với thuở ngày xưa, với bao cảnh cũ vô cùng đẹp đẽ.

Nam Sơn Trần Văn Chi

Tiếng Chuông Chùa


Xướng:

Tiếng Chuông Chùa

Ngân nga đêm vắng tiếng chuông chùa
Theo tiếng gió ngàn lơ lửng đưa.
Lay tỉnh người khôn còn đắm mộng
Giải mê kẻ dại vẫn nằm mơ.
Thương đời, lòng rỗng vang muôn tiếng
Vì đạo, tâm không vọng bốn mùa.
Trầm lắng dìu tôi vào chánh niệm
Hỏi mình phủi sạch bụi trần chưa?

Quang Tuấn
***
Các Bài Họa:


Chuông Chùa


Tôi thích lang thang ngoạn cảnh chùa 
Thông ngàn réo rắt vẳng xa đưa 
Hồi chuông thanh thoát ru hồn mộng 
Tiếng khánh diệu hiền dỗ giấc mơ 
Cay đắng trần ai sầu mấy thuở 
Gian nan bể khổ khóc bao mùa 
Phù du một thoáng làn mi khép 
Cát bụi đường về giũ sạch chưa?

Mailoc
9-25-14
***
Nghe Tiếng Chuông Chùa

Ngồi tựa gốc tùng trước cổng chùa
Lắng nghe chuông mõ thoảng đong đưa
Như ru nhân thế rời bờ mộng
Tựa muốn trần gian thoát bến mơ
Bớt cảnh bon chen vòng tục lụy
Thêm tâm thanh tịnh lúc vào mùa (mùa tu tập)
Hồn tôi lắng đọng vào sâu thẩm
Tự hỏi lòng mình giác ngộ chưa??

Song Quang
***
Nặng Nợ Đời

U tịch bên sông lộ bóng chùa
Lững lờ con nước nhẹ nhàng đưa
Chuông ngân mở nẻo xa phiền tục
Mõ vọng khai đường đến chốn mơ
Ánh đạo sáng soi về vạn hướng
Câu kinh thanh tịnh suốt bao mùa
Nợ trần sao vẫn còn dao động
Ý muốn nhưng lòng mãi bảo chưa.

Quên Đi

Trót Vướng Bụi Trần
Chiều vắng , dừng chân ngắm cảnh chùa
Tiếng chuông thanh thản nhẹ nhàng đưa
Đất trời rộng mở ru hồn mộng
Mây nước chan hoà gợi cõi mơ
Chân đến chốn thiền đà lắm bận
Lòng vào cõi tịnh được bao mùa?
Bụi trần trót vướng làm sao giũ
Mà biết tâm mình đã sạch chưa?

Phương Hà
***
Tiếng Chuông Chùa

Ẩn hiện từ xa một bóng chùa
Hàng sao dẫn lối gió đong đưa
Hồi chuông ngân lắng ru chiều tục
Tiếng mỏ cốc buồn vẳng thức mơ
Nhân thế còn lao vòng khổ nạn
Thiền môn vẫn lặng buổi sang mùa
Sắc không rồi cũng về u tịch
Mà nếp phong trần đã sạch chưa? 

 Nguyễn Đắc Thắng 
27/9/2014
***
Rũ Sạch Bụi Trần

Thấp thoáng đầu thôn một kiểng chùa,
Ngân nga trầm lắng thoảng chuông đưa,
Động lòng tiếng mỏ khơi hồn mộng,
Ý kệ lời kinh tỉnh giấc mơ.
Giọt nước cành dương đều tưới tắt,
Lửa lòng trần tục cũng qua mùa.
Mùi thiền xóa hết bao phiền lụy,
Nào sợ bụi trần rũ sạch chưa!?

Đỗ Chiêu Đức

Gởi người


Người ơi, câu thơ mắc nợ.
Gởi người một sáng chớm đông.
Mắt buồn như màu lá cỏ.
Tàn thu ai có chạnh lòng?

Rồi người quên mất ngày xưa.
Nắng cũng thôi vàng lối cũ.
Đường xa ray bụi mịt mù.
Một mình riêng ai- bóng lẻ.

Sợ ngày vừa nắng vừa mưa.
Đôi ta vừa quen vừa lạ.
Nhìn nhau- như kẻ qua đường.
Thẩn thờ- mình chẳng nhớ nhau!...

Hương Ngọc

Thứ Hai, 13 tháng 10, 2014

Anh Hãy Về Cần Thơ - Sáng Tác Vương Thủy Tùng




Sáng Tác:Vương Thủy Tùng

Trăng Xanh


Trăng tự tình đã hoá màu xanh
Lạnh vô cùng như trái tim anh
Tình yêu xưa đã thành kỷ niệm
Theo dòng đời chìm đắm mong manh

Em bây giờ xa cách từ lâu
Giữa biển đời như đã chìm sâu
Điệu nhạc buồn chập chùng quá khứ
Từng trái sầu rụng giữa mùa đau

Trong tận cùng giữa những xôn xao
Mình được gì với những hư hao
Đêm âu sầu hồn như lạnh cóng
Xa nhau rồi ......em biết vì sao

Gió bây giờ lạc giữa mùa đông
Khi tình mình như có như không
Trăng xanh xao ngậm ngùi nỗi nhớ
Không còn gì ngày tháng buồn trông

Khiếu Long

Thương Con Trai Người Thợ Xây Cầu Cần Thơ


Mười một tuổi còn được học
Sao đi khiêng,cõng gạch dọc công trình?
Em buồn nói để thanh minh:
"Từ khi ba mất một mình má lo
Tiền ăn,học phí thật to
Ruộng đồng vất vả,mẹ ho đã nhiều
Nhà luôn thiếu thốn mọi điều
Thôi đành nghỉ học trưa chiều làm công"
Mong Trời giải cứu công nông
Trò nghèo đến lớp mới mong đổi đời


Phượng Trắng
Winnipeg,tưởng niệm ngày 26/9(2007-2014)

Thơ Tranh: Thơ Em Ta Đọc Buồn Hơn Trước


Thơ: Vĩnh Trinh
Thơ Tranh: Nguyễn Đức Tri Ân

Chú Bé LuLa

Sinh ra vào tháng 10 năm 1945, con một gia đình nông dân ở Brasil. Vì nhà nghèo, nên từ lúc mới 4 tuổi, thằng nhỏ đã phải đi bán đâu phụng ngoài đường, nhưng vẫn quần áo tả tơi, và thiếu ăn. Sau khi
được lên tiểu học, lúc đó gia đình đã dọn lên thủ đô Rio de Janeiro, sau các buổi học chú bé thường hay cùng với 2 người bạn cùng lứa đi đánh giầy ở đầu đường, hôm nào không có khách, thì coi như là nhịn đói.

Năm 12 tuổi, vào 1 buổi xế chiều, có 1 người khách, là chủ 1 tiệm giặt ủi và nhuộm áo quần đến chiếu cố, 3 đứa trẻ chạy lại chào hàng. Ông chủ tiệm nhin vào 3 cặp mắt đều đang khẩn khoản, không biết quyết định chọn đứa nào. Cuối cùng ông nói : "Đứa nào cần tiền nhất, tôi sẽ cho đứa đó đánh giầy, và sẽ trả công 2 đồng". Công đánh 1 đôi giầy chỉ có 20 xu, 2 đồng đúng là 1 món tiền rất lớn. Ba cặp mắt đều sáng lên.


Một đứa nói : "Từ sáng đến giờ cháu chưa được ăn gì cả, nếu không kiếm được tiền hôm nay, cháu sẽ chết đói !“ Đứa khác nói: "Nhà cháu đã hết thức ăn từ 3 ngày nay, mẹ cháu lại đang bệnh, cháu phải mua thức ăn cho cả nhà tối nay, nếu không thì lại bị ăn đòn…“. Cậu Lula nhìn vào 2 đồng bạc trong tay ông chủ-tiệm, nghĩ ngợi 1 lúc, rồi nói : “Nếu cháu được ông cho kiếm 2 đồng này, thì cháu sẽ chia cho 2 đứa đó mỗi đứa 1 đồng !”. Câu nói của Lula làm ông chủ tiệm và 2 đứa kia kinh ngạc. Lula giải thích thêm : “Tụi nó là bạn thân nhất của cháu, đã nhịn đói hết 1 ngày rồi, còn cháu thì hồi trưa còn ăn được ít đậu phụng, nên có sức đánh giầy hơn chúng nó, ông cứ để cháu đánh đi, chắc chắn ông sẽ hài lòng”.

Cảm động trước câu nói của thằng nhỏ, Ông chủ tiệm đã trả đủ 2 đồng bạc, sau khi được đánh bóng đôi giầy. Và thằng nhỏ Lula giữ đúng lời, đã đưa ngay cho 2 đứa bạn mỗi đứa 1 đồng.

Vài ngày sau, Ông chủ tiệm đã tìm đến thằng nhỏ Lula, nhận chú bé đến học nghề ở tiệm giặt nhuộm của ông, cứ sau buổi tan học, và bao cả bữa cơm tối. Tiền lương lúc học nghề tuy là rất thấp, nhưng so với đánh giầy thì khá hơn rất nhiều.

Thằng bé hiểu rằng : Chính vì mình đã đưa tay giúp đỡ những người khốn đốn, nên mới đem đến cho mình cơ hội làm thay đổi cuộc đời. Từ đó, miễn là có khả năng, chú bé Lula không ngần ngại giúp đỡ những người sống khốn khổ hơn mình.


Về sau, Lula nghỉ học đi làm thợ trong 1 nhà máy, và để bênh vực cho quyền lợi của những người thợ, cậu tham gia vào công-đoàn, năm 45 tuổi, Lula là một thành viên thành lập đảng Lao-Động.

Năm 2002, trong cuộc tranh cử Tổng-thống, khẩu hiệu của Lula là :"Ba bữa cơm no cho tất cả mọi người trong quốc gia này". Và Lula đắc cử làm Tổng Thống Brasil. Năm 2006 đắc cử nhiệm kỳ 2, cho nhiệm kỳ 4 năm tiếp.

Trong 8 năm tại chức, Ông ta đã thực hiện đúng lời mình đã hứa : 93% trẻ em và 83% người lớn ở nước này được no ấm. Thực hành đúng tâm niệm : giúp đời !

Và Brasil, dưới sự lãnh đạo của Ông đã không còn là "con khủng long nhai cỏ“ mà đã trở nên "Con mãnh sư Mỹ Châu“, và trở nên nền kinh tế đứng thứ 10 trên thế giới, nằm trong nhóm BRICS.

Luiz Inácio Lula da Silva: Đó là tên của vị Tổng thống Brasil, đã giải nhiệm ngày 31.12.2010 sau 2 nhiệm kỳ.


Haley(Dịch từ Historystories)Võ Thị Kim Đính Sưu tầm

Đài Loan Cầu Nguyện Và Tri Ân Trú Dân

      Hàng năm, Giáo Hội Đài Loan dành riêng ngày Chúa Nhật áp chót hoặc cuối tháng 9 đề cầu nguyện và tri ân Trú Dân các quốc gia đã đến phục vụ xã hội và Giáo Hội. Mỗi Giáo Phận tự sắp xếp, tổ chức Thánh Lễ hay Đại Hội. Riêng GP. Gia Nghĩa, theo đề nghị của ĐGM, đã thành lập một ban do các linh mục đặc trách và giáo dân phụ giúp để tổ chức Thánh Lễ và Đại Hội.

      Nhưng không may, ngày Chúa Nhật 21.9, một cơn bão bao trùm toàn bộ Đài Loan. Mưa rất to đã làm cho số người tham dự không như dự tính, chỉ khoảng 260 - 270 người có mặt gồm Việt Nam, Phi Luật Tân, Nam Dương , Thái Lan, Ba Lan và giáo dân Đài Loan.

       Sau Thánh Lễ có chương trình biểu diễn "bỏ túi" của các sắc dân. Kết thúc, Cha Peter Nguyen đại diện, phát biểu cảm tưởng, tri ân ĐGM, các Linh mục, các sisters, các trú dân và giáo dân Đài Loan đã đến hiệp thông và cầu nguyện.

      Một vài hình ảnh do giáo dân (chụp hình không chuyên nghiệp) đã chụp gởi về bạn bè xem để biết thêm tin tức từ GH Đài Loan, đặc biệt GP Gia Nghĩa.
Cha Peter Duong và cô thư ký Tòa GM Gia Nghĩa trong bộ áo dài truyền thống Việt, cô cũng là một vũ công trong nhạc cảnh. Co Lieu Huệ Chuyên thường đánh đàn cho các Thánh Lễ Việt Nam: Nhóm giáo dân Việt Nam khoảng 20 em nam nữ, 3 Sisters và 6 Linh mục người Việt.


  Lời nguyện giáo dân với 6 giáo dân và 6 ngôn ngữ khác nhau.
Sau phần Rước lễ, nhóm giáo dân Việt Nam đã cùng hát bài "Khúc cảm tạ" khá xúc động.
Thánh Lễ khai mạc, do ĐGM Gia Nghĩa chủ tế.
18 Linh Mục đồng tế với 6 quốc tịch: Viet Nam - Phi Luat Tan - Nam Duong - Thai Lan - Ba Lan
và 1 LM, 1 Thầy Phó Tế người Đài Loan. Cha Peter Duong ngồi ghế thứ 3 bên trái ĐGM.
 Một giáo dân người Nam Dương đọc Bài Đọc 1.
Sau Bài Đọc 1, 1 giáo dân VN hát Đáp Ca: "Chúa chăn nuôi tôi... Chúa đưa tôi đi qua mọi nẻo đường...
Người đưa tôi đi lên núi cao, say sưa gió biển, vui uống suối miền Nam, vững tâm qua rừng mịt mù...            
 Dâng lễ vật với 6 giáo dân. 2 giáo dân Việt Nam ở hàng đầu.
 Dâng bánh rượu với 4 giáo dân Thái Lan, Nam Dương và Phi Luật Tân
 Văn nghệ "bỏ túi"
 ĐGM rất vui thích và khích lệ nhóm múa Việt Nam qua nhạc cảnh "Cô Thắm về quê"
rất vui nhộn với trang phục Việt Nam.Còn nhiều màn hợp ca, "Nhảy gậy" truyền thống của cộng đoàn Phi Luật Tân trong buổi diễn...
Một LM Việt Nam đang tặng bằng khen cho nhóm giáo dân Nam Dương.


 LM Peter Dương Bá Hoạt

Chủ Nhật, 12 tháng 10, 2014

Sau Vườn Lãm Thúy - Viên Ngọại Nguyễn Khắc Nhân - Hồi Thứ Nhất


SAU VƯỜN LÃM THÚY - TÁC GIẢ : VIÊN NGỌAI
Phỏng theo Nguyên tác Truyện Kiều của Nguyễn Du.

HỒI THỨ NHẤT: 

Thanh Minh viếng Mộ, Đạm, tố Đoạn trường,

(Tam dịch: Thanh Minh viếng Mộ hôm qua, 
Chiêm bao Nàng Đạm , kể ra Đọan Trường) 

Gia đình Vương ông vào bậc trung lưu , ông bà có ba người con là Thúy Kiều, Thúy Vân , và Vương Quan, nhân ngày Thanh Minh, Kiều cùng hai em, du xuân, viếng mả Đạm Tiên, đêm nằm mộng thấy Đạm Tiên hiện hồn về cho mười bài thơ Đoạn trường, và hẹn sau 15 năm sẽ đợi Kiều ở sông Tiền đường. 

Người đời có câu.
Thú nào bằng? Đánh Tổ Tôm
Uống Trà Vĩnh Phú, Ngâm Nôm Thúy Kiều,

Phần Mở đầu:

1- Kiếp người ngắn ngủi tựa gang tay
Bẩy nổi ba chìm nhuộm đắng cay
Mưa nắng truyện đời đeo dính mãi
Đoạn trường nhìều lúc thật là gay…. 

Gia Cảnh Họ Vương
2- Ngôi nhà cổ kính, nếp Nho phong
Mái ấm từ đừơng chính của Ông
Gia cảnh trung thường ngày tháng đủ
Vợ chồng con cái vẫn thong dong 

Thanh Minh viếng mả
3- Đạp Thanh mở Hội để du xuân
Quan, với Vân, Kiều, cất bước chân,
Tơi tả tàn tro bay phất phới
Ngổn ngang gò đống nhích đi dần 


Viếng Mộ Đam Tiên
4-Mé tây một nấm , thấp xè xè
Kiều hỏi Vương rằng Mộ chỗ kia,
Vương đáp Đạm Tiên người kỹ nữ
Lỡ vòng tình ái, chậm đường xe….,


Kiều cảm động
5- Tiện đây ta thắp nén nhang lòng 
Người dưới Tuyền đài hẳn cảm thông 
Hiển hiện cho xem ngay tức khắc
Thơ đề mấy vận, đã làm xong

Kim, Kiếu, gặp gỡ
6= Nhạc vàng sang sảng ở đâu đây
Bước tới dừng chân tại chỗ này
Quen mặt Vương Quan chào hỏi bạn 
Vân, Kiều, e lệ, cúi đầu ngay,

Mối duyên kỳ ngộ,
7- Thoạt trông đã thấy cảm tình rồi 
Rạo rực trong lòng , chút ít thôi
Bên sắc bên tài đồng hội ngộ,
Tơ tình vướng vít chắp thành đôi,

Mộng gặp Đạm Tiên cho thơ
8- Giấc mộng vừa rồi thật gớm ghê
Người đâu âm phủ hiện ngay về
Đoạn trường ra đủ mười bài vịnh 
Lại bảo Ông Chài , vớt giữa khe…..

Kim Trọng sang Lãm Thúy
9- Ngẫm từ hội ngộ đến hôm nay
Mong ước chỉ hồng được nối dây
Vội vã tìm sang Vườn Thúy ngóng 
Những mong gặp mặt thỏa lòng say

Kim Trọng Thuê Hiên Lãm Thúy nhòm Kiều
10- Khách thương nhà sẵn để phòng không
Kim Trọng tìm sang hỏi mướn phòng
Lại có Thúy hiên từng đối diện
Thỏa lòng khao khát khỏi hao công 

Kiều bỏ quên khăn quàng trên cành cây
11- Chiều hôm mát mẻ , bước ra ngoài
Lững thững bên thềm dạo gót chơi
Giở chiếc khăn là treo ngọn cỏ
Rồi quên không lượm bỏ đi hoài,

Kim Trọng nhìn thấy chạy ra lượm
12- Phòng thư vừa lúc hẻ nhòm ra
Nhác thấy trên cành có chiếc Thoa
Vội vã chạy ra tay đỡ lấy
Lòng mừng khấp khởi miệng ha ha,…

Kiều tìm thoa trên cây
13= Vội vàng rảo bước tời bên thềm 
Tìm chiếc thoa vàng lỡ bỏ quên
Đang lúc băn khoăn hồi hộp kiếm
Bỗng nghe tiếng nói , ở sau rèm

Kim Kiều tương ngộ
14- Khăn là thoa qúy của em đây
Anh thấy rõ ràng trước ngọn cây
Gỡ lấy đem về làm của báu 
Mùi hương rung động đáy lòng ngay 

Kiều nghe thấy đáp lời lại
15- Tạ lòng Quân tử buổi hôm nay
Nhặt được thoa vàng tiện nữ đây
Trao trả cho em xin cảm …đội, 
Trọng tài khinh nghĩa, qủa không hay

Kim Trọng lên tiếng
16- Bấy lâu nhớ trộm với thầm yêu
Nay được Kim thoa chính của Kiều 
Dừng lại đôi lời xin nạp đủ
Đài gương mong đoái chút thân bèo,

Kim Kiều giao kết
17- Dù khi lá thắm với chỉ hồng 
Cha mẹ so xem ý có đồng 
Con trẻ quê mùa đâu dám cưỡng
Chỉ xin cam kết trước là xong,

Vương gia vắng nhà
18- Vắng nhà được buổi mấy hôm nay
Em lẻn sang đây nói truyện này
Hai đứa chúng mình cùng gắn bó
Giao thề nguyện có đất trời hay,

Giao kết bài hai
19- Chính thức tuy chưa gọi vợ chồng 
Nhưng lòng đôi trẻ đã cùng thông
Hai bên từ đó càng thân mật
Sờm sỡ bên nhau dạo phím đồng,…

Kiều gẩy đàn cho Kim Trọng nghe
20-Tiếng tình tiếng tính , tiếng khoan khoan
Đây khúc Tý Bà ở Ải Quan ,
Sùi sụt . Chiêu Quân lòng tưởng nhớ
Nhớ nhà, nhớ nước, nhớ giang san,

Kiều gẩy đàn bài hai
21- Khúc đâu Tư Mã Phượng cầu hoàng
Réo rắt tiếng cầm lựa phím loan
Khúc Quãng nghe ra nhiều ý lạ,
Hành vân. Lưu thủy, giọng càng vang,

Kim Trọng chau mày
22- Rằng hay thì thật qủa là hay
Ngậm đắng nuốt cay, dạo phím này 
Những khúc tiêu tao em chọn ấy,
Thiệt lòng, mà dạ cũng ngây ngây

Kim Trọng vê hộ tang
23- Cửa sài vừa ngỏ chốt then hoa
Vội vã gia nhân báo tín nhà
Thúc phụ từ đường về cõi thọ
Dậy Kim về gấp hộ tang ma

Kim Trọng bào hung tín đến Kiều
24- Cáo thư nhận được sáng ngày qua
Thúc Phụ dậy Kim trở lại nhà
Đường Thúc quy tiên vừa đột ngột
Hộ tang mãn lệ kíp thời, qua

Kim Kiều tạm biệt
25- Trên ngựa lòng Kim những rối bời
Dặn dò cẩn thận một đôi lời
Gìn vàng giữ ngọc cho hay nhé
Một bước chân đi một ngậm ngùi

Kiều đáp từ
26- Mưa nắng trên đường trở lại quê
Ra đi xin nhớ những câu thề
Phu thê đạo cả , cương thường nặng
Gạt lệ chia tay thật não nề, 

Mùa Thu Năm Kỷ Sửu sau tiết Cốc Vũ
Dương lịch ngày 29-4-2009
Viên Ngoại : Nguyễn Khắc Nhân(Thái Hanh)


Sắc Màu Đêm



Đêm lạnh quá anh chưa về chung lối
Dòng sông em vẫn hoài ngóng thuyền xa
Trăng nhung nhớ cong dáng huyền chờ đợi
Hắt hiu buồn theo từng tháng ngày qua

Đèn hiu hắt soi dáng mềm tóc xỏa
Giá buốt ùa về phủ kín bờ vai
Từng bước nhỏ lạc loài nghe rất lạ
Gõ nhịp rơi lạc lõng tiếng thở dài

Trong im lặng dấu trong em khắc khoải
Chiều nghiêng ngày mang hơi giá mùa đông
Ngơ ngẩn nhìn bao xác lá thu phai
Nhưng nhức nhớ theo vần thơ sầu muộn

Đêm thao thức xanh xao từng nhịp thở
Mắt u hoài đọng lại giọt buồn rơi
Xác xao hồn nghe tim mình nhức nhối
đau đáu thèm vị ngot một bờ môi....

Đêm rồi đêm ... vẫn là đêm thức trắng
khung tranh đen thăm thẳm sắc màu buồn

Trần Thị Dã Quỳ