Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2026

Lăn Qua - Lăn Lại - Thơ: Trần Vấn Lệ - Nhạc: Nguyễn Văn Thành

Thơ: Trần Vấn Lệ
Nhạc: Nguyễn Văn Thành

Tâm Trạng Sinh Nhật 77

 
Hôm nay sinh nhật thật là vui
Thân phận lưu vong sống xứ người
Chồng vợ toại nguyền dâng hạnh phúc
Rể con hoan hỉ chúc mừng lời
Cuộc đời lận đận đà qua hết
Song thất thênh thang sống thảnh thơi
Ngẫm lại thăng trầm đều ảo ảnh
Danh thơm mộng đạt thoáng mây trôi!


Lâm Hoài Vũ
22/3/2026

Tháng Ba Hoa Gạo Nhớ Nhung



Theo ai thơ thẩn tháng ba
Chạnh lòng xao xuyến tranh ta thơ người
Gom bao tâm ý từng lời
Vẽ lên mộng tưởng rạng ngời dáng xưa
Đón mùa nỗi nhớ vàng trưa
Hoa gạo thêu áo ươm vừa nhớ nhung
Tim mơ đỏ sắc thủy chung
Dặm ngàn lữ thứ trùng phùng tháng ba


Kim Oanh

Là Vong Hay Gạo?

 

Ngỡ đâu đỏ phượng
Nhưng mới tháng ba
Phượng ở đâu ra
Chỉ là hoa gạo
Hay là hoa vông
Sánh cùng lửa lựu
Rủ nhau tề tựu
Đỏ rực góc vườn
Mọi người qua đường
Dừng chân đứng lại
Và đưa điện thoại
Lưu lại vài pô
Thật là bất ngờ
Khi đôi tình nhân
Chắc cũng bâng khuâng
Ngẩn ngơ ngơ ngẩn
Một thoáng vớ vẫn
Cùng ai thuở nào
Bên cành hoa gạo
Trao nhau nụ hôn
Ơi người nhớ không
Riêng ta cõi lòng
Vết môi còn đọng
Mãi hoài không tan
Tháng ba mênh mang
Tháng ba hoa gạo
Một thoáng dạt dào
Quên nhớ nhớ quên

Hoành Trần
25/3/26

Tôi Sẽ Tiếp Tục Tin Tưởng Cho Dù.....


Tôi sẽ tiếp tục tin tưởng, cho dù mọi người mất hy vọng.
Tôi sẽ tiếp tục yêu thương, cho dù người khác tôi luyện lòng hận thù.
Tôi sẽ tiếp tục xây dựng, cho dù người khác phá hủy.
Tôi sẽ tiếp tục nói đến hòa bình, ngay cả khi cuộc chiến đang diễn ra.
Tôi sẽ tiếp tục soi sáng, ngay cả khi đang ở trong bóng tối.

Tôi sẽ tiếp tục gieo hạt giống, cho dù người khác dẫm đạp lên vụ mùa đang thu hoạch.
Và tôi sẽ tiếp tục kêu lên, cho dù người khác im tiếng.
Và tôi sẽ vẽ nụ cười lên những gương mặt đầy nước mắt.
Và tôi sẽ mang niềm an ủi đến , khi họ đang đau đớn. Và tôi sẽ ban tặng hình thái niềm vui ở chốn đau buồn.
Tôi sẽ mời gọi kẻ quyết định ngưng cuộc chơi hãy tiếp tục bước đi...
Và tôi sẽ dang đôi tay ra để đón những người nhận thấy mình đã kiệt sức
Bởi vì ngay trong cơn sầu não, lúc nào cũng có một đứa trẻ đang nhìn ta, đôi mắt tràn đầy hy vọng, đang trông chờ ta sẽ làm gì cho bé, và ngay cả khi ta đang bị sầu não buồn phiền ray rứt, từ nơi nào đó ánh mặt trời sẽ luôn lóe sáng lên và ngay ở giữa sa mạc khô cháy một cành cây sẽ mọc lên.
Bên cạnh ta sẽ luôn có một con chim cất tiếng hát cho ta, một đứa trẻ mỉm cười với ta và một con bướm khoe sắc làm quà cho ta ngắm.

Nhưng..nếu một ngày nào đó bạn thấy ta không còn bước đi nữa, ta không còn mỉm cười hoặc ta trở nên im lặng, bạn chỉ cần đến gần ta và tặng cho ta một nụ hôn, ôm ta trong vòng tay của bạn hoặc chỉ cần bạn cho ta một nụ cười, bạn ạ.
Như thế là đầy đủ đối với ta rồi, vì chắc chắn ta quên rằng cuộc đời đã áp chế ta và đã bắt gặp ta như thế trong một phút giây nào đó.
Chỉ cần bạn thể hiện một động tác là ta đã có thể quay trở lại con đường ta đang đi..
Hãy nhớ nhé...

Khuyết danh (ALEXANDRE LECOUILLARD SUU TAM)
TháiLan chuyển ngữ

Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2026

Thật Hay Mơ - Nhạc Và Lời: Phạm Anh Dũng - SUNO Thực Hiện [Jazz]

Nhạc Và Lời: Phạm Anh Dũng
SUNO Thực Hiện [Jazz]

Đưa Em Lần Cuối

 

Đuờng Nguyễn Bỉnh khiêm buổi tan trường
Rợp bóng áo dài trắng Trưng Vương
Cô em xinh đẹp nghiêng vành nón
Tóc thề theo gió bay vương vương

Tôi đứng ngẩn ngơ bên kia đường
Đắm đuối nhìn theo bóng người thương
Em đi, tôi vội vàng theo gót
Lặng lẽ đưa em suốt quãng đường

Tôi về nắn nót mấy vần thơ
Trăng sao, hò hẹn với mong chờ…
Nói với em ngàn lời thương nhớ
Và cả sau này chuyện tóc tơ

Thơ tình vẫn dấu trong túi áo
Tôi ngại ngùng mãi chẳng dám trao
Chiều chiều vẫn theo em qua phố
Đêm về thao thức, dạ nao nao

Hè về phượng vĩ nở đầy bông
Áo trắng em bay trong nắng hồng
Lần cuối chia tay nơi góc phố
Tôi hỏi: mình sẽ gặp lại không?

Thẹn thùng em nói: mùa thu tới
Em thích mùa thu lá vàng rơi
Em đã hẹn và tôi vẫn đợi
Đếm từng ngày, mong lá mau rơi

Nhưng mùa thu tới, em bỏ trường
Để lại cho tôi bao nhớ thương
Hối tiếc cuộc tình chưa dám ngỏ
Muốn quên, mà lòng mãi vấn vương

Từ đó mỗi lần mùa Thu tới
Tôi lại buồn rầu đếm lá rơi
Trên con đường cũ đầy áo trắng
Nhưng em yêu giờ ở đâu rồi?

Đã mấy năm qua tôi vẫn mơ
Em sẽ về lại mái trường xưa
Lời hẹn hôm nào em còn nhớ?
Nơi góc phố xưa, tôi vẫn chờ

Rồi một ngày mưa đầu tháng tám
Em trở về trên chiếc xe tang
Tôi chít lên đầu vành khăn trắng
Đưa em lần cuối đến nghĩa trang

Lưu Phương Lan


Còn Câu Thơ Tình


Một mai anh đứt bóng sầu
Tinh hoa thơ dại còn câu thơ tình
Chân mây tay khói vô hình
Tinh anh quấn quýt hoài xin hẹn hò

Bắt đền hờn nhỏ ghen to
Ru thương dỗ nhớ quanh co hồng trần
Hoa mưa thơm ngọt trong ngần
Tình ca dao cuộn vòng ân đồi tình

Bờ mê yêu bến giác tin
Em nằm trăng mật cho nhìn tân hôn
Một lần nghìn kiếp hồng ơn
Sập trời động đất không sờn thơm tho

Nguồn đào nguyên nghĩa bóng cho
Vai kề má tựa câu hò đơm bông
Núi thương rừng nhớ suối sông
Chung thân hóa bướm ẵm bồng chân kinh

Tham thiền thêm đói cùng mình
Run tay lửa nhón gót nhìn hôn mê....

MD.11/14/09
LuânTâm

Khi Tóc Không Còn Xanh


Tôi thu xếp ít quần áo và vài thứ lặt vặt cần thiết vào trong chiếc va ly nhỏ, sửa soạn cho một chuyến đi vài ngày. Bác ruột tôi vừa qua đời tại thành phố Wichita tiểu bang Kansas. Gia đình bác mới từ Washington D.C. dọn về đây được mấy tháng nay.

Lòng tôi buồn vời vợi vì vợ chồng tôi đang ly hôn. Anh, người đàn ông thành đạt của tôi cũng là một người bay bướm trăng hoa. Suốt thời gian 20 năm chung sống tôi đã cố gắng chịu đựng vì con, vì muốn gìn giữ tài sản của gia đình không thể để mất vào tay người đàn bà khác.
Nhưng cho tới hôm nay thì sức chịu đựng của tôi đã cạn kiệt, như giòng nước lũ làm vỡ bờ chảy xối xả những giận hờn và đớn đau. Anh đã lừa dối tôi, có một tình yêu khác với một cô gái trẻ đẹp, chính anh thẳng thắn đề nghị ly hôn tôi để cưới cô gái đó làm vợ.

Nhân dịp về dự đám tang của bác , tôi đang muốn chạy trốn nỗi buồn của chính tôi. Sau những ngày tang lễ, tôi đã tâm sự với các anh chị họ về tình trạng gia đình tôi hiện nay. Khi đã chia sẻ được những điều đau khổ tôi thấy nhẹ lòng.
Wichita thành phố không qúa lớn cũng không qúa nhỏ và cũng chẳng có gì hấp dẫn tôi vào lúc này mà còn hai ngày nữa tôi mới phải trở về nhà, dù là ngôi nhà bất hạnh có người đàn ông tôi từng yêu thương qúy trọng nay đã quay mặt phản bội hất hủi tôi.

Tôi chợt nghĩ đến một nơi chốn để đến, để giết thì giờ trống vắng của tôi là thành phố Liberal và nhớ ra nơi đây tôi cũng từng có nhiều kỷ niệm. Từ Wichita đến Liberal chỉ 4 tiếng lái xe.
Thành phố Liberal nghèo nàn nhỏ bé với khỏang 15 ngàn dân, nơi mà ngày đầu tiên đến Mỹ gia đình chúng tôi đã ở đây và trong ký ức tôi cũng nhớ đến John, người bạn thân thuở đó. Thuở tôi mới 15 tuổi.

Gia đình chúng tôi đi vượt biển, đến trại tị nạn Bidong Mã Lai. Sau 9 tháng chúng tôi đến Mỹ nhờ sự bảo trợ của một gia đình mục sư người Mỹ. Đó là ông bà Smith, nhà truyền giáo, họ chỉ có 1 người con trai, anh tên John, lớn hơn tôi 1 tuổi. Năm ấy anh 16 mà đã phổng phao đẹp trai cao ráo.

Nhà chúng tôi ở không xa căn nhà của ông bà Smith, nơi hứơng Nam của thành phố Liberal. Nhà ông bà Smith đúng là một căn nhà nông thôn, mảnh sân rất to rộng phía trưóc trồng trọt dưa hấu, xung quanh nhà những cây lê, cây táo và cây đào lần lượt thi nhau nở hoa. Nhưng được trồng nhiều nhất là cây táo.

Tôi không có ai để chơi ngoài John hay sang nhà trò chuyện, mấy đứa em tôi cũng thích xúm vào hóng chuyện và cũng là cách để chúng tôi tập luyện tiếng Anh.Thỉnh thoảng tôi cũng chạy sang nhà John, nhất là vào những lúc cây có trái chín trên cành.

Ôi, tôi mê những cây táo vào mùa thu qúa, có loại mọc thẳng, cành vươn cao và trái cũng ở trên cao, có loại cành mềm, khi đậu trái thì chĩu cành lòa xòa sát xuống đất tôi chỉ việc ngồi xổm mà tha hồ hái trái.

Lại còn vườn dưa hấu trước sân tôi hay cùng John háo hức vạch tìm trong đám lá những trái dưa hấu nhỏ vừa hiện ra và thích thú theo dõi chúng cho đến khi lớn lên to tròn vươn lên khỏi đám lá. Không gì ngon ngọt bằng trái dưa hấu vừa cắt cuống trong vườn, bổ ra ăn ngay tại chỗ trong một buổi trưa hè mà John thường làm cho hai đứa cùng ăn.

John nói chuyện với tôi đủ thứ, từ những chuyện hàng ngày của anh cho đến những ước mơ mai sau, anh lấy vợ thì sẽ về sống ở một nông trại. Anh say sưa tả cái nông trại của gia đình anh trước kia ở tiểu bang Texas, có một căn nhà gỗ bề ngang dài, bên cạnh là chuồng bò bằng hàng rào gỗ sơ sài. Anh khoe biết cách vắt sữa bò.

Anh đã chạy rong trên cánh đồng có khô hay đi trên con đường đất mà mỗi khi gío mùa hè lồng lộng thổi làm tung bụi mịt mù và cả những khi mấy con bò đua nhau về chuồng cũng làm bụi mù tung lên như vừa trải qua cơn lốc gío.

Đất Texas có nhiều nơi khô cằn gần như sa mạc, cả mấy chục acre đất nhà anh với nhiều bụi xương rồng rải rác và những bụi cây đã là to lớn vĩ đại với thàng bé lên 10 như anh thuở đó. Anh yêu thích ở nông trại, một trời một cõi như của riêng mình.

Tôi cũng say sưa nghe John kể, như đi lạc vào một cảnh trong phim ảnh, vì nó xa lạ với tôi, chứ tôi chẳng đời nào thích sống ở những nơi khỉ ho cò gáy như thế.

Tôi thua John một tuổi mà suy nghĩ của tôi già dặn và thực tế hơn John.

Tôi luôn mơ nước Mỹ với những thành phố nhộn nhịp phồn hoa như New York mà tôi đã thấy trong phim ảnh làm tôi thích thú, tôi sẽ dạo bước trên những vỉa hè có những cửa hàng sang trọng. Cuộc sống sẽ là một chuỗi ngày vui..

Hai năm sống ở Liberal thì cha mẹ tôi quyết định sẽ dọn đi tiểu bang khác, vì tương lai của mấy chị em tôi, để chúng tôi được sống ở thành phố lớn, học ngôi trường lớn và có cộng đồng người Việt Nam đông hơn. Tôi qúa chán thành phố Liberal nhỏ bé này rồi và đã đợi chờ quyết định này của cha mẹ từ lâu.

Thành phố gì mà chỉ có 1 phi trường nhỏ xíu, chỉ đủ cho mấy chiếc máy bay nhỏ thỉnh thoảng đến rồi đi, lặng lẽ, buồn hiu. Muốn đầy đủ tiện nghi, người ta phải đến phi trường ở thành phố Wichita hay Amarillo.

Ngay chiều hôm đó, tôi hí hửng chạy sang nhà John để báo tin vui này. Đó là một buổi chiều mùa hè đầy nắng.
Tôi quen thuộc thò tay vào trong mở chốt cánh cổng rào bằng gỗ ngoài sân, mỗi lần đến nhà John tôi đều nhanh nhẩu làm thế, tự nhiên như nhà mình và đi bộ trên con đường dài mà hai bên là vườn dưa hấu đang độ chín, trước khi đến căn nhà nhỏ bằng gỗ khiêm nhường.
May qúa John có nhà, mà mấy khi John đi vắng đâu, anh thích ở nhà giúp cha mẹ làm vườn, ngoài những khi thỉnh thoảng theo cha mẹ đi truyền đạo trong thành phố vào dịp cuối tuần.
Trời nắng nên tôi và John không hẹn mà cùng bước về phía những cây táo trồng quanh mảnh sân trước, nơi mà chúng tôi thường đến đó tán gẫu và ngắm hoa táo nở đẹp vào tháng năm hay hái táo vào cuối tháng chín, cùng ăn, cùng chia nhau nếm thử quả táo chua ngọt đầu mùa với niềm vui thích..

Tới một cây táo to lớn, cành rậm rạp, tháng này táo đang kết trái sau một mùa hoa xum xuê. John ngồi xuống trước rồi đến tôi. Tôi chẳng thèm ngắm những trái táo xanh nhỏ dễ thương trên cành mà lên tiếng hớn hở khoe ngay:
- Anh John ơi, gia đình tôi sắp rời khỏi thành phố này rồi.
Mặt Johm hoảng hốt như vừa nghe một tin kinh khủng lắm:
- Sao? Em sẽ đi…có thật không?
- Thật đấy, bố tôi nói cuối tuần này sẽ dọn đi. Ngày mai cha mẹ tôi sẽ sang từ gĩa cha mẹ anh. Bây giờ tôi sang để chào tạm biệt anh đây.
Giọng John vẫn bàng hoàng:
- Em sẽ trở lại đây không?
Thấy gương mặt buồn lo của John, tôi tội nghiệp hứa liều không cần suy nghĩ:
- Chắc chắn tôi sẽ trở lại thăm John và cha mẹ của John chứ. Vì cha mẹ John là người đã giúp đỡ gia đình tôi rất nhiều khi mới đặt chân đến Mỹ mà.
John bỗng vụt đứng dậy:
- Hãy đợi anh ở đây, anh sẽ trở lại ngay trong giây lát. 

John chạy bay vào nhà và lại chạy bay ra chỗ cây táo, không để tôi phải đợi lâu, anh đưa cho tôi một mảnh giấy nhỏ có ghi sẵn tên John và số điện thoại nhà anh, mà chắc là anh vừa ghi vội, giọng anh tha thiết như năn nỉ:
- Em hãy giữ lấy số điện thoại này, khi nào đến nơi ở mới thì liên lạc với anh. Em hứa đi!
Tôi cảm động, một lần nữa tôi hứa liều:
- Vâng, khi có nơi ở mới tôi sẽ gọi cho anh.
- Đừng thất lạc nhau nhé. Em hứa đi!
- Vâng, không bao giờ !
Nhưng khi đến California thì tôi bận rộn với cuộc sống mới và những lời hứa vội vàng với John bỗng chỉ là một trò đùa, tôi vứt đi mảnh giấy mà anh đã kỳ vọng trao vào tay tôi, đã dặn dò tôi và chắc là đã chờ đợi mỏi mòn kể từ ngày tôi rời thành phố nhỏ.

Nối lại nhịp cầu liên lạc với John làm gì trong khi ở cái tuổi 17 tôi mơ hồ hiểu John đã yêu thích tôi, mà tôi dù có cảm tình với anh thì tôi cũng không thể nào lấy anh, vì mộng ước của anh và tôi hoàn toàn trái ngược. Đành rằng gia đình anh là người ơn của gia đình tôi, họ hiền lành đạo đức, John sẽ là người chồng, người cha tốt như tấm gương của cha mẹ anh, nhưng tôi không thể lấy người chồng ít học làm nông trại và tôi chỉ quanh quẩn sống với chồng trong mấy chục acre đất hoang vu, chốn đồng khô cỏ cháy với mấy con gà, con bò như anh đã vẽ ra..

Tôi đã có lần hóng nghe khi vài bác đồng hương Việt Nam đến Mỹ từ lâu nói chuyện với cha mẹ tôi. Họ kể chuyện nhà nông Mỹ của năm nào đó, trồng 1-acre bắp chỉ bán được khỏang 80 đồng theo gía sỉ, hay những vụ cam trúng mùa ở Florida, gía cam bán ra mà như cho không, chỉ 50 cent cho một thùng cam và những vụ khoai tây trúng mùa ở Idaho cũng xuống gía rẻ bèo như thế.

Giấc mơ tuổi mới lớn của tôi là giàu sang phú qúy, lấy người chồng có địa vị, học cao hiểu rộng.
Ở thành phố mới tôi đã miệt mài học hành, chính bản thân tôi cũng sẽ vươn cao. Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi đi làm và kén chọn người chồng tương lai. Tôi đã bỏ qua nhiều cơ hội lập gia đình vì chê họ không xứng đáng với tôi, cho đến khi gặp người chồng hiện tại. Năm ấy tôi đã ngoài 30 tuổi, chồng tôi là một người thành đạt trong học vấn và trong kinh doanh. Tôi đã đạt được ước mơ và vui hưởng hạnh phúc trong những năm đầu.


Tôi quyết định mượn xe người nhà để lái từ thành phố Wichita đến thành phố Liberal, tò mò thăm lại gia đình ông bà Smith và John của ngày xưa, xem họ thế nào.
Tôi hình dung ra ông bà Smith đã già, họ đã nghỉ hưu không đi truyền giáo nữa.
Còn John đã có vợ con và đang sống ở một trang trại nào đó, anh John sẽ là hình ảnh ông Smith nông dân chất phác và hiền hậu ngày xưa, anh chăm chỉ lao động nuôi bò, trồng trọt, các con anh sống và lớn lên ở nông trại, chúng biết cách vắt sữa bò và bám lấy nông trại không dám đi đâu xa giống như anh.

Sau 4 giờ lái xe, tôi đã trở về nơi chốn cũ.
Thanh phố nhỏ, đường kính lớn khỏang hai miles thì có gì là khó mà không tìm ra ngôi nhà của ông bà Smith nơi cuối phố, dù tôi đã xa cách gần 40 năm rồi. Nhưng tôi vẫn hỏi thăm, có vẻ như gia đình Smith có uy tín với cư dân ở đây lắm, ai cũng biết ông bà Smith và người ta nói nhà Smith vẫn ở chỗ cũ.

Khi tôi xuống xe, đứng ngẩn ngơ nơi cánh cổng rào gỗ năm xưa, bỗng thấy ngậm ngùi, có thể cánh cổng gỗ đã từng hư cũ, từng được thay đổi, làm lại cái khác nhiều lần rồi và cái chốt mở cửa không phải là miếng gỗ mà tay tôi đã từng chạm vào năm xưa, nhưng vẫn giống thế và như thể vẫn chờ đợi tôi trở về để chạm tay vào.

Tôi run run thò tay vào mở chốt cửa, lại ngậm ngùi hơn vì ngẫu nhiên bây giờ đang là mùa hè, hai bên lối đi của mảnh sân vẫn trồng dưa hấu, lá xanh rậm rạp và xung quanh vẫn là những cây đào, cây lê, cây táo dù có thể những loại cây này năm xưa đã gìa, đã cằn cỗi, được thay thế bằng những cây trồng sau này. Thế giới đổi thay bao nhiêu thứ mà nhà ông bà Smith dường như không hề thay đổi. Khu vườn của họ vẫn là những hình ảnh cũ.
Tôi đi vội trên con đường dài, hồi hộp nhìn chăm chăm vào ngôi nhà trước mặt đang đóng cửa, không còn tâm trí nào nhìn ngắm vườn dưa hấu xem có nhiều trái hay không. Tôi gõ cửa và chờ đợi.

Mãi sau mới có tiếng mở cửa, hiện ra trước mặt tôi là bà Smith già nua, bà đã gìa đi rất nhiều -dĩ nhiên- Sau vài phút ngỡ ngàng nghe tôi tự giới thiệu kỹ càng từng chi tiết cuối cùng bà Smith đã nhận ra tôi, bà mời tôi vào nhà, rưng rưng nước mắt bà trách móc:
- Thì ra là cô, tại sao mãi hôm nay cô mới trở lại đây? John đã chờ đợi cô mấy năm trời.
Tôi ngạc nhiên và xúc động, nước mắt cũng rưng rưng như bà Smith:
- Thật thế sao? Tôi xin lỗi, tôi vô cùng xin lỗi vì đã không thực hiện điều đã hứa với John
- Cô đâu có biết, ngay khi gia đình cô đi được một tuần là John đã chờ đợi cô gọi phone về từng ngày. Nó luôn tin tưởng cô sẽ gọi phone cho nó và một ngày nào cô sẽ trở về Liberal.
Bà Smith gục đầu xuống và khóc nấc lên, kể tiếp:
- Nó đau khổ và héo hon cho đến khi hoàn toàn tuyệt vọng…
- Trời ơi, tôi không ngờ…
Tôi cố ngăn giòng nước mắt, vuốt ve cánh tay bà an ủi như an ủi cho chính mình và hỏi thăm:
- Số phận tôi và John không thể gần nhau thôi mà. Bây giờ anh ấy ra sao?
- Sau đó John lấy vợ, Christine là con gái một nhà truyền giáo bạn thân của vợ chồng tôi, cô gái hiền lành ngoan ngoãn và rất yêu John, đã làm lành vết thương lòng của John. Nhà vợ chồng nó cũng ở gần đây.
- Thế anh ấy không sống ở nông trại như anh ước mơ sao?
Bà Smith lau nước mắt, thoáng một niềm vui:
- Đó chỉ là ước mơ của một thằng bé tuổi vị thành niên, một thằng bé nhà quê mà suốt thời thơ ấu sống nơi trang trại. Khi John và Christine yêu nhau, cả hai cùng vào đại học. Họ đã tốt nghiệp y khoa và đang hành nghề bác sĩ ngay tại thành phố Liberal này.
Tôi ngạc nhiên đến ngẩn ngơ:
- Không ngờ John học giỏi và có chí đến thế!
- Tôi tin là nhờ có tình yêu của Christine và Chúa đã phù hộ cho nó.
- Với nghề nghiệp bác sĩ cả hai vợ chồng John có thể đi đến những thành phố lớn lập nghiệp dễ dàng, nhưng sao họ vẫn ở lại nơi đây?
- Hai vợ chồng John có phòng khám ở đây, được nhiều người thương mến vì họ thường khám bệnh giá rẻ cho những người nghèo lợi tức thấp,

Bà Smith kể:
- Với lại chúng tôi đã quen sống ở thành phố nhỏ, từ ngày ông Smith mất đi, John càng không muốn xa mẹ. Nhưng nó dù bận hành nghề vẫn không quên phụ giúp tôi gieo trồng và làm vườn mỗi khi mùa Xuân về. Đó là niềm yêu thích của John, của chúng tôi.

Họ thật thủy chung, bao năm qua vẫn ở nơi này ở căn nhà này dù họ có điều kiện để thay đổi. Bao năm qua họ vẫn trồng trọt làm vườn như nhà nông khi đến mùa dù họ có là ai đi nữa.
Tôi đứng dậy chào tạm biệt bà Smith. Bà bỗng run run nắm cánh tay tôi, lo lắng dặn dò:
- Phải đấy, cô nên về ngay đi và xin cô hãy hứa với tôi một điều.
Tôi nói với tất cả chân tình:
- Tôi xin hứa bất cứ điều gì tôi có thể.
- Cô hãy đi và đừng bao giờ trở về đây nữa, bao nhiêu năm qua vết thương lòng của John đã lành. Tôi tin là John đã quên cô, nó đang sống yên vui hạnh phúc bên vợ con. Nếu cô xuất hiện biết đâu sẽ gợi lại nỗi đau cũ. Cô hãy hứa lại một lần nữa cho tôi yên lòng.
Tôi chậm rãi nói từng lời rõ ràng cho bà Smith nghe rõ:
- Tôi xin hứa đây là lần đầu cũng là lần cuối cùng tôi đến đây. Chào bà.

Tôi đi ra cửa, buớc trên con đường thân quen của thuở tôi 17 tuổi lòng đầy kiêu kỳ tham vọng và John 18 tuổi hãy còn ngây thơ ngốc nghếch, muốn tán tỉnh tôi mà lúc nào cũng đưa ra một ước mơ nghèo nàn, đơn giản. Tình yêu chân thật của anh John nhà quê chẳng mấy khi đi đâu xa khỏi cái tiểu bang Kansas với những cánh đồng lúa mì mênh mông chỉ là một trò cười đối với tôi.

Nhưng hôm nay, ở cái tuổi không còn trẻ nữa, khi mái tóc không còn xanh nữa, sau những vật chất phù hoa tôi đã nếm biết bao vị đắng, trải qua bao phũ phàng của tình nghĩa vợ chồng. Và sau cuộc trò chuyện với bà Smith, tôi chợt nhận ra một tình yêu hồn nhiên trong sáng của John dành cho tôi.

Cái hạnh phúc mà bây giờ vợ của John đang hưởng bên người chồng hiền lành nhân hậu tôi biết là vững chắc đẹp đẽ biết bao nhiêu. Điều mà tôi không hề có.
Tôi chợt nghĩ đến mấy câu thơ tôi đã đọc đâu đó và yêu thích:

Ngày mái tóc không còn xanh được nữa,
Ngày đôi tay thôi dệt mộng phù hoa,
Thì em sẽ vì anh mà mở cửa,
Trông lên trời đếm hàng vạn sao sa.

Giờ đây không có ai, không có một tình yêu nào để cho tôi thể hiện sự thủy chung đằm thắm đơn giản như thế….
Khi ra đến ngoài cổng, tôi quay lại khép cánh cổng rào bằng gỗ. Tôi biết mình vừa khép lại một qúa khứ, một tình yêu tươi đẹp như bầu trời xanh và mất nó vĩnh viễn.

Nguyễn Thị Thanh Dương
( 2008)

Thứ Năm, 26 tháng 3, 2026

Chén Tương Tư

 

( Rất thân mến tặng Kim Loan
để thấy thêm một “ thể “ tình yêu nữa
Thay lời Cám Ơn Kim Loan.)

Ta đợi người như nắng ngóng mưa
Trời đang chuyển gió, mây lưa thưa
Biển không băng giá mà sao lạnh
Người ở phương nào, nhung nhớ chưa
 
Buổi chiều đất khách, buồn mênh mông
Ta gối tay ta, sầu chất chồng
Cứ mỗi lần yêu là cách trở
Thì thầm: “ người có bỏ ta không “
 
Ta đã quen lời nói hững hờ 
Nhủ rằng: thôi, tất cả cho ...thơ
Người không thần thánh, không chi cả
Hãy thức trăm năm ủ mộng vờ
 
Ừ thì, ta sẽ để người xa
Xa thật là xa, hứng lệ sa
Vào chén tương tư, quên phiền muộn
Bão đang nổi sóng ở chung trà ... 

Cao Mỵ Nhân

Em Đừng Hỏi - Sáng Tác: Lưu Nguyễn Đạt

Sáng Tác: Lưu Nguyễn Đạt

Dáng Ai

 

Thuở ấy…anh mơ dáng ai

Một thời hương sắc chẳng tàn phai!

Đã ngự vào tim anh nóng bỏng…

Cầu xin mây gió…khó phai nhòa!


Muôn loài …hòa hợp yêu thương

Dìu nhau đi khắp nẻo đường…

Rớt rơi…những điều gian dối…

Lời lẽ con tim…nẽo vấn vương!


Vấn vương…ngọt lịm mãi cho đời

Khúc ân tình xao xuyến hồn tôi

Thì thầm…cho trời yên, bể lặng…

Khơi dậy tâm linh…bến tuyệt vời!


Tuyệt vời…vì đã có em

Suốt đời anh thỏa mãn mong thèm

Quấn quýt hồn nhau khung trời mộng

Thuyền tình lữ khách mãi ấm êm


Tô Đình Đài

Phân Biệt Thiền, Định Và Tuệ: Khi Cái “Tôi” Đổi Trang Phục

  

Chánh kiến để không lạc đường

Trong hành trình tu tập, nếu không có Chánh Kiến soi đường, ta rất dễ nhầm lẫn giữa trải nghiệm thiền, định, và tuệ giác — ba điều mật thiết nhưng không phải là một.

Nhận ra sự khác biệt này giúp ta tránh một nhầm lẫn rất hay gặp : hễ thấy tâm yên yên một chút là tưởng mình… sắp chứng đắc.

1. Trải nghiệm thiền: Những “món quà” dọc đường

Trải nghiệm thiền là những gì khởi sinh trong quá trình thực hành thiền Chánh niệm hay Vipassana. Khi tâm bắt đầu lắng, bạn có thể cảm thấy nhẹ nhàng, rỗng rang, thậm chí là cảm giác “lâng lâng – tan biến” đầy hỉ lạc.  Đây chính là một cái bẫy ngọt ngào.

Trải nghiệm thiền giống như thời tiết: hôm nay nắng đẹp không có nghĩa là khí hậu đã thay đổi. Nếu ta bắt đầu nghĩ “À, trạng thái này đặc biệt quá, chắc mình tiến xa rồi”, thì cái “tôi” chỉ đang… đổi trang phục.

  • Nó trút bỏ bộ đồ đời thường đầy âu lo.

  • Nó khoác lên bộ áo gấm thiền định lấp lánh.

  • Cái tôi lúc này không mất đi — nó chỉ trở nên vi tế, “đạo mạo” và khó nhận diện hơn.

2. Định và Tuệ: Lau gương hay Soi gương?

Sâu hơn một tầng là Định (Samādhi). Lúc này, tâm vững chãi, ít dao động. Nhưng không chỉ vậy — khi Định đủ sâu, tâm trở nên trong suốt đến mức những dao động nhỏ nhất của nội tâm cũng hiện rõ, như mặt hồ phẳng lặng phản chiếu từng gợn mây trôi.

Định là nền tảng không thể thiếu cho Tuệ, nhưng Đức Phật dạy rằng Định chỉ là phương tiện, không phải cứu cánh. Hãy thử hình dung:

  • Trải nghiệm thiền: Giống như cảm giác mát rượi khi chạm tay vào nước.

  • Định: Giống như việc bạn lau sạch mặt gương — tạo ra một bề mặt tĩnh lặng và sáng bóng.

  • Tuệ: Là việc nhìn vào chiếc gương sạch đó để thấy rõ những gì đang phản chiếu.

Nếu chỉ mải mê ngắm cái gương sạch bóng mà quên mất việc soi, thì ta chẳng khác nào người ngồi ngắm gương cả buổi mà vẫn không biết mặt mình đang dính gì.

3. Tuệ giác: Sự thong dong không màu mè

Tuệ giác (Paññā) không phải là một trạng thái cảm xúc để ta cố công cầm giữ, bởi Tuệ vốn không đến rồi đi như những cảm thọ thông thường. Tuệ là cái thấy trực tiếp về bản chất thực tại: thấy rõ mọi thứ luôn biến dịch (Vô thường), bám vào là bất toại nguyện (Khổ), và sâu sắc nhất — thấy rõ không có một “cái tôi” cố định nào đứng sau điều khiển (Vô ngã).

Nếu Định là ngọn đèn được che chắn kỹ để không chao đảo trước gió, thì Tuệ chính là ánh sáng phát ra từ ngọn đèn đó. Ánh sáng ấy không được tạo ra để ta “tận hưởng”, nó hiện diện để soi tan bóng tối của sự lầm chấp. Một khi bạn đã thực sự nhìn thấy sợi dây không phải là con rắn, cái “biết” đó là vĩnh viễn — bạn không cần phải cố gắng “giữ” hay duy trì cái thấy đó mỗi ngày nữa.  Tuệ giác đích thực là một sự chuyển hóa về chất, không rực rỡ, nhưng âm thầm,  không đến rồi đi như các tầng định, mà tiếp tục làm đổi hướng toàn bộ cách ta nhìn và sống.

4) Điểm khác biệt cốt lõi:

Trải nghiệm thiền thì thú vị. Định thì vững chãi. Tuệ thì thong dong — không phải buông xuôi, mà là không còn bị kéo lôi bởi cảm xúc hay nhu cầu khẳng định cái tôi. Ba điều này không loại trừ nhau, nhưng chỉ Tuệ mới thực sự làm nhẹ gánh.

5. Dấu hiệu của Tuệ trong đời sống

Tuệ không nằm trên bồ đoàn, mà hiện rõ khi ta bước vào đời. Phản ứng bắt đầu chậm lại — không phải vì cố kìm, mà vì tự nhiên có một khoảng dừng. Cảm xúc vẫn đến, nhưng ta không còn đồng hóa với nó như trước; không bùng nổ phản ứng như trước; từ diễn viên chính, ta lùi về làm người quan sát. Và nhu cầu khẳng định bản thân cũng bớt dần — đến mức có thể mỉm cười nhận ra: À, anh bạn nhiễu sự này vẫn còn — chỉ là thay bộ đồ bảnh bao hơn thôi.”

Kết 

Tóm lại, con đường thiền không phải là hành trình sưu tập những trải nghiệm đẹp, mà là quá trình nhìn thấy mọi trải nghiệm đúng như nó là. Khi thấy đúng, tâm tự buông. Khi buông, khổ tự giảm. Và khi cái “tôi” không còn được nuôi bằng sự bám víu, nó dần nhỏ lại — đến mức ta thấy mình vẫn sống, vẫn làm việc, nhưng không còn phải ôm chặt lấy mình như trước nữa.

“Tất cả pháp là vô ngã. Với Tuệ, khi quán sát, đau khổ được từ bỏ. Đây là con đường thanh tịnh.” (Kinh Pháp Cú, câu 279) 

Và có lẽ, đến một lúc nào đó, ta chợt nhận ra: không phải mình buông — mà chưa từng có gì để nắm.

CQ

PAD Chuyển

Thứ Tư, 25 tháng 3, 2026

Thu Lỡ Làng - Sáng Tác: Nguyễn Văn Thành - An Minh

Sáng Tác: Nguyễn Văn Thành
Trình Bày: An Minh

Thu Tha Hương

 

Lại một mùa Thu đến nữa rồi!
Sương Thu mờ mịt, lá vàng rơi
Gió Thu se lạnh ngoài song cửa
Một mảnh trăng Thu tận cuối trời.
Thu đến, Thu đi, Thu lại đến
Quê hương bỏ lại mấy Thu rồi
Mong có một ngày về cố quốc
Đường vế chốn cũ quá xa xôi.
Chiều Thu chạnh nhớ về quê Mẹ
Thẫn thờ nhìn chiếc lá Thu rơi
Thương chiếc lá vàng bay theo gió
Tha hương buồn lắm lá vàng ơi!

Hoa Đô (Lockwood House)
Trần Công/Lão Mã Sơn/ Tiền Giang Khách

Tĩnh Lặng...

 
Tranh:Tĩnh Lặng (Méditation)-Tuyết Phan

Lá vàng từng chiếc buông lơi
Nhẹ nhàng lơ lửng giữa trời ban mai
Lá rơi nhẹ bước gót hài
Ru hồn tĩnh lặng tâm cài sen tươi

Mưa Đông rơi ướt môi cười
Ngân vang tí tách ru hời thêm duyên
Thả hồn buông nhẹ quên phiền
Tâm tư nhẹ lướt cửa thiền tỏa lan

Cửa Chùa ươm hạt nắng vàng
Tiếng chuông Bát Nhã nhẹ nhàng buông lơi
Tâm Thiền hướng nguyện đầy vơi
Chuông chùa vang vọng tâm khơi an lành

Ta Bà hỉ nộ triền miên
Nhân sinh ái ố trầm luân thế trần
Từ bi bác ái nhân hòa
Thân tâm tĩnh lặng cõi nào bình yên ?!


Tuyết Phan 
 03--2026

Tiếc Thương Một Thuở

 

Xướng:

Tiếc Thương Một Thuở

(Song điệp thủ ngữ)

Liếc liếc mi cong kéo chạnh lòng,
Hừng hừng môi má luyến hoài trông.
Thương thương đắm đuối khôn bày tỏ,
Nhớ nhớ mơ màng khó đợi mong.
Mịt mịt cõi trời mây trống vắng,
Mờ mờ xứ tạm bóng huờn không.
Hiu hiu gió nhắc se tim động,
Tiếc tiếc … đành cam mất dáng hồng.

Buồn buồn thơ vận diễn lông ngông.
Hồ Nguyễn
(26--01-2026)
***
Họa: 

Ngơ Ngẩn Tình Sầu

Hờ hờ hững hững khiến đau lòng
Thẫn thẫn thờ thờ, dạ ngóng trông
Cách cách xa xa, người mãi né
Chờ chờ đợi đợi, kẻ hoài mong
Ngây ngây dại dại, tình vô vọng
Não não sầu sầu, mộng trống không
Vất vất vơ vơ ngày lại tháng
Ngơ ngơ ngẩn ngẩn nhạt môi hồng.

Sông Thu
(22/03/2026)
***
Song Điệp Thú Ngữ

Huyễn huyễn mơ hoa khiến não lòng
Thờ thờ thẫn thẫn mỏi mòn trông?!
Mang mang hoài niệm vương nhung nhớ
Lặng lặngưu sầu hẫng đợi trông?!
Bạc bạc mây nhòa mầu ảo ảnh
Mờ mờ sương tỏa sắc hư không?!
Se se tấc dạ, hồn the thắt
Bọt bọt son phai lợt mộng hồng!

Nguyễn Huy Khôi
(22-3-2026)


Thử Tìm Xuất Xứ Bài Vọng Cổ - Trần Kiêm Thêm (Huỳnh Chiêu Đẳng Sưu Tầm & Biên Soạn)


Một Giai Đoạn Của Lịch Sử


Năm 1918, sau khi đặt nền móng xong các cơ cấu chính trị, quân sự, người Pháp thật sự đô hộ nước ta. Việt Nam sau hơn một ngàn năm bị đô hộ bởi Trung Hoa, kế đến nước Pháp với mộng bành trướng lãnh thổ, đã đem quân viễn chinh chiếm lấy toàn cõi Đông Dương. Các nhà nho, các nhà cách mạng đứng trước gông cùm cửa ách nô lệ, trước những thay đổi của thời đại với một phong hóa suy đồi, tang thương ngẫu lục, họ hết dối đau lòng. Nho học đã nhường chỗ cho Tây học:


Cái học nhà Nho đã hỏng rồi,

Mười người theo học chín người thôi.


Tinh thần sĩ phu của các nhà nho trước biến cố của thời đại, trước những trở nhố nhăng của xã hội mới:


Bà con tênh hếch xem bôi trải,

Thằng bé lom khom ghé hát chèo.

Cây sức dây đu nhiều chị nhún,

Tham tiền cột mỡ lắm anh leo.

(Trần Tế Xương)


Thái độ của các nhà nho đã thật rõ rệt. Một số rút vào các chiến khu, chiêu mộ quân dân kháng chiến chống Pháp như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám Nguyễn Thiện Thuật, Phan Văn Trị, Tôn Thọ Tường... Họ chiêu binh mãi mã đánh quân xâm lược. Nhiều nhà nho đã có óc tiến bộ, bôn ba hải ngoại để cầu viện quốc quân ít thể có như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng...

Cuộc chống Pháp đã rất khó khăn, vì quân Pháp với đầy đủ vũ khí tối tân, với đoàn quân tinh nhuệ, trong khi đó các nhà nho chỉ có một tấm lòng yêu nước, thật là một cảnh châu chấu đá xe. Đọc một đoạn thơ Phan Đình Phùng trả lời Hoàng Cao Khải thì rõ:

"Song le, tâm sử và canh ngô của tôi có nhiều nỗi muốn van khó khăn hết sức. Xem sử thế thiên hạ như thế kia, mà tài học tôi như thế này, y như lời cổ nhân đã nói thân con bọ ngựa là bao mà dám giơ cánh tay lên muốn cản trở cỗ xe sao nổi mà không biết ! Việc tôi làm ngày nay, sánh lại con quá hờn nữa, chẳng phải như chuyện con bọ ngựa đưa tay ra cản cỗ xe mà thôi.

"Nhưng tôi ngẫm nghĩ lại, nước nhà mình mấy ngàn năm nay, chỉ lấy văn hiến truyền nối nhau đời này đến đời kia đất nước chẳng rộng, quân lính chẳng mạnh, tiền của chẳng giàu, nhưng có thể ỷ thì dựa nương đã dựng nước được là nhờ cái gốc vua tôi, cha con theo đạo thường mà thôi. Xưa kia nhà Hán, nhà Đường, nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh bên Tàu, bao nhiêu phen lăm le muốn chiếm lấy đất ta làm quận huyện của họ mà vẫn không chiếm được.


Ôi ! nước Tàu với nước ta, bờ cõi liền nhau, sức mạnh vạn bội thế mà trước sau họ không thể mạnh mà nuốt trôi nước ta được. Đến nay người Pháp với mình cách xa không biết là mấy muôn dặm, họ vượt bể lại đây, đi tới đâu như là gió lướt tới đó, đến nỗi nhà vua phải chạy, cả nước lao xao, bỗng chốc non sông nước mình biến thành bờ cõi của người ta, thế mà trọn cả nước nhà, dân nhà cũng bị đắm chìm hết thảy, chớ có phải riêng một châu nhà ai phải chịu cảnh lầm than mà thôi "

Trong một đoạn khác, bức thư viết:

" Từ lúc tôi khởi nghĩa đến nay, đã phải mười lăm năm trời, những người đem thân làm việc nghĩa, hoặc là bị trạch phạt, hoặc là bị chém giết, vậy mà lòng người trước sau chẳng hề lấy thế làm nản chí ngã lòng bao giờ. Trái lại số người mạnh bạo ra theo tôi càng ngày càng nhiều thêm mãi. Nào có phải người ta lấy điều tai vạ hiểm nguy làm sự sung sướng thêm thuồng mà bỏ nhà dấn thân ra theo tôi như vậy đâu. Chỉ vì họ tin cậy lòng tôi, lường xét trị tôi, cho nên hâm hở như vậy thôi. Ấy lòng người như thế, nếu như cố nhân đặt mình vào cảnh của tôi, liệu chứng cố nhân có nỡ lòng nào bỏ đi cho đành hay không ? "

"... Phải biết quân Pháp đi tới có lữ thiếu nhân mình của ta rẫy kệ lập công, thử vơ oan cha, những người không có tội gì chung cũng đâm thọc, buộc ràng cho người ta có tội, phạm có cách gì đục khoét được của cải của dân, thì chúng nó cũng dùng tới hết thảy. Bởi thế mà thói hư mối tệ tuôn ra cả trăm cả ngàn, quân Pháp làm sao biết thấu cho cùng những tất khổ của dân trong chốn làng xóm quê mùa như thế thì bảo dân không phải tản lìa trôi dạt đi sao được ".

Tinh thần cách mạng của các nhà nho tưởng nhiều thế hệ sau nên lấy đó làm khuôn vàng thước ngọc để xử thế.

Nhưng như ta đã thấy, quân Pháp với đầy đủ quân bị tối tân. Thứ nữa họ lắm bạc nhiều tiền sẵn sàng mua chuộc hàng sĩ phu ham mồi phú qúi, nhưng vẫn còn một chút lương tri nghĩ tới quốc gia dân tộc. 


Xem một đoạn thư thuyết hàng của Hoàng Cao Khải thì biết rõ:

"Nay nhân quan Toàn Quyền trở lại, đem việc ở tỉnh ra bàn bạc với tôi; có khuyên tôi sai người ngỏ ý cùng Ngài biết rằng: "Ngài là bậc người hiểu biết nghĩa lớn, dẫu không bản lòng tướng nghị gì đến thân mình nhà mình nữa, thì cũng nên tưởng nghĩ cứu vớt lấy dân ở trong một địa phương một mới phải. "Lời nói đó, quan Toàn Quyền không nói với ai, mà nói với tôi, là vì cho rằng : tôi với Ngài có tình xóm làng cũ có rượu với nhau, chắc hẳn tôi nói Ngài nghe được, vậy có lẽ nào tôi làm thinh không nói ....ÔI ! Làm người trên phải có lòng thương yêu dân làm cốt, chứa từng có ai không biết thương dân mà bảo là trưng với vua bao giờ. Việc của Ngài làm từ bấy lâu nay bảo rằng trung thì thật là trung, song dân ta có tội gì mà vương phải nỗi lầm liệt than thế này là lỗi tại ai ? Nếu bảo là vì thiên hạ thì không biết chỉ tới nhà nữa cũng phải, nhưng một nhà của mình đã như vậy, chứ còn bao nhiêu nhà ở trong một vùng cũng bỏ đi cả, sao cho đang tâm ? Tôi nghĩ nếu Ngài cứ khăng khăng làm trận tôi mãi, thì e rằng khắp cả sông Hồng núi Lam, đều biến thành hổ cả hết thảy, chớ không phải chỉ riêng lọ cho quê hương điêu đứng xiêu tàn, tướng chắc bậc người nhân nhẫn, quân tử không lấy gì làm vui mà làm thì phải ".

Các nhà viết sử sau này luận bức thư thuyết hàng trên đây là ngụy biện, không đúng tinh thần của một nhà nho yêu nước.


Đứng trước những khuynh hướng và thái độ của các sĩ phu lúc bấy giờ. Thật khó mà phân định cho một nếp sống vững vàng. Những dẫu sao hình ảnh quật cường của một dân tộc đã được thể hiện qua thơ văn yêu nước thời đó. Thái độ của chúng ta, những người đang sống nói hải ngoại nên nung đúc tinh thần cách mạng ấy như là một đường hướng tốt cho phương cách xử thế hôm nay và mai sau.

Đúng luận sự hỗn thua của những phong trào cách mạng thời bấy giờ như Phong trào khởi nghĩa Yên Bái, Phong trào Văn Thân, Phong trào Đông Du.... Có thể trước sức mạnh của kẻ địch, các phong trào kể trên đã tan vỡ. Chúng ta chỉ ghi nhận cái thiện chí, lòng yêu nước vô bờ bến của họ là đủ.

 

Thử Tìm Xuất Xứ Bài Vọng Cổ

Trần Kiêm Thêm

 

DI TÌM XUẤT XỨ BÀI VỌNG CỔ


Như đã trình bày ở trên, trước những thất bại ê chề của các nhà cách mạng, nhưng phong trào khởi nghĩa. Thái độ của các nhà yêu nước lúc bấy giờ hoặc là chết làm liệt như các Liệt sĩ Hoàng Hoa Cường, hoặc là lui về ở ẩn trong các làng thôn, mượn lời thơ để trang trải nỗi lòng chuyên chở niềm đau dân tộc.


Vào năm 1920, một nhà sư đang tầm thuốc, mắt sáng, vừng trán rộng đến cư ngụ tại làng Hòa Bình tỉnh Bạc Liêu. Không ai biết sư ông từ đâu đến, sau nay người ta mới hay vị sư là một trong những nhà cách mạng trong nhóm Văn Thân chống Pháp. Thất bại trong việc chống thức dân nên tìm về nương náu trong một ngôi làng nhỏ bé. Cũng không ai biết nhà sư tên họ là gì, ngài xưng pháp danh là Nguyệt Chiếu. Đàm đạo với nhà sư mới biết sư ông là một nhà uyên thâm, học rộng hiểu nhiều, thuộc làu kinh sử. Ngài từng thuyết pháp đạo vô thường nghĩa từ bi và lý lẽ của Tứ Diệu Đế. Ngoài ra Ngài con là một nhà thơ nữa. Thơ ông man mác một nỗi buồn sâu kín, ưu thời mẫn thế. Lời thơ chua cay. Đọc kỹ mới thấy thơ ông chứa đựng ý nghĩa của một nhà cách mạng đã dấn thân tranh đấu cho quốc gia dân tộc nhưng "mưu sự tại nhân thành sự tại thiên". Thất bại ê chề trước cuộc thế, nay mượn câu kinh tiếng kệ khuây khỏa nỗi lòng, lấy thi ca làm bạn tâm giao.


Thơ của sư ông Nguyệt Chiếu phản ánh của tinh thần văn học miền Nam. Một nền văn học có nhưng nét đặc thù như Đông Hồ từng đề cập đến: "Văn học miền Nam khai mào khai thác lành thổ hồi ba thế kỷ trước thì chịu ảnh hưởng trực tiếp với văn học Trung Hoa. Khoảng giữa, chịu ảnh hưởng của văn học Đàng trong và văn học triều Nguyễn. Khoảng cuối lại chịu ảnh hưởng lếch lác văn hoá Pháp".

"Vì thế mà văn học miền Nam lúc nào cũng có tính cách đặc thù xa cách.

Cho đến hồi gần đây, nhờ giao thông tiện lợi, nhờ phong trào giải phóng, nhờ phong trào di cư làm cho nhân dân ba miền liên lạc gần gũi, thân mật nhau, va văn hoá miền Nam cũng theo đó thống nhất hoà đồng với văn học cổ truyền dân tộc.(Trích: Văn Hoá Nguyệt san XIII,12 (1964) Trang 1633-1642)

Xem như thế, văn học miền Nam thời đó ngoài một ít tác phẩm của nho sĩ cũ sáng tác từ thế kỷ trước còn sót lại được nhân dân sao chép, được xuất bản theo khẩu truyền, còn thì không sản xuất thêm được phần nào có giá trị nữa.


Theo nha văn Đông Hồ thì các sách báo quốc ngữ miền Nam xuất bản khoảng từ 1900 đến 1920, dúng ta thấy có một lối viết lỏng lẻo hời hợt mất hẳn văn hoá cổ hữu, tệ nhị cổ truyền của hai miền Trung - Bắc. Điều nhận xét trên chúng minh cho biết bài tử "DẠ CỔ HOÀI LANG" (Đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng) với ý nghĩa sâu sắc, những thiếu nét diễn đạt tệ nhị, văn hoa của các nhà thơ miền Bắc trên Nam Phong Tạp Chí (1917-1934) và Phong Hóa Ngày Nay ở Hà Nội (1932-1940) báo Tiếng Dân (1927). Tuy nhiên bài Dạ Cổ Hoài Lang không thiếu những nét hàm súc của nó.

Nội dung của bài Dạ Cổ Hoài Lang có ý nghĩa gần giống như câu chuyện Chinh Phụ Ngâm Khúc của bà Đoàn Thị Điểm, nghĩa là vẫn có hình ảnh của một bời canh lịch sử đất nước tao loạn, người chồng phải từ giả bút nghiên, từ gia người vợ hiền, con thơ để đi chinh chiến. Người vợ trung trinh gạt nước mắt tiễn chồng ra quan ải. Còn lại là chuỗi ngày dài chờ mong tin chiến thắng về, chờ người chống dấu yêu trở lại. Gạt nước mắt tiễn chồng ra đi, có nghĩa con là một lỗi ai oán:


Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,

Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.

Xanh kia thăm thẳm từng trên,

Vì ai gây dựng cho nên nỗi này !

(Chinh Phụ Ngâm Khúc - ĐTD)


Nhưng với niềm tin sắt đá có một ngày về trong chiến thắng hiền vinh đã làm cho người chinh phụ kiên nhẫn đợi chờ.

Bài Dạ Cổ Hoài Lang với nội dung như thế, đủ hiểu nhà sư Nguyệt Chiếu vẫn tin có ngày dân tộc quật cường đuổi hết quân xâm lược.

Dạo đó khắp sáu miền lục tỉnh ai cũng biết ngón đàn và tài sáng tác nhạc của ông Sáu Lầu. Tâm sự của người nhạc sĩ này có những nét tương đồng như sư Nguyệt Chiếu và các nhà cách mạng đường thời. Ông Sáu Lầu đứng trước nạn quốc phá gia vong, yêu nước nhưng không làm gì được, muốn ngón đàn để trao niềm tâm sự riêng tây. Bởi thế, khi được thưởng thức bài "Dạ Cổ Hoài Lang" ông Sáu Lầu tự cảm như đã gặp tri kỷ tri bỉ, như Bá Nha gặp được Tử Kỳ và ông đã phổ nhạc bài thơ ấy.

Bản nhạc "Dạ Cổ Hoài Lang" đã được quần chúng thời bấy giờ hết sức tán thưởng. Đâu đâu cũng nghe văng vẳng lời ca ai oán, tiếng đàn nỉ non.

 

Những Biến Chuyển Của Thời Đại Và Sự Biến Dạng Của Bài Dạ Cổ


Để tìm hiểu vài sự thay hình đổi dạng của bài Dạ Cổ thiết tưởng không gì bằng ở đây chúng tôi xin trở lại vài quá trình biến chuyển của thời đại lục lục bấy giờ. Nhận xét về những biến chuyển đó, Nguyễn Tử Quang trên tập chí Bách Khoa số 16 (1959) có viết: "Sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) nước Pháp phát triển sự khai thác kinh tế ở Đông Dương. Kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam bị kinh tế thực dân làm lung lay dữ dội. Nước Việt Nam biến thành thôn quê của thành thị Pháp.

Hàng hóa Pháp vào thôn quê làm phá sản những tiểu công nghệ, tỹ công nghệ ở thôn quê. Nông dân mang canh bấn, cùng, vô sản hóa. Chế độ phong kiến ở miền Nam lung lay tận cội rễ. Những lung lay mà vẫn ở một chỗ, không tiến lên đuốc theo sự tiến triển tự nhiên của nô túc lạ con đường tư sản hóa.

Vì mỗi khi một địa chủ nào lìa bỏ đất đai để ra thành thị kinh doanh thì bị thức dân tìm cách hạt trở lại đất đai.


Giai cấp tư sản Việt Nam ở miền Nam không thành hình được, mà chỉ có những phân tử tư sản thôi. Nhưng phần tử đó không có cơ sở kinh tế tư sản (doanh nghiệp, thương mại, kỷ nghệ...) gì vững chắc, cho nên ta có thể bảo tư sản miền Nam tức là địa chủ và ngược lại, cũng là tư sản chưa thoát thân.

Vì những phần tử tư sản địa chủ ở miền Nam không lối thoát, họ chỉ con chạch thận thờ, mở mỏng chê độ phong kiến tư sản không đuốc đứng trên địa vị rực rỡ như ngày nào.

Tuy không tích cực khởi đuốc, nhưng những phân tử tư sản đua theo phong trào vùng dậy của nông dân trong thời kỳ, nên xuất thân tranh đấu với một dường hướng cải lương.

Chính trị vốn có ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng của con người - thế là trên bình diện văn nghệ - một sản phẩm của tư tưởng - những gánh hát cải lương ra đời. Bài Dạ Cổ nhịp đôi được đưa lên sân khấu với gánh hát thành lập đầu tiên ở miền Nam. Đó là gánh thầy Năm Tú ở tỉnh Mỹ Tho. Rồi lần lượt các gánh khác xuất hiện.


Xuất xứ ở Bạc Liêu, bài Dạ Cổ qua những giai đoạn, biến đổi cùng ở Bạc Liêu. Từ nhịp đôi lên nhịp tư, nhịp tám, xuất bản bằng những tập mỏng, nhỏ bản 5 xu trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng với nhãn hiệu "Vọng Cổ Bạc Liêu" rồi lần lần kéo dài thườn thượt như ngày nay ta đã thấy.

Từ bài Dạ Cổ Hoài Lang (Đêm Khuya nghe tiếng trống nhớ chồng) đổi sang "Vọng Cổ Hoài Lang" (Tưởng chuyện xưa nhớ chồng) có sự thay đổi ấy, vì nhiều nhạc sĩ cho rằng: suốt bài chánh của nó không diễn tả một tiếng trống nào, hơn nữa bao nhiêu bài Dạ Cổ khác cũng đều nhạc chuyện xưa, như vậy sửa lại "Vọng Cổ" cho hợp hơn.

Thay đổi như thế, nhưng thực ra cái tên không có gì quan hệ ở chỗ nội dung và hình thức của nó.

Tư sản địa chủ lấy nó làm sản phẩm của mình đưa lên sân khấu, cho vào dĩa hát bán chạy như tôm tươi. Thấy nhiều người ưa thích, bọn thức dân Pháp thông trị lợi dụng, cho phát triển nó để làm một lời khi tác động tinh thần.

Từ nhịp đôi bài Tú Phụ Tướng... tả người đàn bà mong chồng "hoài bảo tinh non nước" hình thức đơn giản, gọn gang, buồn man mác, khêu gợi nhớ nhung, biểu lộ mối tình chung thủy. Rồi từ bài Dạ Cổ, biến thành Vọng Cổ, kéo dài lên nhịp tứ, nhịp tám, nhịp mười sáu ba mươi hai... Càng kéo dài càng lâm ly, bi sau não nuốt.

Tự cho hoài bảo mối tình non nước đề nhắc nhở, dặn dò ai kia bao giờ cũng phải vẹn thủy toàn chung, bây giờ lại trở nên tiếng khóc suốt mướt của kẻ bị tình phụ, những tiếng than tuyệt vọng của những người hấp hối... Nào:


"Con nhạn đứng kêu sương nỗi biên Bắc,

Thức trót canh gà, thường con nhớ chồng, gan sầu ruột héo...

Tôi khóc đã làm phen rồi...."


Như đã trình bày trên, nhà sư Nguyệt Chiếu đã đem tất cả tấm lòng của một sĩ phu trao gởi trong một bài tư và ông Sáu Lầu đã có công đem phổ thành ca khúc. Từ một bài "Dạ Cổ Hoài Lang" đến "Vọng Cổ Hoài Lang" với nhiều tiết nhịp. Nay thì bài Vọng Cổ đã phổ cập khắp quảng đại quần chúng, không chỉ trong khuôn khổ của sáu tỉnh miền Nam, mà dần chung miền Trung, miền Bắc đều mến mộ. Vọng cổ thật đã ăn sâu vào tâm khảm mọi người. Tuy vọng cổ không biểu đường đuốc sức tranh đấu anh dũng của dân tộc, nhưng dù sao cũng là một sản phẩm văn nghệ của dân tộc, nó đành dấu được một bước đường lịch sử của dân tộc. Có thể nói cải lương và vọng cổ đã có một chỗ ngôi vẻ vang trong văn học sử nước nhà. Người Việt tha hương mỗi khi nghe Út Bạch Lan, Thành Được, Việt Hùng, Thanh Nga, Út Trà Ôn ca sáu câu vọng cổ đều như nhớ lại một giai đoạn lịch sử của dân tộc oai hùng và những tâm sự nguồn cơn chưa được tỏ bày với một niềm nhớ khôn nguôi.


● TRẦN KIÊM THÊM


TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Anh Ngữ:

  • Buttinger, Joseph - The Smaller Dragon - New York: Prager 1958
  • Crawford, Ann - The Customs and culture of Vietnam Rutland, Vermont: Tuitle Co. 1966
  • Newman, Bernard - Background to Viet Nam, New York: Roy Publications 65
  • Nguyen Khac Kham - Introduction to Vietnamese Culture, Saigon 1961.
  • Thái Văn Kiểm - Traditinal Vietnamese Holidays - New York 1962
  • Trường Ngọc Giàu - The Delta Village of Mỹ Thuận. Saigon Michigan State University - 1964

Việt Ngữ:

  • Đào Duy Anh - Nguồn gốc dân tộc VN Saigon 1951.
  • Đào Duy Anh - Việt Nam văn hóa sử cương. Bốn Phương, Saigon 1951.
  • Dương Quảng Hàm - Việt Nam Văn học sử yếu, Nha Học Chánh Đông Pháp, Hà Nội 1942.
  • Mai Thọ - Việt Nam Phật Giáo sử lược, Hà Nội 1950.
  • Ngô Sĩ Liên - Đại Việt sử ký toàn thư (Bộ Văn Hóa Giáo Dục VN) Saigon 1962.
  • Nguyễn Đổng Chi - Việt Nam Cổ văn học sử - Hàn Thuyên, Hà Nội 1942.

Pháp Ngữ:

  • Lê Thành Khôi - Le Vietnam Histoire et civilisation, Paris 1955.
  • Trần Văn Giáp. "Le Buddhisme en Annam des origines au XIII siecle" Befeo Ha Noi 1932. 

  • Huỳnh chiêu Đẳng Sưu tầm và Biên Soạn.

Thứ Ba, 24 tháng 3, 2026

Nụ Xuân - Thơ: Dư Thị Diễm Buồn - Nhạc: Nguyễn Đức An - Hòa Âm: Quang Đạt -Trình Bày: Mạnh Tuấn

Thơ: Dư Thị Diễm Buồn
Nhạc: Nguyễn Đức An
Hòa Âm: Quang Đạt
Trình Bày: Mạnh Tuấn

Bước Xuân

 

(Thuận-Nghịch độc)

Xuân bước dục lòng thoả ước mơ
Bến mong thuyền lại ghé neo bờ
Vần thơm bút ngọc tình trao ý
Tết thắm mai vàng nắng dệt tơ
Ngân mãi khúc trầm cung nhịp phối
Ngóng thêm người cũ lửa hương chờ
Ngần trong mộng ủ hồn ngây ngất
Tân sắc ngập đời tặng tứ thơ
Đọc ngược:
Thơ tứ tặng đời ngập sắc tân
Ngất ngây hồn ủ mộng trong ngần
Chờ hương lửa cũ người thêm ngóng
Phối nhịp cung trầm khúc mãi ngân
Tơ dệt nắng vàng mai thắm Tết
Ý trao tình ngọc bút thơm vần
Bờ neo ghé lại thuyền mong bến
Mơ ước thoả lòng dục bước xuân.

Nguyễn Gia Khanh