Thứ Năm, 5 tháng 3, 2026

Bài Thơ " Con Cóc"

* Xin gởi anh Chín và quý thân quyến bài này đọc chơi. Đọc để suy ngẫm cho khỏi nặng cái đầu (Ngạn ngữ Đại Hàn)!

Bài thơ “Con Cóc” từ ông Petrus Trương Vĩnh Ký rất phổ thông trong văn học sử. Từ ngụ ý của nó, Nhất Linh và Thượng Tân Thị cũng có Thơ “Con Cóc”. Tuy nhiên Thơ “Con Cóc” đầu tiên là từ vua Lê Thánh Tông.

a) Thơ “Con Cóc” từ Petrus Ký

Câu chuyện về bài thơ Con Cóc nổi danh được đăng trong sách của Petrus Ký và của Thọ An Phạm Duy Tốn.

BA ANH DỐT LÀM THƠ (*)
(Petrus Ký)

Có ba anh học trò dốt ngồi nói chuyện với nhau. Mới nói: Mình tiếng con nhà học trò mà không có làm thơ làm phú với người ta thì té ra mình dở lắm. Mấy người kia mới nói phải. Hè nhau làm ít câu chơi.

Anh thứ nhất thấy con cóc ở trong hang nhảy ra, mới làm câu mở như vầy: Con cóc trong hang con cóc nhảy ra.

Người thứ hai tiếp lấy: Con cóc nhảy ra con cóc ngồi đó.
Người thứ ba: Con cóc ngồi đó con cóc nhảy đi

Lấy làm hay lắm. Rồi nghĩ lại giựt mình, vì trong sách nói: Hễ học hành giỏi thì sau cũng phải chết. Cho nên tin như vậy mới biểu thằng tiểu đồng ra đi mua ba cái hàng đất để dành cho sẵn đó.

Tiểu đồng lăng căng đi mua, ghé ra quán uống nước ngồi xớ rớ đó. Có anh kia hỏi nó đi đâu? Mua giống gì? Thì nó nói: Ba thầy tôi thông minh trí huệ, làm thơ hay lắm, sợ lời sách quở, có khi không sống, nên sai tôi đi mua ba cái hòm.

- Mầy có nghe họ đọc thơ ấy không?
- Có
- Mà có nhớ nói lại nghe chơi, coi thử sức nó hay làm sao ?

Thằng tiểu đồng mới nói: Tôi nghe đọc một người một câu như vầy:

Con cóc trong hang con cóc nhảy ra
Con cóc nhảy ra con cóc ngồi đó
Con cóc ngồi đó con cóc nhảy đi

Anh kia nghe tức cười nôn ruột, mới nói với tiểu đồng:
- Mầy chịu khó mua giùm cho tao một cái hòm cho luôn trót thể

Tiểu đồng hỏi: Mua làm chi?
Lão nọ mới nói: Tao mua hờ để đó, vì tao sợ tao cười lắm, có khi cũng chết theo ba thầy làm thơ đó nữa.

(*) Chú thích: Chuyện nầy được viết lại đúng nguyên văn trong quyển "Chuyện Xưa Tích Cũ" của Sơn Nam.

THƠ CÓC
(Thọ An Phạm Duy Tốn)

Có ba ông vẫn tự đắc là mình hay thơ nôm. Một hôm, rủ nhau đi chơi chùa, để cùng họa thơ tức cảnh. Nhưng mà đến chùa, không biết làm thơ gì; mới bảo nhau hãy đưa tiền cho ông Tự đi mua rượu và đồ nhắm về đánh chén đã: - Hễ rượu vào thì tự khắc thơ ra tuồn tuột! Mua về, ba ông ngồi bắt chân chữ ngũ, gật gù uống rượu, rung đùi nghĩ thơ. Chợt thấy con cóc ở trong xó, nhảy ra.

Một ông mới ngâm rằng:
Con cóc trong hang,
Con cóc nhảy ra.
Ông thứ hai họa theo rằng:
Con cóc nhảy ra,
Con cóc ngồi đấy.

Ông thứ ba:

Con cóc ngồi đấy,
Con cóc nhảy đi.

Ba ông cùng vỗ đùi, cười ồ cả lên khen rằng: - Hay! hay! hay thật?

Cười chán rồi, một ông bảo rằng: - Thơ ta tuyệt cú! mà ta xuất khẩu thành chương như thế thì tôi e lắm, hai tiên sinh ạ. E rằng Thánh nhân người đã dạy: Ai mà linh khẩu lắm thì kẻo chết non. Vậy ta phải nên liệu trước.

Hai ông kia lấy làm phải lắm, bèn mời ông Tự ra, nói hết đầu đuôi; rồi đưa tiền nhờ mua hộ ngay cho ba cổ ván.
Ông Tự cầm tiền đi mua. Một chốc đem về bốn cái áo quan.

Ba ông hay thơ mới hỏi: - Sao mua những bốn cái thế? - Thưa các ngài, tôi mua thêm một cái để cho tôi, bởi vì tôi buồn cười quá, cũng đến chết mất.

*
Chuyện của Thọ An nói về ba người đi chùa làm thơ như trên cũng giống ý một chuyện về làm thơ khác của ông Petrus Ký.

BỐN ANH HỌC TRÒ ĐẶT THƠ TRONG CHÙA
(Petrus Ký)

Bốn anh học trò đi đường, ghé qua chùa chơi. Ngồi coi bạ bàn thấy tượng đồ treo thờ đó, mới rủ nhau làm ít câu thơ chơi.
Anh thứ nhứt, thấy tượng Quan Đế, thì mở rằng:
Hớn vương ăn ớt mặt đỏ gay

Anh thứ hai thấy tượng Quan Bình, thì đặt:
Bên kia Thái tử đứng khoanh tay

Người thứ ba ngó quanh quất, thấy tượng Châu Thương thì đặt:

Thằng mọi râu rìa cầm cái mác
Còn anh thứ bốn ngó ra, thấy con hạc đạp lưng qui, thì thêm:
Ngoài nầy cò quắm đạp cầy thay. (*)

(*) Chú thích:
Cò quắm = cò có mỏ dài.
Cầy thay = cần thay: đều là tiếng Miên nói trại, chỉ loại rùa lớn con.
*
Ông Petrus Trương Vĩnh Ký và ông Thọ An Phạm Duy Tốn là những văn sĩ đầu tiên viết Chuyện Khôi Hài trong Văn học Quốc ngữ.

Ở Nam Kỳ, ông Petrus Trương Vĩnh Ký xuất bản "Chuyện Khôi Hài" vào năm 1882. Chuyện khôi hài là chuyện có tác dụng gây cười, có thể trong dân gian hoặc trong lịch sử chính trị hay văn học.

Trước đó trong "Chuyện Đời Xưa" của mình, xuất bản lần thứ nhất vào năm 1866, ông Petrus Ký cũng có một số chuyện khôi hài như chuyện "Bốn anh học trò đặt thơ trong chùa" và chuyện "Ba anh dốt làm thơ". "Chuyện Đời Xưa" là tên rút ngắn của “Chuyện đời xưa lựa nhón lấy những chuyện hay và có ích”, tác phẩm văn xuôi đầu tiên viết bằng chữ Quốc Ngữ (năm 1866).

Từ ông Petrus Ký, ở Nam Kỳ có ông Phụng Hoàng San xuất bản "Chuyện Tiếu Lâm" (1912) và ông lại cùng ông Dương Diếp, cũng ở Mõ Cày, xuất bản "Truyện Tiếu Đàm" (1914). Chuyện tiếu lâm là chuyện cười trong dân gian.

Cuối thập niên 1910s, ở Bắc Trung Kỳ có 3 Tập "Tiếu Lâm An Nam" của tác giả là Thọ An. Thọ An chính là Học giả Phạm Duy Tốn (thân phụ của Nhạc sĩ Phạm Duy). Ông Phạm Duy Tốn thuộc Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí, nổi danh trong nhóm “Quỳnh, Vĩnh, Tố, Tốn” cùng với các ông Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh và Nguyễn Văn Tố.

“Tiếu Lâm An Nam” của Thọ An Phạm Duy Tốn có những chuyện mang nội dung giống với chuyện của Petrus Ký và của Phụng Hoàng San và Dương Diếp ở Nam Kỳ.

b) Thơ “Con Cóc” của Nhất Linh

- Trong báo Phong Hóa (Dec, 1932), với đề tài “Thơ Con Cóc”, ông Nhất Linh viết (nguyên văn):
Văn suôi thì bắt chước, mà thơ thì mới lắm. Ông Phương Lan viết:

SAI CON

Mặt bẩn sao không lau?
Con ra lấy cái thau
Đổ nước, mang khăn mặt
Mau!

Nhất Linh xin nối theo một bài:

Ông viết văn trôi chảy
Như con cóc nó nhảy
Nó nhảy trong hang ra
Xong rồi nó ngồi đấy
Ngồi đấy lại nhảy đi
Nhảy đi lại ngồi đấy
Nhảy xong nó lại ngồi
Ngồi chán nó lại nhảy
Cứ thế mãi không thôi
Văn ông nó cũng vậy.

- Trong báo Phong Hóa (số 31 March, 1933), Nhất Linh viết tiếp (nguyên văn):

Ông Công luận trong báo Thực Nghiệp có nói đến bài thơ “con cóc” của tôi. Ông nói là ông không hiểu, ông lại bảo: trên đàn ngôn luận không nhất là nơi đóng hài kịch.

Ông Phan Khôi trong bài “địa vị khôi hài trên đàn văn” có viết:

“Có thông minh mới ra được câu bông lơn có thú vị, mà cũng duy thông minh lắm mới biết ngửi thấy cái thú vị của câu bông lơn hay, chớ còn nói chơi không biết, nói thiệt không hay, thì duy có ngu đần mới như vậy, dân ấy là dân xỏ lá!”.

Câu này xin đem tặng ông Công luận – mà cũng vì thế nên không muốn nói ông Công luận làm gì nữa.
Vậy tôi chỉ nói đến bài thơ của ông Phương Lan, và xin chép lại bài thơ ấy ra đây lần nữa:

Mặt bẩn sao không lau?
Con ra lấy cái thau
Đổ nước, mang khăn mặt
Mau!

Thơ như thế sao gọi là thơ được. Đó chỉ là mấy câu sai con mà có vần. Nó cũng chỉ như thơ con cócmà thôi.

Trên đàn ngôn luận, không phải là nơi đóng hài kịch nhưng chính ông Phương Lang cứ đọc bài thơ đó cho các bạn thân của ông nghe, Nhất Linh lại xin bắt chước ông Phương Lang làm bài thơ như thế nữa:

LẠC QUAN

Trông vào nồi, cơm hết
May còn miếng cháy ròn
Ăn với cá kho mặn
Ngon.

MỪNG KHỎI BỆNH

Tay tôi mụn ghẻ đầy
May sao gập thuốc hay
Bôi được một tuần lễ
Khỏi ngay.

Chắc ông Công Luận phục hai bài thơ này lắm, vì theo ý ông tôi đã tránh được những tiếng cao nhã (mots nobles) mà toàn dùng cái giọng thông thường (langue vulgaire) đi thẳng một hơi trôi chảy vô cùng.

Lạy theo ý ông, Nhất Linh này làm được hai “bài thơ” đó thì nên cứ làm thơ như thế mãi, dù chân lỡ dẫm phải gai thì cũng chớ trùn gan trên con “đường thi bá văn hào”.

c) Thơ “Con Cóc” của Thượng Tân Thị

Thi nhân Tiền Chiến chuyên làm Thơ Mới chống lại Thơ Cũ nhất là thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú. Thơ Lục Bát và Song Thất Lục Bát được nhiều Thi nhân Tiền Chiến áp dụng như Nguyễn Bính và Tương Phố. Các Bài Thơ Mới cũng áp dụng Đường Luật Thất Ngôn Tứ Tuyệt! Do đó theo hiểu biết của các Thi nhân Tiền Chiến chuộng Thơ Mới, Thơ Cũ là Thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú!

Lưu Trọng Lư là người cổ động cho Thơ Mới và đã kích Thơ Cũ (Thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú):

THƠ THÁCH HỌA CÁC CỤ ĐỒ

Đôi lời nhắn nhủ bạn làng Nho
Thơ thẩn thẩn thơ khéo thẫn thờ
Con cóc Nghè Huỳnh đuôi cọc lóc (*)
Nàng thơ Ấm Hiếu mũi thò lò (*)
Chai to chai nhỏ con cầy béo
Câu thánh câu thần đĩa mực khô
Nắn nót miễn sao nên bốn vế
Chẳng thơ thì cũng cóc cần thơ.

(Lưu Trọng Lư)

(*) Chú thích: Nghè Huỳnh = Huỳnh Thúc Kháng. Ấm Hiếu = Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu.

Thượng Tân Thị, Phạm Đình Bách và nhất là Quách Tấn ở Trung Kỳ là những Thi nhân Tiền chiến chuyên làm Thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú.

Đây là Thơ trả lời của Thượng Tân Thị.

CON CÓC

Đã mang cái tiếng cậu ông trời
Phải có danh chi để với đời
Le lưỡi loài sâu đều khiếp vía
Nghiến răng giống chấu thảy im hơi
Dông mưa dầm chảy càng hăng hái
Gió bụi xông pha vẫn thảnh thơi
Nghĩ lại nực cười cho những kẻ
Ngâm thơ liên cú chẳng nên lời.

(Thượng Tân Thị)

d) Thơ "Con Cóc" của vua Lê Thánh Tông

Năm 1460, các ông Nguyễn Xí (1396-1465), Đinh Liệt (?-1471), Lý Lăng (con ông Lý Triện) và Lê Niệm (cháu nội Lê Lai) (?-1485) giết vua Lê Nghi Dân và đồng đảng. Ông Lý Lăng muốn lập Cung Vương Khắc Xương nhưng các quần thần đều muốn lập Gia Vương Lê Tư Thành lên làm vua. Cung Vương Lê Khắc Xương từ chối (làm vua). Để thử tài vị Hoàng tử Tư Thành trẻ tuổi nầy (18 tuổi), quần thần xin ông làm một bài thơ. Hoàng tử Tư Thành liền ứng khẩu bài thơ:

CON CÓC

Bác mẹ sinh ra vốn áo sồi
Chốn nghiêm thăm thẳm một mình ngồi
Chép miệng nuốt ba con kiến gió
Nghiến răng chuyển động bốn phương trời.

(Vua Lê Thánh Tông)

Thấy được khẩu khí trong bài thơ nên quần thần đồng ý tôn ông làm vua, là vua Lê Thánh Tông.
Những năm sau đó, vua Lê Thánh Tông có viết lại bài thơ Con Cóc:

CON CÓC

Chừ thuở nên thân tấm áo sồi
Chốn nghiêm thăm thẳm một mình ngồi
Nâng tay mấy phút, oai hùm nép
Tắc lưỡi đôi lần, chúng kiến lui
Mừng thấy đàn con ra chịu ấm
Dễ còn ả Tố kết làm đôi
Miếu đường có thuở vang lừng tiếng
Giúp được dân làng kẻo nắng nôi.

(Vua Lê Thánh Tông)

e) Kết luận

Nhân đọc tất cả Thơ Con Cóc trong văn học sử, thi sĩ ngày nay có cảm nghĩ về Thơ Con Cóc qua bài thơ:

THƠ CON CÓC (Nguyên bản)

Thơ như con cóc cũng là thơ
Tiến bộ tung cao chẳng bá vơ
Đúng luật thi văn gìn cẩn thận
Thẳng đường thi vận tránh ơ thờ
Cóc cần vị lợi, hòa tình ý
Cóc muốn thành danh, thỏa ước mơ
Linh động thi nhân cùng nhảy nhót
Thơ như con cóc dậy hồn thơ.

(Phan Thượng Hải)
2/20/26

Từ Thơ Con Cóc, cũng có Thơ Con Nhái:

THƠ CON NHÁI (Tự họa)

Thơ như con nhái cũng nên thơ
Khỏi phải suy tư nghĩ vẩn vơ
Nhái tựa danh nhân, người kính nể
Nhái theo sáo ngữ, chúng tôn thờ
Từ chương ước lệ sầu thương nhớ
Lãng mạn văn hoa thú mộng mơ
Nối nghiệp thi hào đường chính thống
Thơ như con nhái, nhái thành thơ.

(Phan Thượng Hải)

2/20/26

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn
Bài này là trích đoạn của bài “Giải Luận Thi Văn - Thơ Việt Ngữ” (Bs Phan Thượng Hải) đăng trong phanthuonghai.com

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét