Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoàng Đình Kiên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoàng Đình Kiên. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 14 tháng 7, 2024

Giá Cô Thiên 鷓鴣天 - Hoàng Đình Kiên

 

鷓鴣天-黃庭堅 Giá Cô Thiên - Hoàng Đình Kiên

座中有眉山隱客史應之和前韻,即席答之。

Tọa trung hữu Mi Sơn Ẩn Khách Sử Ứng Chi họa tiền vận, tức tịch đáp chi.

黃菊枝頭生曉寒。Hoàng cúc chi đầu sinh hiểu hàn,
人生莫放酒杯乾。Nhân sinh mạc phóng tửu bôi can.
風前橫笛斜吹雨,Phong tiền hoành địch tà xuy vũ,
醉里簪花倒著冠。Túy lý trâm hoa đảo trước quan.

身健在,且加餐。Thân kiện tại, thả gia xan.
舞裙歌板盡清歡。Vũ quần ca bản tận thanh hoan.
黃花白髮相牽挽,Hoàng hoa bạch phát tương khiên vãn,
付與時人冷眼看。Phó dữ thời nhân lãnh nhãn khan.

Chú Thích

1 Giá cô thiên鷓鴣天: tên từ bài, gồm 55 chữ, 2 đoạn, mỗi đoạn có 3 bình vận. Cách luật:

X T B B X T B vận
X B X T T B B vận
X B X T B B T cú
X T B B X T B vận

B T T cú
T B B vận
X B X T T B B vận
X B X T B B T cú
X T B B X T B vận

B: bình thanh; T: trắc thanh; X: bất luận; cú: hết câu; vận: vần

2- Sử Ứng Chi史應之: khách họa thơ với Hoàng Đình Kiên.
3- Mạc phóng莫放: chớ để.
4- Trâm hoa 簪花: hoa cài lên đầu làm trang sức gồm hoa thật, hoa giả, hoa bằng tơ, lụa, vải, vàng, bạc, ngọc...
5- Đảo Trước quan 倒著冠: lật ngược cái mũ.
6- Gia xan加餐: thêm cơm.
7- Vũ quần 舞裙: váy mặc lúc ca múa, = vũ y.
8- Ca bản 歌板: 1 loại nhạc khí dùng để nhịp phách.
9- Thanh hoan 清歡: thanh đạm hoan du 清淡的歡愉=vui sướng nhẹ nhàng thanh đạm.
10- Hoàng hoa bạch phát黃花白髮: Hoa vàng và tóc trắng. Bạch phát chỉ tác giả. Hoàng hoa tức là hoa cúc nở vào mùa thu trong lúc các hoa khác tàn hết cho nên có câu hoàng hoa vãn tiết黃花晚節ví hoa cúc như tiết tháo kiên cường của người già. Với câu này tác giả có vẻ cao ngạo vì tiết tháo của mình lúc tuổi già tuy bị biếm quan. Ngoài ra Hoàng hoa còn ám chỉ người vị thành niên và Bạch Phát chỉ người già.

11- Khiên vãn牽挽: khiên lạp = lôi kéo, khiên triền: quấn quít.
12- Phó dữ 付與: để cho, cấp cho.
13- Thời nhân 時人: người đời, người đương thời.
14- Lãnh nhãn 冷眼: ánh mắt lạnh lùng khinh miệt.

Dịch Nghĩa

Bài từ theo điệu Giá cô thiên của Hoàng Đình Kiên

(Ghi chú của tác giả)

Ngồi trong có người ẩn khách đất Mi sơn Sử Ứng Chi, họa thơ theo vận của bài trước, ngay trong bữa tiệc đáp lại.

Đầu nhánh hoa hoàng cúc sinh vẻ lạnh ban mai.
Đời người chớ để chén rượu vơi.
Trước gió cầm cây sáo ngang thổi lúc trời mưa.
Trong cơn say cắm hoa lên đầu, đội mũ đảo ngược.

Thân thể khang kiện nên ăn thêm cơm,
Áo múa, cái phách (đánh nhịp), tận hưởng niềm vui thanh đạm.
Hoa vàng (cắm trên đầu) và tóc trắng xoắn xuýt với nhau.
Cũng có thể hiểu là: Người trẻ và người già dắt nhau, quấn quít với nhau.
Mặc cho người đời nhìn với ánh mắt lạnh lùng (khinh người).

Phỏng Dịch

Vui Đời

Đầu cành hoàng cúc lạnh ban mai,
Chớ để trong đời chén rượu vơi.
Trước gió dưới mưa nghiêng tiếng sáo,
Cài hoa đảo mũ cơn say vùi.

Tấm thân khang kiện thêm cơm bữa,
Nhịp phách vũ y thanh đạm cười.
Tóc trắng hoa vàng cùng quấn quít,
Mặc nhân thế liếc mắt khinh người.

HHD 
7-2017 
***
Bài từ theo điệu Giá cô thiên của Hoàng Đình Kiên

Ngồi trong có người ẩn khách đất Mi sơn Sử Ứng Chi, họa thơ theo vận của bài trước, ngay trong bữa tiệc đáp lại.

Hoàng cúc đầu cành lạnh sớm mai
Đời người rượu chớ để ly vơi
Sáo ngang trước gió khi mưa thổi
Mũ ngược cắm hoa lúc sỉn say

Thân khỏe cơm thêm múc chén đầy
Vũ y, nhịp phách đạm niềm vui
Hoa vàng, tóc trắng đan xen kẽ
Mặc kệ người đời mắt trắng soi!

Lộc Bắc
Avril23

 

Thứ Ba, 4 tháng 6, 2024

Bồ Tát Man 菩薩蠻- Hoàng Đình Kiên

 
 
菩薩蠻 - 黃庭堅 Bồ Tát Man – Hoàng Đình Kiên

王荊公新築草堂於半山,
引八功德水作小港,
其上壘石作橋,
為集句 雲
“數間茅屋閒臨水,
“窄衫短帽垂楊裏。

“花是去年紅,
“吹開一夜風。
“梢梢新月偃,
“午醉醒來晚。
“何物最關情,
“黃鸝三兩聲。”
戲效荊公作。

Vương Kinh công tân trúc thảo đường ư bán sơn, dẫn bát công đức thủy tác tiểu cảng, kỳ thượng lũy thạch tác kiều, Vi tập cú vân:

“Sổ gian mao ốc nhàn lâm thủy,
“Trách sam đoản mạo thùy dương lý,
“Hoa thị khứ niên hồng,
“Xuy khai nhất dạ phong.
“Sao sao tân nguyệt yển,
“Ngọ túy tỉnh lai vãn.
“Hà vật tối quan tình,
“Hoàng ly tam lưỡng thanh.”

Hý Hiệu Kinh Công Tác

半煙半雨溪橋畔,Bán yên bán vũ khê kiều bạn,
漁翁醉着無人喚。Ngư ông túy trước vô nhân hoán.
疏懶意何長, Sơ lãn ý hà trường,
春風花草香。 Xuân phong hoa thảo hương.

江山如有待, Giang san như hữu đãi,
此意陶潛解。 Thử ý đào tiềm giải.
問我去何之, Vấn ngã khứ hà chi,
君行到自知。 Quân hành đáo tự tri.

Chú Thích

1- Bồ tát man菩薩蠻 = Bồ tát man菩薩鬘: Vốn là bài nhạc của Đường giáo phường, sau dùng làm từ bài. Tên khác là “Tử dạ ca子夜歌”, “Trùng điệp kim重疊金”, “Hoa gian ý花間意”, “Mai hoa cú 梅花句”, v.v. Bài từ này có 44 chữ, đoạn trước và đoạn sau đều có 4 câu, 2 trắc vận và 2 bình vận. Cách luật:

X B X T B B T (vận),
B B T T B B T (vận).
T T T B B (đổi vận),
T B B T B (vận).

X B B T T (đổi vận),
X T B B T (vận).
X T T B B (đổi vận),
X B X T B (vận).

X = bất luận; B = bình thanh; T = trắc thanh, vận = vần.

2- Vương Kinh Công 王荊公: tước phong của Vương An Thạch 王安石, văn học chính trị gia đời Bắc Tống.
3- Bát công đức thủy 八功德水 = Bát định thủy 八定水: tiếng nhà Phật, còn gọi là “Bát chi đức thủy八支德水”, “Bát vị thủy八味水”, thứ nước có 8 phẩm chất tốt đẹp do Phật dậy trong kinh Tịnh Độ 凈土.
4- Tập cú 集句 = tập cú từ 集句詞: dùng những câu thơ của tiền nhân ghép lại thành bài từ.
5- Trách sam đoản mạo 窄衫短帽: áo chật mũ ngắn, ý nói ăn mặc tùy tiện, giản dị.
6- Sao sao 梢梢: ngọn cây.
7- Yển 偃: nằm ngửa. Yển nguyệt 偃月: trăng khuyết, trăng lưỡi liềm.
8- Quan tình 關情: khơi động mối cảm tình.
9- Sơ lãn 疏懶: nhàn nhã, không câu thúc.
10- Hữu đãi 有待: có điều mình mong đợi.
11- Đào Tiềm 陶潛: Đào Uyên Minh 陶淵明, thi nhân đời Đông tấn東晉.

Dịch Nghĩa

Vương Kinh Công mới làm một gian nhà cỏ trên sườn núi, dẫn 8 công đức nước làm một cái cảng khẩu nhỏ, trên đó đắp một cây cầu bằng đá, viết một bài từ ghép rằng:

“數間茅屋閒臨水,Sổ gian mao ốc nhàn lâm thủy,
“窄衫短帽垂楊裏。Trách sam đoản mạo thùy dương lý.
“花是去年紅,Hoa thị khứ niên hồng,
“吹開一夜風。Xuy khai nhất dạ phong.
“梢梢新月偃,Sao sao tân nguyệt yển,
“午醉醒來晚。Ngọ túy tỉnh lai vãn.
“何物最關情,Hà vật tối quan tình,
“黃鸝三兩聲。Hoàng ly tam lưỡng thanh.

“Vài gian nhà cỏ hướng ra ao nước,
“Áo chật mũ ngắn đứng dưới cây liễu rủ.
“Hoa đỏ đẹp như năm ngoái,
“Một đêm gió (xuân) thổi (hoa nở).
“Trăng khuyết mới nằm trên ngọn cây,
“Buổi trưa say, chiều tỉnh lại.
“Vật gì khơi động tình cảm nhất,
“Hai ba tiếng chim hoàng ly kêu.”

Tôi cũng vui bắt chước ông Vương viết bài từ ghép này.

Nửa khói nửa mưa bên cầu (bắc ngang qua) suối,
Ngư ông say khướt không người lay gọi.
Ý tưởng nhàn nhã không chịu ước thúc sao mà sâu đậm,
Gió xuân thổi tán phát mùi thơm của hoa cỏ.
Sông núi như có cái gì chờ đợi,
Ý vị ấy chỉ có Đào Tiềm lý giải được.
Hỏi tôi đi nơi đâu,
Đi (theo tôi) tới đó sẽ biết.

Phỏng Dịch:

Bồ Tát Man - Tập Cú Từ

Nửa mưa nửa khói bên bờ suối,
Ngư ông say khướt không người gọi.
Nhàn nhã ý sâu thâm,
Gió xuân hoa cỏ thơm.

Núi sông như vẫn đợi,
Ý ấy Đào Tiềm giải.
Hỏi tớ đến nơi nào,
Cứ theo tự biết sao.

HHD 
08-2021

Bồ Tát Man - Tập Cú Từ - Vương Kinh Công

Hướng ao nước vài gian nhà cỏ
Áo mão đơn sơ bên liễu rủ
Như trước, sắc hoa hồng
Gió đêm thổi nở bông

Ngọn cây trăng khuyết xoải
Trưa say, chiều tỉnh lạị
Vật chi gợi tình nhiều?
Dăm tiếng hoàng ly kêu!

Lộc Bắc
Avril23

Tôi cũng vui bắt chước ông Vương viết bài từ ghép này. Hoàng Đình Kiên

Bồ Tát Man – tập cú từ - Hoàng Đình Kiên

Nửa mưa, nửa khói cầu bên suối
Ngư ông say khướt không người gọi
Ý nhàn sao vấn vương?
Xuân đưa hoa cỏ hương

Sông núi như chờ đợi
Ý đó Đào Tiềm giải
Hỏi tôi đi về đâu?
Tới nơi sẽ biết sau.

Lộc Bắc 
 Avril23

Thứ Hai, 22 tháng 5, 2023

Giảm Tự Mộc Lan Hoa 減字木蘭花 – Hoàng Đình Kiên


減字木蘭花 - 黃庭堅 Giảm Tự Mộc Lan Hoa – Hoàng Đình Kiên

登巫山縣樓作 Đăng Vu Sơn huyện lâu tác


襄王夢裡。 Tương Vương mộng lý,
草綠煙深何處是。 Thảo lục yên thâm hà xứ thị.
宋玉台頭。 Tống Ngọc đài đầu.
暮雨朝雲幾許愁。 Mộ vũ triêu vân kỷ hứa sầu.

飛花漫漫。 Phi hoa mạn mạn.
不管羈人腸欲斷。 Bất quản ky nhân trường dục đoạn.
春水茫茫。 Xuân thủy mang mang.
欲度南陵更斷腸。 Dục độ Nam Lăng cánh đoạn trường.

Chú Thích

1- Giảm tự mộc lan hoa 减字木蘭花: tên từ bài, tên khác là “Giảm lan 减蘭”, “Mộc lan hương 木蘭香”, “Thiên hạ nhạc lệnh 天下樂令”, “Ngọc lâu xuân 玉樓春”, “Thâu thanh mộc lan hoa” 偷聲木蘭花”, “Mộc lan hoa mạn 木蘭花慢. Bài này có 44 chữ, mỗi đoạn 4 câu có 2 trăc vận và 2 bằng vận.
  Cách luật:

X B X T trắc vận
X T X B B T T vận
X T B B bình vận
X T B B X T B vận

X B X T đổi trắc vận
X T X B B T T vận
X T B B đổi bình vận
X T B B X T B vận

2- Tương vương mộng lý襄王夢裡: Sở Tương Vương mộng thấy thần nữ đến làm bạn.
3- Tống Ngọc đài宋玉台: tức là Sở Dương đài 楚陽台ở núi Vu Sơn巫山.
4- Mộ vũ triêu vân暮雨朝云: mưa chiều mây sớm, do thần nữ nói với nhà vua rằng: “Thiếp ở Dương Đài núi Vu Sơn, sáng làm mây, chiều làm mưa”.
5- Mạn mạn 漫漫: đầy khắp.
6- Ky nhân羁人: người đi xa quê hương, lữ khách. Tác giả tự ví.
7- Mang mang 茫茫: mênh mông.
8- Nam Lăng 南陵: địa danh, thuộc tỉnh An Huy安徽, TH. Trong bài này chữ Nam Lăng phiếm chỉ vùng phía nam sông Trường giang.

Dịch Nghĩa

Ghi chú của tác giả: làm bài này khi lên lầu ở huyện Vu Sơn.

Trong giấc mộng của vua Tương Vương.
Cỏ xanh khói đậm (nơi vua gặp thần nữ) là chốn nào?
Nơi Sở Dương đài (mà Tống Ngọc dẫn vua đến)
(Vẫn) mây sớm mưa chiều (làm người xem cảm thấy) buồn biết mấy.

Hoa tàn bay đầy khắp,
Chẳng kể gì người nơi đất khách buồn lòng tan nát (đã buồn lại buồn thêm vì cảnh hoa rụng bay tứ tán).
Mặt nước trong mùa xuân mênh mang.
Muốn vượt sông sang Giang Nam (nhưng nhìn thấy cảnh này) càng thêm buồn.


Phỏng Dịch

Giảm Tự Mộc Lan Hoa - Lữ Khách


Tương Vương mộng mị,
Khói cuộn cỏ xanh đâu đó nhỉ?
Tống Ngọc đài cao,
Mây sớm mưa chiều bao nỗi sầu.

Hoa bay tản mạn,
Chẳng quản người đi lòng bấn loạn.
Dòng nước mênh mông,
Muốn đến Nam Lăng thêm chạnh lòng.


HHD 
08-2021
***
Giảm Tự Mộc Lan Hoa – Hoàng Đình Kiên

Làm bài này khi lên lầu ở huyện Vu Sơn.

1-

Tương Vương trong mộng
Nơi chốn nao cỏ xanh, khói lộng?
Tống Ngọc đài cao
Mưa chiều, mây sớm biết bao sầu

Hoa bay đầy khắp
Chớ kệ khách du lòng tan nát
Nước xuân mênh mang
Muốn đến Nam Lăng thấy đoạn tràng


2- lục bát

Tương Vương trong giấc mộng lành
Phân vân khói lộng cỏ xanh, chốn nào?
Chàng Tống Ngọc, chốn đài cao
Mưa chiều, mây sớm biết bao nhiêu sầu!

Hoa tàn bay khắp hiên lầu
Chớ kệ lữ khách nhớ nhau nát lòng
Nước xuân bát ngát tràn đồng
Nam Lăng muốn đến nhác trông đoạn trường!


Lộc Bắc

Avril23