Thứ Năm, 9 tháng 4, 2026

Thái Hàng Lộ 太行路 - Bạch Cư Dị 白居易(Trung Đường)


Bạch Cư Dị 白居易 (772-846) tự Lạc Thiên 樂天, hiệu Hương Sơn cư sĩ 香山居士 và Tuý ngâm tiên sinh 醉吟先生, người Hạ Khê (nay thuộc Thiểm Tây). Ông là thi nhân tiêu biểu nhất giai đoạn cuối đời Đường, là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc. Ông xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ, nhà nghèo nhưng rất thông minh, 9 tuổi đã hiểu âm vận, mười lăm tuổi đã bắt đầu làm thơ. Ông chủ trương thơ phải gắn bó với đời sống, phản ánh được hiện thực xã hội, chống lại thứ văn chương hình thức. Ông thường nói: "Làm văn phải vì thời thế mà làm... Làm thơ phải vì thực tại mà viết, mục đích của văn chương là phải diễn đạt tình cảm của nhân dân”. Thơ ông mang đậm tính hiện thực, lại hàm ý châm biếm nhẹ nhàng kín đáo. Họ Bạch chủ trương thơ ca phải giản dị để dân chúng đều hiểu được; tình cảm, tư tưởng phải giàu tính nhân dân, nói được nỗi lòng của mọi người trước thế sự. Thơ ông rất trữ tình. Khi ông bị đi đày từ Tràng An đến Tây Giang, ba bốn ngàn dặm, dọc đường thấy trường học, chùa chiền, quán trọ, hồ sen… đều có đề thơ của mình.



Bài thơ cổ phong Thái Hàng Lộ của Bạch Cư Dị có 4 câu kết rất đặc biệt mà nếu đọc phớt qua sẽ không hiểu thâm ý của tác giả. Các bạn hãy cùng Con Cò dò xem nhé:

Nguyên tác. Dịch âm.

太行路 Thái Hàng Lộ


太行之路能摧車 Thái Hàng chi lộ năng tồi xa,
若比君心是坦途 Nhược tỉ quân tâm thị thản đồ.
巫峽之水能覆舟 Vu Giáp chi thủy năng phúc chu,
若比君心是安流 Nhược tỉ quân tâm thị an lưu.
人心好惡苦不常 Quân tâm hiếu ố khổ bất thường,
好生毛羽惡生瘡 Hiếu sinh mao vũ, ố sinh sang.
與君結髮未五載 Dữ quân kết phát vị ngũ tải,
豈期牛女為參商 Khởi kỳ Ngưu Nữ vi Sâm Thương!
古稱色衰相棄背 Cổ xưng sắc suy tương khí bội,
當時美人猶怨悔 Đương thì mỹ nhân do oán hối.
何況如今鸞鏡中 Hà huống như kim loan kính trung,
妾顏未改君心改 Thiếp tâm vị cải quân tâm cải!
為君熏衣裳 Vị quân huân y thường,
君聞蘭麝不馨香 Quân văn lan xạ bất hinh hương.
為君盛容飾 Vị quân thịnh dung sức,
君看金翠無顏色 Quân khan châu thúy vô nhan sắc.
行路難 Hành lộ nan!
難重陳 Nan trùng trần!
人生莫作婦人身 Nhân sinh mạc tác phụ nhân thân,
百年苦樂由他人 Bách niên khổ lạc do tha nhân.
行路難 Hành lộ nan!
難于山 Nan ư sơn,
險于水 Hiểm ư thủy!
不獨君間夫與妻 Bất độc nhân gia phu dữ thê.
近代君臣亦如此 Cận đại quân thần diệc như thử!
君不見 Quân bất kiến:
左納言 Tả nạp ngôn,
右納史 Hữu nạp sử;
朝承恩暮賜死 Triêu thừa ân, mộ tứ tử
行路難 Hành lộ nan!
不在水 Bất tại thủy.
不在山 Bất tại sơn.
只在人情反覆間 Bất/chỉ tại nhân tình phản phúc gian.

Chú giải:


太行 Thái Hàng: dẫy núi cao, hiểm trở ở địa phận 3 tỉnh Hà Nam, Sơn Tây và Hà Bắc.

巫峽 Vu Giáp: tên sông.
若 nhược: thuận theo.
好惡 hiếu ố: yêu ghét.
苦 khổ: bực bội, khó chịu.
毛羽 mao vũ: lông cánh.
瘡 sang: nhọt, ghẻ lở.
載 tái: năm.
豈 khởi: sao? hả?
豈期 khởi kỳ: sao đã đến thời kỳ.
牛女 Ngưu Nữ: sao Ngưu và sao Nữ, chỉ sự kết hợp.
參商 Sâm Thương: 2 ngôi sao Việt Nam thường gọi là sao Hôm và sao Mai. Khi Hôm lặn về tây rồi Mai mới mọc, không thấy cả hai cùng một lúc; chỉ sự xa cách.
相 tương: cùng.
棄 khí: quên, bỏ.
背 bội: mặt trái, bỏ đi (bội ước).
猶 do: còn.
怨悔 oán hối: oán hờn.
熏 huân: cỏ thơm, hương thơm.
馨 hình: thơm lừng, mùi bay xa.
盛 thịnh: đầy đủ, đông đúc.
飾 sức: sửa, trang sức.
重 trùng: chồng lên nhau.
陳 trần: tỏ bày, trần tình.
于 ư: ở, đặt vào.
左納言右納史 tả nạp ngôn, hữu nạp sử: quan lo việc ghi chép lời nói (ngôn) và việc làm (sử), quan chép sử.
反覆間 phản phúc gian: tráo trở, gian ngoan. 3 câu chót có ý nói rằng: không tại bất cứ cái gì, chỉ tại chàng mà thôi.

Dịch thơ

Đường Núi Thái Hàng


Đường Thái Hàng từng làm xe đổ,
So tâm chàng vẫn còn bình yên.
Nước Vu Giáp thường xô thuyền lật,
So tâm chàng vẫn là dòng êm.
Chàng yêu ghét đổi thay khốn nỗi (5)
Ghét chê bai yêu thời nựng khen.
Xe duyên chưa được năm năm trọn,
Ngưu Nữ đã đổi thành Sâm Thương.
Người xưa nói: “sắc phai tình nhạt”
Thời đó giai nhân vẫn oán hờn. (10)
Em chung thủy mà chàng thay dạ!
Huống hồ như phản ánh trong gương.
Vì chàng xông y thường
Chàng chẳng thiết mùi hương lan xạ.
Vì chàng mà điểm trang (15)
Chàng coi châu ngọc chẳng dung nhan.
Đường đi khó!
Khó muôn phần!
Kiếp sau xin chớ làm thân đàn bà,
Sướng khổ trăm năm tùy người khác. (20)
Đường đi khó!
Khó như non,
Khó như nước!
Chẳng riêng gì chồng vợ trong nhà,
Cận đại vua tôi cũng thế mà! (25)
Chàng chưa biết:
Tả quan tâu,
Hữu quan chép
Sớm mang ơn, chiều phải chết.
Đường đi khó! (30)
Không tại nước
Không tại non
Không tại đời tráo trở gian ngoan.


Lời bàn 

Đề tài là đường núi Thái Hàng (khó khăn) nhưng nội dung là kết án người chồng bạc bẽo. Bạch Cư Dị rất để ý tới sinh hoạt gia đình và xã hội.
Bài thơ cổ phong có 33 câu. 23 câu đầu kể tội người chồng bạc bẽo. Từ câu 24 tới câu 29 ngụ ý rằng chồng là một quan chức trong triều thì tội bạc bẽo với vợ cũng nên bị xử như tội bất trung với vua (tội chém đầu).
Bốn câu kết có lối diễn đạt rất mới lạ: loại trừ tất cả những nguyên nhân có thể làm cho đời thiếp gặp trở ngại (không phải tại nước, không phải tại núi, không phải tại lòng người độc ác) … rồi chấm hết! Vậy thì tại ai? Tại chàng chứ còn tại ai nữa! Rất hiếm thấy một bài thơ có câu cuối thả lửng như vậy để tùy độc giả viết lời kết luận.

Tóm lại, trong bài thơ Thái Hàng Lộ, Bạch Cư Dị tả một thiếu phụ hạch tội người chồng sai đường, lạc lối, ích kỷ, phụ bạc. Nàng như đóng vai biện lý của một phiên tòa, kể tội chồng rằng “Đường thiếp đi khó khăn không phải vì gặp núi, không phài vì vướng nước, vướng núi, cũng không phải lời thế gian độc ác… rồi thả lửng…, để cho độc giả, đóng vai chánh án, tuyên đọc tên của can phạm (cái tên này tiềm ẩn nhưng ai cũng nhận ra chính là chàng).
 
Con Cò
***
Đường Núi Thái Hàng

Đường Thái Hàng làm xe lật đổ,
So lòng chàng vẫn chỗ bằng yên.
Sông Vu Giáp dập thuyền chìm đắm,
So lòng chàng, nước vẫn ít phiền.
Chàng ghét yêu thay đổi khó lường,
Yêu thì quý trọng, ghét coi thường.
Lửa hương chưa được năm năm trọn,
Ngưu Nữ mà nay đã Sâm Thương.
Xưa nói, sắc phai tình sẽ cạn,
Ngày xưa người đẹp còn hờn oán.
Huống nay thấy rõ tựa gương loan,
Lòng Thiếp không thay, chàng lại chán,
Vì chàng ướp xiêm y,
Với chàng lan xạ có thơm gì.
Vì chàng lo chau chuốt,
Châu thúy chàng coi chẳng đẹp chi.
Đường đi khó, khó nói ra,
Trên đời xin tránh kiếp đàn bà.
Sướng khổ trăm năm chẳng thuộc ta.
Đường đi khó, núi cũng khó, nước cũng khó,
Chẳng cứ trong nhà chồng với vợ,
Gân đây tôi chúa cũng tương tợ.
Anh chẳng thấy,
Tả dâng lời, hữu nạp sử.
Sáng ban ơn, chiều xử tử.
Đường đi khó,
Không ở núi,
Không ở sông,
Người tráo trở gian trá phải không.

Mỹ Ngọc.
Mar, 21/2026
***

Đường Thái Hàng thường làm xe đổ,
So lòng chàng vẫn nhẹ êm hơn.
Nước Vu Giáp hay gây thuyền lật,
So với chàng nước chảy bình an.
Lòng người yêu ghét vốn bất thường,
Yêu sinh lông cánh, ghét mủ cương.
Lấy chàng chưa được năm năm trọn,
Ai ngờ Ngưu, Nữ hóa Sâm, Thương.
Xưa nói sắc tàn thì phụ rẫy,
Bây giờ người đẹp còn oán vậy,
Huống chi ngày nay trước gương loan,
Dung nhan chưa cải, lòng chàng đổi.
Vì chàng xông xiêm áo,
Nhưng chàng nào nghe thấy mùi hương.
Vì chàng chuốt dung nhan,
Chàng nhìn châu thuý thấy tầm thường.
Đường đi khó,
Khó vô cùng,
Sinh ra chớ có làm phụ nữ,
Trăm năm sướng khổ bởi người dưng.
Đường đi khó,
Khó hơn non,
Khó hơn nước,
Không chỉ chuyện vợ chồng chung sống,
Chuyện vua tôi cũng vậy mà thôi.
Anh chẳng thấy,
Trái quỳ tâu,
Phải chép sử,
Sáng ban ơn, chiều xử tử.
Đường đi khó,
Chẳng tại nước,
Chẳng tại non,
Chỉ tại tình người tráo trở luôn.


Bát Sách.

(Ngày 26/03/2026)
***
Dịch theo nguyên thể:

Đường Thái Hàng


Đường Thái Hàng có thể gẫy xe
Bằng phẳng với chàng, một lối đi
Có thể lật thuyền dòng nước Vu
Với chàng vẫn chỉ sóng êm ru

Lòng người yêu, ghét, khổ bất thường
Vây cánh khi yêu, ghét vết thương
Cùng chàng nên duyên năm năm kém
Bắt đầu Ngưu Nữ hóa Sâm Thương

Xưa nói sắc phai thì ruồng rẫy
Bây giờ người đẹp còn hờn dỗi
Hà huống ngày nay trong gương loan
Dung nhan chưa đổi, lòng chàng đổi!

Vì chàng xông áo thường
Chàng nghe chẳng thấy chút mùi hương
Vì chàng luôn chải chuốt
Chàng thấy ngọc vàng không mầu sắc

Đường khó a!
Khó nói ra
Đời người chớ chọn phận đàn bà
Trăm năm sướng khổ tùy người ta!

Đường khó khăn
Khó hơn non
Nguy hơn nước
Trần thế chẳng riêng vợ với chồng
Gần đây chuyên quân thần cũng vậy
Chàng không thấy?
Trái dâng lời
Phải chép giữ
Sáng ban ơn, chiều bức tử.

Đường khó khăn!
Chẳng tại nước
Chẳng tại non
Chỉ tại lòng người lắm dối gian

Phỏng dịch với tựa đề:

Dạ Đảo Điên

Đường Thái Hàng dễ dàng xe gẫy
Còn với chàng nơi ấy dễ đi
Thuyền chìm lật, nước Giáp Vu
Với chàng vẫn chỉ êm ru một dòng

Yêu, ghét, khổ bất thường chàng thấy
Yêu cánh xinh, ghét nẩy vết thương
Xe duyên thắm năm năm trường
Ban đầu Ngưu Nữ, Sâm Thương lúc này

Xưa nói rằng sắc phai ruồng rẫy
Giờ đẹp xinh bỗng nẩy hờn oan
Huống hồ soi mặt gương loan
Sắc chưa phai nhạt, lòng chàng đổi thay!

Xông áo luôn để chàng yêu mến
Nhưng hỡi ơi chẳng luyến mùi hương!
Xác thân chải chuốt hơn thường
Chàng coi vàng ngọc rã bương sắc màu!

Đường đi khó.
Khó nói ra
Đời chớ thủ phận đàn bà
Trăm năm sướng khổ người ta xoay vần!

Đường đi khó
Nguy hơn nước, khó hơn non
Chẳng riêng gì với vợ son, chồng gàn
Chuyện gần đây, quân thần cũng vậy:

Chàng không thấy? trái dâng lời, phải chép giữ
Sáng ban ơn, chiều bức tử…... vong thân!

Đường đi khó
Chẳng tại nước,
Chẳng tại non
Chỉ tại lòng dạ, người còn đảo điên!


Lộc Bắc
Mars2026
***
Đường Núi Thái Hàng

Đường núi gập ghềnh dễ gãy xe
Ông anh ‘oanh liệt' bảo không hề
Nước vùng Vu Giáp thuyền hay lật
Ông bảo yên bình sóng chẳng nề
Trắc trở lòng người thật chán chường
Yêu thì trân quý, ghét xem thường
Kết hôn chồng vợ năm năm chẵn
Ngưu Nữ chia tay, giã biệt (Sâm)Thương
Nhan sắc tàn phai sống vật vờ
Mỹ nhân ngày ấy hận bao giờ
Soi gương nay thấy dung nhan thắm
Sắc sảo chưa già vẫn đợi chờ
Hong áo trong lò cho quyện hương
Chàng chê không ngửi mùi thơm vương
Điểm trang chải chuốt cho xinh đẹp
Chẳng liếc nhìn qua chẳng tỏ tường
Đường đời gian nan
Kể không thể hết
Xin đừng nhận kiếp phận đàn bà
Quyết định vui buồn không phải ta
Đường đời gian nan
Khúc khuỷu hơn núi
Hiểm nguy hơn nước
Vợ chồng lòng dạ còn không hiểu
Vua chúa quần thần cũng tối thiểu
Anh có thấy không
Quan sử bên phải
Quan ngôn bên trái
Sáng còn ân sủng vua ban lộc
Chiều đã đầu rơi ở pháp trường
Đường đời gian nan
Không phải tại nước
Không phải tại núi
Chỉ tại con người tráo trở luôn


Thanh Vân
***
Nguyên tác: Phiên âm:

太行路-白居易 Thái Hành Lộ - Bạch Cư Dị


太行之路能摧車 Thái Hành chi lộ năng tồi xa
若比君心是坦途 Nhược bỉ quân tâm thị thản đồ
巫峽之水能覆舟 Vu Giáp chi thủy năng phúc chu
若比君心是安流 Nhược bỉ quân tâm thị an lưu
君心好惡苦不常 Quân tâm hảo ác khổ bất thường
好生毛羽惡生瘡 Hảo sanh mao vũ ác sanh sang
與君結髮未五載 Dữ quân kết phát vị ngũ tái
豈期牛女為參商 Khởi kỳ Ngưu Nữ vi Sâm Thương
古稱色衰相棄背 Cổ xưng sắc suy tương khí bối
當時美人猶怨悔 Đương thì mỹ nhân do oán hối
何況如今鸞鏡中 Hà huống như kim loan kính trung
妾顏未改君心改 Thiếp nhan vị cải quân tâm cải
為君薰衣裳 Vi quân huân y thường
君聞蘭麝不馨香 Quân văn lan xạ bất hinh hương
為君 盛容飾 Vi quân thịnh dung sức
君看珠翠無顏色 Quân khán châu thúy vô nhan sắc
行路難 Hành lộ nan 難重陳 Nan trọng trần
人生莫作婦人身 Nhân sanh mạc tác phụ nhân thân
百年苦樂由 他人 Bách niên khổ nhạc do tha nhân
行路難 Hành lộ nan 難於山 Nan ư san 險於水 Hiểm ư thủy
不獨人閒夫與妻 Bất độc nhân gian phu dữ thê
近代君 臣亦如此 Cận đại quân thần diệc như thử
君不見 Quân bất kiến 左納言 Tả nạp ngôn 右納史 Hữu nạp sử
朝承恩 Triêu thừa ân 暮賜死 Mộ tứ tử
行路 難 Hành lộ nan 不在水 Bất tại thủy 不在山 Bất tại sơn
隻在人情反覆閒 Chỉ tại nhân tình phản phúc gian.

Nguyên tác bài thơ có được đăng trong các sách:

Bạch Hương San Thi Tập - Đường - Bạch Cư Dị 白香山诗集-唐-白居易
Bạch Thị Trường Khánh Tập - Đường - Bạch Cư Dị 白氏长庆集-唐-白居易
Nhạc Phủ Thi Tập - Tống - Quách Mậu Thiến 乐府诗集-宋-郭茂倩
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐诗-清-圣祖玄烨

Bài thơ Thái Hành Lộ nằm trong chùm thơ 3 bài mang tựa đề Hành Lộ Nan (Đường đi khó) của Bạch Cư Dị. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ này gắn liền với những biến cố chính trị và sự thay đổi tư tưởng quan trọng trong cuộc đời của vị "thi ma" nhà Đường. Bài thơ mượn nỗi lòng của người phụ nữ bị phụ rẫy để phê phán sự bạc bẽo của lòng người và sự hiểm nguy trên chốn quan trường. Trong tựa bài thơ, ông có chú thêm câu: tá phu phụ dĩ phúng quân thần chi bất chung dã 借夫妇以讽君臣之不终也 Sử dụng ẩn dụ phu thê để châm biếm sự đổ vỡ của mối liên kết giữa quân và thần.


Giải nghĩa chữ khó:

Thái Hành: dãy núi nổi tiếng hiểm trở ở Trung Quốc.
Vu Giáp: một trong ba hẻm núi (Tam Hiệp) của sông Dương Tử, nước chảy rất xiết và nguy hiểm.
Mao vũ: lông cánh, ý nói khi yêu thương thì nâng niu, coi như chim quý, như thần tiên.
Sang: ghẻ chốc, khi ghét bỏ thì coi như bệnh tật, nhơ nhớp.
Loan kính: gương vẽ/chạm hình chim loan, vật dụng của phụ nữ.
Nạp ngôn / nạp sử: các chức quan tư vấn, ghi chép thân cận bên hoàng đế.
Triêu thừa ân, mộ tứ tử: sáng còn được ban ơn, chiều đã bị ban cái chết.

Điển cố:

Bài thơ xài 4 điển cố:

1. Điển cố Ngưu Nữ (hay Ngưu Lang - Chức Nữ) là một trong bốn truyền thuyết dân gian lớn của Trung Hoa, biểu tượng cho tình yêu chung thủy nhưng bị chia cắt.

Chức Nữ là nàng tiên dệt vải, con gái Ngọc Hoàng. Chức Nữ xuống trần dạo chơi, gặp và yêu Ngưu Lang, một chàng chăn trâu dưới trần gian. Họ kết duyên vợ chồng, có với nhau hai người con và sống hạnh phúc. Thiên đình phát hiện, bắt Chức Nữ về trị tội. Ngưu Lang đuổi theo nhưng bị Tây Vương Mẫu dùng trâm cài tóc vạch một đường tạo thành sông Ngân Hà chia cắt vợ chồng. Cảm động trước tình cảnh của họ, mỗi năm vào ngày 7 tháng 7 âm lịch (Thất Tịch), đàn quạ bắc cầu (thước kiều) qua sông Ngân cho họ gặp nhau một lần.

2. Điển cố Sâm Thương: Sâm là một sao trong nhóm chòm sao Lạp Hộ Orion nằm ở phương Tây và Thương là một sao trong nhóm Thiên Yết Scorpio nằm ở phương Đông. Do vị trí đối lập 180 độ trên bầu trời, hai sao này không bao giờ xuất hiện cùng lúc. Khi sao Sâm mọc thì sao Thương lặn, và ngược lại.

Theo Tả Truyện, thời cổ đại có hai anh em con vua Cao Tân tên là Át Bá và Thực Trầm. Họ ở chung một nhà nhưng tính tình xung khắc, ngày nào cũng gây gổ, đánh nhau dữ dội. Vua phải tách họ ra: Át Bá được dời đến Thương Khâu làm thần sao Thương, Thực Trầm được dời đến Đại Hạ làm thần sao Sâm. Từ đó, hai anh em xa cách muôn trùng, đời đời không còn nhìn thấy mặt nhau.

Trong truyện Kiều, Nguyễn Du có sử dụng điển cố Sâm Thương ở câu 2329 và 2330:

Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng
Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân

Trong bài thơ, Bạch Cư Dị đã dùng một phép so sánh cực kỳ đau đớn:
Ngưu Nữ (Ngưu Lang - Chức Nữ): tuy bị chia cắt bởi sông Ngân, nhưng mỗi năm vẫn còn một ngày hội ngộ.
Sâm Thương: là sự chia lìa tuyệt vọng, không có nhịp cầu, không có ngày gặp lại.

3. Điển cố Kính trung loan (Chim loan trong gương) là biểu tượng cho sự cô độc, lẻ loi và nỗi đau của người bị phụ rẫy.

Theo sách Dị uyển, vua nước Kế Tân bắt được một con chim loan xinh đẹp nhưng nó không bao giờ hót. Sau ba năm, hoàng hậu bảo: "Ta nghe nói chim loan thấy đồng loại thì hót, sao không đem gương soi cho nó thấy bóng mình?" Khi nhìn vào gương, chim loan thấy bóng mình, tưởng là bạn đời, bèn cất tiếng hót thảm thiết, rồi kiệt sức mà chết.

Trong bài Thái Hành Lộ, điển cố này được dùng để nhấn mạnh:
Sự chung thủy: Chiếc gương xác nhận nhan sắc nàng vẫn nguyên vẹn, tấm lòng vẫn sắt son, nhưng người chồng thì đã thay lòng đổi dạ
Sự trớ trêu: Chiếc gương loan vốn là vật chúc phúc cho sự lứa đôi (trên lưng gương đồng thường khắc hình đôi chim loan). Nhưng nay, người phụ nữ soi gương chỉ thấy một mình lẻ bóng, giống như con chim loan cô độc trong truyền thuyết.
Sự tan vỡ: Nhắc đến "gương loan" là nhắc đến hạnh phúc đã mất, chỉ còn lại sự lẻ loi giữa những vật dụng vốn gợi bối cảnh lứa đôi. Dù thấy "bạn" trong gương, nhưng đó chỉ là ảo ảnh.

Gương đồng thời nhà Đường chạm trổ phượng loan

4. Điển cố Huân y thường mang ý nghĩa chăm sóc tỉ mỉ và lòng chung thủy của người vợ dành cho chồng’ Thời xưa, phụ nữ quý tộc hoặc người vợ đảm đang thường dùng một chiếc lồng tre (gọi là huân lung) đặt trên lư hương, sau đó trải áo quần lên trên để hương thơm thấm vào từng sợi vải. Mùi hương là thứ hữu hình nhưng không thể nắm bắt, giống như tình yêu. Khi tình yêu mất đi, mùi hương dù nồng nàn đến đâu cũng không thể lay động được trái tim đã nguội lạnh. Trong bài thơ, điển cố này miêu tả sự đối lập:

Giữa cái tâm (tấm lòng)của người vợ, cố gắng làm đẹp lòng chồng, và cái ý (thay lòng)của người chồng, cố tình phủ nhận mọi nỗ lực của vợ.

Giữa sự tận tụy của người vợ gửi gắm tất cả tình yêu và sự tinh tế vào mùi hương trên áo chồng, và sự bạc bẽo của người chồng khi hương thơm trở nên tầm thường khó chịu.

Tóm lại, Huân y là điển cố về sự vun vén hạnh phúc, nhưng khi đi kèm với sự ruồng bỏ, nó trở thành nỗi đau của người có lòng tốt bị chà đạp.

Qua bốn điển cố trên, tác giả muốn nhấn mạnh rằng tình nghĩa vợ chồng (hay sự tin tưởng giữa quân - thần) một khi đã rạn nứt thì sẽ trở nên xa lạ, cách trở hơn cả bầu trời. Người đứng ngay trước mặt nhưng lòng dạ đã xa cách như hai ngôi sao ở hai đầu vũ trụ. Thậm chí, những điều tốt đẹp làm cho vừa lòng nhau còn bị coi là vô nghĩa.

Dịch nghĩa:

Thái Hành Lộ Đường Đến Thái Hành

Thái Hành chi lộ năng tồi xa, Nhược tỉ quân tâm thị thản đồ.
Đường núi Thái Hành có thể làm gãy xe, nhưng so với lòng anh thì vẫn còn là đường bằng phẳng.
Vu Giáp chi thủy năng phúc chu, Nhược tỉ quân tâm thị an lưu.
Nước hẻm Vu Giáp có thể làm lật thuyền, nhưng so với lòng anh thì vẫn là dòng nước lặng.
Quân tâm hiếu ố khổ bất thường, Hiếu sinh mao vũ, ố sinh sang.
Lòng người yêu ghét thay đổi khôn lường: khi yêu thì coi như lông vũ quý giá, khi ghét thì xem như mụn ghẻ hôi hám.
Dữ quân kết phát vị ngũ tải, Khởi kỳ Ngưu Nữ vi Sâm Thương.
Kết tóc làm vợ chồng chưa đầy năm năm, ai ngờ đôi ta như sao Ngưu sao Nữ (mỗi năm gặp nhau 1 lần) nay lại hóa Sâm Thương (không bao giờ gặp nhau).
Cổ xưng sắc suy tương khí bội, Đương thì mỹ nhân do oán hối.
Người xưa nói nhan sắc phai nhạt thì bị ruồng bỏ, mỹ nhân thời ấy còn phải oán hận.
Hà huống như kim loan kính trung, Thiếp tâm vị cải quân tâm cải.
Huống chi nay soi gương loan, mặt thiếp chưa già mà lòng anh đã đổi thay.
Vị quân huân y thường, Quân văn lan xạ bất hinh hương.
Vì anh mà đốt hương thơm áo, anh lại bảo mùi lan xạ chẳng còn thơm.
Vị quân thịnh dung sức, Quân khan châu thúy vô nhan sắc.
Vì anh mà trang điểm lộng lẫy, anh lại nhìn vàng ngọc châu báu như không có màu sắc gì.
Hành lộ nan! Nan trọng trần!
Đường đời khó đi thay! Thật khó mà kể hết!
Nhân sinh mạc tác phụ nhân thân, Bách niên khổ lạc do tha nhân.
Kiếp người xin chớ làm thân đàn bà, vì trăm năm khổ vui đều do người khác quyết định.
Hành lộ nan! Nan ư sơn, Hiểm ư thủy!
Đường đời khó đi thay! Khó hơn cả núi, hiểm hơn cả nước!
Bất độc nhân gia phu dữ thê, Cận đại quân thần diệc như thử!
Không chỉ riêng chuyện vợ chồng trong nhà, mà vua tôi thời nay cũng y như vậy.
Quân bất kiến: Tả nạp ngôn, Hữu nạp sử,
Anh chẳng thấy sao: những quan Nạp ngôn bên trái, Nạp sử bên phải,
Triêu thừa ân, mộ tứ tử
Sáng vừa nhận ơn vua, chiều đã bị ban cái chết.
Hành lộ nan! Bất tại thủy. Bất tại sơn.
Đường đời khó đi thay! Chẳng phải tại nước, chẳng phải tại núi.
Chỉ tại nhân tình phản phúc gian.
Mà chỉ nằm ở sự lật lọng, tráo trở của lòng người mà thôi.

Dịch thơ:


Phỏng dịch theo thể thơ lục bát mềm mại và dịu dàng của Việt Nam

Đến Thái Hành


Thái Hành trắc trở đường xa,
Sánh cùng lòng bậu, vẫn là đường thông.
Vu Giáp dù sóng lấp sông,
Sánh cùng lòng bậu, vẫn dòng nước êm.
Lòng người yêu ghét đảo điên,
Yêu như lông vũ, ghét liền ghẻ sang.
Năm năm kết nghĩa tào khang,
Ngưu Lang Chức Nữ, Sâm Thương chia lìa.
Sắc suy thì phụ lời thề,
Người vì nhan sắc còn nề oán thương.
Huống chi soi bóng trong gương,
Mặt chưa biến đổi, lòng quân đổi dời.
Ướp hương nồng thắm cho người,
Người chê lan xạ chẳng mùi hương hoa.
Điểm tô nhan sắc mặn mà,
Người xem vàng ngọc cũng là sắc không.
Đường đời khó, nói sao xong!
Làm thân con gái, trăm vòng đắng cay.
Khổ vui phó mặc người xoay,
Đường đời khó hiểm, hơn tày núi cao.
Sông sâu chưa hẳn hiểm nghèo,
Vua tôi thời đại cũng theo nhịp này.
Nạp ngôn, nạp sử mới đây,
Sáng vừa hưởng lộc, tối thây chẳng còn.
Đường khó chẳng tại núi non,
Cũng không tại nước, lối mòn chia đôi.
Mà vì tráo trở lòng người,
Đảo điên mấy chốc, khóc cười dở dang.

Road To Taihang by Bai Ju Yi


The road of Taihang can break a carriage,
Yet compared to your heart, it is a level path.
The waters of Wu Gorge can overturn a boat,
Yet compared to your heart, they are a steady flow.
The whims of human like and dislike are bitterly inconstant:
When loved, one is treated like a divine feather; when hated, like a festering sore.
It has not been five years since we bound our hair in marriage,
Who could have expected us to become like the stars Cowherd and Weaver, or Shen and Shang (forever parted)?
Ancient sayings claim women are forsaken when their beauty fades,
And the beauties of those times still felt resentment and regret.
How much more so now, when in the phoenix mirror,
My face has not yet changed, but your heart already has!
For you, I perfumed my robes,
But you smell the orchids and musk and say they are not fragrant.
For you, I dressed in my finest attire,
But you look at my gold and kingfisher jewelry as if they have no color.
The road is hard! It is difficult to tell the tale again.
In this life, do not be born in a woman's body,
For a hundred years of joy or sorrow will depend entirely on others.
The road is hard! Harder than mountains, More dangerous than rivers.
It is not only so for husbands and wives;
The lords and ministers of recent times are just the same.
Do you not see: The officials of the Left and Right,
Receiving favor in the morning, and granted death by evening?
The road is hard! It is not in the water. It is not in the mountains.
It lies only within the treachery and fickleness of human emotion.

22-3-2026
Phí Minh Tâm
***
Góp Ý:

… nội dung là kết án người chồng bạc bẽo.

Người ni không thấy vậy và chính hàm ý của tựa đề 太行路=Thái Hàng Lộ cũng nên làm người đọc hiểu lối khác. Bạch Cư Dị mượn lời vợ người chồng bạc tình để kết án triều đình nhà Đường. Đoạn chót của bài cổ phong bắt đầu với câu 近代君臣亦如此 Cận đại quân thần diệc như thử và không có lý do gì người vợ lại lôi chuyện chính trị vào để chỉ trích chồng. Trên nguyên tắc, đàn bà Hoa Lục ngày xưa chỉ lo việc nội trợ, không biết gì hết về chuyện triều chính.

太行=Thái Hàng còn có tên là Ngũ Nhạc (五行) là tên của dãy núi quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Lục; chân dãy núi dài hơn 400 km này là cái nôi của văn minh Đông Á thời cổ. Không có đường (路 lộ) nào băng qua được dãy núi dài đằng đẵng này nên tựa đề Thái Hàng Lộ nói đến hành trình của nho gia họ Bạch qua lịch sử Hoa Lục. Lịch sử Hoa Lục đầy thăng trầm nhưng triều đình nhà Đường thì cứ bình chân như vại. Họ Bạch sống qua 8-9 đời vua Đường với những tranh chấp quyền lực, chết chóc trong chính hoàng tộc, sau thời loạn An Lộc Sơn.

巫峡=Vu giáp là tên của một trong ba hẻm núi trên Trường Giang. Huyền thoại bảo rằng đây là nơi thần nữ Dao Cơ (瑶姬) hóa thân để giúp vua Đại Vũ trị thủy. Và dĩ nhiên luồng nước trong hẽm núi thì bất thường tùy thời tiết, cũng như thời cuộc ít khi mưa thuận gió hòa vì loạn lạc hay chiến tranh liên miên. Cũng có thể rằng thi nhân muốn nhắc đến huyền thoại thần Sở Hoài Vương mộng thấy thần nữ Vu Sơn, bỏ bê việc triều chính rồi bị vua nhà Tần bắt.

左納言,右納史 Tả nạp ngôn, hữu nạp sử. Tả và hữu là hai từ chính trị để chỉ hai phần của triều đình Hoa Lục thời xưa - BCD giữ chức 左拾遺=tả thập di và đụng độ với tể tướng Lý Lâm Phủ [李林甫], người mà chính nhà vua cũng phải nhận là đầy thủ đoạn - nhưng cũng có nghĩa hai bên tranh chấp quyền lực, tương đương với ngôn từ thời thượng trên thế giới. Chuyện chồng ham vàng ngọc, bỏ bê, không quý trọng nhan sắc và sự cố ý điểm trang của vợ để được lòng chồng thì có liên hệ gì với các tranh chấp, thủ đoạn trong triều đình?! Vì hai bên tranh dành quyền lực, con đường hoạn lộ của Bạch Cư Dị đầy trắc trở.

朝承恩暮賜死 Triều thừa ân, mộ tứ tử Hai câu này dính dáng gì đến tình nghĩa vợ chồng hay sự bạc bẽo của chồng? Chúng chỉ có nghĩa nếu các từ 朝=thiếp và 君=quân trong câu 妾顏未改君心改=Thiếp nhan vị cải quân tâm cải ám chỉ chính quan nhân họ Bạch và triều đình nhà Đường. 顏=nhan ở đây không phải là nhan sắc người đàn bà mà là tài năng của họ Bạch và bài cổ phong là lời than thống thiết của nhà nho họ Bạch về thể chế triều Đường xem quyền lực và của cải quan trọng hơn tài năng hay ý chí phục vị triều đình.

行路難,不在水,不在山,只 在人情反覆間=Hành lộ nan, bất tại thủy, bất tại san, chỉ tại nhân tình phản phúc gian. Đường đi khó không phải vì ngăn sông cách núi, hay vì lòng họ Bạch ngại núi e sông, nhưng vì lòng người phản phúc. Chủ từ cho động từ hành không phải là người vợ - vì cô vợ không phải đi đâu cả, mà là chính thi nhân họ Bạch, không còn tin tưởng được vào lòng người. Phải chăng đã có ai đó trong triều thất hứa với Bạch thập di?

Có thể rằng thi nhân họ Bạch dùng lối cổ phong để có thể diễn tả rõ ràng hơn tâm sự của chính mình. Việc người thời nay chỉ hiểu bài thơ như lời vợ trách chồng bội bạc có khó hiểu lắm chăng? Những người sống trong thể chế quân chủ ngày xưa có hiểu bài thơ như thế?

Huỳnh Kim Giám

@ ý kiến của Phí Minh Tâm

Trong sách Bạch Thị Trường Khánh Tập - Đường - Bạch Cư Dị 白氏长庆集-唐-白居易, tựa bài thơ có chú thêm câu: tá phu phụ dĩ phúng quân thần chi bất chung dã 借夫妇以讽君臣之不终也 Sử dụng ẩn dụ phu thê để châm biếm sự đổ vỡ của mối liên kết giữa quân và thần. Pmt

@Huỳnh Kim Giám trả lời :

Cám ơn anh Tâm. Người xưa biết, và hiểu, hàm ý trong các ngôn từ, điển cố hơn người thời nay. Làm sao những người ngoài Hoa Lục, không kiến thức tối thiểu về Hán tự và văn học Tàu hiểu được bài thơ dịch qua một ngoại ngữ?

@ mirordor chỉnh lại phần chú giải Sâm Thương:

Sâm và Thương là tên của hai nhóm sao trong nhị thập bát tú nằm đối diện nhau qua tâm điểm sao Polaris (北極星-Bắc Cực Tinh). Người Hoa Lục chỉ có thể thấy một trong hai chòm sao này hàng đêm khi chúng quay quanh Bắc Cực nên dùng chúng làm biểu tượng cho khái niệm không bao giờ được gặp nhau.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét