Hiển thị các bài đăng có nhãn Lý Bạch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lý Bạch. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 21 tháng 10, 2025

Trường Tương Tư (1 & 2}: Cố TS Lý Bạch - Phỏng Dịch: Mỹ Ngọc - Hòa Âm: SuNo - Trình Bày: Anh Tuấn


Lạc vĩ thu đề kim tỉnh lan 
Vi sương thê thê điệm sắc hàn 
Cô đăng bất minh tư dục tuyệt 
Quyển duy vọng nguyệt không trường than 
Mỹ nhân như hoa cách vân đoan 
Thượng hữu thanh minh chi cao thiên 
Hạ hữu lục thủy chi ba lan 
Thiên trường lộ viễn hồn phi khổ 
Mộng hồn bất đáo quan san nan 
Trường tương tư tồi tâm can 

[Music] 
Tại Trường an, mãi nhớ thương nhau, 
Bên giếng thu sang dế gọi sầu. 
Ảm đạm sương mờ chăn chiếu lạnh, 
Lù mù đèn chiếc nỗi niềm đau . 
Cuốn rèm ngắm nguyệt hoài than thở, 
Người đẹp như hoa khuất mãi đâu. 
Trên thấy sáng trong trời thẳm thẳm, 
Dưới thì nước biếc sóng ngầm sâu. 
Đường xa trời rộng hồn bay mỏi, 
Hồn mộng gian nan vượt ải đầu. 
Nhớ nhau lâu, dạ nát nhầu. 

[Music] 
Nhật sắc dục tận hoa hàm yên 
Nguyệt minh như tố sầu bất miên 
Triệu sắt sơ đình phụng hoàng trụ 
Thục cầm dục tấu uyên ương huyền 
Thử khúc hữu ý vô nhân truyền 
Nguyện tùy xuân phong ký Yên Nhiên 
Ức quân thiều thiều cách thanh thiên 
Tích thì hoành ba mục 
Kim tác lưu lệ tuyền 
Bất tín thiếp trường đoạn 
Qui lai khán thủ minh kính tiền 

[Music] 
Nắng sắp tàn hoa ủ khói sương, 
Ánh trăng như lụa giấc sầu vương. 
Vừa ngưng Triệu Sắt trên giây 
Phụng, Đã dạo Thục Cầm phím uyên ương. 
Khúc ấy ý nhiều không giữ lại, 
Gửi Yên Nhiên bám gió xuân hương. 
Nhớ Chàng thăm thẳm mãi ngàn phương. 
Xưa đong đưa sóng mắt, Nay suối lệ tuôn thường. 
Không tin Thiếp nát dạ, 
Quay về mà ngắm bóng trong gương.

Thơ: Lý Bạch
Phỏng Dịch: Mỹ Ngọc
Hòa Âm: SuNo 
Trình Bày: Anh Tuấn

Thứ Sáu, 11 tháng 7, 2025

Tương Tiến Tửu: Lý Bạch - Bài Ca Mời Rượu - Dịch Thơ: Phạm Khắc Trí - Thực Hiện: (Hát Bội Influence) Magnolia Cao Tran


(Tưởng nhớ Giỗ đấu của Thầy Phạm Khắc Trí)


Kính thưa tất cả các Bác, Cô Chú, Anh Chị, và gia đình Phan Thanh Giản.

Ngày 11 tây tháng 7, 2024 - Bố - Phạm Khắc Trí đã ra đi và bắt đầu cho một hành trình mới. Bố ra đi nhưng để lại cho những người thân thương một sự ấm cúng mỗi khi nghĩ đến Bố.

Để nhớ và tưởng niệm Bố, chị Cao Thúy Hương (Magnolia Cao Tran) đã phổ nhạc và hát vài bài thơ trong MÂY TẦN, để gợi lại một chút gì ấm cúng của Mây Tần và để nhớ lại một tình thương của một người Chồng, người Bố, người Thầy và một người Bạn thân thương của tất cả.

On behalf of my oldest brother Pham Nguyen Tri- THANK YOU chi Cao Thuy Huong (Magnolia Cao Tran) for your heartfelt affection and for elevating a profound sweetness to May Tan.

Link cho “Hat len bai tho” Chi Thuy Huong/Magnolia da viet va hat cho tac gia cua May Tan:

https://www.youtube.com/watch?v=EUIdXa5TWdY&list=OLAK5uy_nbH50bL_PRPGuA4DOetK8ex3dhBFV29Qs&index=10

Thơ:Lý Bạch
Dịch Thơ: Phạm Khắc Trí
Thực Hiện: (Hát Bội Influence) Magnolia Cao Tran


Vietnamese poems:
Mai Nở Đã Bao Mùa, Đâu Áng Mây Tần@Mây Tần Phạm Khắc Trí
Trải Lòng Xa Vắng@Từ Thọ
Tiếng Đàn Xưa@Mây Tần Phạm Khắc Trí
Tình Thơ Hồn Bướm Mơ Tiên@Nguyễn Anh Tuấn (Paris)
Phím Đàn Dìu Dặt@Thi Hào Nguyễn Du, verses exerpted from Truyện Kiều (The Tale of Kieu)
Theo Đàn Về Với Tuổi Xuân@MagnoliaCaoTran, modern Vietnamese adaptation from Sino-Vietnamese version of Tang dynasty poetry by Li Shangyin
(Đường Thi Lý Thương Ẩn-lời Hán Việt, cảm tác lời Việt Magnolia C.T.)


Magnolia's Note:

These songs were transposed in loving memory of the Late Poet Mây Tần Phạm Khắc Trí (1933-2024) formerly a beloved math teacher (1968-75) at Phan Thanh Gian HS, Can-Tho

Special appreciation to Pham Nguyen Tri, Pham Nguyen Diem for giving us the rare opportunity to transpose into songs from Tang-dynasty-inspired poetry beautifully written by Poet Mây Tần and his former students, Từ Thọ and Nguyễn Anh Tuấn.

Để nhớ lại một chút gì của Thầy Phạm Khắc Trí:

ÔNG GIÁO GIÀ VÀ KHOẢNG CÁCH 60 NĂM.

Một trưa nắng hạ, trời im gió, tôi về thăm lại ngôi trường xưa.Bước vào lớp, giờ dạy toán đầu tiên, 60 năm về trước, tôi thật sự ngỡ ngàng. Lớp trống vắng, nhưng quang cảnh vẫn y như ngày nào.Bảng đen, bục giảng, bàn giáo sư, và những dãy bàn ghế gỗ mộc sơn đen. Tưởng như trước mắt, các em học trò yêu quí đã ngồi ngay ngắn, náo nức chờ đón bài giảng đầu tiên của thày. Sáu chục năm qua rồi thật sao. Tôi chìm vào trong hồi tưởng.

Thuở mới vào đời, nổi trôi đến một tỉnh nhỏ, tôi đã tin là đã tìm được chốn gửi thân cho qua thời khói lửa. Ngày ngày an phận, dạy học, tình nguyện làm ông giáo làng, đưa trẻ qua sông, bỏ mộng khoa bảng, không luyến tiếc cử nhân, tiến sĩ, kỹ sư hay bác sĩ. Thật sự, khoảng thời gian đầu, tôi đã tìm thấy ở nơi đây một không gian còn giữ được ít nhiều " quân sư phụ ", ngày tháng miệt mài lo dạy học, hết dạy cho lớp các anh các chị, rồi lại lo đến lớp các em của mấy đứa học trò, cứ ngỡ là nếu không có mình thì tội nghiệp, chắc chúng nó không thể có được một ông thày dạy toán nào " hay " như vậy. Lại thêm, được sự quí mến của phụ huynh học sinh, ban giám hiệu, và các bạn đồng nghiệp, ông giáo tôi làm sao nghĩ đến chuyện thay đổi, bỏ đi nơi khác được. Ôi chao, tuổi trẻ hồn nhiên, giản dị, ngây thơ thật dễ thương đến tội nghiệp của tôi!

" Bố ạ, thôi ta về, bố bước lên bục giảng cho con chụp tấm hình làm kỹ niệm".Tiếng nói của người con trưởng kéo tôi về với thực tại.

Một trưa nắng hạ, trời im gió,
Tôi về thăm lại ngôi trường xưa.
Thời gian như đọng từng viên gạch,
Trên lối đi mòn dấu nắng mưa.

Chân bước ngỡ ngàng vào lớp học,
Ô hay bụi phấn vẫn còn vương.
Bảng đen, bục giảng như ngày trước,
Sáu chục năm rồi, những khói sương.

Dẫy ghế, dẫy bàn đầy vết mực,
Gái trai cùng lớp học chung nhau.
Ngày xanh lưu bút còn đây đó,
Đám học trò xưa, nay ở đâu?

Ngơ ngẩn nhìn ra ngoài cửa vắng,
Tưởng như lũ trẻ còn ham chơi.
Chuông reo đã báo, chẳng vào lớp
Phải phạt công xin mấy đứa thôi.

Đang đứng mơ màng theo cánh bướm,
Tiếng người con trưởng vẳng bên tai.
"Ta đi, bố ạ, kẻo về tối",
Lòng giáo tôi xưa nặng cảm hoài.

Xa xứ bao năm không đếm nửa,
Nửa vòng trái đất một ngày bay.
Trường xưa chốn cũ, người không thấy,
Sầu chất đong đầy, ai có hay?

Phạm Khắc Trí

Cám ơn gia đình Phan Thanh Giản, và tất cả các Anh Chị vẫn luôn nhớ và yêu thương Bô và đều thường xuyên hỏi thăm Mẹ và gia đình.

Chúc sức khỏe và mong sẽ có cơ hội gặp lại nhau.

Phạm Nguyên Diễm


Thứ Hai, 16 tháng 9, 2024

Bả Tửu Vấn Nguyệt 把酒問月 - Lý Bạch (Thịnh Đường)

 

把酒問月

青天有月來幾時,
我今停杯一問之。
人攀明月不可得,
月行卻與人相隨。
皎如飛鏡臨丹闕,
綠煙滅盡清輝發。
但見宵從海上來,
寧知曉向雲間沒。
白兔搗藥秋復春,
嫦娥孤棲與誰鄰。
今人不見古時月,
今月曾經照古人。
古人今人若流水,
共看明月皆如此。
唯願當歌對酒時,
月光常照金樽裡。

Bả Tửu Vấn Nguyệt

Thanh thiên hữu nguyệt lai kỷ thì,
Ngã kim đình bôi nhất vấn chi!
Nhân phan minh nguyệt bất khả đắc,
Nguyệt hành khước dữ nhân tương tuỳ.
Kiểu như phi kính lâm đan khuyết,
Lục yên diệt tận thanh huy phát
Đãn kiến tiêu tòng hải thượng lai,
Ninh tri hiểu hướng vân gian một.
Bạch thố đảo dược thu phục xuân,
Thường nga cô thê dữ thuỳ lân.
Kim nhân bất kiến cổ thì nguyệt,
Kim nguyệt tằng kinh chiếu cổ nhân.
Cổ nhân kim nhân nhược lưu thuỷ,
Cộng khan minh nguyệt giai như thử.
Duy nguyện đương ca đối tửu thì,
Nguyệt quang thường chiếu kim tôn lý.

Dịch nghĩa

Nâng Chén Rượu Hỏi Trăng
Trời xanh có vầng trăng đã bao lâu rồi?
Nay ta ngừng chén hỏi trăng đây!
Người thường không thể vin với được vầng trăng sáng,
Trăng đi đâu thì vẫn cứ theo người.
Ánh sáng trắng như gương vút tận cửa son,
Khói biếc tan đi hết, để lộ vẻ trong trẻo lan tỏa ra.
Chỉ thấy ban đêm trăng từ biển tới,
Nào hay sớm lại tan biến giữa trời mây.
Thỏ trắng giã thuốc mãi thu rồi lại xuân,
Thường Nga lẻ loi cùng ai bầu bạn?
Người ngày nay không thấy bóng trăng xưa.
Trăng nay thì đã từng soi người xưa.
Người xưa nay tựa như giòng nước chảy,
Cùng ngắm vầng trăng sáng như vậy đó.
Chỉ mong trong lúc ca say trước cuộc rượu,
Ánh trăng cứ mãi sáng soi vào chén vàng.

Dịch Thơ:

Nâng Chén  Hỏi Trăng

Trời xanh có nguyệt đã bao lâu
Nay tớ dừng ly hỏi mấy câu
Người vịn sáng trăng đâu dễ được
Người đi, trăng vẫn dõi theo sau

Sáng như gương vút tận cung khuyết
Rạng rỡ khi tan làn khói biếc
Chỉ thấy ban đêm từ biển về
Nào hay ban sớm mây che biệt

Thỏ trắng cối chày thu lại xuân
Hằng Nga giường vắng chẳng ai gần
Người nay đâu thấy trăng thời cũ
Người cũ, trăng nay chiếu sáng ngần.

Người cũ, người nay như nước chảy
Cùng xem trăng sáng y như vậy
Chỉ mong đương hát rượu ngà say
Trăng chiếu chén vàng luôn lộng lẫy


Lộc Bắc
Sept24
***
Nâng Chén Hỏi Trăng

Trời xanh trăng có bao lâu
Đây dừng chén hỏi đôi câu trăng này
Người trần chẳng thể với tay
Trăng đi đâu vẫn loay hoay theo người
Như gương sáng cửa son tươi
Khói biếc tan biến ánh ngời trắng trong
Đêm trăng từ biển mênh mông
Nào hay sáng khuất vào lòng mây trôi
Thỏ giã thuốc, thu, xuân rồi
Hằng Nga đơn bóng bồi hồi cùng ai
Trăng xưa giờ đã phôi phai
Cố nhân trăng vẫn mãi hoài nhớ nhau
Xưa nay dòng chảy tuôn trào
Chung ngắm trăng sáng tâm đầu được chăng
Chỉ mong cuộc rượu cùng trăng
Ly vàng vẫn ánh trăng vằng vặc
 soi.

Kim Oanh
Trung Thu 2024

Thứ Ba, 27 tháng 8, 2024

Hiệp Khách Hành 俠客行 - Lý Bạch (Thịnh Đường)


Lý Bạch 李白 (701-762) tự Thái Bạch 太白, hiệu Thanh Liên cư sĩ 青蓮居士, sinh ở Tứ Xuyên (làng Thanh Liên, huyện Chương Minh, nay là huyện Miện Dương). Lý Bạch xuất thân trong một gia đình thương nhân giàu có. Lúc nhỏ học đạo, múa kiếm, lớn lên thích giang hồ ngao du sơn thuỷ, 25 tuổi "chống kiếm viễn du", đến núi Nga My ngắm trăng, ngâm thơ rồi xuôi Trường Giang qua hồ Động Đình, lên Sơn Tây, Sơn Đông cùng năm người bạn lên núi Thái Sơn "ẩm tửu hàm ca" (uống rượu ca hát), người đời gọi là Trúc khê lục dật. Sau đó được người bạn tiến cử với Đường Minh Hoàng, ông về kinh đô Trường An ba năm, nhưng nhà vua chỉ dùng ông như một "văn nhân ngự dụng" nên bất mãn, bỏ đi ngao du sơn thuỷ.

Đến Lạc Dương, gặp Đỗ Phủ kết làm bạn vong niên (Đỗ Phủ kém Lý Bạch 11 tuổi). Họ cùng Cao Thích vui chơi, thưởng trăng ngắm hoa, săn bắn được nửa năm. Rồi ông lại tiếp tục chia tay Đỗ Phủ viễn du về phương nam. Những năm cuối đời ông ẩn cư ở Lư Sơn. Tương truyền năm 61 tuổi ông đi chơi thuyền trên sông Thái Thạch, tỉnh An Huy, uống say, thấy trăng lung linh đáy nước, nhảy xuống ôm trăng mà chết đuối. Nay còn Tróc nguyệt đài (Đài bắt trăng) ở huyện Đăng Đồ, An Huy, là địa điểm du lịch nổi tiếng. Người đời phong danh hiệu cho ông là Thi tiên, Trích tiên, Tửu trung tiên, ...

Sau khi ông qua đời, Lý Đăng Dương sưu tầm thơ ông, được khoảng 20.000 bài, nhưng không để tâm cất giữ nên nay chỉ còn khoảng 1.800 bài. Thơ ông viết về đủ mọi đề tài: vịnh cảnh, thưởng hoa, tình bạn, nỗi khổ đau của người dân, nỗi cay đắng của người vợ trẻ xa chồng (chinh phụ, thương phụ), của người cung nữ, nỗi cô đơn và bất lực trước vũ trụ vô cùng vô tận, nỗi cay đắng vì có tài mà không được dùng... Đề tài nào cũng có những bài tuyệt tác.

Lời phi lộ

Chất hiệp sĩ thấm trong máu của con người cho nên người ta dùng cụm từ máu hiệp sĩ để ám chỉ nó. Không có máu hiệp sĩ thì không bao giờ là hiệp sĩ. Không có thứ gì, kể cả lưỡi gươm kề cổ, có thể thúc đẩy một kẻ không có máu hiệp sĩ trở thành hiệp sĩ. Bài thơ Hiệp Khách Hành của Lý Bạch là một con yêu tinh tiếp sức cho hai người có máu hiệp sĩ hoàn thành sứ mạng.

Nguyên tác  Dịch âm

俠客行李白 Hiệp Khách Hành

趙客縵胡纓 Triệu khách mạn hồ anh
吳鉤霜雪明 Ngô câu sương tuyết minh
銀鞍照白馬 Ngân an chiếu bạch mã
颯沓如流星 Táp đạp như lưu tinh
十步殺一人 Thập bộ sát nhất nhân
千里不留行 Thiên lý bất lưu hành
事了拂衣去 Sự liễu phất y khứ
深藏身與名 Thâm tàng thân dữ danh
閑過信陵飲 Nhàn quá Tín lăng ẩm
脫劍膝前橫 Thoát kiếm tất tiền hoành
將炙啖朱亥 Tương chá đạm Chu Hợi
持觴勸侯嬴 Trì trường khuyến Hầu Doanh
三杯吐然諾 Tam bôi thổ nhiên nặc
五岳倒為輕 Ngũ nhạc đảo vi khinh
眼花耳熱後 Nhãn hoa nhĩ nhiệt hậu
意氣素霓生 Ý khí tố nghê sinh
救趙揮金鎚 Cứu Triệu huy kim chùy
邯鄲先震驚 Hàm Đan tiên chấn kinh
千秋二壯士 Thiên thu nhị tráng sĩ
烜赫大樑城 Huyên hách Đại Lương thành
縱死俠骨香 Túng tử hiệp cốt hương
不慚世上英 Bất tàm thế thượng anh
誰能書閣下 Thùy năng thư các hạ
白首太玄經 Bạch thủ Thái Huyền kinh

Chú giải:

縵胡纓 mạn hồ anh: giải mũ bằng vải thô (điển tích trong sách Trang tử).
吳鉤 ngô câu: đao mũi cong của người nam man...
颯沓 táp đạp: nhiều vô kể.
事了 sự liễu: việc xong rồi.
深藏 thâm tàng: dấu kín.
信陵 Tín Lăng Tín Lăng quân: con Ngụy chiêu vương, có tiếng là người chiêu hiền đãi sĩ thời Chiến quốc (giống Bình Nguyên quân và Mạnh Thường quân cùng thời). Hầu Doanh và Châu Hợi bày mưu cho Tín Lăng quân lấy trôm binh phù cùa vua để đem quân đi thủ đô Hàm Đan của nước Triệu cứu Bình Nguyên quân đang bị khốn ở đó.
膝 tất: đầu gối.
將 tương: đem.
炙 chá: (chích): thịt nướng trên lửa.
啖 đạm (đảm): mời ăn.
持 trì: cầm.
觴 trường (thương): chén uống rượu.
吐然 thổ nhiên: tỏ ý chân thành.
諾 nặc: vâng lời.
眼花 nhãn hoa: mắt nở hoa.
素霓 tố nghê: cầu vồng trắng.
揮 huy: vung lên.
金鎚 kim chùy: dùi bằng kim khí.
震驚 chấn kinh: rung động, kinh hoàng.
烜赫 huyên hách: chói lọi.
大樑 Đại Lương: kinh thành Đại Lương.
縱死 tùng tử: dù có chết.
慚 tàm: hổ thẹn.
太玄經 Thái Huyền kinh, Dương Hùng thời Hán Thành đế, nhờ văn tài phỏng theo kinh dịch làm Thái Huyền kinh, được ban chức quan nhỏ. Sau nhân sợ tội nhẩy lầu nhưng không chết và được tha rồi chết già. Tác giả so sánh Dương Hùng với Hầu Doanh & Chu Hợi để thấy rõ nét khinh trọng của 2 hạng ngườị.

Dịch thơ

Bài Ca Hiệp Khách

Khách Triệu giải mũ thô.
Kiếm Ngô câu tuyết pha.
Yên bạc trên ngựa trắng,
Long lanh tợ Ngân Hà.
Giết người trong mười bước,
Kể chi ngàn dặm xa.
Việc xong liền phủi áo,
Thân thế không lộ ra.
Tín Lăng quân đãi tiệc.
Bên hông kiếm nằm chờ.
Thịt nướng mời Châu Hợi,
Cùng Hầu Doanh rượu trà.
Vâng lời nâng ba chén,
Ngũ Nhạc nhẹ như tơ.
Mắt tai bừng nhiệt huyết,
Cầu vồng chí chói lòa.
Vung kim chùy cứu Triệu,
Hàm Đan trổ tài ba.
Đại Lương hai tráng sĩ,
Lưu danh ngàn thu qua.
Tro thơm xương hiệp khách,
Chẳng thẹn với sơn hà.
Không như Thái Huyền sách,
Lầu cao tóc bạc phơ.

Lời bàn:

Bài ngũ ngôn trường thiên 24 câu này xưng tụng hai hiệp sĩ Châu Hợi và Hầu Doanh. Một bài thơ siêu việt, đứng vào hàng đầu trong loại thơ xưng tụng anh hùng hào kiệt.
Hai câu kết chê Dương Hùng trong Thái Huyền sách (xem chú giải) nhảy lầu cao định chạy tội nhưng sau lại chịu chết già.
Rất gọn gàng. Rất mạnh mẽ. Rất hùng tráng.

Góp ý của Lộc Bắc:

Đây là một bài nhạc phủ cổ đề, thuộc Tạp khúc ca từ. Bài tuy nhiều câu nhưng ít chữ, viết cô đọng thật khó hiểu. Để hiểu rõ mời quý vị đọc truyện Tín Lăng Quân trong Sử Ký Tư Mã Thiên, nguồn cảm hứng cho Lý Bạch viết bài này. Xin xem tại link sau:
https://trinhdinhlinh.com/sach/su-ky-tu-ma-thien/nguy-cong-tu-liet-truyen/

Hiệp Khách Hành

1/
Khách Triệu giải mũ tuềnh
Ngô Câu sương tuyết thành
Yên bạc soi ngựa trắng
Vùn vụt sao băng nhanh

Một chết mười bước chân
Đi vạn dặm không đành
Giũ áo khi xong việc
Dấu kín cả thân danh

Rảnh qua Tín Lăng uống
Đặt kiếm trước gối mình.
Đem thịt mời Chu Hợi
Nâng chén kiến Hầu Doanh

Ba ly gật đầu tạ
Năm núi cũng nhẹ tênh
Sau mắt hoa tai nóng
Ý khí vồng trắng sinh

Cứu Triệu huơ búa quý
Hàm Đan trước thất kinh
Ngàn thu hai tráng sĩ
Lừng lẫy Đại Lương thành

Dẫu chết xương thơm lành
Chẳng thẹn khách hùng anh
Ai người viết dưới gác
Bạc đầu Thái Huyền kinh

2/ 
Khách nước Triệu tuềnh toàng giải mũ
Thanh Ngô Câu sáng tỏ tuyết sương
Ngựa hay toàn trắng yên cương
Vó câu lấp loáng trên đường sao sa

Mười bước chân gươm ra người chết
Ngàn dặm xa chẳng thiết du hành
Việc xong giũ áo biến nhanh
Nhân thân giữ kín, ẩn danh xóm làng

Lúc thảnh thơi Tín Lăng ghé lại
Cởi kiếm ra khoanh gối chuyện chơi
Chả nem Chu Hợi được mời
Hầu doanh nâng chén rượu sơi giải sầu

Uống ba chén chỉ gật đầu
Năm non, bẩy núi sánh đâu lông hồng
Mắt hoa, tai nóng sau cùng
Trắng tinh ý khí cầu vồng sản sinh

Vung búa vàng, liều mình giúp Triệu
Nơi Hàm Đan tiếp cứu viện binh
Hai tráng sĩ trả ân tình
Thanh danh lừng lẫy khắp thành Đại Lương

Thân dẫu tử cốt xương còn ngát
Chẳng thẹn thùng với khách hùng anh
Ai người dưới gác viết thành,
Bạc đầu tham sống, cuốn kinh Thái Huyền?

Lộc Bắc
***
Bài Ca Người Hiệp Khách  

1/
Giải mũ thô người Triệu.
Ngô câu sương tuyết pha.
Yên bạc soi ngựa trắng,
Lấp lánh ngàn sao sa.
Giết một người mười bước,
Đâu cần ngàn dậm xa.
Việc xong là giũ áo,
Dấu kín thế danh gia.
Rảnh tới Tín Lăng uống,
Trên đùi kiếm gác qua.
Đãi Chu Hơị thịt nướng,
Mời Hầu Doanh rượu hoa.
Ba chén xong vâng lệnh,
Ngũ Nhạc nhẹ coi pha.
Ý khí cầu vồng trắng,
Tai nóng mắt đơm hoa.
Vung chùy đồng cứu Triệu,
Hàm Đan dẹp can qua.
Ngàn thu hai tráng sĩ,
Đại Lương danh chói lòa.
Dẫu chết còn thơm cốt,
Không thẹn đời tài ba.
Không như ai dưới gác,
Soạn Thái Huyền chết già.

2/ 
Người nước Triệu vải thô giải mũ,
Gươm Ngô Câu loáng phủ tuyết sương.
Sáng ngời ngựa trắng yên cương,
Long lanh như những sao đương chuyển dời.

Chỉ mười bước một người bị giết,
Nên gươm kia chẳng thiết đi xa.
Việc xong giũ áo cho qua,
Không cần ai biết danh mà làm chi.

Nhà Tín Lăng rảnh thì qua uống,
Ở ngang đùi đặt xuống thanh gươm.
Chu Hợi đãi thịt nướng thơm,
Hầu Doanh mời tiệc rượu đơm đầy vò.

Uống ba chén liền lo vâng lệnh,
Ngũ Nhạc kia nhẹ tễnh lông hồng.
Tai bừng nóng, mắt nở bông,
Khí hùng tỏa tựa cầu vòng trắng tinh.

Chùy đồng giáng hết mình giúp Triệu,
Gây kinh hoàng giải cứu Hàm Đan.
Ngàn thu tráng sĩ hai chàng,
Danh thơm vang dậy rỡ ràng Đại Lương.

Dẫu có chết cốt xương thơm mãi,
Không thẹn người hồ hải anh hùng.
Không như ai dưới thư phòng,
Thái Huyền ngồi soạn trắng bông mái đầu.

Mỹ Ngọc phỏng dịch.
Aug. 17/2024.
***

Góp ý của Kiều Mộng Hà:

Kính phỏng dịch thoát ý bài số 43 HIỆP KHÁCH HÀNH của Lý Bạch

Bài Ca Ngợi Hiệp Khách  

Giải mũ thô sơ khách Triệu gia
Gươm Ngô sắc trắng ánh sương pha
Ngân yên bạch mã vung roi thép
Vùn vụt vó câu lướt dãy Hà

Tuốt gươm mươi bước… có người chết
Ngàn dặm kể chi đường quá dài
Xong việc phủi y không luyến tiếc
Cố che thân thế chẳng lộ hài

Nhàn nhã ghé Lăng quân dự tiệc
Bên hông kiếm báu lửng lơ chờ
Rượu ngon thịt nướng cùng Châu Hợi
Bên cạnh Hầu Doanh chén tạc thù

Mời nhau ba chén đầu cung kính
Ngũ nhạc âm giai nhẹ tợ tơ
Nhiệt huyết bừng lên, tai/mắt đỏ
Cầu vồng bảy sắc chói lờ mờ…

Vun vút chuỳ vàng nhanh cứu Triệu
Trổ tài mưu lược tướng Hàm Đan
Đại Lương tên tuổi hai danh sĩ
Sách sử lưu danh tuế nguyệt ngàn

Hiệp khách xương tan còn tiếng mãi
Ngàn đời không thẹn với non sông
Dương Hùng Thái Huyễn trong đời Hán
Dẫu sống bạc đầu cũng… số không

Kiều Mộng Hà
Aug.17.2024
***
Nguyên tác:  Phiên âm: Dịch thơ:

俠客行-李白 Hiệp Khách Hành – Lý Bạch

趙客縵胡纓 Triệu khách man hồ anh Khách Triệu mũ đơn sơ,
吳鈎霜雪明 Ngô câu sương tuyết minh Mang kiếm bén sáng ngời.
銀鞍照白馬 Ngân an chiếu bạch mã Ngựa trắng yên bạc chói,
颯沓如流星 Táp đạp như lưu tinh Lấp lánh tợ sao rơi.

十步殺一人 Thập bộ sát nhất nhân Mười bước giết một mạng,
千里不留行 Thiên lý bất lưu hành Vạn dặm không âm thanh.
事了拂衣去 Sự liễu phất y khứ Xong việc liền giũ áo,
深藏身與名 Thâm tàng thân dữ danh Trầm lặng sống ẩn danh.

閑過信陵飲 Nhàn quá Tín Lăng ẩm Nhàn tìm Tín Lăng uống,
脫劍膝前橫 Thoát kiếm tất tiền hoành Gác kiếm trên gối xanh
將炙啖朱亥 Tương chích đạm Chu Hợi Thịt nướng mời Chu Hợi
持觴勸侯嬴 Trì thương khuyến Hầu Doanh Chung rượu đãi Hầu Doanh

三杯吐然諾 Tam bôi thổ nhiên nặc Ba chén chân thành hứa,
五岳倒為輕 Ngũ nhạc đảo vi khinh Năm núi nặng non sông.
眼花耳熱後 Nhãn hoa nhĩ nhiệt hậu Mắt hoa tai nóng bỏng
意氣素霓生 Ý khí tố nghê sanh Ý khí sanh cầu vồng.

救趙揮金槌 Cứu Triệu huy kim chùy Vung chùy cứu nước Triệu,
邯鄲先震驚 Hàm Đan tiên chấn kinh Hàm Đan không chấn thương
千秋二壯士 Thiên thu nhị tráng sĩ Ngàn năm hai tráng sĩ
烜赫大梁城 Huyên hách Đại Lương thành Lừng danh thành Đại Lương.

縱死俠 骨香 Túng tử hiệp cốt hương Dù chết thơm xương cốt,
不慚世上英 Bất tàm thế thượng anh Không thẹn với nhân sinh.
誰能書閣下 Thùy năng thư các hạ Ai người viết lại sách
白首太玄經 Bạch thủ Thái Huyền kinh Đầu bạc Thái Huyền kinh.

Dị bản: Câu 10 Lý Bạch chép dị bản chữ thượng上 thay vì chữ tiền前
Bài Hiệp Khách Hành có đăng trong sách:
Lý Thái Bạch Văn Tập - Đường - Lý Bạch 李太白文集-唐-李白

Ghi chú:

Hiệp Khách Hành: là một tạp khúc ca từ, dạng ngũ ngôn cổ phong, mô tả và ca ngợi tinh thần hiệp sĩ, tôn trọng lời hứa, giúp đỡ người yếu kém, hy sinh cho chính nghĩa…

Triệu khách: hiệp khách từ xứ Yến Triệu. Từ xa xưa, Yến Triệu đã có nhiều người hào hiệp.

Man hồ anh: giải mũ thô sơ của người thiểu số/hiệp sĩ; man-không có hoa văn, hồ-chỉ dân tộc thiểu số phía bắc, anh-giải mũ, ảnh hưởng của phong tục địa phương, biểu hiện chánh sách hòa hợp Hồ và Hán của triều đại nhà Đường.
Ngô câu: một loại đao đầu hơi cong, tương truyền do vua Hạp Lư nước Ngô chế ra, sau dùng để chỉ đao sắc bén.

Hai câu 5 và 6: từ sách Trang Tử Thuyết Kiếm: “Thanh kiếm của tôi cứ mười bước lại giết chết một người, vì thế không để cho đi xa ngàn dặm”, có nghĩa là kiếm sĩ hào hiệp rất mạnh mẽ và dũng cảm.

Tín Lăng/Tín Lăng Quân: con Ngụy chiêu vương, có tiếng là một trong bốn người chiêu hiền đãi sĩ thời Chiến quốc, có lúc có đến 3000 thực khách.
Hầu Doanh: lính giữ cửa đông Đại Lương, kinh đô nước Ngụy.
Chu Hợi: sống ẩn dật như một đồ tể.
Hầu Doanh và Chu Hợi thuộc hạ bày mưu cho Tín Lăng lấy trộm binh phù của vua Ngụy để đem quân đến Hàm Đan kinh đô nước Triệu cứu Bình Nguyên quân đang bị quân Tần vây khốn.

Hai câu 13 và 14: trong thi văn cổ, 3 và 9 thường là hư cấu, và lời hứa được coi trọng/nặng hơn 5 ngọn núi.

Tố nghê: còn gọi là bạch hồng, cầu vồng trắng. Người xưa tin rằng khi có một sự kiện bất thường, sẽ có một hiện tượng thiên thể tương ứng, chẳng hạn như “ bạch hồng quán nhật ”cầu vồng trắng xuyên qua mặt trời. Câu này có nghĩa là tinh thần hiệp sĩ xem nhẹ cái chết đã lay động thiên đình. Cũng có thể hiểu rằng với lời hứa trong tinh thần hiệp sĩ, một điều gì đó lớn lao sẽ xảy ra trên thế gian.

Hàm Đan: kinh đô nước Triệu, địa danh này nằm ở phía tây nam của tỉnh Hà Bắc, giáp với tỉnh Hà Nam.

Đại Lương: Thành phố Khai Phong, tỉnh Hà Nam.


Thái Huyền Kinh: một tác phẩm triết học của Dương Hùng mô phỏng Kinh Dịch. Dương Hùng là người có văn tài, làm chức lang trung ở đời Hán Thành Đế. Đến thời Vương Mãng, làm chức hiệu thư tại Thiên Lộc các. Nhân việc, sợ bị bắt, gieo mình từ trên gác xuống, nhưng không chết.

Bài thơ Hiệp Khách Hành lấy cảm hứng từ câu chuyện: Tín Lăng là đại thần nước Ngụy. Ngụy và Triệu thành lập liên minh để cùng nhau đối phó với Tần. Tín Lăng là một người ủng hộ tích cực cho sự hợp tác. Quân Tần bao vây Hàm Đan, thủ phủ nước Triệu. Triệu nhờ Ngụy cứu giúp. Vua nước Ngụy sai Tấn Bỉ dẫn quân đến giải cứu nước Triệu, nhưng sau đó do sự uy hiếp của vua Tần, ông đã ra lệnh cho Tấn Bỉ án binh bất động. Cứ như thế, liên minh Ngụy Triệu nhất định sẽ sụp đổ và Tần sẽ thôn tính cả Triệu lẫn Ngụy.

Tín Lăng là người nghĩa khí, trọng lời cam kết, chuẩn bị đích thân dẫn quân của mình đi cứu Triệu, chiến đấu với quân Tần. Đến từ giã Hầu Doanh (thực ra là để thử lòng Hầu Doanh), nhưng Hầu Doanh không nói gì. Tín Lăng đi được nửa đường, quay lại gặp Hầu Doanh. Hầu Doanh mỉm cười nói: "Anh biết em sẽ trở lại." và chỉ kế cho Tín Lăng, thông đồng với ái phi của vua Ngụy, trộm hổ phù, đến gặp Tấn Bỉ giả vờ Vua Ngụy ra lệnh tiến binh đánh Tần. Khi Tấn Bỉ nghi ngờ, Chu Hợi dùng chùy đánh chết Tấn Bỉ. Tín Lăng sau đó dẫn quân Ngụy tấn công quân Tần, giải vây Hàm Đan.

 Phí Minh Tâm

Thứ Ba, 28 tháng 5, 2024

Trường Can Hành Kỳ 1 長干行其一 - Lý Bạch (Thịnh Đường)


Lý Bạch 李白 (701-762) tự Thái Bạch 太白, hiệu Thanh Liên cư sĩ 青蓮居士, sinh ở Tứ Xuyên (làng Thanh Liên, huyện Chương Minh, nay là huyện Miện Dương). Lý Bạch xuất thân trong một gia đình thương nhân giàu có. Lúc nhỏ học đạo, múa kiếm, lớn lên thích giang hồ ngao du sơn thuỷ, 25 tuổi "chống kiếm viễn du", đến núi Nga My ngắm trăng, ngâm thơ rồi xuôi Trường Giang qua hồ Động Đình, lên Sơn Tây, Sơn Đông cùng năm người bạn lên núi Thái Sơn "ẩm tửu hàm ca" (uống rượu ca hát), người đời gọi là Trúc khê lục dật. Sau đó được người bạn tiến cử với Đường Minh Hoàng, ông về kinh đô Trường An ba năm, nhưng nhà vua chỉ dùng ông như một "văn nhân ngự dụng" nên bất mãn, bỏ đi ngao du sơn thuỷ.

Đến Lạc Dương, gặp Đỗ Phủ kết làm bạn vong niên (Đỗ Phủ kém Lý Bạch 11 tuổi). Họ cùng Cao Thích vui chơi, thưởng trăng ngắm hoa, săn bắn được nửa năm. Rồi ông lại tiếp tục chia tay Đỗ Phủ viễn du về phương nam. Những năm cuối đời ông ẩn cư ở Lư Sơn. Tương truyền năm 61 tuổi ông đi chơi thuyền trên sông Thái Thạch, tỉnh An Huy, uống say, thấy trăng lung linh đáy nước, nhảy xuống ôm trăng mà chết đuối. Nay còn Tróc nguyệt đài (Đài bắt trăng) ở huyện Đăng Đồ, An Huy, là địa điểm du lịch nổi tiếng. Người đời phong danh hiệu cho ông là Thi tiên, Trích tiên, Tửu trung tiên, ...

Sau khi ông qua đời, Lý Đăng Dương sưu tầm thơ ông, được khoảng 20.000 bài, nhưng không để tâm cất giữ nên nay chỉ còn khoảng 1.800 bài. Thơ ông viết về đủ mọi đề tài: vịnh cảnh, thưởng hoa, tình bạn, nỗi khổ đau của người dân, nỗi cay đắng của người vợ trẻ xa chồng (chinh phụ, thương phụ), của người cung nữ, nỗi cô đơn và bất lực trước vũ trụ vô cùng vô tận, nỗi cay đắng vì có tài mà không được dùng... Đề tài nào cũng có những bài tuyệt tác.

Lời phi lộ

Trường Can là một làng thuộc tỉnh Giang Tây, một địa danh rất nổi tiếng, nơi diễn ra nhiều cuộc hẹn hò của trai gái trong văn học sử Trung Quốc. Nhiều văn hào thời Đường đã dùng Trường Can làm đầu đề cho những bài thơ tả trai gái tỏ tình.
Bài 長干行其一 Trường Can Hành kỳ 1 của Lý Bạch là đề tài cho lần này.

長干行其一 李白

Nguyên bản Dịch âm

長干行其一 Trường Can Hành kỳ 1

妾髮初覆額 Thiếp phát sơ phú ngạch
折花門前劇 Chiết hoa môn tiền kịch
郎騎竹馬來 Lang kỵ trúc mã lai
繞床弄青梅 Nhiễu sàng lộng thanh mai
同居長千里 Đồng cư Trường Can lý
兩小無嫌猜 Lưỡng tiều vô hiềm sai
十四為君婦 Thập tứ vi quân phụ
羞顏未嘗開 Tu nhan vị thường khai
低頭向暗壁 Đê đầu hướng ám bích
千喚不一回 Thiên hoán bất nhất hồi
十五始展眉 Thập ngũ thuỷ triển mi
願同塵與灰 Nguyện đồng trần dữ hôi
常存抱柱信 Thường tồn bão trụ tín
豈上望夫台 Khởi thướng Vọng Phu đài
十六君遠行 Thập lục quân viễn hành
瞿塘灩澦堆 Cù Đường, Diễm Dự đôi
五月不可觸 Ngũ nguyệt bất khả xúc
猿聲天上哀 Viên thanh thiên thượng ai
門前遲行跡 Môn tiền trì hành tích
一一生綠苔 Nhất nhất sinh lục đài
苔深不能掃 Đài thâm bất năng tảo
落葉秋風早 Lạc diệp thu phong tảo
八月蝴蝶黃 Bát nguyệt hồ điệp hoàng
雙飛西園草 Song phi tây viên thảo
感此傷妾心 Cảm thử thương thiếp tâm
坐愁紅顏老 Toạ sầu hồng nhan lão
早晚下三巴 Tảo vãn há Tam Ba
預將書報家 Dự tương thư báo gia
相迎不道遠 Tương nghênh bất đạo viễn
直至長風沙 Trực chí Trường Phong Sa

Dịch thơ
Bài Ca Trường Can kỳ 1

Em ngắt hoa vui chơi trước cửa
Tóc vừa thòng che nửa trán thôi.
Anh phóng tới cỡi tre làm ngựa
Chạy quanh giường nghịch liệng mơ tươi.
Làng Trường Can đôi ta cùng ở
Chưa hề gây hiềm khích đơn sai.
Năm mười bốn em về làm vợ
Còn thẹn thùng chưa dám vui cười
Cứ cúi mặt quay vào vách tối
Ngàn lần nghe kêu chẳng đáp lời.
Năm mười lăm vừa đậm nét tươi,
Nguyện bên nhau dù đời gian khổ.
Như Vĩ Sinh ôm cột giữ lời! (1)
Đài vọng phu mơ mòng từ độ...
Năm mười sáu anh đi xa xôi,
Điễm Dự Cù Đường em đâu rõ. (2)
Thăm không được tháng Năm nước lũ,
Vượn bi ai kêu thấu tận trời.
Dấu chân dạo trước sân còn đó,
Đã mọc đầy một lớp rêu tươi.
Rêu qúa dầy quét đi rất khó.
Thu sớm về gió thổi lá rơi.
Tháng tám đầu thu bươm bướm tới.
Trong vườn Tây bướm lượn từng đôi.
Ngẫm thương mình lòng đau vời vợi,
Ngồi buồn trông sẽ chóng già thôi.
Hễ về tới Tam Ba dừng lại, (3)
Viết cho em báo trước đôi lời.
Trường Phong Sa đón anh. Thẳng tới! (4)
Em chẳng lo đường xá xa xôi.

Chú giải:

(1) Hai địa danh xa xôi ở cửa sông Trường Giang.
(2) Vĩ Sinh hẹn người tình ở chân cầu. Nước dâng lên ngập cầu mà người tình không tới, bèn ôm chân cầu mà chết đuối.
(3) Tam Ba: 3 địa danh gần nhau: Ba Quận, Ba Đông, Ba Tây.
(4) Trường Phong Sa ở giữa Tam Ba (nơi nàng dặn chồng dừng chân nhắn tin về) và Trường Can (nơi quê nhà).

Lời bàn

Trường Can Hành của Lý Bạch và của Thôi Hiệu (trong bài 40 b, sau bài này) tương phản nhau. (Con Cò dùng thất ngôn trường thiên (thay vì ngũ ngôn trường thiên) để dễ dịch cho đủ ý. Dịch đổi chỗ cho 2 câu đầu và cho 2 câu cuối cùng).
- Về đề tài, Lý Bạch tả cảnh bi hài của một mối duyên tảo hôn mà người nữ thủ vai độc thoại. Thôi Hiệu kể chuyện đôi trai gái tán tỉnh nhau như một vở kịch vui.
- Về thể thơ, Lý Bạch dùng 30 câu ngũ ngôn trường thiên, còn Thôi Hiệu thì dùng 4 đoạn thất ngôn tứ tuyệt.
- Về cấu trúc, bài của họ Lý, tuy là kỳ 1, có thể đứng độc lập, không cần thiết phải có kỳ 2. Bài của họ Thôi phải được ghép từ kỳ 1 đến kỳ 4 mới có đầu cuối, bài bản, lớp lang.
- Còn một tương khắc tiềm ẩn vô cùng tế nhị nữa: hai thiên tài này dường như rất kỵ nhau. Có lần Lý Bạch viếng Hoàng Hạc lâu, thấy Thôi Hiệu đã đề thơ trên lầu bèn không muốn đề thơ nữa mà để lại thế gian một câu bất hủ: “Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc, Thôi Hiệu đề thơ tại thượng lâu” (Trước mắt có cảnh mà tả không được, bởi vì Thôi Hiệu đã vịnh thơ ở trên lầu). Câu chuyện này làm cho đề tài Trường Can hành thêm hứng thú: hoặc không làm thơ cùng đề tài, hoặc làm cùng đề tài nhưng tương phản nhau. Kỵ nhau không phải vì ganh tị mà vì mến tài nhau. Thật là kỳ thú.

Con Cò
***
Bài Hát Trường Can Kỳ 1  

Trường Can cùng sống chung trong xóm
Hai đứa vui đùa rất tự nhiên
Tóc cắt “bôm bê” che nửa trán
Hái hoa chửng giỡn chạy quanh hiên
Chàng thường cỡi ngựa tre, roi vút
Nghịch ném quả mơ xanh tận giường

Mười bốn về làm vợ… nhát khờ
Thẹn thùng mắc cỡ cố làm ngơ
Cúi đầu giấu mặt vô góc tối
Chàng gọi ngàn lần chẳng… ú ơ

Mười lăm trổ mã nét mày thanh
Thề ước cùng chàng sớm tối quanh
Một dạ bên nhau… đinh đóng cột
Vọng phu chứng giám có trăng xanh

Mười sáu chàng đi xa, viễn phương
Sang thành Diễm Dự, ghé Cù Đường
Tháng Năm em chẳng đi thăm viếng
Nghe vượn kêu thê thiết thật buồn

Dấu chân dạo bước vẫn còn kìa
Quét mãi rong kia chẳng chịu lìa
Đá phủ rêu dày thêm cỏ xước
Gió thu gom hết lá đêm khuya

Tháng tám bướm vàng nhơn nhởn bay
Từng đôi trên thảm cỏ vườn tây
Nhớ thương hoen lệ cay mi mắt
Đôi má thôi hồng sắc nhạt phai

Mình ơi! Khi xuống đến Tam Ba
Nhớ báo tin vui gửi đến nhà
Em đợi chờ tin mình trở lại…
Rồi em thẳng đến Trường Phong Sa

Kiều Mộng Hà
Austin.01.13.24
***
Bài Ca Xóm Trường Can 

Tóc thiếp vừa ngang trán,
Bẻ hoa cửa trước chơi.
Chàng phi ngựa trúc tới,
Rỡn trái mơ xanh tươi.
Cùng ngụ Trường Can xóm,
Hồn nhiên kết bạn thôi.
Tuổi mười bốn chàng cưới,
Còn thẹn đâu hé môi.
Úp mặt vào tường tối,
Ngàn kêu chẳng đáp lời.
Mười lăm nét mày nở,
Nguyện bụi tro chung đôi.
Vững dạ chàng chung thủy,
Vọng phu là chuyện đời.
Mười sáu chàng đi khỏi,
Cù Đường, Diễm Dự đồi.
Vào tháng năm khó tới,
Vượn kêu thảm ngợp trời.
Dấu chân chàng cửa trước,
Rêu phủ xanh khắp nơi,
Dầy quá quét không nổi.
Gió thu thổi lá rơi,
Bướm vàng bay tháng tám,
Vườn cỏ tây từng đôi.
Cảnh gợi đau lòng thiếp,
Buồn nhan sắc phai phôi.
Khi Tam Ba chàng xuống,
Cấp báo nhà kịp thời.
Đi đón xa không quản,
Trường Phong thẳng tới nơi.

Lục Bát

Tóc mai vừa chấm ngang mày,
Bẻ hoa cửa trước ngày ngày đùa chơi.
Chàng phi ngựa trúc tới nơi,
Thiếp quanh giường rỡn mai tươi một cành.
Trường Can chung xóm chúng mình,
Hồn nhiên chưa biết linh tinh thẹn thùng.
Mười bốn nên nghĩa vợ chồng,
Thấy chàng chưa dám mặn nồng vấn vương.
Ban đêm úp mặt vào tường,
Dù chàng vạn gọi yêu thương vẫn vờ.
Mười lăm mày nở mộng mơ,
Nguyện cùng sống chết bụi tro với người.
Vững tin son sắt chàng thôi,
Vọng phu đâu nghĩ chuyện người làm chi.
Năm mười sáu tuổi chàng đi,
Cù Đường, Diễm Dự hiểm nguy núi đồi.
Tháng năm chẳng thể tới nơi,
Chim kêu vượn hú đầy trời bi ai.
Còn in trước cửa vết giầy,
Rêu xanh tràn ngập lấp đầy dấu chân.
Mọc dầy quét khó vô ngần,
Sớm thu lá rụng đầy sân, đầy đường.
Tháng tám cánh bướm vàng ươm,
Từng đôi chắp cánh khắp vườn cỏ tây.
Cảnh này làm thiếp sầu lây,
Ngồi buồn nhan sắc tàn phai sớm già.
Khi nào chàng xuống Tam Ba,
Tin vui nhớ báo về nhà biết ngay.
Đón chàng chẳng quản đường dài.

Trường Phong Sa đến thẳng đây nề gì..

Mỹ Ngọc
***
Nguyên bản: Phiên âm: Phỏng dịch thơ:

長干行其一 Trường Can Hành Kỳ 1 Bài Ca Trường Can

李白 Lý Bạch

妾髮初覆額 Thiếp phát sơ phú ngạch Ngày xưa tóc rủ vành,
折花門前劇 Chiết hoa môn tiền kịch Hái hoa chơi trước sân.
郎騎竹馬來 Lang kỵ trúc mã lai Cởi tre anh làm ngựa,
繞床弄青梅 Nhiễu sàng lộng thanh mai Quanh giếng ném mận xanh.
同居長千里 Đồng cư Trường Can lý Mình cùng quê Trường Can,
兩小無嫌猜 Lưỡng tiểu vô hiềm sai Giao du không nghi ngại.
十四為君婦 Thập tứ vi quân phụ Mười bốn em vợ chàng,
羞顏未嘗開 Tu nhan vị thường khai Thẹn thùng không hé miệng.
低頭向暗壁 Đê đầu hướng ám bích Quay mặt hướng vào tường,
千喚不一回 Thiên hoán bất nhất hồi Ngàn gọi không quay lại.
十五始展眉 Thập ngũ thủy triển mi Mười lăm mày mở mang,
願同塵與灰 Nguyện đồng trần dữ hôi Gian khổ nguyện cùng chàng.
常存抱柱信 Thường tồn bão trụ tín Lòng tin thiếp giữ vững,
豈上望夫台 Khởi thướng Vọng Phu đài Lên đài trông ngóng chồng.
十六君遠行 Thập lục quân viễn hành Mười sáu chàng đi xa,
瞿塘灩澦堆 Cù Đường Diễm Dự đôi Diễm Dự sau Cù Đường.
五月不可觸 Ngũ nguyệt bất khả xúc Tháng năm sông ngập lụt,
猿聲天上哀 Viên thanh thiên thượng ai Khắp trời vượn nỉ non.
門前遲行跡 Môn tiền trì hành tích Dấu chân chàng chẳng còn,
一一生綠苔 Nhất nhất sanh lục đài Dần dần rêu phủ đầy.
苔深不能掃 Đài thâm bất năng tảo Rêu nhiều quét không hết,
落葉秋風早 Lạc diệp thu phong tảo Lá thu lại sớm bay.
八月蝴蝶來 Bát nguyệt hồ điệp lai Tháng tám bướm về lượn,
雙飛西園草 Song phi tây viên thảo Sánh đôi trong vườn tây.
感此傷妾心 Cảm thử thương thiếp tâm Đau lòng thiếp cảm thấy,
坐愁紅顏老 Tọa sầu hồng nhan lão Ngồi buồn mặt già ra.
早晚下三巴 Tảo vãn há Tam Ba Sớm muộn đến Tam Ba,
預將書報家 Dự tương thư báo gia Hãy báo tin về nhà.
相迎不道遠 Tương nghênh bất đạo viễn Bao xa em chẳng ngại,
直至長風沙 Trực chí Trường Phong sa Trường Phong gặp chàng nha!
Bài thơ cổ thể này là một tạp khúc ca từ, thường được đăng chung 2 kỳ trong các sách:

Lý Thái Bạch Văn Tập - Đường - Lý Bạch 李太白文集-唐-李白
Lý Thái Bạch Tập Chú - Đường - Lý Bạch 李太白集注-唐-李白
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐詩-清-聖祖玄燁
Kỳ 1 được chọn đăng trong Đường Thi Tam Bách Thủ của Hành Đường Thoái Sĩ.

Sách của chính Lý Bạch cho bốn dị bản, tuy các dị bản này không thay đổi nhiều nghĩa của câu thơ:

Câu 14: 恥 sỉ=xấu hổ thay vì 豈 khởi=sao
Câu 19: 舊 cựu=cũ thay vì 遲 trì=chậm chạp
Câu 20: 蒼 thương=xanh cỏ thay vì 綠 lục=xanh biếc
Câu 23: 黃 hoàng= vàng thay vì 來 lai=lại

Ghi chú:

Trường Can: địa danh, bây giờ là huyện phía nam Nam Kinh tỉnh Giang Tô Trường Can hành: tên một điệu ca khúc xưa, Thôi Hiệu cũng có bài cùng đề
Kịch: đùa chơi, giỡn làm kịch.
Trúc mã: lấy tre giả làm ngựa, con nít thường hay chơi
Sàng: hàng rào giếng, ghế Hồ
Vị thường: không bao giờ, phủ định kép
Triển mi: mở mày, lông mày được nâng lên với niềm vui
Đồng trần: như bụi, ẩn dụ là một với tất cả mọi thứ
Thường tồn: vĩnh viễn, lâu dài
Bão trụ: ôm cột, điển cố Vĩ Sinh có hẹn với một người con gái ở dưới chân cầu, nước lên mà không thấy tới, ôm chân cầu mà chết đuối.
Vọng Phu đài: núi hình người phía nam Trung Châu chừng mười dặm
Cù Đường: hẻm núi đầu tiên trong Tam Hiệp của sông Dương Tử
Diễm Dự: bãi cát, xưa tên là Tây Lăng Hiệp, là cửa Tam Hiệp, Trường Giang chính giữa, Diễm Dự đôi ở ngay miệng sông.
Hồng nhan: người đàn bà còn trẻ.
Tam Ba: địa danh, tên gọi chung Ba Quận, Ba Đông và Ba Tây, khu vực lớn nhất ở phía đông của lưu vực sông Gia Lăng và sông Tề Giang ở Tứ Xuyên ngày nay
Trường Phong: địa danh bây giờ là huyện Quý Trì, trên bờ sông Dương Tử ở thành phố An Khánh, tỉnh An Huy, giữa Tam Ba và Trường Can

Dịch nghĩa:

Bài Ca Trường Can Kỳ 1

Nhớ lại ngày còn nhỏ, tóc em mới rủ xuống trán.
Em hái hoa chơi trước cổng.
Chàng cưỡi con ngựa tre chạy đến,
Chúng ta đi vòng qua lan can giếng, ném mận xanh vào nhau cho vui
Chúng ta cùng sống ở làng Trường Can,
Vì cùng còn nhỏ nên việc giao du không có gì nghi ngại.
Năm mười bốn tuổi, em về làm vợ chàng,
Thẹn thùng đến nỗi không bao giờ nở một nụ cười.
Em ngượng ngùng quay đầu vào vách tối.
Anh gọi ngàn lần, em không một lần quay lại.
Năm mười lăm, lông mày của em mới bắt đầu mở rộng,
Em nguyện mãi mãi bên anh, cùng gian khổ có nhau.
Em thường giữ vững lòng tin như Vĩ sinh ôm cột ngày xưa.
Làm sao có thể nghĩ rằng phải lên đài chờ chồng.
Nhưng khi em mười sáu tuổi, anh phải đi xa
Qua kẻm Cù Đường và mõm Diễm Dự.
Tháng năm, sông lụt không qua miền đó được.
Tiếng vượn kêu thảm thương, vang khắp trời.
Vết chân đi của anh trước cổng,
Dần dần bị rêu xanh mọc che phủ.
Rêu nhiều quá, không sao quét sạch hết.
Năm nay, gió thu thổi sớm mọi năm, lá vàng rơi rụng.
Tháng tám, những con bướm vàng lại trở về,
Chúng bay từng đôi trên cỏ trong vườn tây.
Em đau lòng trước cảnh ấy,
Ngồi buồn thấy mình thêm già trên khuôn mặt.
Sớm muộn gì anh cũng sẽ xuống miền Tam Ba,
Xin hãy báo tin ngay về nhà.
Không ngại đường sá xa xôi,
Em sẽ đến bãi Trường Phong, An Huê để gặp anh.

Luận bàn:

Nội dung bài thơ tương đối đơn giản, cô gái tự thuật về cuộc sống của mình ở Trường Can từ nhỏ cho đến khi lấy chồng và tình yêu đối với chồng. Ta có thể chia bài thơ ra làm nhiều phần.

Sáu câu đầu vẽ một bức tranh nhân gian về trẻ em ở thôn quê nô đùa. Tám câu tiếp mô tả cuộc sống mới cưới của cô dâu nhỏ sau khi kết hôn một cách sống động và sống động trong trái tim cô. Mười bốn tuổi đã lấy chồng khi còn chưa biết gì, chi tiết rất thực tế như: im lặng, xoay mặt vào tường… Nhưng yêu chồng thiết tha, sẵn sàng ôm cột chết chờ chồng, chưa thấy sự xa cách và nỗi buồn chia ly.

Rồi có lẽ vì sinh kế, người chồng phải đi xa. Tình cảm và tâm lý nàng thay đổi ở các giai đoạn khác nhau. Nàng lo lắng khi chồng phải đi qua các chặng đường hiểm trở, nước siết, hoang dã… Chàng đi đã lâu nên vết chân đã bị rêu phủ, gió thu đã về, lá vàng rơi bay…Nàng tủi thân nhìn bướm bay từng cặp, buồn thấy mình già đi…

Bốn câu cuối, dặn dò chồng cho tin khi về gần đến nhà. Nôn nóng đi gặp chồng sớm không ngại đường xa cho bản thân. Thật tình cảm! Thật lãng mạn, độc đáo!

A Song Of Changgan by Li Bai
Translation by Witter Bynner

My hair had hardly covered my forehead.
I was picking flowers, playing by my door,
When you, my lover, on a bamboo horse,
Came trotting in circles and throwing green plums.
We lived near together on a lane in Ch'ang-kan,
Both of us young and happy-hearted.
...At fourteen I became your wife,
So bashful that I dared not smile,
And I lowered my head toward a dark corner
And would not turn to your thousand calls;
But at fifteen I straightened my brows and laughed,
Learning that no dust could ever seal our love,
That even unto death I would await you by my post
And would never lose heart in the tower of silent watching.
...Then when I was sixteen, you left on a long journey
Through the Gorges of Ch'u-t'ang, of rock and whirling water.
And then came the Fifth-month, more than I could bear,
And I tried to hear the monkeys in your lofty far-off sky.
Your footprints by our door, where I had watched you go,
Were hidden, every one of them, under green moss,
Hidden under moss too deep to sweep away.
And the first autumn wind added fallen leaves.
And now, in the Eighth-month, yellowing butterflies
Hover, two by two, in our west-garden grasses
And, because of all this, my heart is breaking
And I fear for my bright cheeks, lest they fade.
...Oh, at last, when you return through the three Pa districts,
Send me a message home ahead!
And I will come and meet you and will never mind the distance,
All the way to Chang-feng Sha.

Changgan Ballad by Li Bai
Translation by Betty Tseng

I had only started to wear my hair banged,
Playing around I was picking flowers in the yard at the front;
You came around on your bamboo horse
Encircling chairs and benches and dangling
in your hand was a branch of green plums.
We both lived in the region of Changgan,
Two youngsters who hadn't thought much.

At the age of fourteen I became your wife,
Diffident and shy, low I held my head;
I would retreat to a corner in the shadow,
And would not answer to your call after call.
At fifteen my brows started to ease,
And fell for you till death do us part;
You vowed to keep your promises to me,
So why would I find myself on the lookout for your homecoming?
Yet when I was sixteen you had to leave home to travel far
Through the Yangtze Gorges passing the Yanyu river rock,
Which in May would give rise to formidable rugged waters,
Gibbons' howling would come from precipices on both sides and resonate skywards.

The hesitated footprints from the day you left
Have already become moss-covered and green.
The moss has grown so thick that sweeping could not do away,
Till autumn comes early and leaves fall to the moss conceal.
August sees butterflies turn yellow and frail,
And in pairs they'd fly over the west chamber garden, over grass blades.
Such a scene saddens me,
As I sit in sorrow and wait my youth away.

One day whether soon or late on your return through the towns of Ba,
Do write a letter home beforehand;
I care not how far I'd have to travel to receive you on your way,
Even if I have to go all the way to Changfengsha.

Phí Minh Tâm
***
Trường Can Hành

Ấu thơ em để tóc ngang vành
Thơ thẩn hái hoa chơi quẩn quanh
Anh lấy cây tre làm ngựa cởi
Nghịch đùa bên giếng ném mơ xanh
Trường Can hai đứa cùng chung xóm
Tình bạn thơ ngây cuộc sống lành

Đám cưới em tròn mười bốn tuổi
Ngại ngùng e ấp lặng thinh thôi
Dấu mặt vào tường em trốn tránh
Mặc anh kêu gọi vẫn im lời

Mười lăm trổ mã mặt mày tươi
Gian khổ cùng chồng em nguyện ước
Như chuyện Vi Sinh ôm cột nước
Đài cao mong ngóng đợi chờ người

Tuổi vừa mười sáu chàng rời nhà
Diễm Dự, Cù Đường nẻo chốn xa
Ngập lụt tháng năm sông nước cuốn
Khắp trời vượn khỉ khóc trầm kha
Dấu chân chồng bước xưa còn đó
Đâu đâu cũng phủ lớp rêu già
Màu úa rêu dầy khó quét ra!

Lá rụng thu sầu trời buốt giá
Mỗi năm tháng tám bướm vờn qua
Cánh nhỏ xinh xinh đôi bướm lượn
Héo hon em ngắm lòng đau xót
Tuổi trẻ thoáng đi chốc đã già!

Tam Ba trở lại ngày nào đó
Tin nhạn đến nhà em ngóng trông
Xa mấy tìm chồng em lặn lội
Trường Phong điểm hẹn thỏa chờ mong!

Thanh Vân
***
Hai câu BS thích nhất như đã ghi, nếu theo ngũ ngôn thì không du dương bằng lục bát:

Cảnh này gợi mối thương tâm,
Buồn vì nhan sắc âm thầm tàn phai.

Điển tích Vĩ Sinh, BS không biết, nhưng làm nhớ tới truyện Les Travaileurs De La Mer của Victor Hugo: chàng Gilliatt, mê cháu gái ông chủ tầu là Déruchette, nhưng nghèo hèn, không dám ngỏ lời, chỉ hay đến gần nhà vào ban đêm, thổi bag pipe

Ông chủ có chiếc tầu bị chìm, hứa rằng ai đem được tầu về thì gả cháu gái, nhưng khi xong việc, ông ấy nuốt lời. Hôm người đẹp theo chồng về Anh quốc, Gilliatt ngồi ở chiếc ghế đá Gild Holm Ur, là ghế thiên nhiên do sóng biển soi mòn lâu ngày tạo thành mà nhìn theo con tầu mỗi lúc một xa… khi thủy triều dâng lên, chàng chết chìm trên ghế đá.

Đây là bản dịch thoát theo thể ngũ ngôn:

Trường Can Hành Kỳ Nhất

Tóc em vừa ngang trán,
Hái hoa chơi trước nhà,
Anh cưỡi ngựa tre lại,
Quanh giường liệng mai qua.
Trường Can cùng một xóm,
Đôi trẻ vẫn lân la,
Mười bốn thành chồng vợ,
Thẹn đâu giám cười đùa,
Cúi đầu vào vách tối,
Gọi hoài chẳng quay ra.
Mười lăm mày mới nở,
Nguyện gian khổ cùng người,
Em ôm cột giữ lời,
Vọng phu đài ngóng đợi.
Mười sáu chàng đi xa,
Cù Đường rồi Diễm Dự,
Nước lụt chẳng thể qua,
Tiếng vượn kêu ai oán.
Dấu chân còn trước cửa,
Chỗ chỗ mọc rêu xanh,
Rêu dầy quét không hết,
Lá thu sớm lìa cành.
Tháng tám bươm bướm vàng,
Từng đôi lượn vườn tây,
Thấy vậy, thiếp thương tâm,
Buồn nhan sắc hao gầy…
Sớm muộn đến Tam Ba,
Nhớ gửi thư về nhà,
Đón chàng đường xa mấy,
Cũng tới Trường Phong Sa.

Bát Sách.
(Ngày 18/01/2024)

***
Bài thơ này Khánh Hưng  đã dịch sang lục bát cả bao năm về trước qua bản dịch tiếng Anh dưới đây vì dạo ấy không hề biết đến nguyên tác chữ Hán - chính vì vậy KH phải bỏ hết các địa danh Trung Hoa ra. Xin các bác thứ lỗi!

EZRA POUND (1885-1972)

One of the most controversial figures of his time, Ezra Pound exerted a profound influence on American letters, both through his own writing and through his encouragement of other authors (particularly Robert Frost and T. S. Eliot).

The River-Merchant's Wife: A Letter
Translated from the Chinese of Li Po [RIHAKU] by Ezra Pound

While my hair was still cut straight across my forehead
I played about the front gate, pulling flowers.
You came by on bamboo stilts, playing horse,
You walked about my seat, playing with blue plums.
And we went on living in the village of Chokan:
Two small people, without dislike or suspicion.

At fourteen, I married My Lord you.
I never laughed, being bashful.
Lowering my head, I looked at the wall.
Called to, a thousand times, I never looked back.

At fifteen, I stop scowling,
I desired my dust to be mingled with yours
Forever and forever and forever.
Why should I climb the look out?

At sixteen, you departed,
You went into far Ku-to-yen, by the river of swirling eddies.
And you have been gone five months.
The monkeys make sorrowful noise overhead.
You dragged your feet when you went out.

By the gate now, the moss is grown, the different mosses,
Too deep to clear them away!
The leaves fall early this autumn, in wind.
The paired butterflies are already yellow with August
Over the grass in the West garden;
They hurt me. I grow older.

If you are coming down through the narrows of the river Kiang,
Please let me know beforehand,
And I will come out to meet you
As far as Cho-fu-Sa.

(Réf. 101 GREAT AMERICAN POEMS - Edited by The American Poetry & Literacy Project - DOVER THRIFT EDITIONS)

Lá Thơ Người Vợ Gởi Chồng Lái Buôn Sông Nước,

Khi còn để tóc mủm dừa,
Mình tôi trước cổng, vui đùa ngắt hoa.
Thanh tre giả ngựa chạy qua,
Chàng làm tráng sĩ - đến là oai phong!
Chỗ tôi ngồi bệt - xa trông,
Mon men bắt chuyện, kết thông hai nhà.
Ngẫu nhiên hàng xóm gần xa,
Đôi đầu niên thiếu mượt mà ngây thơ:
Tỵ hiềm nào biết trước giờ,
Dạ nghi ngờ vực là trò thanh niên.

Ngày qua tháng lại thoắt liền,
Khi tôi mười bốn, gia tiên sắp bày:
Cùng chàng giai ngẫu đan tay,
Tía tai đỏ má - chớ hay cười đùa.
Cúi đầu gầm mặt tứ mùa,
Mắt đâu vào vách, há chừa bóng đêm.
Lang quân tiếng gọi êm đềm,
Nghìn lần giả điếc, góc thềm làm ngơ.

Mười lăm, dạn dĩ gan to,
Ba sinh thề nguyện, mộng mơ toại thành,
Trăng sao chứng giám duyên lành,
Ngày sau chung huyệt, kết thành bướm đôi.
Sắt son chung thủy trọn đời,
Việc chi cảnh tỉnh - mắt thời láo liên?

Vừa tròn mười sáu, muộn phiền,
Khi chàng giã biệt, cửa tiền chơi vơi.
Thuyền trôi sóng bạc ngàn khơi,
Nữa niên gần trọn - nát bời từ ly!
Đau thương bầy vượn sầu bi,
Tình quân bước nặng, dợm đi lại dừng...

Đầu tường rêu phủ bít bùng,
Ăn sâu bám rễ - mịt mùng chào thua!
Lá Thu rơi sớm báo mùa,
Gió làn hiu hắt thổi lùa qua song.
Cặp đôi hồ điệp khắp đồng,
Vội về tháng tám - xa chồng lẻ loi!
Vườn Tây cỏ úa ỉ ôi,
Tuổi già sồng sộc - lệ rơi má hồng.

Khi chàng hồi quận bến sông,
Xin người cấp báo - ngóng trông tin lành:
Thuyền quyên tái hợp hùng anh,
Phu thê nghĩa nặng - sử xanh mãi còn ...

Khánh-Hưng
***
Góp ý của Lộc Bắc:

Bài này không có nhiều chữ khó, điển tích cũng được giải nghĩa rõ ràng, tuy nhiên có một chữ tương đối dễ nhưng nhiều người lại hiểu theo hai nghĩa khác nhau, đó là chữ sàng, được hiểu là giường và giếng. Giường thì thấy không hợp lý, tra thêm tự điển thì mới thấy chữ sàng床 còn có nghĩa:
(Danh) Cái sàn bắc trên giếng để đỡ con quay kéo nước.
Nếu dịch là giếng thì hợp lý hơn. (xin xem hình ảnh trong phần góp ý của anh Phí minh Tâm)
Việt nam có chữ “sàng nước” là nơi tắm rửa, giặt giũ (nơi gần nguồn nước). Không biết chữ sàng này có dính dáng đến chữ sàng phía trên của chữ Hán không?

Trường Can hành Kỳ 1 

Tóc em mới ngang trán
Bẻ hoa chơi mua bán
Chàng ngựa trúc chạy quanh
Bên giếng ném mơ xanh
Trường Can thôn cùng sống
Hai trẻ không ý tình.

Mười bốn nên chồng vợ
Thẹn thùng chỉ liếc nhanh
Quay đầu nhìn vách tối
Gọi hoài vẫn làm thinh

Mười lăm mới nở mi
Nguyện gian khổ cùng chia
Mãi mãi gìn lời hứa
Núi cao ngóng chồng về

Mười sáu chàng xa xôi
Cù Đường, Diễm Dự trôi
Tháng năm không đến được
Vượn hú tiếng bi ai
Trước nhà dấu chân đọng
Dần dần phủ rêu xanh
Rêu dầy khó quét sạch

Lá rụng gió thu sớm
Tháng tám bươm bướm vàng
Vườn tây bay từng cặp
Thấy vậy thiếp thương tâm
Ngồi buồn nhan sắc nhạt

Sớm muộn đến Tam Ba
Nhớ gởi thơ về nhà
Thiếp gần xa cũng đến
Dẫu tận Trường Phong Sa!

Lộc Bắc