Thứ Ba, 23 tháng 4, 2019


Ả vừa là Danh Từ, vừa là Phiếm chỉ Đại từ để chỉ phái yếu, như những câu thơ mà Nguyễn Trãi đã bỡn cợt khi gặp Thị Lộ:

Ả ở đâu mà bán chiếu gon,
Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn,
Xuân xanh phỏng độ chừng bao tuổi, 
Đã có chồng chưa được mấy con ?

Đôi khi Ả được dùng để chỉ sự xem thường, như "Mấy ả bạn hàng", hay tỏ vẻ khinh miệt như "Những Ả gái điếm"... Nhưng trong đàm thoại bình thường thì Ả là từ dùng để chỉ Các Bà, Các Cô, như:
Tại anh tại Ả, tại cả hai đàng.

Trong Văn học Cổ thì sau từ Ả thường có thêm những Bổ túc từ như: Ả Chức, Ả Hằng, Ả Lý, Ả Tạ ... Ta sẽ lần lược tìm hiểu các Ả sau đây:
* Ả CHỨC: Hay đi với Chàng Ngưu, nên Ả Chức tức là Chưa Nữ đó. CHỨC NỮ 織女 vốn là tên một ngôi sao nằm ở phía bắc sông Ngân Hà, đối diện với sao KHIÊN NGƯU 牽牛 ( dắt trâu ). Chức Nữ và Khiên Ngưu (còn gọi là Ngưu Lang) lại là tên của hai nhân vật thần thoại theo điển tích sau đây :

Theo "Kinh Sở Tuế Thời Ký 荊楚歲時記" : Chức Nữ là cháu của Ngọc Đế, rất giỏi nghề dệt vải. Trốn xuống trần kết duyên cùng Ngưu Lang, Sanh được một trai một gái. Tây Vương Mẫu giận, xuống trần bắt Chức Nữ về trời, Ngưu Lang dắt con đuổi theo. Tây Vương Mẫu rút trâm vạch thành dải Ngân Hà ngăn cách hai người, mỗi năm phải nhờ chim ô thước (Qụa đen, Chim khách) bắt cầu mới gặp mặt được một lần. Đó chính là đêm mùng 7 tháng 7 Âm lịch, nên còn gọi là đêm Thất Tịch 七夕. Vợ chồng gặp nhau, vui mừng than khóc, nước mắt đổ xuống trần gian thành mưa. Nhân gian gọi đó là "Mưa Ngâu tháng bảy" hay " Tháng bảy mưa Ngâu" cũng thế.
Ngưu Lang Chức Nữ 

Trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu có câu:

Chữ đồng lấy đấy làm ghi, 
Mượn điều Thất Tịch mà thề bách niên. 

Trong Lục Vân Tiên của Nguyễ Đình Chiểu cũng có câu :

Hữu tình chi bấy Ngưu lang,
Tấm lòng Chức Nữ vì chàng mà nghiêng. 

Trong Chinh Phụ Ngâm Khúc khi tả tâm sự của của ngàng chinh phụ thương nhớ chồng, nữ sĩ Đoàn Thị Điểm cũng đã hạ câu :

Khác gì ả Chức, chị Hằng,
Bến Ngân sùi sụt, cung trăng chốc mòng.

Chị Hằng ở trong câu thơ trên, còn được gọi là ...
* Ả HẰNG tức là Hằng Nga 姮娥, hay Thường Nga 嫦娥, có tích như sau :
Theo sách Hoài Nam Tử 淮南子, Hằng Nga là vợ của Hậu Nghệ, rất đẹp nhưng có tật đảng trí. Nghệ xin được thuốc trường sinh của bà Tây Vương Mẫu, Hằng Nga trộm thuốc uống vào, cơ thể bèn nhẹ nhõm bay tuốt lên cung trăng, ở trong cung Quảng Hàn một mình lạnh lẽo, như hai câu thơ của Lý Thương Ẩn 李商隱 đã viết trong bài Thất ngôn Tứ tuyệt có tên là Thường Nga:
Thường Nga ưng hối thâu linh dược, 嫦娥應悔偷靈藥,
Bích hải thanh thiên dạ dạ tâm. 碧海青天夜夜心. 
Có nghĩa:
Hằng Nga chừng cũng tiếc hoài,
Trót đà trộm thuốc ai hoài đêm đêm!

Thường Nga ưng hối thâu linh dược

Trong truyện thơ Nôm khuyết danh của ta ở thế kỷ thứ 18 là Phạm Tải Ngọc Hoa 范載玉花 cũng mượn hình ảnh Hằng Nga để chỉ Mặt Trăng, như :

Có đêm lặng ngắm Hằng Nga,
Tưởng người quân tử dật dờ phương nao!

Hay mượn hình ảnh Hằng Nga để chỉ người đàn bà đẹp, như trong truyện Lâm Tuyền Kỳ Ngộ 林泉奇遇 (Bạch Viên Tôn Các) có câu:

Từ về qua tới chốn thạch tuyền,
Xảy gặp Hằng Nga mới kết duyên.

Trong truyện Nôm lục bát khuyết danh là Phan Trần Truyện 藩陳傳 cũng có câu:

Bây giờ e lệ chưa tường,
Lâu lâu lại lắp lánh gương Ả Hằng.

* Ả LÝ: là nàng Lý Ký 李寄 trong truyền thuyết Sưu Thần Ký 搜神记 đời Đông Tấn như sau:
Nước Đông Việt ở vùng Mân nam (Quảng Đông, Phúc Kiến hiện nay) có nàng Lý Ký là con gái út thứ sau của gia đình. Nhà nghèo không có con trai, trong nước lại có nạn yêu rắn hoành hành, mỗi năm đều phải tế một cô gái trẻ cho rắn ăn thịt. Lý Ký bèn quyết định bán thân mình cho rắn ăn thịt, lấy tiền để nuôi cha mẹ và các chị. Mặc dù cha mẹ can ngăn, Lý Ký cũng lén đi, nàng yêu cầu nhà vua cấp cho mình một thanh bảo kiếm và một con chó săn, rồi đi thẳng đến động rắn. Sau một đêm chiến đấu quyết liệt với sự hỗ trợ của con chó săn thiện nghệ, nàng đã chém chết con yêu rắn. Quốc vương nước Đông Việt cảm phục trước sự dũng cảm của nàng , nên đã cưới nàng về làm hoàng hậu. 
Trong Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du đã cho cô Kiều cân nhắc trước khi quyết định bán mình chuộc tôi cho cha là:
Dâng thơ đã thẹn nàng Oanh,
Lại thua Ả Lý bán mình hay sao ?!

Lý Ký chém rắn 

* Ả TẠ: là TẠ ĐẠO UẨN 謝道韞, con của tướng quân Tạ Diệc, cháu của thừa tướng Tạ An, là vợ của Vương Ngưng Chi con trai thứ của nhà thư Pháp nổi tiếng đời Đông Tấn là Vương Hi Chi. 
Tạ Đạo Uẩn rất giỏi về văn thơ, ngay từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh, sắc sảo. Khi Tạ An hỏi các cháu lúc đang ngắm cảnh tuyết rơi là : Có thể lấy gì để ví với tuyết rơi ? Một cháu trai là Tạ Lãng trả lời rằng : Sái viêm không trung sai khả nghỉ 撒盐空中差可拟 (Có thể nói là như rắc muối giữa không trung). Tạ Đạo Uẩn nói rằng : Vị nhược liễu nhứ nhân phong khởi 未若柳絮因风起 !(Chẳng bằng nói là hoa liễu bay đầy trời khi có gió thổi lên). Tạ An khen hay, Tạ Đạo Uẩn nổi tiếng từ đấy.
Trong tác phẩm Sãi Vãi của cụ Nguyễn Cư Trinh, khi cho bà Vãi luận về tài trí của phái nữ có câu:

Gái như Tạ Đạo Uẩn, gái mà hay vịnh tuyết thành thơ,
Gái như Thái Văn Cơ, gái mà biết phân cầm nên khúc...

Trong Lục Vân Tiên, cụ Nguyễn Đình Chiểu đã khen tài làm văn thơ của Kiều Nguyệt Nga bằng câu:

Đã mau mà lại thêm hay,
Chẳng phen Tạ Nữ cũng tài Từ Phi.

Còn trong Truyện Kiều thì cụ Nguyễn Du đã cho Kim Trọng khen tài làm thơ của Thúy Kiều là:

Khen tài nhả ngọc phun châu,
Nàng Ban Ả Tạ cũng đâu thế nầy!


Tạ Đạo Uẩn 謝道韞
Cũng trong Tuyện Kiều của cụ Nguyễn Du ta lại được gặp thêm một "Ả" nữa, đó là ...

* Ả Tố Nga: Tố Nga 素娥 tức là Thường Nga 嫦娥, là Hằng Nga 姮娥 mà ta đã biết ở phần trên, thường dùng để chỉ Mặt Trăng hay Gái Đẹp. Vì mặt trăng có màu trắng (TỐ 素) nên mới gọi là Tố Nga 素娥, theo như lời chú giải của Lý Chu Hàn cho bài Nguyệt Phú của Tạ Trang đời Tống là : Thường Nga thiết dược bôn nguyệt, nguyệt sắc bạch, cố vân TỐ NGA 嫦娥竊藥奔月,月色白,故云素娥. Có nghĩa : Thường Nga trộm thuốc bay lên cung trăng, trăng lại có màu trắng, nên còn gọi là TỐ NGA. 
Khi tả hai chị em Thúy Kiều Thúy Vân đều là "người đẹp", cụ Nguyễn Du đã hạ câu:

Đầu lòng hai Ả TỐ NGA,
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân. 

Xin được kết thúc bài viết với từ "Ả ĐÀO 妸陶" hay Cô Đào 姑姚 hoặc Đào Nương 陶娘, còn được gọi là Ca Nương 歌娘, là thuật ngữ của Việt Nam ta thường dùng để gọi một dạng kỹ nữ 妓女 trong thời đại cổ. Theo Từ điển tiếng Việt, Cô Đầu là một danh từ thuộc loại từ cũ, khẩu ngữ để chỉ các Ả đào. Ả ĐÀO còn chỉ thể Hát Nói mà các Đào Nương hay hát, ở Hà Nội khi xưa hay gọi là "đi hát Ả Đào". 

Đỗ Chiêu Đức

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét