Nhạc::Trần Duy Đức
Trình Bày: Vương Đức Hậu
Thực Hiện:Hoàng Khai Nhan
Những lúc âu yếm nhìn nhau
Văng vẳng nghe…tiếng hú con tàu
Dòng sông đời đang trôi chảy…
Mịt mù…cát bụi tung bay!
Em ơi…hãy gắng cười lên
Vượt qua thác lũ băng ghềnh…
Hương sắc tàn phai theo năm tháng…
Đốm lửa lòng…sưởi ấm cõi lênh đênh!
Dù chi…cũng cố gắng mà vui
Nụ cười tươi…để lại cho đời…
Thân xác rã rời…nhưng còn hơi thở
Hơn là lạnh lẽo…chốn xa xôi!
Làm sao! biết được ngày mai
Hoa gì… rồi cũng tàn phai!
Bướm ong…đâu còn quyến rũ
Vòng tay đất mẹ…sẽ van nài!
Em ơi…lúc còn có nhau
Đừng đợi khi…xa bến, lạc tàu!
Mong hồn chúng ta sẽ cùng về Nơi ấy
Mây trời vinh hiển…tuyết trắng phau

June 14, 2025
Diệm Trân
Đây là bài số bảy trăm chín mươi sáu (796) của người viết về chủ đề Thiền Nhàn trong khu vườn Một Cõi Thiền Nhàn của trang văn nghệ ORTB.
Đã từ lâu tôi không còn thích xem phim hành động hay ma quái nữa vì tôi không thích những hình ảnh chém giết lẫn nhau một cách rùng rợn, tàn bạo. Thú thật, khi lỡ thấy những cảnh giết bò, giết heo, giết rắn để ăn nhậu, tôi thường nhắm mắt lại không xem và hỏi chừng ông xã đã hết chưa rồi mới dám xem tiếp tục khi cảnh giết hại đó chấm dứt.
Không phải vì lòng “chợt từ bi bất ngờ” như lời ca của một bài hát mà tôi đã nghe mà có lẻ vì càng lớn tuổi, con người hình như sống về tâm linh nhiều hơn thuở thiếu thời. Tôi là thế đó.
Người viết cũng xin tạ ơn các đấng giáo chủ đã lập ra các tôn giáo dạy con người nên làm lành lánh dữ để cho cõi trần gian này bớt đi những nghiệp tội, nhữg đau khổ do chính con người tạo ra. Con người nếu có đời sống tâm linh vững chắc sẽ biết sợ nhân quả, tội phước và từ đấy sẽ bớt đi những việc làm tội lỗi, tham lam, sân hận, si mê, sát sanh hại mạng v..v…. Đạo nào cũng tốt cả vì Chúa hay Phật đều dạy con người nên làm lành lánh dữ, sống từ bi hỷ xả, nhân ái, yêu thương tất cả mọi người, sống thiểu dục tri túc, sống cư trần lạc đạo. Người viết thiển nghĩ chỉ có người làm hư Đạo chứ Đạo không làm hư người nếu tín đồ tri hành đúng lời dạy của các đấng Cha Lành.
Phim ảnh đôi khi cũng đưa lên những bài học rất hay về cuộc đời, về quan niệm sống như thế nào cho vui cho khỏe, cho hợp với thiên lý, hợp với nhân đạo.
Theo tôi, tác giả viết dựng một bộ phim nào cũng muốn gửi gắm một tâm sự hay đưa lên một bài học nào đó để chúng ta cùng suy ngẫm. Hình ảnh đẹp trong phim, nội dung hay của cuốn phim sẽ gây cho ta một ấn tượng, một cảm nghĩ khó quên và ít nhiều gì cũng có ảnh hưởng đến quan điểm sống của chúng ta.
Người viết nhớ trước đây có xem phim “The Scent of Woman” được dịch là “Tình Yêu Dối Trá” đã chiếu lâu rồi .
Chuyện phim kể về chuyện cô thư ký tên Lý Yên Trà nhan sắc trung bình, tiện tặn trong việc chi tiêu hằng ngày, làm việc giỏi trong một hãng du lịch có một chàng giám đốc trẻ tuổi đẹp trai tên Lưu Chính Quốc. Cô thường bị người trưởng phòng bắt nạt và chịu nhiều áp lực, phiền muộn từ công việc làm, từ những người cộng sự và cấp trên của cô.
Một hôm đi khám sức khỏe nơi một bệnh viện có người bạn làm bác sĩ ở đó và cũng là bạn học thuở thiếu thời, cô được báo cho biết một tin kinh khủng là cô bị bệnh ung thư và chỉ còn sống 6 tháng nữa mà thôi.
Ban đầu cô không muốn được chữa và không còn sợ gì nữa. Bắt đầu cô quăng đơn xin nghỉ việc, sửa sang lại nhan sắc, ăn diện hàng hiệu, đi du lịch ở Okinawa với số tiền cô đã tiết kiệm được để tận hưởng những ngày còn lại. Tại đây, cô lại gặp ông giám đốc trẻ tuổi đẹp trai của cô mà cô muốn cua làm người yêu của cô. Chàng này cũng đến đây công tác. Rồi từ đấy, cảm tình bắt đầu nở hoa và đưa đến tình yêu giữa hai người. Cô lập danh sách những việc cần phải làm trước khi chết và bắt đầu thực hiện: trả thù những người đã đối xử xấu với cô, học nhảy tango, lo lắng cho mẹ được tái hôn, chụp hình mặc áo cưới v..v…
Nhiều lần cô muốn trốn chạy tình yêu với người cô yêu nhưng trước tình yêu chân thành của anh giám đốc người yêu của cô, cô thay đổi cách sống, cô yêu cầu xin được chữa trị để mong được sống lâu hơn bên cạnh người cô yêu, sống lạc quan, yêu đời, yêu người, giúp đỡ và tha thứ những ai đã làm cô đau buồn.
Người yêu của cô dù bị áp lực của người cha nhưng vẫn luôn động viên, khích lệ tinh thần cô nên cuối cùng cô đã kéo dài sự sống thêm hơn một tháng nữa.
Vai chính trong truyện có lẻ muốn nói: “Dù gặp cảnh ngộ khó khăn, bi thương trong cuộc sống thế nào đi nữa, chúng ta phải chấp nhận sự việc thực tế đó, và tìm cách vươn lên với những ý nghĩ và cách sống lạc quan thì hy vọng biết đâu có sẽ kỳ tích xuất hiện và kết quả cuối cùng sẽ tốt đẹp hơn là buông xuôi cho định mệnh, bi quan than khóc cho số phận.
Thức tế sau năm 1975, chúng ta cũng đã thấy nhiều gia đình mà cuộc đời kể như đã “tiêu tùng” hết hy vọng sống còn rồi, nhưng họ vẫn khắc phục được những khó khăn, gian khổ đó, vươn lên để mà sống tốt đẹp hơn lên. Bây giờ ở hải ngoại, cộng đồng người Việt của chúng ta đã có rất nhiều người tài giỏi đã làm cho thế giới phải nể kiêng, mà trước đó cuộc sống của họ thật là gian khổ, thật là đau thương. Người viết xin được góp vui cùng với các gia đình đã biết vươn lên để mà sống đẹp này.
Nói đến tự lực nhưng chúng ta cũng cần nói đến tha lực.

Tha lực là sự giúp đỡ, khích lệ của người khác để giúp cho mình thành công tốt đẹp hơn nữa. Ngày xưa Đức Mục Kiền Liên cũng phải cần oai lực của chư tăng hỗ trợ cầu nguyện trong ngày lễ Vu Lan mà mẹ của Ngài mới thoát khỏi ngục hình nơi chốn Diêm đài.
Trong câu chuyện nói trên, cũng chính nhờ sự giúp đỡ tinh thần tận lực của mẹ, của người yêu, của vị bác sĩ chữa trị, cộng chung với tinh thần lạc quan, ý chí muốn sống còn mạnh mẽ của mình mà cô Lý Yên Trà mới có thể kéo dài thêm sự sống.
Đời sống tâm linh, đức tin, sự cầu nguyện cũng quan trọng cho đời sống chúng ta không kém.
Khi đi vượt biên, trong những lúc hiểm nguy hay tuyệt vọng, nhiều người trong chúng ta đã cầu nguyện Đức Quan Thế Âm Bồ Tát hay Đức Mẹ Maria cứu khổ cứu nạn. “Có cảm tức có ứng” và nhiều người đã thấy được nhiều sự hiển linh của đức tin này. Cũng từ đấy, khi thoát được sự hiểm nguy, an toàn đến được các quốc gia tự do, nhiều người đã tín nguyện vào tôn giáo mà họ hằng cầu nguyện.
Khoa học ngày nay dù đã phát minh ra nhiều điều hữu ích cho nhân loại nhưng vẫn chưa có thể giải thích hết mọi sự việc, mọi hiện tượng xảy ra ở cuộc sống thế gian. Chúng ta vẫn phải tiếp tục cầu nguyện, vẫn muốn có một đời sống tâm linh vững mạnh, một tinh thần vững chắc.
Xin mời Bạn đọc một tài liệu về những nhà bác học nói chuyện về đức tin và cầu nguyện do một người bạn gửi đến người viết.
Con người chỉ vĩ đại khi cầu nguyện
Frederic Ozanam, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của Giáo Hội Pháp vào cuối thế kỷ 19 đã trải qua một cơn khủng hoảng Đức Tin trầm trọng lúc còn là một sinh viên đại học.
Một hôm, để tìm một chút thanh thản cho tâm hồn, anh bước vào một ngôi thánh đường cổ ở Paris Đứng cuối Nhà Thờ, anh nhìn thấy một bóng đen đang quỳ cầu nguyện cách sốt sắng ở dãy ghế đầu. Đến gần, chàng sinh viên mới nhận ra người đang cầu nguyện ấy không ai khác hơn là nhà bác học Ampère.
Anh đứng lặng lẽ một lúc để theo dõi cử chỉ của nhà bác học. Và khi vừa đứng lên ra khỏi giáo đường, người sinh viên đã theo gót ông về cho đến phòng làm việc của ông.
Thấy chàng thanh niên đang đứng trước cửa phòng với dáng vẻ rụt rè, nhà bác học liền lên tiếng hỏi: “Anh bạn trẻ, anh cần gì đó? Tôi có thể giúp anh giải một bài toán vật lý nào không?”
Chàng thanh niên đáp một cách nhỏ nhẹ: “Thưa Thầy, con là một sinh viên khoa văn chương. Con dốt khoa học lắm, xin phép Thầy cho con hỏi một vấn đề liên quan đến Đức Tin!”
Nhà bác học mỉm cười cách khiêm tốn: “Anh lầm rồi, Đức Tin là môn yếu nhất của tôi. Nhưng nếu được giúp anh điều gì, tôi cũng cảm thấy hân hạnh lắm?”
Chàng sinh viên liền hỏi: “Thưa Thầy, có thể vừa là một bác học vĩ đại, vừa là một tín hữu cầu nguyện bình thường không?”
Nhà bác học ngỡ ngàng trước câu hỏi của người sinh viên, và với đôi môi run rẩy đầy cảm xúc, ông trả lời:
“Con ơi, chúng ta chỉ vĩ đại khi chúng ta cầu nguyện mà thôi!”
Louis Pasteur - Nhà bác học thiên tài - Một tâm hồn khiêm tốn và cầu nguyện
Trên tuyến xe lửa đi về Paris, có một thanh niên trẻ ngồi cạnh một cụ già. Chỉ ít phút sau khi đoàn tàu chuyển bánh, cụ rút trong túi áo ra một cỗ tràng hạt và chìm đắm trong cầu nguyện. Người sinh viên quan sát cử chỉ của cụ già với vẻ bực bội.
Sau một hồi lâu, xem chừng không thể chịu nổi, anh ta mạnh dạn lên tiếng: “Thưa Ông, Ông vẫn còn tin vào những chuyện nhảm nhí thế à?”
Cụ già thản nhiên trả lời: “Đúng vậy, tôi vẫn tin. Còn cậu, cậu không tin sao?”
Người thanh niên xấc xược trả lời: “Lúc nhỏ tôi có tin, nhưng bây giờ làm sao tôi có thể tin vào những chuyện nhảm nhí ấy được, bởi vì khoa học đã mở mắt cho tôi. Ông cứ tin tôi đi và hãy học hỏi những khám phá mới của khoa học, rồi Ông sẽ thấy rằng những gì Ông tin từ trước đến nay đều là những chuyện nhảm nhí hết.”
Cụ già nhỏ nhẹ hỏi người sinh viên: “Cậu vừa nói về những khám phá mới của khoa học, liệu cậu có thể giúp tôi hiểu được chúng không?”
Người sinh viên nhanh nhảu trả lời: “Ông cứ cho tôi địa chỉ, tôi sẽ gửi sách vở đến cho ông, rồi ông sẽ say mê đi vào thế giới phong phú của khoa học cho mà xem.”
Đọc qua tấm danh thiếp, người sinh viên bỗng xấu hổ đến tái mặt và lặng lẽ rời sang toa khác. Bởi vì trên tấm danh thiếp ấy có ghi: Louis Pasteur, viện nghiên cứu khoa học Paris.
(Nguồn: Trích trong email bạn gửi)
Người viết xin mượn câu chuyện ngắn ngắn dưới đây để làm kết luận cho bài tâm tình hôm nay, Bạn nhé!
MUỐI.
-Con cho thìa muối này hòa vào cốc nước, rồi uống thử đi!
Kính chúc toàn thể quý độc giả và thân hữu nhiều sức khỏe, thân an trí lạc, dứt bớt được nhiều điều phiền não và làm được nhiều chuyện thiện lành.
Người giữ vườn Một Cõi Thiền Nhàn
Sương Lam
(Tài liệu và hình ảnh sưu tầm trên mạng lưới internet, qua điện thư bạn gửi-MCTN 796 – ORTB 1237-1-21-26)


Chim được coi là biểu tượng mang nhiều ý nghĩa phong phú trong các tác phẩm văn chương Việt. Trong bài viết này, tôi không đề cập tới chim Lạc là một sinh vật truyền thuyết của người Việt cổ và được xem là vật tổ của cư dân thời kỳ văn hóa Đông Sơn trong buổi đầu hình thành nước Văn Lang-Âu Lạc. Tôi chỉ muốn chia sẻ đôi điều về biểu tượng loài chim được miêu tả và diễn đạt bằng nhiều thể loại khác nhau qua các câu ca dao tục ngữ, thi ca, và văn xuôi.
Một số tác giả của những tác phẩm văn xuôi cũng thường dùng lối ẩn dụ, nhân cách hóa hay lồng những hình ảnh chim vào những áng văn để làm sinh động quang cảnh, không gian hay diễn tả tâm trạng, những ý nghĩ thầm kín và khát vọng của mình.Ví dụ như cảnh chim chuyền cành, bay lượn trên không trung hay hót líu lo, véo von…
Cho dù sử dụng nghệ thuật diễn đạt ngôn ngữ hay văn phong khác nhau như thế nào, các văn thi sĩ tiền bối Việt Nam đã để lại một kho tàng hết sức quý báu đối với việc lưu lại kinh nghiệm, truyền tải những lời khuyên sâu sắc đối với các thế hệ con cháu. Tuy nhiên, trong nguồn tài nguyên trí tuệ ấy, có những lối ẩn dụ và so sánh về loài chim không hoàn toàn chính xác.
Ví dụ như mục đích câu tục ngữ: Chim có tổ, người có tông nhắc nhở mỗi người trong cuộc đời đều có nguồn gốc, gia đình, dòng họ và tổ tiên, tương tự như chim có tổ là nơi chúng trú ngụ và được mẹ/cha chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ đến lúc lớn luôn. Đây là một câu nói mang tính khuyên răn, dạy dỗ, nhấn mạnh sự gắn bó giữa con người với cội nguồn, quê hương và tổ tiên giòng tộc. Nhưng, thực tế khi chim ra ràng rời tổ, chúng không bao giờ quay về tìm lại cái tổ mà chúng từng được cha mẹ chim nuôi nấng. Và chúng cũng không có khả năng nhớ hay nhận biết con chim nào là cha mẹ, ông bà, cô bác hay anh em của chúng. Nếu quan sát kỹ đời sống của chim, ta sẽ nhận thấy là chim chỉ thích đồng hành với con chim “đối ngẫu” để cùng bay đó đây, bất kể cùng trời, cuối đất. Ngoài ra, còn có loại chim thích sống theo đàn. Đàn bay đến đâu chúng theo đến đó. Tuỳ theo thời tiết, chúng theo đàn bay xa ngàn dặm, tránh xa vùng khí hậu lạnh lẽo, rồi bay trở lại chốn cũ khi mùa Đông trôi qua. Tuy nhiên, có lúc, chúng không trở về chốn cũ mà ở luôn nơi vùng đất mới, tuỳ thuộc vào ý thích của các con chim trong đàn.
Hình ảnh ẩn dụ của chim trong ca dao Việt Nam thường mang nghệ thuật cao khi nói về thân phận con người, cách ứng xử và kinh nghiệm trong cuộc sống. Tuy nhiên có những lối so sánh không hợp lý như câu
“Chim khôn đậu nóc nhà quan.” Hình ảnh ẩn dụ chim trong câu này ngụ ý về con người và nhà quan mang hàm ý là nơi an toàn, nơi có chức quyền mà con người có thể tựa vào hay nhờ cậy được. Thực tế, không phải con chim nào cũng có thể đậu nơi an toàn. Tuỳ theo khả năng của nó và môi trường thiên nhiên nơi chúng ở, chúng có thể tìm những nơi an toàn để trú ngụ hay không. Thô thiển hơn, ta có thể nói: chim không có khả năng tìm nơi an toàn, cho dù chúng khôn ngoan đến mức độ nào. Và cũng có thể những nhà quan/ nơi an toàn không tạo cho chúng cơ hội được đậu hay trú ngụ. Cũng như không phải con người thông minh nào cũng có thể tựa vào nơi có chức quyền để trông cậy.
Tương tự câu “Như chim liền cánh như cây liền cành” đề cao sự gắn bó mật thiết, không thể tách rời, câu ca dao “chim bay về tổ có đôi” mang ý nghĩa đôi uyên ương luôn bên nhau, thường sánh đôi, sánh bước cùng nhau. “Về tổ” mang ý nghĩa về nhà, về nơi trú ngụ; nhưng thực tế, không phải chim có đôi, có bạn mới về tổ. Người hay chim cũng có thể về nhà hay về “tổ” một mình không cứ chi phải có đôi, có cặp.
Hình ảnh trong câu Chim vàng đậu nhánh mai vàng vẽ nên bức tranh đẹp của sự tương hợp giữa hoàng yến là chim vàng trên cành hoa mai vàng, một loài hoa thường nở vào mùa xuân. Nhưng thực tế, chim hoàng yến đậu bất cứ loại cây hay loại hoa nào thuận tiện khi chúng di chuyển trong môi trường chúng đang sinh sống chứ không phải chỉ đậu trên cành mai nở hoa vàng trong mùa Xuân.
Trong văn xuôi cũng có nhiều câu so sánh về hình ảnh đẹp đầy tính nghệ thuật của các loài chim. Tuy nhiên, có những câu so sánh không hoàn toàn đúng với thực tế. Ví dụ như câu: “Ước gì anh có đôi cánh chim, anh sẽ bay đi khắp chốn tìm em…” Thực tế, không phải con chim nào có cánh cũng có thể bay được. Bản thân người viết từng nuôi chim trong mười năm hơn, chứng kiến nhiều con chim Yến Phụng từ lúc sinh ra đời đến lớn không thể bay dù có lông cánh đầy đủ. Những con chim này chỉ có thể dùng chân và mỏ để bám víu các vật gần kề khi muốn di chuyển lên cao. Không khác loài người chúng ta, có những người có hai chân đầy đủ nhưng không thể đi được vì chứng bệnh bẩm sinh nào đó. Cho nên, nếu dùng hình ảnh đôi cánh của chim để có thể tự do bay khắp chốn chỉ là lối ví von huyễn hoặc. Trong lịch sử Việt Nam, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn từng nhấn mạnh rằng “Chim Hồng hộc muốn bay cao tất phải nhờ ở sáu trụ xương cánh!” Như thế, ngay cả chim Hồng hộc có cánh to rộng cũng phải có trụ xương vững. Chim hay người muốn theo đuổi chí lớn cần phải có điều kiện sức khỏe và ý chí rèn luyện.
Cũng từ vấn đề này mà khi ta thả chim nuôi ra khỏi chuồng cho chúng được tự do không đúng với ý nghĩa của hai chữ “phóng sanh”. Những con chim quen sống trong môi trường được chăm sóc kỹ, chúng rất sợ khi bị đưa ra ngoài trời. Nhất là những con chim bị khuyết tật. Chúng sợ bị chụp bắt ăn thịt bởi những con chim ó hay diều hâu. Và như vậy, thiện ý “Phóng sanh” cho trường hợp này đưa đến kết quả trái ngược, có thể gọi là “Phóng tử”
Khi nhìn những con chim bay trong không trung hay đậu trên những cành cây cao, chúng ta khó xác định giới tính. Ngoại trừ, vài loài chim có màu sắc và đặc điểm riêng biệt giúp ta có thể đoán được là chim trống hay chim mái. Cho nên, hình ảnh “Chim mẹ mớm mồi cho con” nhằm đề cao tình mẫu tử của loài chim trong các đoạn văn xuôi có khi mắc phải sai lầm. Thực tế, không phải chỉ có chim mẹ mớm mồi cho con mà chim cha cũng mớm mồi nuôi con thay vợ. Nếu quan sát kỹ, chúng ta sẽ thấy có những con chim trống thường cư ngụ gần tổ chim để canh chừng, bảo vệ và chăm sóc cho vợ con chúng. Chúng thường kêu to báo động khi phát hiện sự nguy hiểm từ những con thú rình mồi, hay bay về trông tổ chim con khi chim mẹ bay đi kiếm ăn, và cũng thường xuyên thay chim mẹ mớm mồi nuôi con. Khi chim con ra ràng, những con chim trống cũng thường quấn quýt bay theo chim mẹ khi con chim này dạy cho chim con tập bay.
Có những đoạn văn tả tiếng chim hót vui tươi đón chào nắng mới để làm tăng lên sự hân hoan của loài lông vũ trước vẻ đẹp của bình minh hay của mùa Xuân…Tuy nhiên, nếu có dịp quan sát tường tận loài chim, chúng ta sẽ rõ những tiếng chim kêu to rõ mang âm hưởng đặc biệt mà ta chưa từng được nghe không phải là “ tiếng hót hay, tiếng hót vui mang lại điềm may mắn trong mùa nắng ấm!” mà là lời oán trách của con chim trống đối với sự lạnh lùng từ chối của con chim mái mà nó ưa thích hoặc là những tiếng than trách thân phận cô đơn, bị giam cầm trong cái lồng nhỏ bé, thay vì được tung cánh bay lượn trong không gian ấm áp, tươi đẹp ngoài kia.
“Đôi chim tình tứ, quấn quýt hôn nhau và rỉa cánh cho nhau trên cành.” là câu văn miêu tả hết sức sâu sắc hình ảnh gắn bó của đôi uyên ương. Nhưng thực tế, chim không hề biết hôn môi và hình ảnh đôi chim quấn quýt bên nhau ấy, có khi không phải là hình ảnh của chim trống với chim mái.
Hình ảnh một con chim kề mỏ vào mỏ một con chim khác chỉ là hình ảnh tưởng tượng đầy thi vị về đôi chim đang hôn môi nhưng thực tế, đó chỉ là hành động của việc san sẻ thức ăn cho nhau. Sau khi chim ăn hạt hay côn trùng, thực phẩm sẽ chứa vào trong mề. Khi chim muốn tán tỉnh con chim khác giới, chúng sẽ dụ dỗ bằng cách nôn/ ói thức ăn trong diều lên cuống họng rồi truyền thức ăn này vào mỏ con chim kia. Hình thức giống như cách chim mẹ mớm mồi cho chim con. Tuy nhiên, không phải chỉ có chim trống mới hào hiệp tiếp thực phẩm cho chim mái qua cách này. Có những con chim, bất kể là trống hay mái, có tính hào hiệp thường chăm sóc những con chim yếu đuối không thể bay đi kiếm ăn, bằng cách tiếp thức ăn qua cách này để giúp con chim ấy khỏe hơn.
Có thể nói rằng: Nếu chúng ta sử dụng ẩn dụ và so sánh không đúng với thực tế, chúng ta không thể thuyết phục độc giả một cách tuyệt đối.
Sự ví von về các loài chim qua điển tích và truyện cổ được lưu truyền qua những lời kể truyền miệng hay các văn bản chữ viết đã giúp cho các thế hệ tiếp nối mặc niệm về biểu tượng của các loài chim như : Chim khách báo hiệu điềm may mắn, vui vẻ, cú là điềm xui xẻo, tang chế, chim bồ câu tượng trưng cho hòa bình, chim cò là hình ảnh lam lũ, tần tảo của phụ nữ, tu hú là loại chim tráo trở, phượng hoàng tượng trưng cho sự cao quý….
Những ý niệm nhân cách hóa về các loài chim được lưu truyền trong dân gian và trong văn chương Việt đã trở thành những biểu tượng về tính chất và thân phận con người. Những ví von này không chỉ làm phong phú ngôn ngữ Việt mà còn là hình thức mà ông cha ta nhắc nhở con cháu về các giá trị đạo đức và cách đối nhân xử thế. Tuy những ý niệm này giúp chúng ta tự soi chiếu bản thân và thấu hiểu các giá trị sống qua thế giới loài chim nhưng thế giới điển tích và truyện cổ của ông cha vẫn còn có những giai thoại khiến ta cần phải phân tích kỹ lưỡng sự đúng, sai. Nếu không, ý niệm về một loài chim qua một giai thoại sẽ dẫn đến sự so sánh sai lầm từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Điển hình là giai thoại trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi gọi chim sẻ là kẻ tiểu nhân khi ông đi sứ nhà Nguyên năm 1308. Khi vào phủ Tể tướng nhà Nguyên, trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi thấy một bức trướng thêu hình con chim sẻ vàng đậu trên cành trúc. Ông tưởng là chim thật, chạy đến bắt khiến quan quân nhà Nguyên cười ồ chế giễu. Ngay lập tức, Mạc Đĩnh Chi đã giật bức trướng xuống và xé toạc nó. Khi bị chất vấn, ông bình thản giải thích rằng: “Người xưa chỉ vẽ chim sẻ đậu cành mai, chưa thấy vẽ chim sẻ đậu cành trúc bao giờ. Trúc là biểu tượng của quân tử, sẻ là vật mọn của tiểu nhân. Tể tướng treo bức tranh này là để tiểu nhân trên quân tử, tôi sợ đạo của thánh hiền bị suy đồi nên phải trừ đi.”
Câu trả lời của Mạc Đĩnh Chi đã giúp ông thoát khỏi tình huống bị chê cười và còn thể hiện sự am tường sâu sắc về văn hóa đồng thời tỏ rõ sự tôn trọng đối với Nhà Nguyên (triều đình phương Bắc lúc bấy giờ) khiến cho quan quân nhà Nguyên thấy lời của Mạc Đĩnh Chi đúng với đạo lý.
Nhưng chính sự giải thích có tính cách khẳng định này song song với quan niệm của Á Đông về tính cách “quân Tử” đối lập với “ tiểu nhân” thời ấy đã khiến mọi người mặc định loài chim sẻ là tiểu nhân tầm thường khi so sánh đối lập hình ảnh loài chim đại bàng uy vũ và dũng cảm, hay loài chim phượng hoàng cao quý và bất tử.
Từ đó, trong quan niệm văn chương cổ điển, chim sẻ thường bị gọi là “kẻ tiểu nhân”. Trong nhiều điển tích, chim sẻ (tước) được đặt cạnh chim én (yến) để minh họa sự đối lập giữa những người tầm thường với những người có chí lớn. Câu nói của Trần Thắng thời Tần “Yến tước an tri hồng hộc chi chí tai?” (Chim sẻ, chim én sao biết được chí hướng của chim hồng hộc?) đã khẳng định về tính chất thấp kém của loài chim này.
Hơn nữa, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi (1272–1346), bậc thánh hiền thông minh xuất chúng, đạt chức vụ Đại Liêu Tả bộc xạ (tương đương Tể tướng), được vua nhà Nguyên tán phục phong làm Lưỡng quốc Trạng nguyên (năm 1308) sau khi trổ tài ứng biến qua bài phú “Hoa sen trong giếng ngọc” (Ngọc tỉnh liên phú), thì tính tiểu nhân của loài chim sẻ qua giai thoại về bức họa chim sẻ đậu cành trúc cứ thế mà lan truyền, được thuộc lòng và trở thành mặc định từ đời này sang đời khác. Điều này khiến cho kiến thức về loài chim sẻ trong các câu chuyện dân gian truyền miệng không có đủ sức để phản biện. Làm sao những kẻ bé cổ thấp miệng có thể chạm vào những lý lẽ đã được minh định một cách vững chắc?
Thực tế, “chim sẻ” có tính "tiểu nhân" như trong quan niệm xưa cũ không?
Chúng ta không thể căn cứ vào thân hình nhỏ bé, đầu óc nhỏ bé để kết luận sự thấp kém, thiếu ý chí và tâm địa nhỏ nhen tiểu nhân của loài chim sẻ. Khi khẳng định đặc điểm, tính cách của một sinh vật, chúng ta chỉ tựa vào thân thể, hình dáng và thể chất của một sinh vật ấy rồi kết luận qua cảm tính thôi sao? Hay đơn giản chỉ lập lại những quan niệm của đạo đức xưa cũ? Rồi phớt lờ quá trình quan sát, ghi nhận, và tổng hợp những kết luận xác thực.
Cho dù chúng ta đã rõ đặc điểm của loài chim có mỏ quặp như đại bàng/ diều hâu là loài chim hung dữ và có thể xé tan xác con mồi mà chúng bắt thịt trong khi loài chim sẻ có mỏ nhọn, không quặp là giống chim hiền lành không hề làm tổn thương con vật khác, chúng ta cũng không thể kết luận rằng chim sẻ hiền hơn đại bàng, hay đại bàng hung ác hơn chim sẻ. Tương đồng như thế, chúng ta không thể nói những chim sẻ có thân hình nhỏ bé là tầm thường, là không quân tử, không chí lớn như những con chim có thân hình to lớn, hùng dũng như chim đại bàng. Mỗi loài sinh ra trên trái đất có đặc điểm khác nhau và chúng ta không nên so sánh một cách phiến diện và khập khiễng giữa loài này với loài khác, cho dù đồng loại hay khác loài. Người viết bài này có thể khẳng định rằng: Trong loài chim sẻ, có những con chim sẻ tiểu nhân và cũng có những con chim sẻ quân tử. Trong loài chim đại bàng, có những con chim đại bàng tiểu nhân và những con đại bàng quân tử. Và trong các loài chim khác cũng thế!
Chúng ta không nên kết luận vội vã rằng: Con chim to lớn có thể bay cao, vượt cuồng phong giữa trời giông bão là uy dũng can đảm, mà chúng ta cần quan sát những con chim sẻ, chỉ dùng chiếc mỏ nhỏ bé của chúng để “khuân/tha” những miếng rơm rạ, vỏ cây, nhành lá to lớn hơn thân thể của chúng gấp đôi ba lần để làm tổ, chúng không dung cảm sao? Chúng ta cũng cần quan sát cảnh các chú chim sẻ tần tảo bới những đống tuyết cao để kiếm mồi trong mùa đông giá lạnh và sự đoàn tụ quây quần của chúng khi kiếm ăn hay di chuyển từ nơi này sang nơi khác theo đàn để xóa tan ý nghĩ cho rằng chim sẻ là kẻ tiểu nhân. Gán cho chim sẻ chữ tiểu nhân là cách nhân hóa dựa trên quan điểm đạo đức xưa cũ, và không chính xác.
Trong thực tế, chim sẻ không phải là kẻ thiếu ý chí, thích soi mói, chấp nhất những chuyện nhỏ nhặt hay hạ thấp kẻ khác mà là loài chim có ích cho các cánh đồng nông thôn với hình ảnh nhỏ nhắn, nhanh nhẹn và linh hoạt. Chúng là những con chim chăm chỉ, kiên trì, sống theo đàn một cách hồn nhiên, yêu đời và đoàn kết.
Theo thiển ý của người viết đề tài này là chúng ta cần thấy rõ những điều bất hợp lý trong văn chương Việt để tránh sử dụng lối so sánh khập khiễng, bất hợp lý làm sai ý nghĩa hình ảnh và đời sống của các loài chim.