Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2026

Nhớ Một Chiều Xuân - Sáng Tác Nguyễn Văn Đông - Thực Hiện & Trình Bày: Kim Oanh (Canada)

Sáng Tác Nguyễn Văn Đông
Thực Hiện & Trình Bày: Kim Oanh (Canada)

Còn Em

 

Còn em kể chuyện nắng mưa
Còn em kể chuyện sang mùa sang canh
Còn em kể chuyện mộng lành
Nắng lên đỉnh núi mây xanh chân trời

Còn em kể chuyện dạo chơi
Những ngày thơ ấu những nơi gió lành
Trời trong mắt đẹp long lanh
Tóc bay đầm ấm để dành những đêm

Còn em gối mộng tay mềm
Ngọt ngào tha thiết ấm êm đợi chờ
Còn em cho anh hồn thơ
Nghiêng nghiêng bóng nhỏ thẫn thờ gót trăng

Còn em thương nhớ vội vàng
Cơn mưa không dứt rộn ràng thiên thai
Còn em mộng ngắn mộng dài
Còn em quên cả tháng ngày tha hương...


MD.01/19/03
LuânTâm

Đêm về lất phất sương mưa
Bên thềm đón gió đợi mùa năm canh
Người về ru giấc yên lành
Đem xuân chan chứa thắm xanh mây trời


Bình minh bừng giấc khắp nơi may lành
Nắng reo trong ánh long lanh
Lời yêu ai rót dỗ dành xua đêm

Vuốt ve mái tóc tơ mềm
Hương mùi bồ kết thoảng êm ái chờ
Tựa vai dệt mộng người thơ
Tay trong tay bước thẩn thờ dưới trăng

Phất phơ lụa áo lụa tơ vàng
Người xưa năm cũ rỡ ràng thai




Tâm Sự

 

Nhìn con én lẻ lướt qua song
Nhớ lắm người ơi thắt cả lòng.
Xóm cũ quạnh hiu luôn ngóng đợi
Đường chiều vắng vẻ mãi chờ trông .
Quê người cô lẻ trong mưa hạ
Xứ lạ lạnh lùng giữa gió đông.
Người hỡi tôi chưa về chốn cũ
Lòng tôi mãi mãi vẫn chờ mong!


feb-2026
Hàn Thiên Lương

Tôi Muốn Sống Với (1962)- Nguyễn Chí Thiện



Tôi muốn sống với Võ Tòng đả hổ
Với Quan Vân Trường mặt đỏ râu đen
Vào lính ngự lâm cùng Athos làm quen
Bạn với D'Artagnan, Porthos và Aramis!
Tôi muốn tới Palestine, mồ Jesus Christ
Cùng Ai-Van-Hô làm cuộc Thập Tự Chinh
Sống một ngàn một đêm lẻ trong dinh

Dựng lên bởi Thần đèn giúp A-la-Ðanh cưới vợ
Sang Châu Mỹ đất tân kỳ man rợ
Cùng Jack London đi xe chó tìm vàng
Tôi muốn sang Nga yến tiệc với Nga Hoàng
Tiếp chuyện André một chiều trên bến nước
Cùng Petchorine giữa Caucase dạo bước
Ðấu súng, đấu gươm, khiêu vũ chan hòa
Gặp Dostoi trong đêm trắng pha trà
Mặc tuyết rơi, ngồi bên ấm Samovar
An ủi chàng sinh viên giết người Raskolnikov
Khuyên Philippovna lấy chàng ngốc hiền hòa
Tiếp tục hành trình tôi tới Tây Ban Nha
Theo Don Quichotte đi phò nguy cứu khổ
Sống thỏa thuê tôi trở về đất tổ

Vào Lam Sơn tìm gặp vua Lê

Ngồi câu thuyền bên Nguyễn Khuyến ở thôn quê
Thơ rượu với Tú Xương trên bờ sông Vị
Bàn với Nguyễn Du về mệnh tài đố kỵ
Với đời Kiều oan khổ đau thương
Tới phường Khán Xuân cười với chị Xuân Hương
Tới quận Nam Xương viếng vợ chàng Trương chung thủy
Nghe anh chàng Trương Chi nghệ sĩ

Ca lời ca đau khổ mộng mơ

Theo Bắc Bình Vương gióng trống mở cờ
Tiến đánh Thăng Long núi Nùng sông Nhị
Tôi muốn sống thật nhiều và tỉ mỉ
Ngược thời gian lịch sử bao đời
Cho thỏa lòng ham sống, anh ơi,
Bị chà xéo trong cõi đời hiện tại
Cõi đời thèm cả sắn và khoai!

(1962)
Nguyễn Chí Thiện
(Tập thơ còn có tên Hoa Địa Ngục 
của thi sĩ Nguyễn Chí Thiện)



Công Thức Bánh Cuốn Và Chả Quế - Như Thu

CÔNG THỨC BÁNH CUỐN NHÂN THỊT 

Nguyên liệu:

400g bột gạo 
100g bột năng
1/2 muỗng cà phê muối
1.2 - 1.4 lít nước

Nhân bánh:

300g thịt heo xay có tí mỡ
50g củ sắn bào sợi vắt bớt nước 
30g cà rốt bào sợi
1 muỗng canh dầu ăn
1/2 củ hành tây cắt hạt lựu 
1 muỗng cà phê hạt nêm
1 muỗng canh nước mắm
1 cà phê tiêu

Bước 1: 

Cách Pha bột

Trộn bột gạo, bột năng, muối. Hòa với nước và để bột nghỉ 4 tiếng (lắng bột và chắt nước trong ra, thay nước mới bằng lượng nước trong. 
Thêm 1-2 muỗng dầu ăn vào hỗn hợp bột & quậy đều trước khi tráng để bánh không dính.

Bước 2: 

Xào nhân

Bắt chảo lên bếp bỏ dầu vô, phi hành cho thơm, cho thịt vào xào thấy vừa chín là cho cà rốt & củ sắn vào đảo đều. Nêm gia vị vừa ăn.

Bước 3: 

Tráng bánh (Chảo chống dính)

Làm nóng chảo, thoa một lớp dầu mỏng.
Chờ chảo hơi nóng đổ một vá bột vào xoay tròn chảo thật nhanh và mỏng. Đậy nắp khoảng 30-45 giây thấy bột trong là chín.
Úp chảo ra mâm/đĩa đã thoa dầu. Cho nhân vào và cuộn lại.
Tiếp tục đổ bánh thứ hai…
Chúc bạn thành công nhé!

CÔNG THỨC CHẢ QUẾ

Nguyên liệu:

Thịt heo: 500g thịt nạc vai + 100g mỡ heo 
Hương vị: 2 muỗng cà phê bột quế 
Gia vị: 
2 muỗng canh nước mắm ngon 
1 muỗng cà phê đường 
1/2 muỗng cà phê hạt nêm 
1/2 muỗng cà phê bột tỏi hay tỏi băm, 
1 muỗng cà phê tiêu
1 muỗng cà phê bột nổi (baking pounder)
1 muỗng canh bột năng 

*Chú ý: gia vị nêm nếm tùy theo mỗi gia đình

Các bước thực hiện:

Thịt và mỡ rửa sạch, cắt nhỏ, để đông đá khoảng 1-2 tiếng cho đến khi cứng nhẹ (tránh thịt bị chín khi xay).
Xay thịt: Cho thịt, mỡ, nước mắm, đường, hạt nêm, bột quế, bột năng vào máy xay. Xay thành giò sống nhuyễn mịn. 

Làm chín chả:

Cách 1: Hấp rồi chiên
Dùng khuôn tròn hoặc khuôn chữ nhật cho hỗn hợp vào ép bằng phẳng rồi đem hấp cách thủy khoảng 30-40 phút, lửa trung bình, sau đó để nguội rồi chiên ngập dầu. 
Cách 2: Nướng/Chiên trực tiếp: 
Phết dầu lên chả sống, nướng 180°C tương đương 350°F, hoặc chiên nhỏ lửa cho vàng đều.
Chúc em thành công & ngon miệng nhé!

Như Thu

Mùa Xuân Cỏ Non


Năm giờ sáng Tiên đã thức dậy sau giấc ngủ ngon. Chiều qua, sau hơn ba tiếng lái xe quanh co lên dốc xuống đèo chàng đã đến thành phố nhỏ có tên Leavenworth. Thành phố có lối kiến trúc theo kiểu Âu Châu thế kỷ 19. Nhà cửa, hàng quán, khách sạn, các cơ sở công tư được xây dựng trên những mảnh đất trăm năm trước vốn là đồi núi rừng hoang nên đường đi đều là những con dốc lên xuống quanh co nằm bên dưới rừng thông xanh rì rào gió. Con sông Wenatchee mang tên người bản địa da đỏ chảy ngang qua thành phố với bọt nước liên tục phun lên những phiến đá nâu đen quanh năm càng làm cho thành phố trở nên tươi mát, đầy màu sắc thiên nhiên thu hút nhiều du khách, nhất là vào mùa xuân khi cả thành phố được trang điểm thêm bởi những vườn hoa đầy màu sắc rực rỡ của trăm loài hoa xuất xứ từ bên trời Âu. Đa số cư dân trong thành phố là người gốc Âu Châu như Đức, Pháp, Ý, Thụy sĩ…Có cả những người gốc Hung Ga Ri, Ba Lan…chỉ gồm vỏn vẹn trên hai nghìn người và họ có mặt nơi đây hơn thế kỷ trước, trải qua nhiều thế hệ con cháu đã định cư trên vùng đất mới này.

Đã nhiều lần Tiên dự định đến Leavenworth nghỉ ngơi vài hôm và mang theo giá vẽ để có dịp ghi nhận những cảnh đẹp thiên nhiên mà chàng đã từng nghe bạn bè nói đến. Sau lần mổ trị bệnh tim cách nay một năm, Tiên đã khỏe hẳn. Chàng dự định sau vài ngày nghỉ ngơi ở đây, chàng sẽ mang về vài tác phẩm hội họa để trưng bày trong dịp “Ngày Hội Cộng Đồng” của những người di dân trong đó có cả người Việt Nam. Tác phẩm bán được Tiên sẽ cống hiến cho quỹ nghiên cứu về bệnh tim. Tiên tốt nghiệp trường mỹ thuật Olympia cách nay hơn mười năm nhưng hội họa không phải là nghề kiếm cơm của chàng vì, song song với việc theo học hội họa, chàng còn ghi danh học ngành điện toán và có công việc làm vững chắc đủ bảo đảm cho đời sống cá nhân. Tiên chưa bao giờ nghĩ đến việc lập gia đình như nhiều lần cha mẹ của Tiên đã nhắc. Đến khi biết mình bị bệnh tim Tiên lại càng không nghĩ đến việc lập gia đình mặc dầu cũng có vài người đẹp đồng nghiệp ngắm nghé chàng.

Hai tháng trước Tiên gọi điện thoại mướn một căn nhà nhỏ hai phòng, Tiên không thích ở khách sạn. Sau khi thu xếp những việc lặt vặt Tiên mới lái xe đến Leavenworth vào buổi chiều lất phất mưa bay trên suốt đường đi. Tiên không lái xe với tốc độ cho phép mà chàng luôn giữ ở tốc độ kém tốc độ cho phép đến những mười dặm trên freeway và dưới năm dặm ở các con đường nhỏ theo lời dặn của bác sĩ. Với tốc độ chậm như thế, Tiên có thể ngắm cảnh vật hai bên đường chập chùng đồi núi, bạt ngàn cây xanh. Tiên nhiều lần dừng xe trên những đỉnh đèo của dãy núi Cascade để ngắm những con suối là những nhánh nhỏ của dòng sông Wenatchee róc rách chảy qua những khe đá cùng với tiếng gió xạc xào như một điệp khúc bất hủ muôn đời của thiên nhiên. Đứng trên đỉnh đèo dưới màn mưa nhẹ Tiên cảm nhận được mình chỉ là một sinh vật nhỏ bé trước sự hùng vĩ của thiên nhiên, cũng khiến Tiên nhận ra rằng lâu nay chàng sống trong một thành phố tuy nhỏ nhưng nó là một cỗ máy cuốn hút chàng vào những mắc xích vô hồn mà lắm lúc chàng không còn nhận ra mình là ai. Tiên tưởng chừng như chàng đang gỡ bỏ được gánh nặng của trăm nghìn thứ vô hình lâu nay đã đè lên vai chàng và ngự trị luôn trong tâm hồn của chàng… Cổ máy cứ tiếp tục quay và chàng thì cứ bám vào đó như hàng triệu triệu người khác. Những khái niệm về cuộc sống của Tiên lâu nay cũng rập theo khuôn mẫu của xã hội gọi là văn minh - học hành, làm việc và ngày ngày cùng trên một con đường, đi đi về về và tâm trí thì cứ lẩn quẩn với những chữ tiền bạc, nhà cửa, thăng tiến, đầu tư, hội hè, giải trí…

Trên đường đi và những lúc đứng trên đỉnh đèo Tiên hình như đã nhận ra được phần nào lý lẽ khác của cuộc sống. Tiên tự hỏi “có thể nào khung cảnh thiên nhiên, cây cối, hoa lá, phiến đá, dòng sông cùng với tiếng chim hót, tiếng suối chảy róc rách…lại tác động được vào tâm hồn mình hay sao?”. Tiên cảm thấy hình như chàng đang chuyển đổi cách nhìn về xã hội mà chàng đã ngụp lặn trong một thời gian dài. Nơi đó cũng đã làm cho trái tim của chàng mỏi mệt khô héo đến nỗi như không còn cảm xúc trước những ngoại cảnh đang chuyển biến và ngay cả những cảm xúc thuộc phạm trù tình cảm. Những điều đó khiến Tiên đôi khi cảm thấy không có chút thiện cảm đôi với chính bản thân mình nữa. Lạ lùng thay!

***
Buổi sáng đầu tiên tại Leavenworth Tiên lái xe một vòng quanh phố, ghé vào một quán của người Ý để uống cà phê và ăn sáng, sau đó đến công viên mang tên của sắc dân da đỏ Cherokee là Doseela nằm cách trung tâm thành phố gần mười dặm.

Công viên Doseela là công viên thu hút rất đông du khách từ các nơi đổ về, nhất là những ngày đầu mùa xuân thời tiết ấm áp, không có mưa, bầu trời lúc nào cũng một màu xanh với những làn mây mỏng nhởn nhơ bay. Tiên đặt giá vẽ lên trên một khoảng đất trống cạnh hồ nước rồi đảo mắt nhìn quanh để chọn cảnh vẽ lên khung canvas. Cảnh đầu tiên đập vào mắt Tiên là cảnh bên kia hồ nước với một màu xanh của cỏ che phủ những ngọn đồi thoai thoải nối liền nhau. Tiên chớp mắt nhiều lần để nhìn cho thật rõ. Đúng là màu cỏ xanh. Chỉ có cỏ chứ không có bất cứ một kiến trúc nào – dù là thô sơ được xây dựng trên đồi. Cũng không thấy những lối đi. Không thấy một bóng người. Tiên lấy làm lạ và không tìm ra được lời giải thích. Nhưng chàng tò mò muốn biết. Thế là chàng rời giá vẽ để đi đến khu làm việc của nhân viên trông coi công viên. Tiên gặp một nữ nhân viên và nêu thắc mắc của chàng về những đồi cỏ xanh bên kia hồ. Chàng được nữ nhân viên cặn kẽ giải thích như đã từng giải thích cho hàng trăm du khách khi họ đến thăm công viên và cũng có thắc mắc như chàng.

***
Vào năm cuối cùng của thế kỷ hai mươi có một cặp vợ chồng ở tiểu bang New York ghé thăm công viên Doseela, ngồi bên này hồ nhìn sang bên kia thấy những ngọn đồi mọc đầy những loài cây và hoa dại khô cằn. Hai vợ chồng tìm gặp người quản lý công viên để hỏi tại sao thì được biết Leavenworth chưa có ngân quỹ để xây dựng cơ sở và thiết lập như một phần của công viên Doseela ở bên kia hồ. Người chồng này hỏi “Vậy thì cần bao nhiêu tiền mới đủ để thực hiện”. Người quản lý trả lời “Chúng tôi chưa biết nhưng có lẽ phải tốn vài chục triệu đô”. Người chồng khẽ lặp lại “Vài chục triệu đô…” rồi đưa mắt nhìn người vợ trước khi nói với viên quan lý: “Nếu chúng tôi donate cho quý vị số tiền một trăm triệu thì quý vị có thực hiện được không?”. Viên quản lý trố mắt nhìn hai vợ chồng và lên tiếng: “Ông nói đùa đấy chứ?”. Người chồng từ tốn đáp: “Chúng tôi không nói đùa…nhưng với một điều kiện…”. Viên quản lý hình như đã cảm nhận được thái độ đứng dắn của cả hai vợ chồng du khách nên gật đầu lắng nghe “Chúng tôi sẽ donate một trăm triệu với điều kiện là những ngọn đồi bên kia hồ chỉ được trồng cỏ xanh mà thôi, không xây dựng bất cứ một thứ gì khác trên đó kể cả những lối đi…”. Viên quản lý một lần nữa lại trố mắt nhìn hai vợ chồng. Hôm sau hai vợ chồng du khách được mời đến văn phòng thị trưởng để thảo luận về việc tặng tiền và và lập bản cam kết giữ đúng điều kiện mà hai vợ chồng du khách đưa ra. Bản hợp đồng hay nói đúng hơn là bản cam kết thực hiện “thành phố nhận một trăm nghìn đô la của ông bà John Martin để trồng cỏ xanh lên những đồi bên kia hồ. Đồi chỉ toàn cỏ xanh cho đến khi cả hai vợ chồng qua đời, khi đó thành phố mới có quyền hủy bỏ cam kết, nghĩa là trên những đồi cỏ xanh có thể xây dựng bất cứ thứ gì để trở thành một phần của công viên Doseela. Và hai vợ chồng du khách từ New York đã lần lượt qua đời khi hai ông bà đã ngoài tuổi chín mươi cách nay hai năm, bà chết trước ông hai tháng. Đáng lẽ thành phố đã cải biến những đồi cỏ thành một phần của công viên nhưng để nhớ đến vợ chồng ông bà John Martin nên hội đồng thành phố Leavenworth quyết định duy trì những đồi cỏ xanh cho đến sau ngày 31 tháng 3 của năm 2027.

Trước khi rời văn phòng công viên, Tiên nhận được cuốn brochure trong đó có ghi đầy đủ chi tiết về hai vợ chồng du khách hảo tâm. Mãi cho đến gần bốn giờ chiều Tiên mới hoàn tất bức tranh đầu tiên. Tuy đã lâu ngày không cầm cọ vẽ nhưng Tiên cảm thấy mình rất hứng thú với những chi tiết chàng đã đưa vào tranh. Buổi chiều nhìn mặt hồ gợn sóng lăn tăn và thoảng có gió nhẹ từ bên kia đồi thổi sang Tiên thu xếp đồ đạc để rời công viên.

Tiên định về nhà tắm rửa nghỉ ngơi một lát rồi lái xe ra phố kiếm một quán ăn của người Pháp để thưởng thức hương vị mà cha mẹ chàng thường mô tả cho chàng nghe. Xe vừa rẽ phải đường Emerald để vào nhà, Tiên chợt thấy căn nhà kế nhà chàng mướn có một phụ nữ đang ngồi trên một chiếc ghế gỗ đong đưa trước hiên nhà. Tiên đậu xe, bước xuống xe cũng là lúc người phụ nữ cũng đứng dậy, tay đang cầm một ly nước và cất tiếng: Chào anh, nhà của anh đẹp quá…anh chăm sóc vườn hoa quá chu đáo và… Không đợi cho người phụ nữ nói hết câu, Tiên chận lại: Không phải nhà của tôi, tôi chỉ mướn để ở vài ngày thôi… Lúc này Tiên mới nhìn thấy rõ người phụ nữ đang cười và bước đến cạnh bồn hoa hồng rồi cúi thấp người xuống, tay nâng một bông hồng, hai mắt nhắm khẽ lại để ngửi hương thơm của hoa. Tiên đoán rằng nàng là một thiếu nữ, có lẽ cũng là người thuê căn nhà bên cạnh. Đến lúc nàng đứng thẳng người lên và nhìn Tiên, vẫn với nụ cười không thành tiếng thì Tiên bỗng thấy mình lúng túng, toàn thân chàng như vừa nhận được một thứ xúc cảm lạ lùng mà bấy lâu nay chàng chưa bao giờ có được. Em cũng thuê nhà này để nghỉ ngơi vài hôm…Em thấy anh hơi quen quen… Tiên lại càng ngạc nhiên hơn với câu nói của người thiếu nữ. Nhìn người thiếu nữ Tiên chợt nhớ hình như cũng đã gặp nàng ở đâu đó tại thành phố Olympia. Chàng chưa nhớ ra thêm điều gì thì bỗng nhiên người thiếu nữ mừng rỡ thốt lên: Em nhớ ra rồi! Anh hay ghé Pharmacy Walgreens lấy thuốc trị tim phải không? Lúc bấy giờ Tiên mới bàng hoàng nhớ khuôn mặt và nụ cười rất dễ thương của cô Pharmacist đứng bên sau tấm kính của cửa tiệm Walgreens trên đại lộ Westheimer cách nhà chàng vài bloc phố. Đúng rồi…tôi cũng nhớ ra cô…Pharmacist… Tiên định nói thêm hai chữ “dễ thương” nhưng chàng kịp dừng lại. Thế là hai người đã cùng nhận ra nhau.
***

Bóng chiều đã xuống thấp sau rặng núi Cascade. Tuy đã là mùa xuân nhưng một chút gió thoảng lạnh của mùa đông còn sót lại trong thành phố. Tiên khoác một chiếc jacket ngắn tay bước xuống đường mở cửa xe và mời cô Pharmacist Kim Phượng lên xe. Tiên lái thẳng đến nhà hàng có tên Chez Janou là một quán ăn nhỏ nằm khuất dưới những tàn lá xanh còn vương chút nắng. Nhìn tấm bảng có tên Chez Janou Tiên biết đó là quán ăn của người Pháp nên ghé vào, ân cần mời Kim Phượng ngồi vào chiếc bàn nhỏ có thắp hai ngọn nến trắng lung linh. Tiên kéo ghế cho Kim Phượng ngồi, Tiên ngồi đối diện với Kim Phượng, hai cùi chõ chống lên bàn, hai bàn tay ôm lấy hai bên má và chằm chằm nhìn vào đôi mắt của Kim Phượng. Kim Phượng chúm chím cười và hỏi: Anh nhìn gì thế? Anh đang nhìn em vì trước đây mới thấy em nhưng chưa được nhìn… Anh này vớ vẩn… Rồi cả hai cùng cười. Tiên thấy lòng mình xao xuyến lạ thường. Kim Phượng hình như cũng có chung một cảm xúc như Tiên. Kim Phượng nhớ rõ những lần Tiên ghé Pharmacy lấy thuốc, nàng biết Tiên đã mổ tim và qua khỏi cơn nguy kịch. Nàng thấy một thanh niên mà nàng chỉ biết là ngưới Châu Á chứ không nghĩ chàng là người Việt Nam. Khách đến Pharmacy nơi nàng làm việc chỉ giao tiếp bằng tiếng Anh nên nàng cũng chẳng cần quan tâm đến họ là ai cho đến lúc này, nàng nghĩ “có anh chàng Việt Nam trong thành phố nhỏ Olympia mà nàng không biết…”. Hai người, Tiên và Kim Phượng đang nghĩ ngợi về nhau cho đến khi món soup cá Bouillabaisse được mang đến bàn thì hai người mới sực tỉnh. Sau món soup cá Địa Trung Hải là món Coq Au Vin – Gà hầm rượu vang. Đây là lần đầu tiên Tiên thưởng thức được món ăn Pháp với ly rượu vang Bordeaux. Kim Phượng cũng uống hết nửa lỵ rươu nên đôi má nàng trở nên hồng hào làm tôn thêm vẻ đẹp dưới ánh nến lung linh. Tiên biết mình đã yêu Kim Phượng. Kim Phượng cũng đang tự hỏi lòng “Mình đã yêu?”…
***
Sáng hôm sau khi mặt trời đã lên cao quá ngọn những cây phong, Tiên đưa Kim Phượng ra phố ghé quán cà phê mà sáng hôm trước chàng đã ghé. Sau khi uống cà phê và ăn sáng Tiên đưa Kim Phượng đến chợ mua vài món cần thiết theo yêu cầu của Kim Phượng trước khi lái thẳng đến công viên Doseela. Hai người vừa thong thả bước đi vừa trò chuyện trong đó có những mẫu chuyện về đời mình. Tiên theo cha mẹ vượt biên khi chàng mới một tuổi, nay chàng vừa bốn mươi, ở với cha mẹ. Còn cha mẹ Phượng định cư ở Mỹ theo diện tỵ nạn đầu thập niên 90, mẹ nàng mất lúc sắp ra đi, cha nàng ở thành phố Seattle, sau khi tốt nghiệp ngành dược Kim Phượng xin được việc làm tại thành phố Olympia. Cha nàng vẫn ở Seattle với người vợ sau này cùng với mấy đứa em của nàng. Tiên đưa Kim Phượng đến ngồi trên bãi cỏ gần khoảng đất trống hôm trước chàng đặt giá vẽ nhưng hôm nay chàng không mang theo. Thức ăn đồ uống Kim Phượng mua đặt trên tấm vải nhựa màu xanh. Tiên và Kim Phượng ngồi bên nhau nhìn xuống mặt hồ nước xanh lăn tăn gợn sóng. Những tia nắng ấm dìu dịu cùng một chút gió mang hương xuân như đang quấn quýt vào hai người khiến cả hai chừng như đang ngất ngây thụ hưởng. Tuy mới quen nhau, chưa hiểu nhau nhiều nhưng họ đang cảm nhận được rằng trên đời này thật sự có hai chữ “hạnh phúc”. Đang tận hưởng giây phút tuyệt vời của tình yêu mà Kim Phượng vừa bắt gặp nên nàng chưa kịp hay nói cho đúng là nàng không quan tâm đến cảnh vật bên ngoài cho đến khi Tiên nắm lấy tay nàng để chỉ sang bên kia hồ và bảo: Em hãy nhìn bên kia hồ… Kim Phương như choàng tỉnh và đưa mắt nhìn sang bên kia hồ rồi hỏi: Có gì không anh? Tiên quay nhìn Kim Phượng khẽ nói: Em không thấy những quả đồi bên ấy sao hay sao? Em thấy. Những quả đồi chứ có gì lạ đâu…Kim Phương trả lời giọng êm ái vì nàng chỉ thấy những quả đồi bên kia hồ chứ chẳng có gì khác. Tiên dùng tay hích nhẹ vào người nàng: Đồi thì đúng rồi nhưng anh muốn em nhìn xem có gì đặc biệt hơn không… Em chẳng thấy có thứ gì khác… Tiên chợt cười: Cả một dãy đồi màu xanh mà em không thấy sao? Em thấy…nhưng sao cơ? Kim Phượng ngạc nhiên với câu hỏi của Tiên. Nàng đáp: Có gì lạ thì anh nói cho Phượng nghe đi Một thoảng gió mạnh làm bay tóc Kim Phượng chạm vào mặt của Tiên. Chàng lấy tay giữ lấy mớ tóc còn thoảng mùi thơm nước hoa đưa vào mũi để hôn. Kim Phương vội quay đầu sang một bên cho mớ tóc vuột khỏi nắm tay của Tiên.

Kim Phượng lắng nghe Tiên thuật lại câu chuyện chàng được nghe vào sáng hôm trước về đôi vợ chồng du khách tặng món tiền để trồng cỏ xanh khắp các ngọn đồi bên kia hồ. Nàng nghe và rất cảm kích về sự hào phóng của đôi vợ chồng này. Nàng thường đọc những câu chuyện về các nhà hảo tâm tặng những món tiền lớn cho những trường đại học, nhà thương, hội từ thiện hoặc những tổ chức nghiên cứu các bệnh nan y nhưng nàng chưa bao giờ nghe người ta tặng tiền chỉ để trồng cỏ trên đồi. Kim Phượng lại chăm chú đọc tờ brochure Tiên đưa cho nàng. Chuyện khó xảy ra nhưng lại có thật. “Đúng là tinh thần Mỹ quốc” Kim Phượng nói với Tiên như thế.

Không còn nghe những câu đối thoại giữa Tiên và Kim Phượng. Hai người cùng nhìn qua bên kia đồi cỏ xanh – màu xanh của cỏ non mùa xuân – và họ đang thinh lặng để tận hưởng phút giây hạnh phúc vừa đến giữa khoảng không thiên nhiên bao la. Cả hai đều sống trong một thành phố nhộn nhịp, lớn lên, học hành, thành đạt để rồi lao đầu vào công việc như một con thoi nằm trong cỗ máy vô hồn miệt mài chạy nối liền ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác…Những thiếu nữ Tiên đã gặp, những thanh niên Kim Phượng đã gặp đều không để lại nơi họ chút ấn tượng nào để họ mong ước có một lần gặp sau. Đôi trai gái với tuổi bốn mươi và ngoài ba mươi như Tiên và Kim Phượng hình như đã qua cái thời của thời ước mơ tình yêu. Họ sẽ khô cằn, họ sẽ già nua trước tuổi. Để rồi “bất chợt” như ngày hôm nay…như cơn mưa làm nẩy mầm những trái khô đã bị chôn vùi dưới lòng đất từ lâu…

Tiên có năm ngày nghỉ ở thành phố Leavenworth còn Kim Phượng có những đến bảy ngày nhưng cả hai quyết định họ sẽ rời thành phố này cùng ngày, Kim Phượng sẽ về cùng ngày với Tiên. Ba ngày còn lại, ngày nào Tiên cũng đưa Kim Phượng ra dãy phố chính của thành phố để ngắm xem những kiến trúc đặc thù mang sắc thái Âu Châu, ghé vào các quán ăn đầy hương vị Âu Châu. Họ uống cà phê Ý, cà phê Pháp, uống bia và ăn xúc xích của Đức, món gan ngỗng (foie gras) và Steak Tartare của Pháp…Buổi chiều họ vào công viên Doseela thả bộ rồi ngồi trên cỏ để nhìn sang bên kia đồi cỏ xanh đến tận chân trời. Họ đang đắm chìm trong hạnh phúc.

Ngày về. Buổi sáng Kim Phượng cho hành lý của mình vào xe của Tiên. Xe của nàng đã được thuê kéo về địa chỉ nhà nàng ở Olympia. Tiên lái một vòng chạy ra phố để ngắm lần cuối dãy phố chính và hôm nay chàng mới thấy những lá cờ của các nước Pháp, Đức, ý, Đan Mạch, Thụy Sĩ. Hoa Kỳ…đang bay phất phới trong gió sớm. Kim Phượng đề nghị ghé vào công viên Doseela để ngắm đồi cỏ xanh lần chót trước khi ra về nhưng Tiên đã khua tay: Năm tới sau đám cưới anh sẽ đưa em đi hưởng tuần trăng mật ở Leavenworth và chúng ta sẽ vào công viên để ngắm Mùa Xuân Cỏ Non…”

Phong Châu


Thứ Sáu, 6 tháng 3, 2026

HồnTôi Chuông Gió - Thơ: Nguyễn Thị Thanh Dương - Nhac: Nguyễn Tuấn - Trình Bày: Lâm Dung

Thơ: Nguyễn Thị Thanh Dương
Nhac: Nguyễn Tuấn
Trình Bày: Lâm Dung

Xuân Nhật Ngẫu Hứng - Tú Xương

 
Xuân từ trong ấy mới ban ra,
Xuân chẳng riêng ai, khắp mọi nhà.
Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột,
Om thòm trên vách bức tranh gà.
Chí cha chí chát khua giày dép,
Đen thủi đen thui cũng lượt là.
Dám hỏi những ai lòng cố quốc,
Rằng: Xuân, Xuân mãi thế ru mà?

Tú Xương
(VoNhiemTran Sưu Tầm)

Thi Cảm

 

Xướng họa tìm vui trong ý mơ
Tuổi già ngẫu hứng có đâu ngờ
Dâng nguồn dệt cảm hòa cung nhạc
Nâng bút gieo vần quyện phím tơ
Ta ở nơi đây hồn hiu quạnh
Ai về chốn cũ xác bơ phờ
Thời gian không thể tan hoài niệm
Trên bước lưu vong ước vọng chờ.

Lâm Hoài Vũ
Feb 26 , 2026

Gọi Nắng Quê Xa - Xuân Tha Phương


Bài Họa:

Xuân Tha Phương

Em ơi lạnh giá ở quê người
Trắng xóa khung ngoài tuyết vẫn rơi
Ký ức đìu hiu mùa Tết cũ
Quê hương kỷ niệm chất bên đời

Em ơi lạnh giá phủ nơi này
Chẳng thấy Mai Đào chẳng biết hay
Đã lắm Xuân chào đi vội vã
Soi gương tóc bạc phủ theo ngày

Em ơi lạnh giá ngóng mây hiền
Én lượn tung trời nắng dịu yên
Sắc thắm hoa bừng tươi nở rộ
Tung tăng cánh bướm dệt tranh hiền

Em ơi lạnh giá gió lùa về
Thổn thức cung đàn gợi bến mê
Trở lại đường xưa choàng ngập nắng
Đường hoa nở rộ lối đi về

Minh Thúy Thành Nội
Feb 11/25

Sân Bay Và ...

Sân bay AMSTERDAM 
“ Ta đi lang thanh... . . .
Như là Gió, Như Là Mây. . ." 
(Rong Chơi Cuối Trời Quên Lãng- nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ)

Bài viết dưới đây chỉ ghi lại ý kiến thô thiển theo cái nhìn của một người chưa đi được nhiều nơi, có thể không/chưa đúng lắm...Và đây không phải so sánh, chỉ là nhận xét.

***
Tháng 11 năm 2025 này, tôi lại có dịp trở lại Kinh Đô Ánh Sáng ...

Từ lúc còn bé, các chị em trong gia đình và bạn cũng như tôi đều ước mong được thăm viếng xứ sở có sông Seine và nhiều lâu đài huyền bí, với nhiều truyền thuyết, hồ, sông, thắng cảnh như trong các tranh vẽ hoặc hình chụp…hoặc những nơi có phép màu theo đạo Công giáo , như hang đá Lourdes có Đức Mẹ hiện ra và Bernadette - 1/-

Gia đình tôi may mắn có người chị du học bên Pháp từ nhiều chục năm, nên thời gian gần đây, sau khi "gác kiếm", tôi thường được qua viếng vài thành phố thật xinh với bao phong cảnh hữu tình. Đặc biệt như Lyon với nhà thờ Fourviere uy nghi, như Antibes với biển xanh mát mắt để bớt nhớ NhaTrang dấu yêu,- nơi đây gần với thành phố Cannes với những mùa Liên Hoan Phim huy hoàng… thành phố Valence của người ít tuổi bên bờ sông Rhône hiền hòa, không xô bồ du khách như khúc sông Seine ở thủ đô Paris hoa lệ...

Sân bay ORLY 1-

Lần này là vào mùa Đông- Vì không muốn đến phi trường Roissy (Charles De Gaulle) hiện đại như những lần trước, tuy có nhiều phương tiện đi lại như tàu điện ngầm - xe buýt... nhưng rất xa nơi chị tôi ở -nên tôi đã chọn đến phi trường nhỏ Orly- Cách này không có chuyến bay thẳng đến Paris, mà phải quá cảnh ở một nước Châu Âu láng giềng nào đó - hoặc xa hơn - như Luân Đôn, Anh Quốc, hoặc Iceland nhỏ bé -, Dubai, Hòa Lan...Những lần đó tuy hơi cực vì thời gian ờ trên con chim sắt lâu hơn, nhưng có dịp biết đến nhiều nơi theo mơ ước của người luôn muốn"Viễn Du"(trước đây không lâu, có lúc tôi mơ được làm chiêu đãi viên hàng không, chỉ vì muốn đến nhiều nơi trên thế giới...)

Băng đảo (Iceland)-2/- quá cảnh vài giờ ở phi trường cũng nhìn được cảnh vật yên tĩnh bên ngoài và sự tiếp đón ân cần của nhân viên hãng bay.


Sân bay MADRID

Dubai (hãng Qatar) thì quá sang trọng của một đất nước dầu mỏ giàu đẹp. Phi trường rất rộng, nhưng rất dễ tìm thông tin về chuyến bay tiếp theo trên lịch các chuyến bay, và tìm cổng để ra máy bay.

Và Luân Đôn: tôi có lần tới ghé phi trường Heathrow để đi tiếp chuyến sau, khá mệt mỏi sau chuyến bay dài, lại còn phải đi cầu thang- dù là cầu thang cuốn, nhưng rất cao...Đến khi phải qua đêm để chờ chuyến bay vào ngày hôm sau, mới thấy họ thật niềm nở- đúng với chữ Welcome- Chào mừng : sau 10 giờ đêm- có nhân viên đến mời tất cả hành khách lên xe ca để chuyển đến một tòa nhà rộng, có vài phòng được trang bị ghế dài, nhà vệ sinh sạch đẹp, có thức ăn nhẹ và nước uống, có bàn với máy vi tính, có khu trò chơi cho trẻ em, Có 2, 3 gia đình có con trẻ từ 3t trở lên. Thật là ấm lòng! (lần qua đêm ở phi trường Hong Kong để đi Úc thì không được như vậy- chỉ có một khoảng trống cho trẻ con chơi, và vài ghế dài trong phòng nhỏ ở gần cổng ra máy bay-

-Phi trường đẹp phải kể đến phi trường Singapore ban ngày, thật đặc sắc với khu giếng trời, đầy hoa đủ màu sắc, nhất là hoa lan, vài quầy nhận đóng gói hoa lan để gởi đi các nơi...)

Tôi vừa ghi lại cảm nghĩ ở một vài phi trường, vì lần này, để về Dallas - xứ “KaBoy” - tôi phải quá cảnh phi trường Madrid- Tây Ban Nha-

Mới đặt chân vô khu thuế quan, tôi choáng váng thấy một rừng người rồng rắn…!! Tôi lo không biết có kịp giờ để lên tàu bay không đây, vì còn bao nhiêu khó khăn nữa... chưa có vé, chưa biết cổng...
[Khó khăn này là do: Thường thì mua vé có quá cảnh - ở phi trường lúc khởi hành có được cả 2 vé cho 2 chuyến bay- nhưng hôm mua vé, tôi xớn xác không xem ngày về - phải ở lại đêm ở phi trường Madrid (15 tiếng)- vì giờ Châu Âu và Mỹ cách nhau 7 tiếng, không để ý … nên đến gần ngày về, khám phá ra điều này, tôi phải vội mua vé khác từ Orly đi ngay sáng hôm sau đến Madrid, không phải ở lại đêm, nên bây giờ mới khổ...(như đã kể ở trên, tôi đã qua đêm ở 2 phi trường…nhưng lần này không thể "bụi đời" được, vì đã nhiều năm qua rồi, mình không thể như trước - và nhất là- vào chuyến đi qua Pháp phải đến Madrid quá cảnh nhiều ngày trước, sự việc chỉ qua chỉ lại ở một nơi mà rất ít người nói tiếng Anh Pháp thông dụng thì lần này có chuyện gì biết xoay sở sao đây? Thân "gái" (ít tuổi) dặm trường! gia đình sẽ chẳng yên tâm-]

Khi đi lấy hành lý đã thấy cực khổ rồi: nơi để lấy va li có nhiều băng chuyền hành lý (carousels), bên số lẻ, số chẵn,…đến hơn 20 băng..! rồi đi tìm thông tin cho chuyến bay kể tiếp - đằng này chỉ đằng kia…rồi lên lầu… tìm cho ra hãng bay American nhỏ xíu trong góc- vì bao nhiêu quầy vé hãng Iberia của Tây ban Nha đỏ chót (lại màu đỏ !!!) bên trái, bên phải - Tưởng là khỏe rồi... lấy vé đi tìm cổng S 8 -

Xe điện ngầm 2 toa để đi đến cửa ra máy bay

Thở phào được một chút! - Bây giờ là 10g35 – còn 1 giờ nữa là lên máy bay- cầu mong sao sẽ kịp- nhìn xuống bên dưới- đi cùng nhiều người- lại vô thang máy – đi xuống – đi lên- xuống nữa- tới khu vực chờ xe train (chỉ có 2 toa, dạng như tàu điện ngầm) - Ôi! cả một rừng người! chắc khoảng 50, 60 người đứng chờ ở 2 cửa -từ nãy giờ, khu vực kiểm tra hành lý (security checkpoint) đã có quá nhiều hành khách- có lẽ họ đi chuyến bay Airbus 320 bị đình chỉ nên tìm những chuyến bay khác, đến cung giờ ở Madrid hôm nay? hoặc vì lý do nào đó...chưa bao giờ tôi thấy nhiều người như vậy, nhất là ở đây, chờ xe điện ngầm để đưa đến các cổng-

Lạy Trời ơi! Xe điện có 2 toa, mà 2 cửa vào đều chật ních người, - cứ mỗi 2 phút là có chuyến đến - tôi phải chờ đến lượt xe thứ 3 mới bị họ đây vô bên trong - Toa xe chứa được 20 người, nay chắc gấp đôi số người chen vô! Ôi sao khổ ri! giống như lúc ở Tân Sơn Nhất sau 75, xếp hàng để lãnh quà nước ngoài, từ 3, 4 giờ sáng -,(từ "khúc ruột ngàn dặm" gởi về) rồi vô bên trong mái che bằng tôn nóng rực,…để rồi tất cả quà đều bị cắt ruột từ xà bông, giày,…thức ăn...—

Tôi có bịch bánh madeleines mua cho cháu - xách trên tay cố đưa lên cao,…nhưng rồi bánh cũng không còn nguyên tình trạng như ý - xe điện chạy trong vài phút mà tưởng như cả ngày trời, sắp ngạt thở đến nơi…! rồi cuối cùng tàu cũng ngưng- ôi, thoát ra như được đến xứ tự do năm nào khi được đặt chân lên máy bay...

Madrid ...Ôi!                                                                Bánh giống như bánh thuẫn

Bây giờ thì đi tìm cổng S8 để ra tàu bay...lại xa tít …vì có đến S 124-- trời bên ngoài là 3oC - bên trong sân bay có để máy sưởi- nhưng người cứ ra vào nên cũng không ấm mấy- vậy mà lưng tôi đã toát mồ hôi nãy giờ…

Ôi, Đây rồi ! Cổng số S8-!!
May quá! Đồng hồ chỉ 11g45 -- vừa đúng còn 5 phút nữa là lên máy bay!

Có được hơn 3 tiếng đồng hồ để chuyển máy bay, mà chừ mới đến được đây- Ối! cả một hành trình "gian nan"! Vô được bên trong, thật nhẹ nhõm người, khi nhìn thấy các cô chiêu đãi viên người xứ Cờ Hoa niềm nở đón chào, sao cảm thấy gần gũi chi lạ (!! cho dù họ không là Mảnh Da Vàng-3/ như mình..)

Có thể lần sau tôi sẽ được may mắn hơn- hành khách không đông nhiều như hôm nay- và sẽ có cơ hội viếng cảnh đẹp- người thân thiện ở đất nước này chăng?

Đây là lần đầu tôi chọn quá cảnh đến một xứ sở thật xa lạ vì mình không biết tiếng ( lúc xưa tôi có học ngoại ngữ này, nhưng “văn không ôn, võ không luyện” thì không còn gì ngoài mấy câu xã giao - thêm nữa họ nói rất nhanh) - thật quá ngỡ ngàng!
Chuyến bay trong 10 tiếng đã diễn ra tốt đẹp - các cô tiếp viên rất ân cần chu đáo.

Một lần đi là một lần nhớ đời …

Có lẽ những điều ghi trên đây, đối với các vị đã đi du lịch nhiều nơi sẽ có quan niệm khác - Hoặc ngay quý vị phải vi vu làm bạn với mây gió đã/ sẽ không gặp ngày “quá tải” như vậy - hoặc gặp những người giúp niềm nở hơn …

Lần sau tôi sẽ ghé một thành phố khác của Tây Ban Nha- Barcelona - để tìm được điều gì về đội đá banh Huyền thoại Barcelona, hay đơn giản là Barça chăng?-4/-

Và sau đây là cảm nghĩ của tôi khi cuối cùng mới được đặt chân đến "xứ của mình": phi trường DFW (Dallas Fort Worth)- Dù cũng rất đông hành khách đến, nhưng thủ tục thuế quan rất "nhanh lẹ gọn nhẹ" với nhiều nhân viên - Điều quan trọng nhất và thật ấm lòng khi bên ngoài là 28oF (âm 2oC): vừa bước xuống cầu thang để tìm hành lý, thì có ngay một phụ nữ tuổi ít trẻ( chắc ngoài 80- đây là điều tôi rất ấn tượng -xúc động (ngạc nhiên và thú vị) từ nhiều năm khi mới đặt chân đến xứ từ do này: những vị dù đã về hưu vẫn còn đi làm, họ vẫn thức dậy đúng giờ, và đi làm- họ nói để thời gian bớt trống trải và giúp được trong khả năng của họ- cho dù được trả lương hay không. (có lương thì họ cũng gởi đến các cơ quan từ thiện)...cô ấy cảm sẵn một danh sách các chuyến bay, hỏi tôi đi hãng nào, từ đầu đến, và liền chỉ cho tôi băng chuyền hành lý carousel để lấy vali- Tôi thật ngạc nhiên , vui mừng pha lẫn thán phục những vị làm thiện nguyện công việc không nặng nhọc nhưng thật hữu ích biết bao ! nhất là đối với những du khách lần đầu đặt chân đến xứ Cờ Hoa đầy thiện cảm này! --những người không biết tiếng, và ngại hỏi, biết hỏi ai (như lúc tôi đến phi trường Madrid)

Xin cảm ơn Quê hương thứ hai-

Đây lại thêm một điều tuy rất nhỏ nhưng đối với tôi rất quan trọng: chi tiết này nói lên tấm lòng và suy nghĩ của các vị dễ thương ấy (là một hình ảnh rất khác biệt với khu vực băng chuyền hành lý bên Madrid)

Ra khỏi nơi để hành lý, những người thân /bạn bè cầm bó hoa hoặc bảng ghi tên để chào đón hành khách - Bên phải của lối ra là bảng "Welcome Home" -


Thật ấm lòng!!! - Thật sự Home Sweet Home- Về Ngôi Nhà Ấm Cúng thôi! Bao nhiêu lần về, nhìn thấy bảng Chào mừng này, mà sao lần này thấy thân thương quá đỗi! Có lẽ vì những điều ít vui vừa gặp trong chuyến về vừa qua...

Cảm ơn Đất Nước luôn Thân thiện, nhiều tình cảm này (lần đầu tiên đặt chân qua xứ này, nhiều khi đi trên đường, gặp người không hề quen biết, cũng đưa tay chào "Hi!" là điều chưa từng bao giờ chứng kiến tự bé đến giờ...) - cũng như nhiều chuyện nhỏ nhặt dễ thương khác

Cảm ơn chính phủ đã cho tôi được những ngày hưu không phải lo lắng, và thỉnh thoảng đi đây đó để thỏa lòng ước mơ bay nhảy từ bé...

Cám ơn các sân bay tôi đa được hân hạnh đặt chân đến và chưa nhắc trong bài này: LAX ( Los Angeles)-SNA (John Wayne-Cali) - Tullamarine (Uc)- Dulles (Washington)- O'Hare (Chicago -anh Hùng Tàu Bay O'Hare) - Tokyo- Taipei- . . . và các sân bay ở quê nhà từ Bắc (2018) đến Nam- bao nhiêu kỷ niệm với gia đình và người thân -

Ước mong sao sẽ được đến nhiều sân bay nhiều nơi để biết chút ít về đất nước con người nơi ấy -
Và thực hiện lời của em tôi: Chị tôi là một nhà "du hành" Thế giới
Khi đó, có thể thanh thản hát bài của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ:


Và mong sẽ được đến nhiều nơi hơn nữa- cảm ơn các hoa tiêu tài giỏi thay phiên nhau điều khiển con tàu trong đêm suốt nhiều chục giờ đồng hồ-

Cảm ơn sự tân tiến của khoa học con người bay cao xa ( đôi lúc mình như trẻ con: tự hỏi: Bao nhiêu sức nặng của con tàu trên không mà vẫn bay được, cũng như nổi trên mặt nước- Thật Diệu Kỳ! )

Xin Đa Tạ Chất Xám của Con Người và Cảm ơn Vũ Trụ Bao La- cho cuộc sống luôn Tươi Đẹp

một số “ báu vật” Bảng Chào Mừng Trở về -phi trường Dallas, TX


thailan/phannữlan 
Tháng 11/2025- mùa Đông

GHI CHÚ

1/- (theo wiki) Đức Mẹ Lộ Đức là một trong số nhiều tước hiệu mà người Công giáo dành cho Đức Mẹ Maria. Tước hiệu này xuất phát từ việc Đức Mẹ được cho là đã hiện ra với những cá nhân riêng biệt ở vùng Lourdes (Pháp), được phiên qua âm Việt là Lộ Đức. Nổi bật nhất là các cuộc hiện ra vào ngày 11 tháng 2 năm 1858 với Bernadette Soubirous, khi đó mới là một bé gái 14 tuổi. Bernadette nói với mẹ rằng đã gặp một "bà đẹp" ở hang núi Massabielle trong khi đang đi nhặt củi với em gái và 1 người bạn.[1] Các cuộc xuất hiện tương tự với hình dạng "người phụ nữ" cũng được báo cáo trên 17 lần nữa trong cùng năm đó.
Bernadette về sau đã được phong thánh bởi Công giáo La Mã. Nhiều người tin rằng việc Đức Mẹ hiện ra với Bernadette được xác thực bởi khả năng chữa bệnh "kỳ lạ" tại suối nước Lourdes. Tước hiệu "Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội" cũng được dùng để ám chỉ người phụ nữ hiện ra này. Hình tượng Đức Mẹ Lộ Đức được thấy ở nhiều thánh đường, nhà cửa và đặc biệt là ở các hang đá mô phỏng hang đá Lourdes.
2/-Iceland là một quốc gia độc lập và đất nước đảo độc đáo, nằm giữa châu Âu và Bắc Mỹ. Với vị trí địa lý đặc biệt và môi trường tự nhiên tuyệt đẹp, Iceland thu hút du khách từ khắp nơi trên thế giới. Với sự kết hợp của yếu tố châu Âu và Mỹ, Iceland mang đến cho du khách một trải nghiệm văn hóa và thiên nhiên độc đáo.
3/- Tác phẩm của Đạo diễn Chu Lynh- VN Film club
4/-Câu lạc bộ bóng đá Barcelona thường được biết đến với tên gọi tắt Barcelona, hay đơn giản là Barça là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Barcelona, Catalunya, Tây Ban Nha, Lionel Messi, Xavi Hernandez, Rivaldo, Ronaldinho... -hoặc Maradona -với “bàn tay Thương Đế” huyền thoại (anh thuộc đội Argentina, nhưng thường đá cho nhiều đội khác)…


HÌNH MỘT SỐ SÂN BAY

(theo wiki) --Nhìn từ trên không của Tulpeiland ở Wolderwijd ngoài khơi bờ biển Zeewolde, bán đảo nhân tạo có hình dạng hoa tulip. Những hòn đảo tự nhiên thon dài tạo thành thân cây. Zeewolde, Flevoland,-- Hà Lan (Netherlands)
--Ngày nay, tên chính thức của đất nước Hà Lan là Kingdom of the Netherlands. Vua Willem-Alexander là Vua của đất nước Hà Lan. Còn Holland thực ra là hai tỉnh North-Holland và South-Holland của đất nước Hà Lan.


Thứ Năm, 5 tháng 3, 2026

Chúc Xuân - Thơ: Nguyễn Trọng - Nhạc: Phan Đình Minh - Hòa Âm: Văn Hòa - Ca Sĩ: Trường Hải

Thơ: Nguyễn Trọng
Nhạc: Phan Đình Minh
Hòa Âm: Văn Hòa
Ca Sĩ: Trường Hải

Khai Bút Mồng Hai Tết..


 
Mồng Hai khai bút đón Xuân sang. 
Nhớ quá năm xưa Tết rộn ràng. 
Sắm sửa nhang đèn cùng pháo đỏ, 
Chưng bày bánh mứt với mai vàng. 
Bao ngày hạnh phúc thơ ngâm vịnh, 
Một thuở thanh bình nhạc hát vang. 
Biết đến khi nào ta có lại, 
Quê hương gấm vóc đẹp an khang. .

Hoàng Dũng


Những Nỗi Buồn



“ Có những nỗi buồn không nói được “
Là khi em vẫn ở bên anh
Tình cờ bắt gặp anh mong ước
Thân ái với người … rất thích anh

Có những nỗi buồn không tránh được
Là khi em biết chuyện riêng tư
Khi nghe thiên hạ đồn sau, trước
Anh muốn một người anh vẫn mơ

Có những nỗi buồn càng giấu kín
Càng thêm khốn khổ, tủi thân mình
Bao nhiêu bi lụy mà câm nín
Để khiến người đời ngó rẻ khinh

Có những nỗi buồn đành giữ chặt
Sống thì cất kỹ, chết mang đi
Đúng rồi anh ạ, đừng mê hoặc
Nào thấy chi đâu, có nghĩa gì …

Hawthorne 27 - 2 - 2026
Cao Mỵ Nhân


Huế Ơi, Kỷ Niệm Ơi...

 

( Cảm tác theo bài “Hương Trà, bạn cũ” 
của Bảo Trâm Minnesota)

Anh đã về đây, bao năm xa Huế,
Vì nhớ Huế, nhớ em. Em biết không?
Dù đời bể dâu chia mấy nhánh sông,
Nhánh sông nào cũng tìm về nguồn cội.

Anh tìm thấy anh một thời trẻ tuổi,
Tuổi mộng mơ cùng với Huế mộng mơ,
Tình yêu của anh, em đã quên chưa?
Những nơi chốn tìm nhau khi hò hẹn.

Những lần đi bộ hay đi xe đạp,
Hai đứa sánh vai nhau từ Kim Long,
Chẳng cần nói nhiều, chẳng vội bước nhanh,
Chỉ nhìn nhau, bên nhau là thấy đủ.

Qua cầu Phú Xuân, rồi cầu Bạch Hổ,
Đi chậm thế mà hết mấy cây cầu,
Mấy con đường cũng chẳng được bao lâu,
Tình thì nhiều mà gần nhau ít qúa.

Anh tìm thấy anh một chiều lộng gío,
Trên đồi thông Lăng Tự Đức cùng em,
Thảm lá khô rụng sẵn để anh nằm,
Tay che nắng nhìn trời qua kẽ lá.

Em gối đầu trên tay anh lặng lẽ
Nhìn khỏang trời xanh mộng đời bao la,
Tiếng lá thông reo, lòng mình hoan ca
Tiếng mình thì thầm, chiều tà êm ả

Đứng trên bực cấp của chùa Thiên Mụ,
Mùi tóc em hay mùi hoa Sứ thơm
Anh và em nhìn xuống dòng sông Hương,
Đôi mắt em đẹp. Dòng sông lờ lững.

Bên kia Thọ Xương những đêm canh vắng,
Tiếng mõ nào sẽ thao thức đời nhau
Tiếng kinh nào sẽ rũ bỏ bể sầu
Còn hai ta một tình yêu tục lụy.

Nào Hổ Quyền, làng Nguyệt Biều, Long Thọ…
Thành Lồi, Văn Thánh, Võ Thánh, Long Hồ,
Điện Hòn Chén, Lăng Gia Long mình qua…
Những di tích gắn liền bao kỷ niệm.

Qua trường Đồng Khánh qua trường Quốc Học,
Bờ sông Hương soi bóng tình học trò,
Huế ở trong lòng người Huế đi xa,
Ăn món Huế làm sao quên Huế được.

Anh tìm thấy anh lối về ngõ hẹp,
Những cây Sầu Đông đầu ngõ đâu rồi?
Ngõ vào nhà anh thiếu vắng bóng người
Thiếu cây Sầu Đông quen từ thuở nhỏ.

Cũng may trong vườn vẫn còn cây khế,
Anh leo trèo tìm bóng mát trưa Hè,
Vị khế ngọt của một thời ấu thơ,
Đời ngang dọc anh chưa hề gặp lại.

Anh đã về Huế như lòng mong đợi,
Nhưng mất em giữa dòng đời mênh mông,
Sông về cội nguồn, chúng mình thì không,
Hai nhánh chảy ngược dòng, không hội ngộ.

Nguyễn Thị Thanh Dương.

Khung Trời Lỗi Hẹn

Khung trời lỗi hẹn dặm trùng dương
Năm tháng phôi pha khắp nẽo đường
Tuyết đổ chạnh lòng thân viễn xứ
Đời trôi giá lạnh nẽo tha phương
Bao giờ trở lại khung trời cũ..?
Năm tháng soi mòn nỗi vấn vương
Từ buỗi ra đi ngàn cách biệt
Đường về hun hút dặm mù sương....!


Ngư Sĩ

Bài Thơ " Con Cóc"

* Xin gởi anh Chín và quý thân quyến bài này đọc chơi. Đọc để suy ngẫm cho khỏi nặng cái đầu (Ngạn ngữ Đại Hàn)!

Bài thơ “Con Cóc” từ ông Petrus Trương Vĩnh Ký rất phổ thông trong văn học sử. Từ ngụ ý của nó, Nhất Linh và Thượng Tân Thị cũng có Thơ “Con Cóc”. Tuy nhiên Thơ “Con Cóc” đầu tiên là từ vua Lê Thánh Tông.

a) Thơ “Con Cóc” từ Petrus Ký

Câu chuyện về bài thơ Con Cóc nổi danh được đăng trong sách của Petrus Ký và của Thọ An Phạm Duy Tốn.

BA ANH DỐT LÀM THƠ (*)
(Petrus Ký)

Có ba anh học trò dốt ngồi nói chuyện với nhau. Mới nói: Mình tiếng con nhà học trò mà không có làm thơ làm phú với người ta thì té ra mình dở lắm. Mấy người kia mới nói phải. Hè nhau làm ít câu chơi.

Anh thứ nhất thấy con cóc ở trong hang nhảy ra, mới làm câu mở như vầy: Con cóc trong hang con cóc nhảy ra.

Người thứ hai tiếp lấy: Con cóc nhảy ra con cóc ngồi đó.
Người thứ ba: Con cóc ngồi đó con cóc nhảy đi

Lấy làm hay lắm. Rồi nghĩ lại giựt mình, vì trong sách nói: Hễ học hành giỏi thì sau cũng phải chết. Cho nên tin như vậy mới biểu thằng tiểu đồng ra đi mua ba cái hàng đất để dành cho sẵn đó.

Tiểu đồng lăng căng đi mua, ghé ra quán uống nước ngồi xớ rớ đó. Có anh kia hỏi nó đi đâu? Mua giống gì? Thì nó nói: Ba thầy tôi thông minh trí huệ, làm thơ hay lắm, sợ lời sách quở, có khi không sống, nên sai tôi đi mua ba cái hòm.

- Mầy có nghe họ đọc thơ ấy không?
- Có
- Mà có nhớ nói lại nghe chơi, coi thử sức nó hay làm sao ?

Thằng tiểu đồng mới nói: Tôi nghe đọc một người một câu như vầy:

Con cóc trong hang con cóc nhảy ra
Con cóc nhảy ra con cóc ngồi đó
Con cóc ngồi đó con cóc nhảy đi

Anh kia nghe tức cười nôn ruột, mới nói với tiểu đồng:
- Mầy chịu khó mua giùm cho tao một cái hòm cho luôn trót thể

Tiểu đồng hỏi: Mua làm chi?
Lão nọ mới nói: Tao mua hờ để đó, vì tao sợ tao cười lắm, có khi cũng chết theo ba thầy làm thơ đó nữa.

(*) Chú thích: Chuyện nầy được viết lại đúng nguyên văn trong quyển "Chuyện Xưa Tích Cũ" của Sơn Nam.

THƠ CÓC
(Thọ An Phạm Duy Tốn)

Có ba ông vẫn tự đắc là mình hay thơ nôm. Một hôm, rủ nhau đi chơi chùa, để cùng họa thơ tức cảnh. Nhưng mà đến chùa, không biết làm thơ gì; mới bảo nhau hãy đưa tiền cho ông Tự đi mua rượu và đồ nhắm về đánh chén đã: - Hễ rượu vào thì tự khắc thơ ra tuồn tuột! Mua về, ba ông ngồi bắt chân chữ ngũ, gật gù uống rượu, rung đùi nghĩ thơ. Chợt thấy con cóc ở trong xó, nhảy ra.

Một ông mới ngâm rằng:
Con cóc trong hang,
Con cóc nhảy ra.
Ông thứ hai họa theo rằng:
Con cóc nhảy ra,
Con cóc ngồi đấy.

Ông thứ ba:

Con cóc ngồi đấy,
Con cóc nhảy đi.

Ba ông cùng vỗ đùi, cười ồ cả lên khen rằng: - Hay! hay! hay thật?

Cười chán rồi, một ông bảo rằng: - Thơ ta tuyệt cú! mà ta xuất khẩu thành chương như thế thì tôi e lắm, hai tiên sinh ạ. E rằng Thánh nhân người đã dạy: Ai mà linh khẩu lắm thì kẻo chết non. Vậy ta phải nên liệu trước.

Hai ông kia lấy làm phải lắm, bèn mời ông Tự ra, nói hết đầu đuôi; rồi đưa tiền nhờ mua hộ ngay cho ba cổ ván.
Ông Tự cầm tiền đi mua. Một chốc đem về bốn cái áo quan.

Ba ông hay thơ mới hỏi: - Sao mua những bốn cái thế? - Thưa các ngài, tôi mua thêm một cái để cho tôi, bởi vì tôi buồn cười quá, cũng đến chết mất.

*
Chuyện của Thọ An nói về ba người đi chùa làm thơ như trên cũng giống ý một chuyện về làm thơ khác của ông Petrus Ký.

BỐN ANH HỌC TRÒ ĐẶT THƠ TRONG CHÙA
(Petrus Ký)

Bốn anh học trò đi đường, ghé qua chùa chơi. Ngồi coi bạ bàn thấy tượng đồ treo thờ đó, mới rủ nhau làm ít câu thơ chơi.
Anh thứ nhứt, thấy tượng Quan Đế, thì mở rằng:
Hớn vương ăn ớt mặt đỏ gay

Anh thứ hai thấy tượng Quan Bình, thì đặt:
Bên kia Thái tử đứng khoanh tay

Người thứ ba ngó quanh quất, thấy tượng Châu Thương thì đặt:

Thằng mọi râu rìa cầm cái mác
Còn anh thứ bốn ngó ra, thấy con hạc đạp lưng qui, thì thêm:
Ngoài nầy cò quắm đạp cầy thay. (*)

(*) Chú thích:
Cò quắm = cò có mỏ dài.
Cầy thay = cần thay: đều là tiếng Miên nói trại, chỉ loại rùa lớn con.
*
Ông Petrus Trương Vĩnh Ký và ông Thọ An Phạm Duy Tốn là những văn sĩ đầu tiên viết Chuyện Khôi Hài trong Văn học Quốc ngữ.

Ở Nam Kỳ, ông Petrus Trương Vĩnh Ký xuất bản "Chuyện Khôi Hài" vào năm 1882. Chuyện khôi hài là chuyện có tác dụng gây cười, có thể trong dân gian hoặc trong lịch sử chính trị hay văn học.

Trước đó trong "Chuyện Đời Xưa" của mình, xuất bản lần thứ nhất vào năm 1866, ông Petrus Ký cũng có một số chuyện khôi hài như chuyện "Bốn anh học trò đặt thơ trong chùa" và chuyện "Ba anh dốt làm thơ". "Chuyện Đời Xưa" là tên rút ngắn của “Chuyện đời xưa lựa nhón lấy những chuyện hay và có ích”, tác phẩm văn xuôi đầu tiên viết bằng chữ Quốc Ngữ (năm 1866).

Từ ông Petrus Ký, ở Nam Kỳ có ông Phụng Hoàng San xuất bản "Chuyện Tiếu Lâm" (1912) và ông lại cùng ông Dương Diếp, cũng ở Mõ Cày, xuất bản "Truyện Tiếu Đàm" (1914). Chuyện tiếu lâm là chuyện cười trong dân gian.

Cuối thập niên 1910s, ở Bắc Trung Kỳ có 3 Tập "Tiếu Lâm An Nam" của tác giả là Thọ An. Thọ An chính là Học giả Phạm Duy Tốn (thân phụ của Nhạc sĩ Phạm Duy). Ông Phạm Duy Tốn thuộc Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí, nổi danh trong nhóm “Quỳnh, Vĩnh, Tố, Tốn” cùng với các ông Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh và Nguyễn Văn Tố.

“Tiếu Lâm An Nam” của Thọ An Phạm Duy Tốn có những chuyện mang nội dung giống với chuyện của Petrus Ký và của Phụng Hoàng San và Dương Diếp ở Nam Kỳ.

b) Thơ “Con Cóc” của Nhất Linh

- Trong báo Phong Hóa (Dec, 1932), với đề tài “Thơ Con Cóc”, ông Nhất Linh viết (nguyên văn):
Văn suôi thì bắt chước, mà thơ thì mới lắm. Ông Phương Lan viết:

SAI CON

Mặt bẩn sao không lau?
Con ra lấy cái thau
Đổ nước, mang khăn mặt
Mau!

Nhất Linh xin nối theo một bài:

Ông viết văn trôi chảy
Như con cóc nó nhảy
Nó nhảy trong hang ra
Xong rồi nó ngồi đấy
Ngồi đấy lại nhảy đi
Nhảy đi lại ngồi đấy
Nhảy xong nó lại ngồi
Ngồi chán nó lại nhảy
Cứ thế mãi không thôi
Văn ông nó cũng vậy.

- Trong báo Phong Hóa (số 31 March, 1933), Nhất Linh viết tiếp (nguyên văn):

Ông Công luận trong báo Thực Nghiệp có nói đến bài thơ “con cóc” của tôi. Ông nói là ông không hiểu, ông lại bảo: trên đàn ngôn luận không nhất là nơi đóng hài kịch.

Ông Phan Khôi trong bài “địa vị khôi hài trên đàn văn” có viết:

“Có thông minh mới ra được câu bông lơn có thú vị, mà cũng duy thông minh lắm mới biết ngửi thấy cái thú vị của câu bông lơn hay, chớ còn nói chơi không biết, nói thiệt không hay, thì duy có ngu đần mới như vậy, dân ấy là dân xỏ lá!”.

Câu này xin đem tặng ông Công luận – mà cũng vì thế nên không muốn nói ông Công luận làm gì nữa.
Vậy tôi chỉ nói đến bài thơ của ông Phương Lan, và xin chép lại bài thơ ấy ra đây lần nữa:

Mặt bẩn sao không lau?
Con ra lấy cái thau
Đổ nước, mang khăn mặt
Mau!

Thơ như thế sao gọi là thơ được. Đó chỉ là mấy câu sai con mà có vần. Nó cũng chỉ như thơ con cócmà thôi.

Trên đàn ngôn luận, không phải là nơi đóng hài kịch nhưng chính ông Phương Lang cứ đọc bài thơ đó cho các bạn thân của ông nghe, Nhất Linh lại xin bắt chước ông Phương Lang làm bài thơ như thế nữa:

LẠC QUAN

Trông vào nồi, cơm hết
May còn miếng cháy ròn
Ăn với cá kho mặn
Ngon.

MỪNG KHỎI BỆNH

Tay tôi mụn ghẻ đầy
May sao gập thuốc hay
Bôi được một tuần lễ
Khỏi ngay.

Chắc ông Công Luận phục hai bài thơ này lắm, vì theo ý ông tôi đã tránh được những tiếng cao nhã (mots nobles) mà toàn dùng cái giọng thông thường (langue vulgaire) đi thẳng một hơi trôi chảy vô cùng.

Lạy theo ý ông, Nhất Linh này làm được hai “bài thơ” đó thì nên cứ làm thơ như thế mãi, dù chân lỡ dẫm phải gai thì cũng chớ trùn gan trên con “đường thi bá văn hào”.

c) Thơ “Con Cóc” của Thượng Tân Thị

Thi nhân Tiền Chiến chuyên làm Thơ Mới chống lại Thơ Cũ nhất là thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú. Thơ Lục Bát và Song Thất Lục Bát được nhiều Thi nhân Tiền Chiến áp dụng như Nguyễn Bính và Tương Phố. Các Bài Thơ Mới cũng áp dụng Đường Luật Thất Ngôn Tứ Tuyệt! Do đó theo hiểu biết của các Thi nhân Tiền Chiến chuộng Thơ Mới, Thơ Cũ là Thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú!

Lưu Trọng Lư là người cổ động cho Thơ Mới và đã kích Thơ Cũ (Thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú):

THƠ THÁCH HỌA CÁC CỤ ĐỒ

Đôi lời nhắn nhủ bạn làng Nho
Thơ thẩn thẩn thơ khéo thẫn thờ
Con cóc Nghè Huỳnh đuôi cọc lóc (*)
Nàng thơ Ấm Hiếu mũi thò lò (*)
Chai to chai nhỏ con cầy béo
Câu thánh câu thần đĩa mực khô
Nắn nót miễn sao nên bốn vế
Chẳng thơ thì cũng cóc cần thơ.

(Lưu Trọng Lư)

(*) Chú thích: Nghè Huỳnh = Huỳnh Thúc Kháng. Ấm Hiếu = Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu.

Thượng Tân Thị, Phạm Đình Bách và nhất là Quách Tấn ở Trung Kỳ là những Thi nhân Tiền chiến chuyên làm Thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú.

Đây là Thơ trả lời của Thượng Tân Thị.

CON CÓC

Đã mang cái tiếng cậu ông trời
Phải có danh chi để với đời
Le lưỡi loài sâu đều khiếp vía
Nghiến răng giống chấu thảy im hơi
Dông mưa dầm chảy càng hăng hái
Gió bụi xông pha vẫn thảnh thơi
Nghĩ lại nực cười cho những kẻ
Ngâm thơ liên cú chẳng nên lời.

(Thượng Tân Thị)

d) Thơ "Con Cóc" của vua Lê Thánh Tông

Năm 1460, các ông Nguyễn Xí (1396-1465), Đinh Liệt (?-1471), Lý Lăng (con ông Lý Triện) và Lê Niệm (cháu nội Lê Lai) (?-1485) giết vua Lê Nghi Dân và đồng đảng. Ông Lý Lăng muốn lập Cung Vương Khắc Xương nhưng các quần thần đều muốn lập Gia Vương Lê Tư Thành lên làm vua. Cung Vương Lê Khắc Xương từ chối (làm vua). Để thử tài vị Hoàng tử Tư Thành trẻ tuổi nầy (18 tuổi), quần thần xin ông làm một bài thơ. Hoàng tử Tư Thành liền ứng khẩu bài thơ:

CON CÓC

Bác mẹ sinh ra vốn áo sồi
Chốn nghiêm thăm thẳm một mình ngồi
Chép miệng nuốt ba con kiến gió
Nghiến răng chuyển động bốn phương trời.

(Vua Lê Thánh Tông)

Thấy được khẩu khí trong bài thơ nên quần thần đồng ý tôn ông làm vua, là vua Lê Thánh Tông.
Những năm sau đó, vua Lê Thánh Tông có viết lại bài thơ Con Cóc:

CON CÓC

Chừ thuở nên thân tấm áo sồi
Chốn nghiêm thăm thẳm một mình ngồi
Nâng tay mấy phút, oai hùm nép
Tắc lưỡi đôi lần, chúng kiến lui
Mừng thấy đàn con ra chịu ấm
Dễ còn ả Tố kết làm đôi
Miếu đường có thuở vang lừng tiếng
Giúp được dân làng kẻo nắng nôi.

(Vua Lê Thánh Tông)

e) Kết luận

Nhân đọc tất cả Thơ Con Cóc trong văn học sử, thi sĩ ngày nay có cảm nghĩ về Thơ Con Cóc qua bài thơ:

THƠ CON CÓC (Nguyên bản)

Thơ như con cóc cũng là thơ
Tiến bộ tung cao chẳng bá vơ
Đúng luật thi văn gìn cẩn thận
Thẳng đường thi vận tránh ơ thờ
Cóc cần vị lợi, hòa tình ý
Cóc muốn thành danh, thỏa ước mơ
Linh động thi nhân cùng nhảy nhót
Thơ như con cóc dậy hồn thơ.

(Phan Thượng Hải)
2/20/26

Từ Thơ Con Cóc, cũng có Thơ Con Nhái:

THƠ CON NHÁI (Tự họa)

Thơ như con nhái cũng nên thơ
Khỏi phải suy tư nghĩ vẩn vơ
Nhái tựa danh nhân, người kính nể
Nhái theo sáo ngữ, chúng tôn thờ
Từ chương ước lệ sầu thương nhớ
Lãng mạn văn hoa thú mộng mơ
Nối nghiệp thi hào đường chính thống
Thơ như con nhái, nhái thành thơ.

(Phan Thượng Hải)

2/20/26

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn
Bài này là trích đoạn của bài “Giải Luận Thi Văn - Thơ Việt Ngữ” (Bs Phan Thượng Hải) đăng trong phanthuonghai.com