Thứ Hai, 23 tháng 2, 2015

Câu Đối: Xuân An Khang Trường Thọ



Câu Đối & Tranh: Dương Thượng Trúc


Khúc Giao Mùa Đông-Xuân 2015


Mùa Đông vẫn kéo dài như bất tận
Sắp vào Xuân chưa thấy nắng bừng lên
Chicago, Boston, New York, Washington
Bão tuyết điên cuồng cấu cào mặt đất.

California suốt thời qua nắng hạn
Hết khô cằn đến lũ kéo đất bùn trôi
Vùng Trung Tây tạm vắng tornado
Arizon đẹp trời cho Super Bowl hùng tráng.

Đây Atlanta bàu trời sa xuống thấp
Từng đợt chilli giá lạnh cắt thịt da
Vài cánh chim bạt gió khuất mờ xa
Mây quấn vành khăn đỉnh toà nhà cao ngất.

Bên đây bán cầu có người ngồi im lặng
Nhìn bàu trời trên cao, nhìn phố xá bên tường
Kia những giòng xe lũ lượt nuốt con đường
Như giòng chảy cuộc đời êm trôi xuôi ngược.

Mặc giông tố bão bùng, mặc mùa Đông tuyết giá
Mặc mùa Xuân chưa xuất hiện nơi này
Người người vẫn đi tìm sự sống tràn đầy
Như loài thú săn mồi, như cỏ cây hút nước.

Bên kia bán cầu, Sài-Gòn không bão tố
Chợ Hoa Xuân rực rỡ ánh đèn màu
Người và xe chen chúc chạy cho mau
Như hối hả đi tìm chân hạnh phúc.

Vẫn người ấy từ căn phòng ấm áp
Mắt mơ màng nhìn vũ trụ vần xoay
Hai cảnh đời tương phản hiện quanh đây:
Trẻ sống động, Già đi dần vào cõi chết.

Nhưng cả hai _trẻ,già_ sẽ không tồn tại mãi
Xác thân người tạm nghỉ dưới mồ sâu
Tro cốt người tạm trú trên đài cao
Rồi tất cả sẽ nát tan như bụi cát.

Cát bụi ấy mang linh hồn bất tử
Sẽ lang thang trong vũ trụ bao la
Và chúng ta sẽ gặp lại tìm nhau
Không đối chọi như cảnh đời hiện hữu.

Đông chưa tàn nhưng mùa Xuân sắp tới
Bàu trời Xuân sẽ rực rỡ huy hoàng
Chúng ta hân hoan nâng chén tiễn Đông tàn
(Không phải đợi ngày linh hồn tìm nhau gặp gỡ).

ChinhNguyen/H.N.T. 
 Feb 14.2015

Phảng Phất Hương Xuân


Đông ơi, sao vẫn chưa đi
Còn lưu luyến mãi làm gì hỡi đông?
Chiều qua giọt nắng tơ hồng
Hững hờ rót xuống trên đồng tuyết sương

Hiên khuya gió lộng miên trường
Nhớ đêm trừ tịch quê hương thuở nào
Nghe buồn man mác làm sao
Lật trang kỷ niệm dạt dào yêu thương...

Nhớ ngày cắp sách đến trường
Ngang qua phố chợ, ngang đường phố xuân
Tan trường cùng với bạn thân
Dạo hàng hoa kiểng ... đến gần chiều tan!

Nhớ ngày Tết cận kề sang
Chị em sửa soạn khang trang cửa nhà
Mẹ thì lo việc gần xa
Ngược xuôi mua sắm bánh, trà, dưa, hoa ....

Đầu xuân lễ cúng ông bà
Trầm hương nghi ngút mẹ già thành tâm
Trái cây ngũ quả đầy mâm
Thịt kho, dưa giá ăn năm ba ngày

Mứt dừa, chùm ruột, gừng cay...
Bánh chưng, bánh tét nhân đầy thơm ngon
Vài đôi dưa hấu đỏ hon
Chưng trong ngày Tết vuông tròn trọn năm

Nhớ về xóm nhỏ xa xăm
Ai ai cũng muốn một năm lộc tài
Bầu cua cá cọp cầu may
Lô-tô thì cũng lai rai cả ngày

Giàu, nghèo trẻ nhỏ hăng say
Lì xì, áo đẹp, “tao-mày” ai hơn!
Sớm trưa đua pháo nổ giòn
Ai phiền mặc kệ, miễn tròn niềm vui!...

Đón xuân viễn xứ ngậm ngùi
Mênh mông tuyết trắng chôn vùi tuổi hoa
Hương xuân phảng phất gần xa
Gợi bao niềm nhớ, buồn sa vào lòng!

Yên Dạ Thảo

Dạ Dung-Thiên Thu Đến Vĩnh Long Cận Tết Ất Mùi 2015 P1

Xe vừa ghé đầu hẻm vào nhà Đức, Thiên Thu ngồi trong xe vẩy tay chào.
Dạ Dung (đội nón), Thiên Thu; bước qua lộ để vào hẻm
Ở Nhà Đức



Ở nhà Lê Kim Hiệp



Trái sang phải: Liên, Thiên Thu, Hiệp, Dạ Dung

Trước cửa nhà Hiệp
Hết Phần 1

Huỳnh Hữu Đức

Thiên Thu-Dạ Dung Đến Vĩnh Long Tết Ất Mùi 2015 - Phần Cuối

Thiên Thu và Dạ Dung nơi chợ Cây Cảnh Tết Ất Mùi 2015


Viếng Văn Thánh Miếu Vĩnh Long




Hiệp, Thiên Thu,Liên, Dạ Dung



Hết

Chủ Nhật, 22 tháng 2, 2015

Thơ Tranh: Mơ Xuân

Chúc Sáu một Sinh Nhật đẹp như....bức tranh này nha.....22/2

Thơ: Kim Phượng
Thơ Tranh: Kim Oanh

Mừng Sinh Nhật Kim Phượng 22 - 02


Thơ& Thơ Tranh: Huỳnh Hữu Đức


Xuân Tàn...


Niềm đau nào đó đong đầy, 
Gợi chi kỷ niệm những ngày lãng du.
Ưu tư một áng mây mù, 
Yến anh mấy độ, tàn thu não nề. 
Êm êm gọi nhớ thương về, 
Nuốt trôi nổi hận, hương thề rụng rơi. 
Như thuyền tách bến xa khơi, 
Hoang tàn bến vắng, tơi bời gió mưa. 
U sầu gói kín hương xưa, 
Hoài công chờ đợi cũng thừa mà thôi. 
Ân tình ai tỏ khúc nôi, 
Yêu người chỉ để được người dối dang. 
Én kia chợt khóc Xuân tàn, 
Uyên ương tủi hận đôi đàng phân ly!

Mùa Đông Dodge City, Kansas 1989
MặcThái Thủy

Những Mùa Xuân Thầm Ngủ Trên Cây


“Có đêm nào như đêm hôm nay”?
Trăng mượn sao thêu thùa vòng tóc
Mẹ đất chở hoa rừng xanh ngát
Nhã trong màu nước bạc gió đưa mây

Em trở mình đếm tuổi tương lai
Khi quá khứ ố vàng trang giấy
Hồn thiếu nữ mơ hồ có thấy?
Những mùa xuân thầm ngủ trên cây

Và một ngày chuông đời gõ nhịp
Tim khóc vùi trên đôi bàn tay
Thiên sủng có cát dài sa mạc
Đại dương thuyền đưa tôi không hay

Cơn địa chấn một thời chung cuộc
Em là hiện thực của tôi hôm nay….

Lâm Hảo Dũng
(PTT)
Jan 09-14

Vần Thơ Xuân Cho Em - Thanh Trang-Tâm Hảo


Nhạc Và Lời:Thanh Trang
Tiếng Hát:Tâm Hảo

Xuân Đất Khách


Bài Thơ Xướng:

Đất khách đầu Xuân nhớ Việt Nam,
Trẻ em pháo nổ, họ đi làm.
Bạn bè thông cảm Dê sum họp,
Anh chị nhìn xa, Ngựa bất kham.
Tuyết lạnh, sương mù, tia nắng ấm,
Đông hàn hoa, ngũ quả xây cam.
Đi chùa lễ bái Giao Thừa Việt,
Năm Mới mừng Xuân Tết cũng ham! 
Mai Xuân Thanh 
* * *
Bài Thơ Hoạ:
Chuẩn Bị Tết
 
Cổ truyền ngày tết của dân Nam
Nguyên Đán nghỉ đi chẳng phải làm
Giáp Ngọ qua rồi thôi không nhắc
Ất Mùi đang đến có gì kham
Bon sai bày biện bên câu đối
Đu đủ tranh màu cạnh quả cam
Khắp phố nhà nhà đều diện mới 
Nhìn người đón tết thấy mà ham.

Quên Đi
***
1/Xuân Đất Khách

Hoài hương làm tổ chọn cành nam
Chim Việt ai xui đã biết làm
Hồ thỉ tang bồng dường đã thỏa
Tình nhà nợ thế vẫn chưa kham
Ra khơi chấp nhận đời lưu lạc
Nhớ Tết âu sầu dạ phải cam
Mỗi độ mai vàng xuân trước ngõ
Vô tư đàn trẻ thấy mà ham.

Cao Linh Tử


2/ Hoài Hương

Hoài hương chim Việt đậu cành nam
Ly biệt ngày xưa bão lửa làm
Đất khách buồn trông xuân tái họp
Ân tình trăn trở túi nan kham
Ra đi đã biết về vô định
Mộng ước chưa thành chết chẳng cam
Năm hết xứ người đông gió tuyết
Nao lòng nhớ nước hết gì ham.


Cao Linh Tử
***
Ăn Tết Ta Xứ người

Viễn xứ đông tàn nhớ gió Nam,
Chớm xuân đón Tết vẫn đi làm.
Mặc người vui tựa rồng bay vút,
Riêng tớ buồn như ngựa bất kham.
Hồ mã bắc phong lòng vẫn luyến,
Nam chi sào điểu dạ nào cam.
Mấy mươi năm lẻ xuân xa xứ,
Ăn Tết quê người mấy kẻ ham!?

Đỗ Chiêu Đức
***
Tết Nguyên Đán

Ba ngày Nguyên Đán, Tết dân Nam
Thong thả ăn chơi chẳng phải làm
Đầy đủ thịt thà không sợ thiếu
Ê hề bánh mứt hết còn kham
Mâm đầy: Dừa, Đủ, Xoài, Sung, Mãng( * )
Trái cữ: Khổ qua, Chuối, Ớt, Cam( ** )
Mặc đẹp, ăn no, nhàn nhã hưởng
Cả năm được thế mới là ham!
Phương Hà

( * )Bày mâm Ngũ quả: Dừa, Đu đủ, Xoài, Sung, Mãng cầu  với uớc mong quanh năm " Vừa đủ xài sung mãn "
( ** ) Tránh : Khổ nhọc , Chúi nhủi ( không ngóc đầu lên được ), Cay đắng, Cam chịu.
***
Tình Xuân Quê Hương

Cuộc đời sanh trưởng đất phương nam
Đồng ruộng bao la hẻo việc làm
Ác nghiệp chiến tranh dài oán hận
Bạo tàn giả dối khó lòng kham
Bước chân lạc lối hờn duyên tủi
Bó gối chào xuân xót phận cam
Cánh én lượn lờ bay lảo đảo
Chất đầy tâm sự hết còn ham!


Nguyễn Đắc Thắng

***
Nam Triều Vọng 
(Hoạ: đảo vận, Ngũ độ thanh)

Dê đùa, Ngựa ngã lấy gì ham?!​
Thế cuộc xoay vần cũng phải cam
Rũ gánh sơn hà, mơ chẳng toại
Neo thuyền xã tắc, mộng nào kham
Ơn đời, tiễn Táo càng thêm việc
Lộc nước, chào Xuân vẫn phải làm
Rã ruột canh dài thân Cuốc lẻ
Đô Thành rợp đỏ khuất Trào Nam

TiCa Nguyễn Xuân Hòa
2.25.2015

Liễn Dán Các Bàn Thờ

Hằng năm cứ đến ngày đưa ÔNG TÁO về trời là sau khi cúng tiễn TÁO QUÂn xong, thì tất cả chưn nhang đều được nhổ ra, chỉ chừa lại 3 cây trong lư hương mà thôi, còn lại thì thiêu hóa chung với giấy tiền vàng bạc và giấy cò bay ngựa chạy để theo ông Táo về trời, kể cả đôi liễn dán hai bên bàn thờ ông Táo cũng thế. Và không riêng gì bàn thờ ông Táo mà tất cả bàn thờ trong nhà cũng vậy ! Dẹp hết để chưn nhang khỏi đùn quá cao, vừa mất mỹ quan vừa dễ gây hỏa hoạn. Sẵn làm vệ sinh lau chùi khảm thờ cho sạch sẽ, rồi... dứt luôn nhang khói...


Mãi cho đến tận chiều ba mươi Tết, khi cúng rước Ông Bà về ăn Tết với con cháu, thì mới dán liễn mới lên để đón Giao Thừa và tiếp tục nhang khói như thường lệ.
Công việc của tôi hàng năm là tân trang và viết lại các đôi liễn mới nầy. Nào, ta bắt đầu từ trước sân nhà nhé. Một cây cột lửng được đóng giữa sân, trên gát một miếng ván vuông hoặc chữ nhật, có lư hương nhỏ hoặc một cái lon sửa bò đổ đầy cát để cắm nhang. Những nhà khá hơn thì cột được xây bằng gạch tiểu, trên gác một miếng gạch Tàu đo đỏ, còn nhà cửa khang trang hoặc phố chợ thì bàn thờ ÔNG THIÊN được đặt sát bên trái hoặc bên phải của cửa ra vào... Nhưng dù như thế nào thì trên bài vị hoặc trên thân cây cột để bàn thờ đều phải có 4 chữ : THIÊN QUAN TỨ PHƯỚC 天官賜福, có nghĩa các vị quan trên trời sẽ ban phát phước lành xuống cho gia chủ.

Thường thì chỉ đổi mới 4 chữ THIÊN QUAN TỨ PHƯỚC mà thôi, vì bàn thờ Ông Thiên bình dân thông thường không có câu đối, chỉ có nhà giàu hoặc ở các Đạo Quan, bàn thờ Ông Thiên lớn hơn, nên mới có câu đối 4 chữ như sau:

吉庆有余, Kiết khánh hữu dư,
受天百祿. Thụ thiên bách lộc. 
Có nghĩa :
Điều lành điều tốt có thừa,
Hưởng nhận trăm lộc của trời ban.

Bên dưới ngay cửa đi vào là bàn thờ Thổ Địa. Bước vào phòng khách thì ở bên trong ngay lối vào là bàn thờ của Thần Tài xây mặt ra cửa cái. Thường thì Thổ Địa và Thần Tài được thờ chung ở nơi đây, nên bài vị thường viết là :

Ngũ phương ngũ thổ long thần, 五方五土龍神,
Tiền hậu địa chủ tài thần. 前後地主財神.

Bên trên khảm thờ là 3 chữ TỤ BẢO ĐƯỜNG 聚寶堂, câu đối 2 bên thường là như thế nầ :
Kim chi sơ phát diệp, 金枝初發葉,
Ngân thọ chánh khai hoa. 銀樹正開花。
Có nghĩa :
Cành vàng vừa trổ lá,
Cây bạc lúc ra hoa.

Hoặc là câu đối thật hay lấy từ bài Đằng Vương Các Tự của VƯƠNG BỘT đời Đường như sau:

Vật hoa thiên bảo nhật, 物華天寶日,
Nhân kiệt địa linh thời. 人傑地靈時。

Có nghĩa :
Đây là những ngày vật đẹp như là tinh hoa báo vật của trời.
Cũng là lúc đất đai linh hiển nên sinh ra người giỏi (hào kiệt). 


Đó là bàn thờ Thần tài Thổ Địa ở trong nhà, còn nếu là Miếu thờ Thổ Địa hoặc Thổ Thần cho cả làng xóm thì câu đối liễn sẽ hay hơn. Sau đây là liễn dán miếu Thổ Thần :

THỔ Vượng nhân tòng vượng, 土旺人從旺,
THẦN an trạch tự an. 神安宅自安。
Có nghĩa:
Đất có vượng thì người sẽ vượng theo,
Thần có yên thì người tự nhiên cũng sẽ yên.

Và... Sau đây là liễn thờ miếu Thổ Địa:

THỔ năng sanh bạch ngọc, 土能生白玉,
ĐỊA khả xuất hoàng kim. 地可出黃金。
Có nghĩa:
Đất có thể sanh ra ngọc trắng,
Đất cũng có thể cho ra vàng ròng.

Bạch Ngọc là Ngọc Trắng, một loại đá quí. Bạch Ngọc còn có thể hiểu đó là hạt gạo trắng tinh như Ngọc dùng để nuôi sống con người ! Và...
Hoàng Kim là Vàng ròng, kim loại quí, Nếu biết siêng năng trồng trọt canh tác thì : " Tất đất sẽ cho Tất Vàng " như chơi ! 

Tùy theo gia đình, thường thì phía trên cùng của phòng khách là nơi thờ Thần Thánh, nếu nhà có lầu thì thờ ở trên lầu trong căn phòng phía trước. Các Vị Thần Thánh được thờ thường là Bà Quan Thế Âm Bồ Tát, Phật Tổ Như Lai, nhưng thông thường nhất là Bàn Thờ ÔNG, ÔNG ở đây là Ông QUAN CÔNG, tức QUAN VÂN TRƯỜNG thời Tam Quốc. 
Năm nào tôi cũng phải lau chùi quét dọn và viết lại bộ liễn của Bàn Thờ Ông. Bộ liễn khá bài bản và nghiêm trang như sau : Phía trên cùng của khảm thờ là 2 vòng tròn giấy đỏ trên viết 2 chữ CHÍNH KHÍ 正氣 để chỉ cái khí tiết chính trực của Quan Công, phía dưới 2 chữ Chính Khí là 4 chữ TRUNG TÂM QUÁN NHẬT 忠心貫日, có nghĩa : Lòng trung thành vằng vặc như mặt trời. Liễn 2 bên thì như vầy:

Chí tại Xuân Thu công tại Hán, 志在春秋功在漢,
Trung đồng nhật nguyệt nghĩa đồng thiên. 忠同日月義同天。
Có nghĩa : 
Chí thì như ở đời Xuân Thu( muốn làm nên nghiệp lớn ), nhưng công thì ở đời Hán.
Lòng trung thành như mặt trăng mặt trời, còn nghĩa thì cao tợ trời.

Một đôi liễn thường thấy ở Bàn Thờ Ông nữa là :

Thiên thu nghĩa dõng vô song sĩ, 千秋義勇無雙士,
Vạn cổ tinh trung đệ nhất nhơn. 萬古精忠第一人。
Có nghĩa:
Cái nghĩa khí và vũ dũng ngàn năm không có được 2 người,
Lòng trung thành tuyệt đối muôn đời là người số 1 duy nhất.

Hai người đứng 2 bên Quan Công, người râu rìa mặt đen là Châu Thương cầm Thanh Long Yễm Nguyệt Đao, người mặt trắng đẹp trai là Quan Bình, ta bưng cái ấn Hớn Thọ ĐÌnh Hầu. Theo dị đoan thì lưỡi của Thanh Long Yễm nguyệt Đao phải xây về hướng nước ròng, tức là phải chém ngược dòng nước.

Dưới các khảm thờ của Thần Thánh mới là bàn thờ Tổ Tiên. Bàn thờ Gia Tiên thường đặt một hoặc nhiều bài vị của Tổ Tiên các đời, phía trên thường thấy 3 chữ ĐỨC LƯU PHƯƠNG 德流芳. Chữ LƯU 流 là Chảy, là Dòng Chảy, chứ không phải LƯU 留 là GIỮ, là ĐỂ Lại. Nên có nghĩa là : Cái ĐỨC phải sống động như dòng chảy tỏa mùi hương từ đời nầy sang đời khác, tức là muốn con cháu các đời đều phải TÍCH ĐỨC, chứ không phải chỉ trông chờ để hưởng cái ĐỨC của ông bà để lại. Vì hễ cái gì LƯU để lại thì cũng phải có ngày khánh kiệt, như gia tài chẳng hạn, ĐỨC cũng vậy, để ĐỨC lại cho con cháu mà con cháu không biết TÍCH ĐỨC thì ĐỨC đó cũng sẽ bị hao mòn khánh kiệt mà thôi !. Bên dưới 3 chữ ĐỨC LƯU PHƯƠNG là 4 chữ CỮU HUYỀN THẤT TỔ. Hai bên của 4 chữ CỬU HUYỀN THẤT TỔ là 2 câu đối.
Có lần tôi đọc được đôi câu đối thật hay trong gia đình của một người bạn ở Nhơn Ái, thuộc huyện Phong Điền như sau :

Kính thất tổ thiên niên bất tận, 敬七祖千年不盡,
Trọng cửu huyền nội ngoại tương đồng. 重九玄內外相同。
Có nghĩa:
Lòng kính trọng Thất Tổ ngàn năm không dứt,
Tôn trọng Cửu Huyền của 2 bên nội ngoại như nhau.


Có người hỏi : CỬU HUYỀN THẤT TỖ chỉ những AI, gồm những AI ?!. Xin thưa :

CỬU HUYỀN THẤT TỔ gồm 9 đời Con Cháu và 7 đời Cha Ông, như sau :

CỬU HUYỀN là :
Tử, Tôn, Tằng, Huyền, Lai, Côn, Nhưng, Vân, Nhĩ. 
九玄 : 子、 孫、 曾、 玄、 來、 昆、 仍、 雲、 耳 .

THẤT TỔ là:
Phụ, Tổ, Tằng, Cao, Thái, Huyền, Hiễn.
七祖 : 父、祖、 曾、 高、 太、 玄、 顯 .

Cuối cùng, ở phía sau nhà, nơi bếp nút củi lửa là bàn thờ ông Táo. Ta còn gọi là Thần Bếp, Vua Bếp, Táo Quân... Bên trên bàn thờ là 4 chữ : NGŨ KỴ CHI THỦ 五祀之首, hai bên là đôi liễn mà tôi đã có dịp trình bày trong bài TỐNG TÁO THI là :

有德能司火, Hữu đức năng ty hỏa,
無私可達天。 Vô tư khả đạt thiên.
Có nghĩa :
Có ĐỨC thì mới có thể trông coi việc củi lửa bếp nút được.
Phải CHÍ CÔNG VÔ TƯ thì mới được lên chầu trời ( để trình tấu mọi việc ).


NGŨ KỴ : là 5 chỗ cần phải cúng tế ở trong nhà, đó là: MÔN,HỘ là Cổng, cửa ( nơi ra vào ), TỈNH, TÁO là Giếng, Bếp ( nơi ăn uống ), TRUNG LƯU là phần giữa nhà ( nơi ngủ nghỉ ). Xưa thì cho rằng CỔNG là nơi đứng đầu cần phải cúng tế, nhưng sau với khuynh hướng' Dĩ thực vi thiên ", thì Bếp đứng đầu, nên bàn thờ Táo Quân mới có được 4 chữ " NGŨ KỴ CHI THỦ " là vì thế!

Đỗ Chiêu Đức