Thứ Tư, 28 tháng 9, 2016

Em Tôi

Chị viết cho em trai nhân ngày mừng Sinh Nhật 2009, 
2016 buồn tưởng nhớ tiễn em 49 ngày đã chia xa) 
(Lê Kim Hiệp, Lê Kim Phượng - Văn Thánh Miếu) 

“Xa mặt cách lòng!” Điều này có thể đúng, nhưng với em tôi thì không.
“Chín người mười ý”! Nhưng tôi không ngại quá lời, khi đảo ngược “Mười người chín ý”. Bởi vì, trong gia đình mười người con, em và tôi có rất nhiều điểm tương đồng.

Suốt thời niên thiếu, thời gian chung sống bên nhau của em và tôi dài hơn các anh chị em khác. Cả hai chúng tôi, đong đầy kỷ niệm vui buồn, giận hờn trong cuộc sống hàng ngày. Mọi việc, từ hành động, lời nói cho đến lối suy nghĩ của em và tôi khá giống nhau.
Em nhỏ hơn tôi những hai tuổi chứ ít gì, nhưng chưa một lần cung kính gọi tôi bằng “chị”, có chăng chỉ là “ông bạn” hay đôi khi đổi tong, dựa theo số thứ tự trong gia đình, em kêu tôi bằng tiếng “ sáu” cộc lốc.

Em là đứa “trù trừ” lắm! Má thường bảo thế. Khi còn bé, sáng nào em cũng quấy má. Buổi chợ mai, má bận rộn chào đón khách hàng vào ra tiệm buôn. Vậy mà, hôm nào cũng thế, vừa thức giấc, đưa tay dụi mắt, là em vội ngồi thụp xuống nơi thu ngân và bắt đầu “kéo đờn cò”. Em khóc! Cái tiếng khóc hị hị như tiếng mèo con kêu. Em khóc dài…dai dẳng đến đổi như quen thuộc quá với khách hàng. Lâu dần, tiếng khóc của em như bản đàn đơn điệu và người nhạc sĩ tí hon này cũng tự mình chấm dứt bản nhạc nhè khi biết chán khóc.

Lớn thêm một chút, em gần gũi với tôi hơn, sự gần gũi… lưu lại trong tôi những hình ảnh khá quen thuộc. Tôi đã quá quen với cậu bé mang chiếc quần đùi, quai tréo, màu tím... Vào tuổi đó, em nào biết ngại ngùng gì với cái màu tím xa xăm ấy. Những hôm chiếc quần tím bị vấy ướt, em khóc nhè và trách tôi “tại sáu”. Ừa, thì tại tôi, tôi không đủ nhanh tay vì những chiếc khuy nút má làm quá nhỏ lại chặt, chẳng dễ dàng gì cho một đứa trẻ như tôi có thể giúp em cởi ra đúng lúc.Tôi cũng vất vả với em không ít, nhất là trong việc giặt giũ. Em và cậu em kế là đầu đàn lũ trẻ trong xóm. Thừa lúc má ngủ trưa, em dẫn đám con nít ra đồng bắt dế trong những trưa hè nắng chang chang, đầm mình dưới mương bắt cá hoặc chặt bập dừa tập bơi, thả trôi nổi, lặn ngụp trên sông Giồng Ké. Em là một trong hai đứa mà cậu tôi gọi là “lục lạc lăn lục lạc lửa”.

Với những trò chơi dễ vương vãi vết bẩn trên quần áo như thế, bằng đôi bàn tay bé nhỏ của tôi, làm gì giặt sạch cho hết. Thương con gái, ba tôi đóng một thớt cây to, mua bàn chải lớn, giúp tôi dễ dàng hơn trong việc giặt giũ. Thớt to, bàn chải lớn tiện lợi thế đó, nhưng giặt hoài bàn tay nào chịu nỗi. Ngồi đến còng lưng, sinh mỏi, nên “nhất cử lưỡng tiện”, tôi cho tất cả đồ giặt vào thau, đưa chân trần mà giẫm cho sạch.

Phiền trách em đó rồi tôi lại quên đó, những khi em bày trò vui chơi. Thời chúng tôi, lúc chiều đến, đêm về, sau giờ học, làm gì có những phương tiện giải trí như ngày nay. Hai chị em tôi với trò chơi tự sáng tạo. Chúng tôi thay phiên nhau, đứa này đưa ra một vần, đứa kia phải tìm cho được một người nào đó trong xóm, mà tên họ ráp đúng với vần vừa nêu ra. Trong cuộc chơi, ai thua sẽ chịu phạt bằng cách bị búng vào tay, đến đau điếng chứ chẳng vừa. Em luôn giữ tinh thần thượng võ dù rằng nhỏ tuổi hơn. Hai đứa cùng oẳn tù tì để vào cuộc :

- Ò …ò…
- Ba Cò.
- Ìa…ìa..
- Năm Chìa
- Ọ…ọ…
- Hai Lọ
- Ông…ông…
- Chín Đông

Sau trò chơi ấy, tất cả anh chị em trong gia đình đều mang một bí danh, được lấy tên từ những người hàng xóm. Nói nhỏ nghe thôi, Chín Đông chính là Kim Oanh, người chủ nhà trang Blog Long Hồ Vĩnh Longlonghovinhlong.blogspot.com.au

Tôi với biệt danh sáu Chọt. Đó là tên bác Sáu sống cách gia đình tôi vài căn phố. Sau này có người cắc cớ hỏi, phải chăng lúc nhỏ tôi hay ăn cắp lắm nên mang biệt danh ấy. Chỉ có trời mà biết!
Còn em, nhà thơ Phố Núi, được gọi là Bảy Hí, vì theo lời Ba tôi, em mà gặp các cô gái, cười một cái, mở mắt ra con gái đi mất.

Những đêm chị em quay quần…như bất tận, những cuộc vui cũng đến lúc tàn, tuổi thơ cũng vội qua. Tôi vào Đệ Thất, rời gia đình, xa em. Chỉ cần một năm xa nhà thôi, tôi như lớn hẳn, mà là người lớn thật vì tôi thay ba đưa em đi dự thi Đệ Thất. Ngày nay, ở tuổi em, các học sinh vẫn còn tay trong tay theo mẹ đến trường. Một đêm trước ngày thi, chúng tôi đến ngủ tạm nhà bạn ở Vĩnh Bình. Chính cái đêm ấy, lần đầu tôi cảm nhận được sự uy nghi, đỉnh đạt của mình khi được em rụt rè, khép nép đi bên cạnh, dắt đâu, em theo đó, chỉ bảo điều gì, em răm rắp nghe theo. Đúng thật là dân quê lên tỉnh! Tôi đưa em đi ăn hủ tiếu, trong khu chợ Vĩnh Bình. Chưa lúc nào em hiền như lúc này. Trước cảnh tượng lạ lùng, em im lặng nhìn người qua lại, nếu cần hỏi chuyện, em vẫn cố hữu dùng tiếng “sáu” cộc lốc hoặc nói trổng.

Sáng hôm sau, trên đường đưa em đến phòng thi, không quên dặn dò những kinh nghiệm tôi đã trải qua. Khi bóng em đã khuất dần sau cửa phòng thi, tôi bước vội, lăng xăng theo nhóm người giải đáp đề thi toán, do ai đó từ bên trong phòng thi ném ra. Ngồi đợi chờ em, tôi với bao nhiêu suy nghĩ mông lung và ước mơ đến vội. Tôi nguyện cầu em được trúng tuyển. Nếu em trúng tuyển, đó là cơ hội duy nhất tôi không bị lẻ loi trong căn nhà trọ, nơi chỉ có tôi là đứa con nít độc nhất. Thời gian như chậm lại, dòng suy tư bé bỏng của tôi trôi theo, đến khi tiếng chuông reo vang, báo hết giờ thi, tôi hấp tấp đến đón em.

Kết quả thi không như mong muốn. Em lên Vĩnh Long và trở thành học sinh trường bán công Nguyễn Thông. Còn tôi ở lại Vĩnh Bình, niềm hy vọng được bầu bạn cùng em đã tan theo mây khói. Ở đây, những ngày đầu tuần dài lê thê, bước chân như nặng nề hơn trên con đường dẫn đến trường Công Lập Vĩnh Bình. Nỗi u uẩn của đứa trẻ xa nhà nơi tôi không vơi, đêm về buồn không ai biết, âm thầm khóc chẳng ai hay. Đến lúc ba má biết được, người xin thuyên chuyển cho tôi về Vĩnh Long, ở chung với anh chị em. Thật là một điều nghịch lý lẫn bất công cho tôi. Tôi thừa khả năng, đã trúng tuyển vào trường công, nhưng người điều hành của trường Tống Phước Hiệp chối từ và chẳng đặng đừng tôi trở thành học sinh Nguyễn Thông, cùng trường với em.

Ngày đầu em chở tôi đi học bằng xe đạp, em lạn qua lượn lại, mặc tình cho tôi ra sức giữ chặt yên xe nếu muốn an toàn. Theo lộ trình… sáng em đi đường này, trưa về ngõ khác. Mỗi ngày em mỗi đổi hướng đi, cộng thêm tính tối dạ của tôi, như người mù lối, tôi chỉ còn cách méc ông anh:
- Anh tư coi thằng Hiệp kìa, chở em mà nó cứ thay đổi lối đi hoài làm sao em biết đường đi học.
Méc để thị oai, thật ra tôi thương em, vì mang danh nam nhi chi chí nên phải nai lưng đèo tôi đi học. Đã vậy sau giờ tan trường, bánh xe bị xì hơi hoài thì cũng chính em là người đi mượn ống bơm của bác bán cà rem cạnh sân trường. Nhớ hoài, thương mãi hình ảnh đứng lom khom, hì hục với ống bơm, bên chiếc xe xì bánh.

Đã thế, đi học về chúng tôi còn tự nấu ăn, vì không có ba má sống chung. Các chị em tôi thay nhau trong vai trò hỏa đầu quân và mỗi người có toàn quyền định đoạt món ăn khi đến phiên mình. Mỗi lần em làm bếp, bà chị thứ Ba khóc hoài hoài, vì theo chị món hủ tiếu xào mà em nấu có bổ gì đâu mà ăn hoặc khi bà chị Năm làm em phiền lòng, thì y như rằng nồi cà ry hôm đó sẽ cay hơn.

Bản tính em là thế đó, nhưng lại hiền hậu và độ lượng trong cách sống. Tính em tiện tặn khác hẳn sự tiêu pha của chị Năm, nên việc em cho chị vay nợ, không lấy gì làm ngạc nhiên. Em rất dễ dàng khi cho đi, nhưng lúc cần đến, chị khất hoài không trả lại tiền, nếu em tiếp tục đòi, thì thế nào cũng…
- Ai biểu ngu cho mượn chi.
Bị mắng, nhưng em tiếp tục “ngu” hoài.
Em tôi ngoài tài nấu ăn, lại có khiếu văn chương. Em thích đọc sách báo lắm, phong lưu trong việc bỏ tiền mua báo Thời Nay và Văn Nghệ Tiền Phong. Ban đầu em rủ rê chúng tôi cùng đóng góp mua báo, nhưng ai dại gì mà bỏ tiền cho kẻ đam mê như em.
- Thôi tụi chị không thích coi. Chị Năm và tôi đồng trả lời.
Thế là em tự “phung phí” tiền và dĩ nhiên là em xem một mình, sau đó đem giấu mất. Bà chị Năm và tôi thừa lúc vắng em, tìm tòi lục lạo khắp nơi, nhưng nào tìm đâu ra. “Quyết chí thì nên!”, chúng tôi rình rập, đợi chờ tìm cho được nơi chốn bí mật đó. À, thì ra, quyển sách được đặt bên dưới chiếc rương cây.

Chị và tôi thiệt tình! Đã xem lén mà còn lém và lối. Trên bàn ăn, chúng tôi giả đò trò chuyện, nhưng nói toàn là những chuyện đăng trong số báo em vừa mua. Đôi mắt hí của em càng nhỏ hơn khi em nhìn chúng tôi, rồi em cười cười mà chẳng nói lời nào. Đến số báo kế tiếp, theo thói quen, chúng tôi đưa tay tìm báo dưới đáy rương. Chẳng có!
- Vậy thằng Hiệp nó giấu ở đâu? Chị tôi hỏi như gắt.
Chúng tôi không nản lòng. Lần này em giấu tận trên mái nhà. Tôi làm sao quên được cái hình ảnh em, hình ảnh…mắt em đảo qua, ngó lại và nhanh chóng trèo lên cao, cất quyển báo, theo em có lẽ đó là nơi an toàn. Nhất cử nhất động của em làm sao tránh khỏi sự cố tình của chị Năm và tôi.
Ngoại hình của em rất “cù lần”. Trong khi các học sinh tĩnh lẻ đã biết chưng diện, chạy theo thời trang, thì em tôi chỉ “lượt là” với quần kaki xanh, ngắn cũn cỡn, để lộ đôi vớ đỏ chói. Thầy Nghĩa dạy Anh văn, thầy cho rằng em cao bồi, nên trù dập, “dợt” bài em hoài. Có lẽ nhờ thế nên môn Anh văn em được điểm cao. Đến năm Đệ Tam, em chọn Pháp văn cho sinh ngữ thứ hai. Em siêng năng lắm, sang sáng thức sớm “gạo” bài, trong thanh vắng tiếng em lồng lộng:
- É ni mô…é ni mô…cọp vật.
Tôi bị đánh thức bởi bài học dị kỳ và giọng đọc quá to của em. Càng lắng nghe, tôi càng thắc mắc, chẳng chịu đựng được tôi vội bước ra:
- Hiệp học cái gì vậy?
- Pháp văn.
Sau một phút suy tư, à…thì ra… animal, nhưng vì em viết chữ quá tháu, từ chữ “con vật” biến thành “cọp vật” và môn học tiếng Pháp, nhưng lối em phát âm lại là tiếng Anh.

Bảy năm dài của bậc Trung học hoàn tất, em và tôi mỗi người một phương trời. Chúng tôi như bầy chim đủ lông cánh bay xa, ít dịp gặp lại ngoại trừ những ngày lễ trọng. Đến 75, đàn chim lại tất bật, bất đắc dĩ tìm về tổ ấm. Dưới mái nhà xưa, chúng tôi cùng chung sống, êm ấm đó, nhưng đàn chim sống trong đợi chờ lo âu thường nhựt. Có những hôm, em, tôi cùng vác cuốc trồng khoai sắn trên mảnh đất của người anh rễ, cách nhà không xa. Chúng tôi có dịp nhắc lại trăm ngàn chuyện cũ, cười rũ rượi, nhưng rồi buồn đó, mất hết vô tư. Từ sau năm 1975, em trở về Vĩnh Long và cùng tôi, sống lại trong căn nhà xưa. Tôi “cô giáo hippy tỉnh lẻ”, đã đổi đời … ngày hai lượt “đeo” theo xe đò làm cô giáo miền...quận lỵ Tam Bình. Năm ấy, chiếc bàn ăn cũng là nơi tôi ngồi chấm điểm thi cuối năm cho học sinh, em đi phớt ngang qua …
- “Ông bạn”cứ lo dạy hoài. Tôi thầm hiểu được điều em muốn nhắc nhở.
Lời em là cánh buồm đưa tôi ra khơi. Trong chia tay bằng lời hứa chắc chắn, em sẽ ở lại lo cho ba má trước, rồi mới quyết định cho riêng mình.

Đến năm 1984, ba má tôi sang Úc châu định cư. Em đã chu tất và trọn giữ lời lo cho ba má. Những ngày xa quê hương, nhớ về căn nhà em đang sinh sống, tôi áy náy hoài và nghĩ về em, về hoàn cảnh và cuộc sống của người ở lại. Lắm lúc viết thư cho em, tôi khuyên em hãy lo cho tương lai, sau đó thì đoàn tụ vợ con khi khả năng cho phép. Em hồi âm với lời rất khẳng khái:
- Bao giờ đầy đủ hết vợ con em mới đi.
Hiện nay, em vẫn ở lại quê nhà. Em không còn gọi tôi bằng tiếng “ông bạn” mà chỉ cộc lốc tiếng gọi “sáu” và qua điện thoại viễn liên, cũng hoài câu nói… “Sáu, nói nghe nè…”.

Mấy mươi năm trôi qua, mới ngày nào còn là cậu bé húi cua mà giờ đây em đã là ông nội, ông ngoại người ta. Dù là đứa em thứ bảy trong gia đình, dù sống trong môi trường vất vả với miếng ăn, cái mặc, nhưng nơi em, em trưởng thành trong hành xử với anh em, người thân và bạn bè. Tính trẻ trung vẫn còn đó. Tấm lòng nhân hậu, độ lượng, nhường nhịn của một Hướng đạo sinh ngày nào, em chưa quên ... Ở tuổi đời không còn trẻ nữa, nhưng em luôn trao ban cho người xung quanh sự hồn nhiên, yêu đời dù rằng đời sống của em có nhiều lo âu và chịu lắm thiệt thòi.

“ Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh!” . Cái nòi thương yêu lo lắng cho anh em đôi bên, phe mình, phe ta rất tròn nên được bên vợ rất mực yêu thương. Em quá giống ba ở điểm này. Với bạn bè, em rất chí tình, những người bạn thân từ những ngày còn trong quân ngũ, đến nay mỗi người một phương cách biệt, nhưng tình thâm vẫn đậm đà.

Ngày Mười Hai, tháng Mười Hai, mấy mươi năm trước…

Trót sinh là Cánh Đại Bàng
Thả đôi chân xuống trần gian làm người

Hôm nay…

Sinh nhật đầy ấp nụ cười
Mười Hai tháng Mười Hai tươi thêm tình

Mấy mươi năm xa nhau, hai chị em, mỗi người một phương trời. Nhờ mây đưa, gió chuyển giùm…đến tận bên kia bờ đại dương, trao đến em những lời chân thành, mộc mạc này, làm quà trong ngày sinh nhật…rằng
Chị rất nhớ em! Hiệp ơi. 

Kim Phượng
12.12.2009

Một Thoáng Cảm Hoài



Chưa chín nồi kê đầu đã bạc
Xem qua tâm sự buồn man mác
Hững hờ năm tháng nọ phù vân
Dày dạn phong sương kìa tuổi hạc
Nhớ quá ngày xưa một mái nhà
Thương hoài thuở khó không lầu các
Sinh ly tử biệt buốt lòng ta
Khẩn nguyện bạn hiền an phúc lạc!

Cao Linh Tử

28/9/2016
(Sau khi đọc bài Em Tôi của Kim Phượng - Tưởng Nhớ 49 ngày của Lê Kim Hiệp) 

Thứ Ba, 27 tháng 9, 2016

Một Dòng Sông



Tôi nằm đó im lìm như cây cỏ
Nguời tiển tôi đặt xuống một cành hoa
Đừng lưu luyến nữa chi cõi ta bà
Hãy yên nghĩ, một linh hồn tội nghiệp

Suốt cuộc đời tôi đã từng tha thiết
Đã tận cùng hạnh phúc lẫn khổ đau
Tấm lòng tôi bát ngát tựa trăng sao
Nay thanh thản hòa tan vào vũ trụ

Thơ của tôi như nỗi sầu tích tụ
Sẽ tan tành vào cát bui thời gian
Môt mai kia ai nhặt chút tro tàn
Xin hóa kiếp cho sầu tan vĩnh viễn

Tên tôi đó như dòng sông miên viễn
Tặng cho nguời những giọt nước mát trong
Mỗi sớm mai xin hãy uống vào lòng
Chút kỷ niệm tôi âm thầm gởi lại

Khánh Hà

Hương Thầm - Phan Thị Thanh Nhàn


Cửa sổ hai nhà cuối phố
Không hiểu vì sao không khép bao giờ
Ðôi bạn ngày xưa học cùng một lớp
Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương đưa
Giấu một chùm hoa trong chiếc khăn tay
Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm
Bên ấy có người ngày mai ra trận
Họ ngồi im không biết nói năng chi
Mắt chợt tìm nhau rồi lại quay đi
Nào ai đã một lần dám nói ?
Hoa bưởi thơm cho lòng bối rối
Anh không dám xin
cô gái chẳng dám trao
Chỉ mùi hương đầm ấm thanh tao
Không giấu được cứ bay dịu nhẹ
Cô gái như chùm hoa lặng lẽ
Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu
(Anh vô tình anh chẳng biết điều
Tôi đã đến với anh rồi đấỵ..)
Rồi theo từng hơi thở của anh
Hương thơm ấy thấm sâu vào lồng ngực
Anh lên đường hương sẽ theo đi khắp
Họ chia tay
vẫn chẳng nói điều gì
Mà hương thầm thơm mãi bước người đi.

Phan Thị Thanh Nhàn
(An Nguyen sưu tầm)

Tảo Thu - Hứa Hồn (Đời Đường)

Một Ngày Ở Thành Phố Lần Ðầu Tiên Từ Bắc Vào Nam Ðặt Chân Ðến Hơn 62 Năm Về Trước 
Thao thức dậy mở cửa sổ  hứng gió đêm, ngọn đèn khuya cô đơn ngoài góc phố, im lìm.


Trời đã vào thu rồi đấy em 
Dáng xưa, gió gác với trăng thềm 
Hồn thơ ngơ ngẩn dòng năm tháng 
Còn ngỡ người về trong bóng đêm 

Ừ nhỉ, cũng đã một đời bèo giạt ,năm  tháng  đẩy đưa lạc lõng, và một khối u tình khôn tỏ.
Tảo Thu 
Dao da, phiếm thanh sắt
Tây phong sinh thúy la
Tàn huỳnh thê ngọc lộ
Tảo nhạn phất kim hà 
Cao thụ hiểu hoàn mật
Viễn sơn tình cánh đa 
Hoài Nam nhất diệp lạc
Tự giác Ðộng Ðình ba  

Hứa Hồn - Ðời Ðường
***

Ðêm thâu thanh vắng hiu hắt 
Gió vàng vờn bãi thúy la 
Ðóm khuya lập loè sương ngọc 
Nhạn sớm ruổi cánh thiên hà 
Nắng ửng rừng xưa u mặc 
Núi xa mây tạnh rỡ ràng 
Hoài Nam một chiếc lá rụng 
Ðộng Ðình sóng nổi lăn tăn 

Ôi chao,  vẫn  muốn hỏi sao, vào lúc một chiếc lá thu rơi ở  một góc trời đâu đó, mặt nước hồ xưa giữa phố cũ năm nào,bây giờ, còn không và không biết có còn vì nhau mà  nổi sóng cảm thông?

Phạm Khắc Trí
08/26/2016 

Thứ Hai, 26 tháng 9, 2016

Thơ Tranh: Dạ Quỳnh


Photo & Thơ: Lê Đăng Mành
Thơ Tranh: Kim Oanh

Những Đóa Sen



Cạnh xác mai vàng đầy lối nhỏ
Tinh anh sen trắng độc vươn cao
Động lòng mấy cảnh đời bên đó
Sóng dập lênh đênh khách má đào.

Từ dưới bùn nhơ với giá trong
Vượt lên đứng thẳng ngắm trời đông
Hương thơm ngát tỏa mà thanh khiết
Tòa ngự tâm hồn với pháp không.

Nhăn mày nhấp chén mùi tân khổ
Chớ trách cao xanh lắm phũ phàng
Về với tâm mình tìm phúc lạc
Vô thường giả tạm phút truy hoan.

Cao Linh Tử
Ảnh phụ bản của tác giả chụp

Vĩnh Long - Văn Thánh Miếu

Cổng Tam quan của Văn Thánh Miếu -Vĩnh Long

Trong kho tàng văn hoá, sinh hoạt lễ hội là loại hình văn hoá rất đặc trưng ở Việt Nam. có mặt khắp mọi miền đất nước, giúp con người nhớ về cội nguồn, hướng thiện, tạo dựng cho mỗi người chúng tamột cuộc sống yên vui, nhất là về mặt tinh thần được an lành , lạc quan. Lễ hội đem đến cho con người sự thanh thản tâm linh, loại bỏ hay quên đi những lo toan thường nhật để hướng về cội nguồn, nhớ ơn các bậc tiền nhân có công với tổ quốc, các bậc tiền hiền khai khẩn nơi mình đang sống, Thành hoàng bổn cảnh…

Chúng tôi xin nhắc đến Văn Thánh Miếu -Vĩnh Long.

Vàì nét về lịch sử tỉnh Vĩnh Long: là vùng đất đa dạng màu mỡ và trù phú do hai sông lớn Tiền Giang và Hậu Giang bù đắp phù sa hằng năm,với hệ thống sông rạch chằng chịt, thuận tiện giao thông, có thể nói Vĩnh Long là trung tâm và là hĩnh ảnh thu nhỏ của của đồng bằng sông Cửu Long.

A-VỊ TRÍ TỈNH VĨNH LONG
Bản đồ Vĩnh Long năm 1911

Phía bắc giáp tỉnh Tiển Giang (Định Tường), tây bắc giáp tỉnh Đồng Tháp, phía đông giáp Bến Tre, đông nam giáp Trà Vinh , phía nam giáp, Sóc Trăng và Cần Thơ.

Thị xã Vĩnh Long cách thành phố Sài Gòn 136km , có quốc lộ 1 và quốc lộ 53 đi ngang qua, nơi đây là cầu nối giao thông quan trọng giữa Sài Gòn -Cần Thơ và các tỉnh miền Tây.

Nhắc lại trước kia, năm 1732, chúa Ninh Vương Nguyễn Phúc Trú đã lập ở phía nam dinh Phiên Trấn đơn vị hành chánh mới là dinh Long Hồ, châu Định Viễn (tỉnh Vĩnh Long ngày nay). Thủ phủ của dinh Long Hồ lúc mới thành lập đóng ở thôn An Bình Đông, huyện Kiến Đăng, được gọi là dinh Cái Bè.

Đến năm Đinh Sửu (1757) (a) thì chuyển đến xứ Tầm Bao (thuộc địa phận thôn Long Hồ, nay là thành phố Vĩnh Long).

Nhờ đất đai phì nhiêu, giao thông thuận lợi, cư dân đông đúc, việc buôn bán thông thương phát đạt … dinh Long Hồ trở thành trung tâm quan trọng thời bấy giờ. Chúa Nguyễn đã thiết lập nơi vùng đất nầynhiều đồn binh như Vũng Liêm, Trà Ôn…

Đến năm 1813, thời vua Gia Long, dinh Lonh Hồ được đổi là Vĩnh Trấn. Năm 1832, tỉnh Vĩnh Long được chính thức thành lập.

Vĩnh Long là nơi có nhiều di tích lịch sử văn hoá như: thành xưa Long Hồ, miếu Công thần, đình Long Thanh (được xây dựng năm 1720), chùa Phước Hậu (được xây dựng vào nữa cuối thế kỷ 18 ) chùa Kỳ Sơn (được xây dựng khoảng năm 1812)… Đặc biệt là là Đền Văn Thánh hay Văn Thánh Miếu..

B-VĂN THÁNH MIẾU
Ông Phan Thanh Giản

Văn Thánh Miếu Vĩnh Long cùng với Văn Thánh Miếu Biên Hòa (thuộc tỉnh Đồng Nai), Văn Thánh Miếu Gia Định thành, là ba Văn Thánh Miếu của vùng đất Nam Kỳ có từ thế kỷ 19 được xây dựngnhằm đề cao Nho giáo.

Theo sử liệu , dưới triều vua Tự Đức có nhiều cuộc nổi dậy đánh phá dữ dội ở Bắc Kỳ mà trong Nam Kỳ thì thực dân Pháp đã đánh chiếm nhiều nơi :

Ngày 31-8-1858, liên quân Pháp – Tây Ban Nha đã kéo chiến hạm đến dàn trận tại cửa biển Đà Nẵng. Sáng ngày 1-9-1858, chúng cho tàu chiến bắn đại bác lên các đồn Điện Hải, An Hải … mở đầu cho cuộc xâm lược nước ta.
Thành Gia Định thất thủ ngày 17-2-1859Pháp lần lượt chiếm các tỉnh Gia Định, Biên Hoà, Định Tường và Vĩnh Long

Thực dân Pháp đã dùng áp lực quân sự buộc triều đình nhà Nguyễn phải đầu hàng với hiệp ước bất bình đẳng năm Nhâm Tuất (1862). Vua Tự Đức cử Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp vào Sài Gòn giảng hoà với thực dân, để triều đình có thể đem quân dẹp an các cuộc nổi dậy ở đất Bắc.

Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp đành phải cầu hoà ký hiệp ước bất bình đẳng , hoà ước năm Nhâm Tuất ký tại Sài Gòn ngày 5-6-1862 cắt 3 tỉnh miền Đông cho Pháp : Biên Hoà, Gia Định , Định Tường và các đảo Côn Lôn .

Hoà ước Nhâm Tuất được ký trên chiến hạm Duperré của Pháp đậu trên sông Sài Gòn. (Có ý kiến cho rằng trên chiến hạm Duperré chỉ là trao đổi ủy nhiệm thư, còn việc ký hoà ước của hai phái đoàn đượcthực hiện tại Trường Thi – nay là Nhà Văn Hoá Thanh Niên, số 4 đường Phạm Ngọc Thạch, quận 1 Sài Gòn).

Hoà ước có 12 điều khoản , trừ các điều khoản có tính cách ngoại giao, thì 8 điều khoản được coi là quan trọng, trong đó có khoản 11 có liên hệ đến tỉnh Vĩnh Long .:

Khoản 11: Thành Vĩnh Long sẽ được binh lính (Pháp) canh gác cho đến khi có lệnh mới mà không ngăn cản bất cứ cách nào hoạt động của các quan Đại Nam. Thành nầy sẽ được trao trả cho Hoàng đế nước Đại Nam ngay khi Ngài đình chỉ cuộc khởi nghĩa do lệnh Ngài ra tại các tỉnh Gia Định và Định Tường và những người cầm đầu cuộc khởi nghĩa nầy ra đi và xứ sở được yên tĩnh và qui phục như một xứ bình yên. (Wikipedia)

Năm Tự Đức thứ 14 (1862), ba tỉnh miền Đông đã lọt vào tay thực dân Pháp. Lúc bấy giờ tỉnh Vĩnh Long cũng đã nằm trong tay quân viễn chinh Pháp, nhưng theo điều 11 của hoà ước Nhâm Tuất (1862), thì Pháp phải trả lại tỉnh Vĩnh Long cho triều đình Huế . Do đó, các sĩ phu ở các tỉnh Biên Hoà, Gia định và Định Tường đã phải “vượt biên”, “vượt tuyến “ về “tỵ địa” tại Vĩnh Long. Quan đốc học là Nguyễn Thông đã chọn nơi rộng rãi an toàn gần thành Vĩnh Long xây dựng nơi cư ngụ để tập hợp họ lại ôn nhuần kinh sử để chờ ngày ứng thí

Xây dựng Văn Thánh Miếu
Ông Nguyễn Thông

Mặc dầu đang trong cảnh chiến tranh dầu sôi lửa bỏng nhưng giới sĩ phu thời bấy giờ với tinh thần yêu nước tôn sư trọng đạo đã gấp rút vận động và xây dựng Văn Thánh miếu bên cạnh nơi ôn tập. Người chủ xứơng xây dựng công trình nầy là Kinh lược sứ Nam Kỳ Phan Thanh Giản và quan Đốc Học Vĩnh Long Nguyễn Thông.Tuy danh nghĩa là đề cao Nho giáo nhưng thực chất là xây dựng một nơi hoạt động văn hóa đề cao các bậc tiền hiền, các gương anh hùng chiến đấu chóng ngoại xâm và giáo dục lòng yêu nước cho người dân. Công trình khởi công từ mùa đông năm Giáp Tý (1864) và hoàn thànhvào mùa thu năm Bính Dần (1866).

Sau khi hoàn thành, giới quan lại, sĩ phu đã thành lập hội Văn Thánh Miếu để trông nom việc tế lễ hằng năm. Hội cũng lo tạo cơ sở lâu dài, ruộng đất hương hỏa cho văn miếu nầy. Thế nhưng tấm lòng yêunước của giới sĩ phu không qua được con mắt mật thám của bọn Việt gian tay sai đế quốc xâm lược, chỉ ít lâu sau thì quân viễn chinh Pháp lại đem chiến thuyền uy hiếp thành Vĩnh Long lần thứ hai.

Kinh lược sứ Phan Thanh Giản tuẫn tiết

Những tưởng một lời an bốn cõi, 
Nào hay ba tỉnh lại chầu ba! (PTG).

Kinh lược sứ Phan Thanh Giản trấn nhậm Vĩnh Long chẳng được bao lâu, vào trung tuần tháng 6, nhận được tối hậu thơ của De Lagrandière buộc phải nhượng luôn cho họ 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Phan Thanh Giản trả lời :” Tôi có quyền giữ đất, chớ không có quyền nhượng đất”. Ngày 20-6-1867, Phan tiên sinh cùng quan Án sát Vĩnh Long tìm gặp De Lagrandière để hội đàm. Pháp yêu sách quá đáng, phái đoàn ta yêu cầu chờ thỉnh ý triều đình Huế; De Lagrandière cũng chấp thuận. Nhưng khi Phan Thanh Giản trở về thành thì thấy quân đội Pháp đã chiếm đóng thành Vĩnh Long. Tiếp theo là Châu Đốc thất thủ vào lúc nửa đêm 21 rạng ngày 22, Hà Tiên mất sáng ngày 24-6-1867. Năm ngày mất 3 tỉnh ! Toàn thể lãnh thổ Nam Kỳ Lục tỉnh đã lọt vào tay quân cướp nước. Sứ mạng không thành, Phan Thanh Giản đành chịu chết để đền nợ nước.

Sau khi viết một tờ sớ lời lẽ cực kỳ lâm ly thống thiết, Phan Thanh Giản xếp đồ triều phục và các đạo sắc phong, cho người đem về Kinh, rồi tuyệt thực. Nhịn ăn 17 ngày mà không chết, Phan tiên sinh uống thuốc độc để kết liễu đời mình , ông mất ngày mùng 5 tháng7 năm Đinh mão (4-8-1867) . Khi Nam Kỳ Lục tỉnh lọt vào tay quân cướp nước, Nguyễn Thông đang giữ chức Đốc Học Vĩnh Long, để tỏ ý bất khuất phục, liền dời cả gia quyến đến “tỵ địa” tại Bình Thuận (Trung Phần).

Bảo vệ Văn Thánh Miếu



Sau khi chiếm Vĩnh Long, bọn thực dân Pháp lấy cớ thiếu gỗ xây dựng dinh tham biện (dinh tỉnh trưởng) định phá Văn Thánh Miếu để lấy gỗ. Bá tánh, đồng bào bàn nhau đề cử ông Trương Ngọc Lang (tức Bá hộ Non) đứng ra thương lượng với quân viễn chinh giữ lại công trình văn hoá nầy. Và từ ngày đó đến nay Văn Thánh Miếu được trùng tu nhiều lần và xây dựng thêm các công trình phụ.

Văn Thánh Miếu tọa lạc tại phường 4, thị xã Vĩnh Long, ngày trước thuộc làng Long Hồ, tổng Long An, tuy đã trãi qua các lần trùng tu , nhiều giai đoạn lịch sử nhưng vẫn giữ được nét cổ kính rợp bóng câyxanh bên cạnh bờ sông Long Hồ. Phía trước,mặt tiền là cổng tam quan xây theo lối cổ lâu có ba tầng mái, nằm sát vệ đường lớn. Qua cổng tam quan là.thần đạo đi thẳng vào điện Đại Thành. Mặt trước chánh điện là ba tấm bia đá. Đáng chú ý nhất là tấm bia do Phan Thanh Giản viết trước khi tuẩn tiết. do ông Trương Ngọc Lang lập năm 1874 . Tấm bia thứ hai kỷ niệm ông Tống Hữu Định và giới trí thứctrùng tu ngôi miếu năm 1903. Tấm bia thứ ba ca ngợi lòng hảo tâm của bà Trương thị Loan (con gái của ông Trương Ngọc Lang) đã hiến đất làm hoa lợi hương hoả. Hai tấm bia sau do ông Nguyễn Liên Phong thành lập.

Tuỵ Văn lâu

Văn Xương Các - Văn Thánh Miếu Vĩnh Long

Trong khuôn viên miếu có hai cái ao (hồ) trồng sen gọi là hồ Nhật Tinh và hồ Nguyệt Anh. Trong văn bia do Phan Thanh Giản viết có nói đến “Thơ lầu” (lầu sách) ở bên tả Văn Thánh Miếu (từ trong nhìn ra). Do đó, sau khi Phan Tiên sinh tuẩn tiết, các con của ông hưởng ứng phong trào kháng chiến chống Pháp, những người trong giới sĩ phu, trong đó có người Minh hương, đứng đầu là ông Trương Ngọc Lang đã lập sổ lạc quyên kêu gọi mọi người đóng góp hiện kim, hiện vật để xây dựng một “Tân Đình” phía tả Văn Thánh Miếu để thờ Phan Thanh Giản. Công trình bắt đầu xây dựng năm 1869 và hoàn thành vào năm 1872, Trương Ngọc Lang dựng bia đặt tên là Tuỵ Văn Lâu (b) (lầu nhóm họp văn nhân tài tử). Tuỵ Văn Lâu được trùng tu năm 1914 và khoảng năm 1920 – 1923 được đổi tên là Văn Xương Các . Trên gác là Thơ lầu, nơi cất giữ sách và thờ Văn Xương Đế Quân -vị tinh quân chủ quản việc thi cử học hành (c). Nhưng từng dưới Văn Xương Các mới là nơi quan trọng nhất. Gian giữa là nơi các văn nhân thi si nhóm họp đàm đạo. Phía trong là khánh thờ Gia Định Sử sĩ Sùng Đức Tiên sinh Võ Trường Toản ( danh hiệu được Nguyễn Vương ban cho) và Khâm sai Kinh Lược sứ Phan Thanh Giản.Khánh thờ chạm trỗ tinh vi, trong đặt hai bài vị, có câu đối ca tụng hai bậc sĩ phu đứng đầu đất Gia Định:

Hoàng phong “Sử sĩ ” thanh cao lão, 
Tự hiệu “thư sinh” tiết liệt thần. (d)

Súng đồng - Văn Thánh Miếu

Đến khoảng năm 1933, Tiên sinh Phan Thanh Giản được vua Bảo Đại nhà Nguyễn phong thần. Từ đó tại khánh thờ nầy có thêm một hòm sắc phong và một bức chân dung của Phan Thanh Giản dohoạ sĩ Philippe Trần vẽ rât công phu. Và các nhân sĩ đã hiến tặng nhiều câu đối ca tung công đức của Phan Tiên sinh.

Bên tả khánh thờ chính là khánh thờ các quan đại thần có công khởi xướng xây dựng Văn Thánh Miếu:
Tổng đốc Vĩnh Long Trương văn Uyển
Bố chánh Vĩnh Long Nguyễn văn Nhã
Án sát Vĩnh Long Võ Doãn Thanh
Bố chánh Quảng Ngãi Nguyễn Thông (nguyên đốc học Vĩnh Long)

Gian bên hữu thờ các quan đại thần:
Tuần phủ Hà Tiên Lê Quang Nguyên
Án sát Hà Tiên Nguyễn Toán
Án sát An Giang Phạm Hữu Chánh
Tri phủ Định Viễn Lê văn Khiêm
Tri phủ Định Viễn Nguyễn Tống Minh
Giáo thọ Hoằng tự Nguyễn Tu Mẫn
Tổng đốc Thuận Khánh Nguyễn Mục Như (Nguyễn văn Phong)
Bá hộ Trương Trọng Tiên (Trương Ngọc Lang)

Nguyễn Mục Như người Vĩnh Long, là cha chồng bà Trương Thị Loan, hai ông Trương Ngọc Lang và Nguyễn Mục Như được thờ tại Văn Thánh Miếu là do bà Trương thị Loan gởi hậu. Riêng ông Trương Ngọc Lang là người có công lớn trong việc trùng tu và bảo vệ Văn Thánh Miếu. (Sách di tích lịch sử văn hoá tỉnh Vĩnh Long).

Khánh thờ Phan Thanh Giản và Võ Trường Toản

Khu vực chánh của Văn Thánh Miếu gồm Đại Thành Điện và hai ngôi miếu trước sân đâu mặt nhau gọi là Tả vu và Hữu vu. Khu vực nầy có tường hoa bao bọc, chỉ có thể vào bằng cửa Kim Thanh và Ngọc Chấn. Chánh điện xây theo kiểu trùng thềm điệp ốc. Bên trong bài trí trang trọng, giữa khánh thờ bài vị “Đại Thành Chí Thánh Tiên sư Khổng Tử ” và bài vị bốn vị đứng vào hàng đệ tử của ngài gọi là “Tứ Phối” . Sau nầy , khi họa sĩ Philippe Trần hoạ chân dung Phan Thanh Giản có vẽ chân dung bán thân của Khổng Tử. Bức chân dung nầy thay thế bức tượng cũ. Cũng trong chánh điện hai bên tả ban và Hữu ban là khánh thờ “Thập nhị hiền triết”. Còn hai bên nhà Tả và Hữu vu thờ “Thất thập nhị hiền “, mỗi bên ba mươi sáu vị. Đồ tự khí trong ba gian thờ phượng nầy bằng gỗ, bàng sành sứ hay đồng thau, tuy được chạm trỗ, sơn son thếp vàng nhưng mỹ thuật đơn giản .

Trong Văn Miếu có rất nhiều hoành phi, câu đối do các nhân sĩ, các nhà hảo tâm ở khắp nơi hiến cúng,

Đời vua Duy Tân, năm 1913, Thượng thư bộ Học Cao Xuân Dục có đến viếng Văn Thánh Miếu và đã đề hai đôi liễn:

Xuân thu hà đẳng càn khôn, đạo tại ngũ kinh song nhật nguyệt; 
Thù, Tứ biết thành võ trụ, đồ qua lục tỉnh nhất cung tường.

Nghĩa:

Đời Xuân Thu trời đất bậc nào, đạo ở năm kinh đôi nhật nguyệt; 
Sông Thù, Tứ, cõi bờ riêng đó, đường qua sáu tỉnh một cung trường.

Mỗi năm tại Văn Thanh Miếu có các ngày lễ lớn:
Tế Khổng Tử và các vị Thánh hiền vào ngày Xuân Đinh và Thu Đinh (ngày Đinh đầu tháng hai và ngày Đinh cuối tháng tám).
Tại Văn Xương Các có lễ giỗ Phan Thanh Giản (mùng 4 và mùng 5 tháng bảy, ngày giỗ các quan đại thần (ngày 12 và 13 tháng mười ) tất cả các ngày lễ giỗ đều tính theo ngày âm lịch. Nếu so sánh lễ hộivới các đình miếu khác ở Vĩnh Long thì lễ hội tai Văn Thánh Miếu thu hút khách hành hương chưa đông lắm nhưng khách đến đây đều với tấm lòng nhiệt thành với văn hoá và yêu kính các bậc tiền nhân.
Tụy Văn Lâu trong Văn Thánh Miếu Vĩnh Long
Kề bên Văn Xương Các vẫn còn hai khẩu súng thần công đại bác, tương truyền là súng đã dùng để bảo vệ thành Vĩnh Long từ năm 1860.

C -THAY LỜI KẾT LUẬN

Đến đây xin kết lại, nơi cổng chánh, trên cao có ba chữ Hán đại tự Văn Thánh Miếu: 文聖廟, hai cột hai bên có đôi câu đối cũng chữ Hán, đấp nổi thể chân phương:

Khổng môn truyền đạo thiên ban thưởng 
Thánh miếu sùng văn vạn đại tôn

Tạm dịch:

Cửa Khổng truyền đạo, ngàn lớp quý chuộng 
Miếu Thánh trọng văn , muôn đời tôn sùng.

Nguyễn Bá Hoa
(Website Nam kỳ Lục tỉnh)
Ngô Minh Trí sưu  tầm

Ghi chú:
(a) -Năm 1757 , chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát phong cho Nặc-Tôn làm vua xứ Chân Lạp. Nặc-Tôn dâng đất Tầm Phong Long (Sa đéc) để đáp lễ.
(b)-Tụy Văn Lâu hay Văn Xương Các là một công trình nhỏ đẹp nằm bên phải lối thần đạo, trong khuôn viên rộng rãi của Văn Thánh miếu Vĩnh Long.
Lúc xây Văn Thánh Miếu Vĩnh Long, ý của Phan Thanh Giản đã muốn xây thêm một thơ lầu phía bên trong Văn Thánh Miếu. Nhưng vì Pháp đến đánh chiếm và Phan tiên sinh tử tiết, nên công việc đành bị dở dang. Năm 1869, Trương Ngọc Lang đứng ra quyên tiền để xây một cái lầu, theo ý định của Phan Tiên sinh.
(c) -Văn Xương Các có nghĩa là một tòa lầu gác thờ Văn Xương Đế quân, các vị thần trông nom về văn học, cũng như đền Ngọc Sơn, Hà Nội đã có thờ.
(d) -Câu trên nói về cụ Võ Trường Toản, là một người thanh cao, ở ẩn dạy học, không chịu ra làm quan, được vua Gia Long cho là "Sùng Đức sử sĩ". Câu dưới nói về cụ Phan Thanh Giản, vốn là bề tôi tiết liệt, khi sắp chết, dặn ghi trong tấm triện là "lão thư sinh" mà thôi.

Nén Nhang Thắp Nhớ Đức Trần


Lại về ngày giỗ đức Trần
Nén nhang lòng thắp muôn phần rưng rưng
Nhớ người tài trí anh hùng
Ba lần thắng giặc Nguyên Mông hung tàn

Lấy dân làm gốc rễ vàng
Dùng người tài đức giữ an nước nhà
Vượt bao bão táp phong ba
Chống chèo non nước vượt qua hiểm nghèo

Bạch Đằng giang tiếng sóng reo
Phá tan thuyền giặc chìm theo nước tràn
Diên Hồng hội nghị danh vang
Tiếng hô quyết chiến lời toàn dân rung

Vua tôi đoàn kết một lòng
Quyết tâm chống kẻ thù chung ngàn đời
Biết bao trận thắng tuyệt vời
Vân Đồn Vạn Kiếp...sáng ngời uy danh

Chiến công ghi khắc sử xanh
Giỗ Người nhang khói chòng chành tiếc thương
" Dân làm gốc giữ quê hương
Mất dân tổ quốc trăm đường nguy nan "
Lời Người căn dặn rõ ràng
Bóng Người mãi đứng hiên ngang giữa trời

Trầm Vân

Nhớ Ơn Đức Trần Hưng Đạo


Nhớ Ơn Đức Trần Hưng Đạo

Nước ta lịch sử quá oai hùng
Quyết chống xâm lăng diệt bạo hung
Giặc Bắc Nguyên Mông tràn đất tổ
Tướng Nam Hưng Đạo trả thù chung
Đánh tan bọn ác không khoan nhượng
Bảo vệ giang sơn đến tận cùng
Nhân cách, tài năng ghi sử sách
Ngàn năm vằng vặc đức kiên trung.

Phương Hà
( 20/8 ÂL năm Bính Thân 2016 )
***
Các Bài Họa:
Ngày Giỗ Đức Thánh Trần Hưng Đạo

Hưng Đạo Vương truyền tụng tướng hùng,
Đánh tan giặc dữ bọn gian hung.
Toa Đô tử trận, quân phơi xác,
Ô Mã Nhi đầu nợ nước chung.
Công đức Thánh Trần, yên vạn đại,
Lưu danh Thủy chiến vững vô cùng.
Tài năng thao lược đầy nhân cách,
Sử sách ngàn thu bậc hiếu trung.

Mai Xuân Thanh
Ngày 24 tháng 09 năm 2016
***
Nhớ Về Đức Thánh


Nhớ Đức Thánh xưa, non nước hùng;
Uy danh lẫm liệt, diệt cường hung.
Trăm dân đoàn kết, lời vang vọng;
Một hội Diên Hồng, tiếng nói chung.
Mấy thuở dương danh, non nước vững;
Ba phen Sát Thác, giặc đường cùng.
Sử xưa đọc lại, tai còn vẳng :
Nghìn thuở nêu gương : một chữ "Trung". (**)

Danh Hữu
(*) Đức Thánh Trần Hưng Đạo, húy là Trần Quốc Tuấn, sinh vào
khoảng năm 1226/1227. Ông được phong tước Hưng đạo đại vươngdo đó mà dân gian gọi ông là Đức Trần Hưng Đạo.
Ông mất vào ngày 20 tháng 8 năm Kỷ hợi (1300) tại tư gia ở Vạn Kiếp.
(**) Đức Trần Hưng Đạo đã gát qua bên mối thù nhà để hết lòng lo việc nước. Ba lần cùng với anh là Tuệ Trung Thượng Sĩ đánh thắng quân Nguyên Mông một đế quốc hùng cường nhất thế giời thời ấy, trong thế trận trường kỳ 30 năm dài (1258,1285,1288). Cuốn Vietnam của Karen Wills do Lucent Books xuất bản tại San Diego năm 2000, đã có nhận xét: Ba trăm nghìn quân Mông cổ đã không thắng nổi chiến thuật du kích của người Việt (tr 30).
***
Trang Sử Vàng


Bảo vệ giang san tỏ chí hùng
Đức Trần ba lượt đuổi Nguyên hung
Diên Hồng bô lão lòng như một
Sĩ tốt Bình Than tỏ ý chung
Thái tử Thoát Hoan tìm nẻo trốn
Toa Đô đại tướng bước đường cùng
Gương ngời sử sách Trần Hưng Đạo
Gác bỏ tư thù bậc nghĩa trung


Quên Đi

***
Nén Hương Kính Dâng Đức Thánh

Địa linh Trời Đất sản anh hùng
Vận nước bao lần gặp cát hung .
Giặc Bắc xăm lăng gây oán hận
Quân Nam quyết chẳng đội trời chung.
Lạc Hồng dòng máu lưu không dứt
Tổ Quốc non sông giữ đến cùng .
Kính cẩn nén hương dâng Đức Thánh
Ngàn năm hậu thế tấm gương "Trung"

Mailoc
***
Noi Gương Tiền Nhân
Mượn vận bài thơ của chị Phương Hà

Lịch sử Việt Nam chí quá hùng
Nhiều phen phá giặc diệt tàn hung
Diên Hồng hội nghị vang lời quyết
Sát Đát toàn dân vọng tiếng chung
Bại Tướng Toa Đô tìm lối trốn
Đức Trần Hưng Đạo đánh đến cùng
Noi gương người trước mau đoàn kết
Gìn giữ sơn hà đáp nghĩa trung

Song Quang

Chủ Nhật, 25 tháng 9, 2016

Một Góc Thôn Quê Miền Tây


Thơ Cao Linh Tử
Thơ Tranh: Kim Oanh


Lời Từ Giã Đêm Mưa


Lời Từ Giã Đêm Mưa

Ngày cuối đông em về thăm quê mẹ
Cà phê vườn đêm ấy đèn mờ giăng
Em lướt tìm hàng ghế đá lạnh băng
Như tìm về một thời tuổi trẻ...

Muốn nói lời giã từ mà sao dòng lệ
Cứ chảy hoài, không dễ… Người ơi!
Cà phê uống chưa kịp đắng môi
Cơn mưa đêm ùa về bất chợt.

Hai đứa lẹ tìm nơi ẩn náu
Tay trong tay nhau bên tượng đá mồ côi
Trời như buồn và mưa vẫn đầy vơi
Mái tóc em bết vào nhau, anh thương quá.

Lau dòng nước, lệ chảy tràn đôi má
Anh nương nhẹ bờ vai. Em nức nở gục đầu...
Hai đứa ra về trong mưa ướt đêm thâu
Con đường dưới chân mình trải đá.

Em nghe xót xa tình ta buốt giá
Anh ghì chặt em trong hơi thở ấm nồng!
Anh yêu em sao nỡ đành lòng
Khi em xa anh, xa quê hương yêu dấu?

Cơn mưa giăng giăng, lòng em đau đáu
Trong lòng em đâu giây phút bình yên?
Thấm lạnh nước mưa đêm
Tình mình thêm bùng dậy!

Em không tin sau lần từ giã ấy
Em mất anh, mãi mãi chẳng còn anh!
Em vẫn không tin đi qua tuổi thanh xuân
Bao năm sau, bao đêm dài nghiệt ngã.

Khắc khoải nhớ thương anh nhiều quá
Nhớ mãi cơn mưa buồn – đêm từ giã đã xa...
Hạt mưa xóa nhòa tình của đôi ta
Kỷ niệm buồn xa xăm vẫy gọi.

Dĩ vãng ơi! Biết bao điều muốn nói
Còn yêu anh! Em còn mãi yêu anh…

Nguyễn tuyết Mai
Japan mùa xuân 2000
***
 Bài Cảm tác: Giọt Mưa Đêm

Xòe tay che giọt mưa đêm
Lang thang đếm bước đi tìm người xưa
Chợ Cần Thơ – phố Hàng Dừa
Nắm tay đi bộ đong đưa mắt nhìn.

Du thuyền đèn chớp lung linh
Rầm rì mộng ảo ru tình bến mơ
Buông xuôi hờ hững bơ vơ
Để người quay quắt bơ phờ nhớ em.

Mưa về ướt đẫm phố đêm
Ướt tà áo mỏng vai mềm, tóc xoăn
Giọt mưa như tiếng thở than
Thầm rơi dai dẳng bâng khuâng tràn về.

Ngày nào mưa ướt tóc thề
Ngày nay mưa lạnh ủ ê tâm hồn
Mưa từ đâu đã bắt nguồn
Để cho tâm sự người thương nhớ thầm.

Mưa dài tình lỡ trăm năm
Để cho hạt nhớ nẩy mầm mồ côi
Ô hay mưa đã dứt rồi
Thế mà sao mãi chơi vơi muộn phiền.

Dương hồng Thủy
(September 08, 2016)

Đời Vắng Em Rồi Say Với Ai - Vũ Hoàng Chương



Sóng dậy đìu hiu biển dấy sầu
Lênh đênh thương nhớ giạt trời Âu
Thôi rồi tay nắm tay lần cuối
Chia nẻo giang hồ vĩnh biệt nhau

Trai lỡ phong vân gái lỡ tình
Này đêm tri ngộ xót điêu linh
Niềm quê sực thức lòng quan ải
Giây phút dừng chân cuộc viễn trình.

Tóc xõa tơ vàng nệm gối nhung
Đây chiều hương ngát lả hoa dung
Sóng đôi kề ngọn đèn hư ảo
Mơ kiếp nào xưa đã vợ chồng.

Quán rượu liền đêm chuốc đắng cay
Buồn mưa trăng lạnh nắng hoa gầy
Nắng mưa đã trải tình nhân thế
Lưu lạc sầu chung mộng hướng say

Gặp gỡ chừng như truyện Liêu Trai
Ra đi chẳng hứa một ngày mai
Em ơi lửa tắt bình khô rượu
Đời vắng em rồi say với ai ?

Phương Âu mờ mịt lối quê nàng
Trăng nước âm thầm vạn dặm tang
Ghé bến nào đây người hải ngoại
Chiều sương mặt bể có mơ màng.

Tuyết xuống phương nào lạnh lắm không
Mà đây lòng trắng một mùa đông
Tương tư nối đuốc thâu canh đợi
Thoảng gió trà mi động mấy bông.

Vũ Hoàng Chương 
(An Nguyen sưu tầm)

Pleiku Miền Ký Ức Khó Quên

 
(Đường Hoàng Diệu, Pleiku trước 1975)

Về Pleiku khi vừa rời trận chiến
Đến nơi nầy,đêm phố núi buồn thiu
Ánh đèn soi bên quán nhỏ cô liêu
Áo phong sương thêm một lần dừng bước

Mang ký ức một thời đi xuôi ngược
Thành phố buồn,còn đọng chút dễ thương
Phi trường Cù Hanh vương vấn bùi đưòng
Mùa mưa đổ bùn lầy vươn gót đỏ

Chiều Biển Hồ lồng lộng trêu cơn gió
Mặt nước hồ in bóng khoảng trời xanh
Sóng lăn tăn gờn gợn mát trong lành
Mây lãng đãng giăng màn làn sương mỏng

Đường Hoàng Diệu kỷ niệm nào còn đọng
Hẹn hò em Diệp Kính nắm tay nhau
Cà phê Hoàng Lan hương vị ngọt ngào
Dù có đắng...bờ môi em vẫn ngọt

Đến Pleiku ché rượu cần ngào ngạt
Tiếng cồng chiêng bên bêp lửa đêm dài
Cô gái Ê Đê dệt thổ cẩm chờ ai ?
Tôi lưu luyến chia tay rời phố núi

Song Quang